Cái nền văn minh ấy – cùng với chủ thể của nó là dân tộc Chămpa và quốc gia riêng của họ đã có một quá trình vận động và phát triển không ngừng ở dải đất miền Trung Việt Nam hiện nay để
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP
TRƯỜNG NĂM 2013
Tên công trình :
Sự giao thoa văn hóa giữa Chămpa và Đại Việt trên
đất Quảng Nam trong lịch sử
Sinh viên thực hiện :
Chủ nhiệm : Đoàn Nhật Quang – Lớp lịch sử Việt Nam K35
Thành viên : Hồ Thị Bích – Lớp lịch sử Việt Nam K35
Wa Ridah – Lớp lịch sử Việt Nam K35
Người hướng dẫn : Thạc sĩ Nguyễn Thị Ánh Nguyệt – Giảng viên khoa
lịch sử trường ĐH KHXH & NV TP.HCM
TP.HCM, ngày 18 tháng 03 năm 2013
Trang 2Chương II : Văn hóa Chămpa và quá trình tiếp xúc, đan xen văn hóa của
hai dân tộc Việt - Chăm ở đất Quảng Nam :……….33 2.1 Văn hóa nguyên thủy của người Chăm :……… 33 2.2 Quá trình tiếp xúc và đan xen văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm làm hình thành bản sắc văn hóa Quảng Nam :……… 45 CHƯƠNG III : Những giá trị tiêu biểu của giao thoa văn hóa Việt – Chăm làm hình thành bản sắc văn hóa Quảng Nam:……….56
3.2 “Quãng Nam hay cãi” hay tính cách đặc trưng của con người xứ Quảng :65 3.3 Đặc sắc giao thoa văn hóa trong lĩnh vực tín ngưỡng – tôn giáo :……72 3.4 Nét đặc sắc trong giao thoa kiến trúc – điêu khắc :……… 95 3.5 Sự giao thoa trong các lĩnh vực sản xuất kinh tế, ẩm thực và âm nhạc :104
Chương IV: Giữ gìn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống của hai dân tộc Việt……….110
TỔNG KẾT :………113 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 118
Trang 3DẪN LUẬN
Vùng đất Quảng Nam xưa kia vốn dĩ là nơi định đế đô của một dân tộc hùng mạnh và một nền văn minh rực rỡ mà những dấu ấn của nó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, để lại sự ngạc nhiên về mức độ hoành tráng trong lòng nhiều người khi vô tình biết đến Cái nền văn minh ấy – cùng với chủ thể của nó là dân tộc Chămpa và quốc gia riêng của họ đã có một quá trình vận động và phát triển không ngừng ở dải đất miền Trung Việt Nam hiện nay để tạo ra nhiều sản phẩm văn hóa tốt đẹp mà chúng ta vẫn thường nhắc đến như Thánh địa Mỹ Sơn, Tháp Bà Pô Inư Nagar, Tháp Nhạn, Tháp Hòa Lai…
Quảng Nam là vùng đất trọng yếu nhất trong lịch sử vương quốc Chămpa, là nơi đặt hai kinh đô chính trị của họ là Simhapura và Indrapura,
là trung tâm tâm linh tín ngưỡng – tôn giáo với Thánh địa Mỹ Sơn Như vậy vùng đất Quảng Nam đã từng một thời là trung tâm kinh tế chính trị - kinh tế - tôn giáo của cả dân tộc Chămpa Bên cạnh đó, vùng đất này còn là nơi tập trung của những nền văn hóa khác nhau trong khu vực và thế giới thông qua con đường ngoại thương trên biển Nhờ đó, nó đã tiếp thu nhiều luồng văn hóa đậm đà khác nhau, mạnh mẽ hơn cả là sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, rồi từ đó kết hợp với nền văn minh bản địa để tạo nên một bản sắc văn hóa Chămpa vô cùng độc đáo mà tinh hoa của nó chủ yếu tập trung
ở vùng đất Quảng Nam ngày nay
Từ trong bản chất, người Chăm đã là một dân tộc có tinh thần mạnh mẽ Chính vì điều đó mà họ đã liên tục gây ra vô vàn những cuộc chiến tranh với các quốc gia xung quanh để mở rộng lãnh thổ hoặc tìm kiếm nguồn lợi vật chất Trong số đó, những cuộc chiến tranh với Đại Việt ở phương Bắc
là cuộc chiến dai dẳng nhất kéo dài qua nhiều giai đoạn, nhiều triều đại khác nhau của cả hai dân tộc Cuộc chiến tranh này đã chi phối rất nhiều
Trang 4đến sự phát triển của vương quốc Chiêm Thành trong lịch sử và cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự diệt vong của họ về sau
Đã là chiến tranh thì không thể tránh khỏi nguyên tắc chiếm đất và giành dân Cùng với những chiến công vang dội trên chiến trường, Chính quyền Đại Việt từ thế kỷ XIV trở đi luôn khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân của mình tiến vào làm chủ vùng đất mới, trong đó vùng đất Quảng Nam được xem là “miền đất hứa” để xây dựng cơ đồ của những người dân
di cư
Người Việt vào đất Quảng Nam, trước mắt họ là một dân tộc mà họ luôn khinh rẻ vẫn còn ở lại đông đảo, nhưng điều đáng nói là những gì mà người Việt trông thấy đã thực sự làm họ choáng ngợp – những đền đài uy nghi lừng lẫy – những di sản văn hóa khổng lồ Từ chỗ khinh khi và ghét bỏ, tâm
tư của người Việt tiến dần đến sự khâm phục, ngưỡng mộ và dần có cảm tình với người dân Chămpa Và thế là hai dân tộc đã bắt tay nhau để cùng chung sống trên một dải đất vốn dĩ đã rất giàu truyền thống và là nơi tập trung tinh hoa văn hóa của cả một dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử, bỏ qua hết những vấn đề về chính trị hay sự kỳ thị sắc tộc
Từ sự chung sống hoà bình ổn định, những con người của hai dân tộc Việt – Chăm đã cùng bắt tay nhau để xây dựng những giá trị mới trong tất
cả các lĩnh vực, từ văn hóa – xã hội đến sản xuất kinh tế Cái sự đồng lòng cùng tạo dựng ấy ngày nay chúng ta gọi là sự giao thoa, trước hết và mạnh
mẽ nhất vẫn là giao thoa trong lĩnh vực văn hóa – xã hội
Ngày nay có thể kể ra không dưới hàng trăm sản phẩm văn hóa đặc sắc được tạo thành từ sự giao thoa ấy của hai dân tộc Từ trong tính cách, ngôn ngữ, tín ngưỡng, kiến trúc cho đến âm nhạc, ẩm thực, thời trang hay văn học dân gian…Tất cả những điều đó – hay nói chính xác hơn là tất cả những giá trị, những sản phẩm văn hóa được tạo ra từ sự giao thoa, cộng với văn hóa truyền thống mà hai dân tộc để lại cho đến ngày này, đã hòa quyện vào nhau để tạo thành một giá trị thống nhất, làm hình thành bản sắc
Trang 5văn hóa vùng đất Quảng Nam, góp phần trong sự phong phú đa dạng của bản sắc văn hóa Việt Nam
sẽ giúp chúng ta hình dung được phần nào về cuộc sống của hai dân tộc đã diễn ra trong một thời kỳ dài lịch sử, đồng thời đó cũng là lời cảm ơn chân thành đến những gì mà đồng bào dân tộc Chăm đã đóng góp cho kho tàng văn hóa truyền thống của nước Việt Nam
Ngày nay, nghiên cứu về văn hóa Chăm thì có nhiều, nhưng nghiên cứu
về sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm thì chưa thấy công trình nào bao quát trọn vẹn, nghiên cứu cụ thể tại một vùng đất thì lại càng hiếm hơn Chính vì vậy, chúng tôi không ngại khả năng mình vẫn còn kém cõi, mong muốn góp thêm phần nào công sức cho sự nghiên cứu vấn đề này,
cụ thể là sự giao thoa văn hóa Việt – Chăm ở đất Quảng Nam Tuy nhiên vì khả năng lý luận và nắm bắt vấn đề chưa tốt, cùng với nguồn tài liệu tiếp cận được không nhiều nên trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự đánh giá và chỉ bảo của các thầy cô, các nhà nghiên cứu để tập thể nghiên cứu công trình này có them điều kiện để hoàn thiện chi thức
Thân ái !
2 Lịch sử nghiên cứu :
Như đã nói, nghiên cứu về văn hóa Đại Việt hay văn hóa Chămpa riêng biệt thì đã có rất nhiều công trình xuất sắc gắn liền với những vị giáo sư – nhà nghiên cứu tên tuổi của nước nhà Tuy nhiên các công trình chính thức
Trang 6nghiên cứu về sự giao thoa văn hóa tại Việt – Chăm tại một vùng đất quan trọng là tỉnh Quảng Nam thì chưa thấy nhiều Sau đây xin kể ra đây một số công trình tiêu biểu trong lịch sử nghiên cứu vấn đề này :
Nghiên cứu về vương quốc Chămpa và văn hóa Chămpa có thể kể đến tác
phẩm Vương Quốc Chămpa của giáo sư Lương Ninh, đây là tài liệu quan
trọng để nghiên cứu về nguồn gốc, sự hình thành và phát triển qua từng giai đoạn, từng thời kỳ của dân tộc Chăm và vương quốc Chămpa xưa Hai cuốn
sách Văn hóa Chămpa của Ngô Văn Doanh và Người Chăm của thư viện tỉnh
Ninh Thuận là công trình nghiên cứu chuyên sâu về người Chăm trên t ất cả các mặt kinh tế - xã hội – văn hóa – sản xuất…giúp người đọc hiểu thêm về lịch sử và cuộc sống vật chất lẫn tinh thần của người Chăm trong quá khứ và hiện tại Năm 2010, Tỉnh Ủy Quảng Nam và Thành Ủy Đà Nẵng cho xuất
bản công trình Dư địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng, đây là một công trình lớn
của tập thể nhiều tác giả bao quát hết mọi lĩnh vực trong địa bàn Tỉnh – thành Công trình này đã tổng kết nhiều vấn đề về sự di dân của người Việt, văn hóa Chăm ở Quảng Nam và một phần là sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc, tuy nhiên những vấn đề về giao thoa văn hóa lại chỉ đề cập một cách
sơ lược Cùng vấn đề về văn hóa Chăm có thể tham khảo thêm ở một số công
trình như Văn hóa Chăm, nghiên cứu và phê bình của Sakaya Di tích Chăm
ở Quảng Nam của Hồ Xuân Tịnh, Văn hóa mẫu hệ Chăm – luận văn thạc sĩ
trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn của Nguyễn Thị Diễm Phương…
Nghiên cứu về sự di dân của người Việt và quá trình hòa nhập giữa hai
dân tộc Việt – Chăm có thể kể đến Quảng Nam trong hành trình mỡ cõi và giữ nước – nìn từ góc độ văn hóa của giáo sư Nguyễn Quang Thắng Đây là
một công trình tóm lược lịch sử và vai trò của vùng đất Quảng Nam qua các thời kỳ, công trình này có đề cập đến quá trình Nam tiến của người Việt và sự chung sống với người Chăm nhưng không đề cập gì đến sự giao thoa văn hóa
Sách Việt sử xứ Đàng Trong là tài liệu quan trọng cho những ai quan tâm tìm
hiểu đến lịch sử của một vùng đất từ Quảng Bình vào Nam Trong tác phẩm
Trang 7này giáo sư Phan Khoang trình bày rất rõ công cuộc Nam tiến của người Việt qua từng triều đại đồng thời cũng cho biết cuộc sống ban đầu của những
người VIệt đến định cư ở vùng đất Quảng Nam Các công trình Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII của Litana, Xứ Đàng Trong năm 1621 của Cristophoro Borri, Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 – 1793) của J.Barrow là những tác phẩm được viết từ góc
nhìn của những người nước ngoài về đời sống của người dân phía Nam Việt Nam trong lịch sử
Bài viết nghiên cứu của tác giả Đặng Thu – Di dân của người Việt từ thế
kỷ X đến giữa thế kỷ XIX đăng trên phụ san Tạp chí Nghiên cứu lịch sử năm
1994 và Sự hội nhập và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm qua các tín ngưỡng quanh tháp Chàm, bài viết của Diệp Đình Hoa trong Tạp chí Dân tộc học
2005, Nguyễn Hoàng và bước đầu mở cuộc Nam tiến của người Việt của tác
giả Keih W.Taylor là những bài viết nghiên cứu cụ thể về quá trình di dân của người Việt cũng như xác định những giá trị giao thoa văn hóa cơ bản
Cuốn sách Có 500 năm như thế của tác giả Hồ Trung Tú vừa đạt giải sách
hay năm 2012 là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về quá trình di dân của người Việt vào Nam, làm rõ những lần đụng độ và tiếp thu văn hóa của hai phía Việt – Chăm, bằng những lý luận logic và có cơ sở dựa trên sự khảo sát rất nhiều tài liệu chuyên môn, ông đã đưa ra những nhận định mới về quá trình giao thoa văn hóa giưa người Việt và người Chăm ở đất Quảng Nam Tuy nhiên về những sản phẩm được tạo ra từ sự giao thoa đó thì Hồ Trung Tú chỉ dừng lại ở sản phẩm Ngôn ngữ và Tính cách mà chưa đề cấp đến nhiều phương diện còn lại
Từ việc xem xét và tổng hợp các nguồn tài liệu có được, trong phạm vi đề tài này chúng tôi muốn làm rõ một số phương diện sau :
- Sự di cư của người Việt vào Quảng Nam
- Quá trình tiếp xúc và đan xen văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Chăm
Trang 8- Những sản phẩm văn hóa được tạo ra từ sự giao thoa trên các lĩnh vực Ngôn ngữ - Tính cách con người – Tín ngưỡng – Điêu khắc, kiến trúc – Kinh tế sản xuất – Ẩm thực – Âm nhạc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Trong công trình này chúng tôi tập trung nghiên cứu về sự giao thoa văn hóa và những giá trị tiêu biểu được tạo ra từ sự giao thoa ấy của hai dân tộc Việt – Chăm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Trong quá trình nghiên cứu có thể đề cập đến những vấn đề rộng hơn trong khả năng trình bày của chúng tôi nhằm làm rõ hơn nội dung chính của đề tài
Do tính chất của công trình nên chúng tôi chỉ trình bày sơ lược về văn hóa Chămpa và đi thẳng vào vấn đề vào sự giao thoa chứ không đề cập đến văn hóa gốc của người Việt nữa, một số sản phẩm văn hóa tiêu biểu của người Việt sẽ được nói đến trong bài viết để làm rõ hơn luận điểm nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu :
Trong công trình này chúng tôi sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, ngoài ra còn phối hợp các phương pháp điều tra liên ngành như phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, logic, điền
dã thực địa
5 Đóng góp của đề tài :
Nội dung đề tài này sẽ phần nào tái hiện lại cuộc di dân theo hướng Nam tiến của người Việt trong lịch sử để mở mang lãnh thổ, giúp hình dung lại một cuộc sống cộng cư giữa hai dân tộc Việt – Chăm trong suốt hàng trăm năm dài để cùng nhau tạo ra những giá trị văn hóa giao thoa đặc sắc
Nội dung chính của đề tài là làm rõ những sản phẩm của quá trình giao thoa văn hóa Việt – Chăm ở đất Quảng Nam để từ đó góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống đã trở thành bản sắc văn hóa của vùng đất Quảng Nam
Trang 9Quảng Nam xưa kia là vùng đất của Chiêm Thành Năm 1306 theo thỏa ước giữa vua Chiêm Thành là Chế Mân và vua Đại Việt là Trần Nhân Tông thì vua Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (nam Quảng Trị, Huế) và châu Lí tức Hóa Châu (một phần Huế, bắc sông Thu Bồn) làm sính lễ cưới con gái vua Trần Nhân Tông là công chúa Huyền Trân Người Việt dần định
cư tại hai vùng đất mới; người Chiêm Thành lùi dần về vùng đất còn lại phía Nam của vương quốc Năm 1402, nhà Hồ thay thế nhà Trần Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư Châu
và Nghĩa Châu và đặt An Phủ Sứ cai trị
Năm 1471, sau khi chiếm vùng đất phía Nam Thuận Hóa cho đến đèo Cù Mông, vua Lê Thánh Tông lập thêm đơn vị hành chính thứ 13 - Thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (nay là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) Tên Quảng Nam xuất hiện từ đây
Trang 10Đến thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, Quảng Nam thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn(từ năm 1570) Hội An được nhà chúa chọn là điểm giao thương duy nhất với thế giới khi đó nên nhiều thương gia nước ngoài hay gọi vùng đất này là "Quảng Nam Quốc" Biên niên sử thời Nguyễn đã chép
về giai đoạn cai trị này của chúa Nguyễn Hoàng như sau: “Chúa ở trấn hơn
10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều an cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp Thuyền buôn các nước đến nhiều.Trấn trở nên một đô hội lớn”
Năm 1806,thời nhà Nguyễn vua Gia Long thống nhất đất nước Về hành chính, vua chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm Trực Lệ-Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam doanh Năm
1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh Quảng Nam chính thức trở thành tỉnh từ năm này Tỉnh Quảng Nam được chia thành 8 phủ, huyện gồm Hòa Vang, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn, Thăng Hoa, Tam
Kỳ, và Tiên Phước.Năm 1888, dưới triều vua Thành Thái, Đà Nẵng bị tách khỏi Quảng Nam để trở thành đất nhượng địa của thực dân Pháp.Cho đến năm 1997, vào kỳ họp thứ X của Quốc Hội tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được chia thành hai đơn vị hành chính độc lập gồm Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam
Mảnh đất Quảng Nam - nơi gặp gỡ, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hoá phát triển rực rỡ trong lịch sử như văn hoá Sa Huỳnh, văn hoá Chămpa, văn hoá Đại Việt Người Chăm vốn có nền văn hóa lâu đời, phát triển rực rỡ
từ thuở vương quốc Chămpa còn phồn thịnh.Và vương quốc Chămpa đã được hình thành ở nơi này, đã có sự trao đổi kinh tế và giao lưu văn hóa giữa các vùng khác Dựa trên những tư liệu thành văn và khảo cổ học ngày nay có được cho thấy cương vực nước Lâm Ấp mà sau này là Chăm-pa gồm dải đồng bằng ven biển Duyên hải miền Trung và một phần cao nguyên, từ Sông Gianh (Quảng Bình) đến sông Dinh – Bình Thuận Vương quốc Chămpa được chia thành 5 khu vực, tại Quảng Nam có hai khu vực là Amarapati và Indrapura - cũng là hai kinh đô lớn của Chămpa Lịch sử của
Trang 11vương quốc Chămpa giai đoạn từ khi mới thành lập đến thế kỷ X, trên đại thể có 3 vương triều kế tiếp nhau
Các sử gia nước ta cũng đã có nhiều tác phẩm ghi chép về lịch sử - văn
hóa người Chăm Trong Đại Việt sử ký toàn thư, ở phần ngoại kỷ, sử quan
nhà Lê gọi người Chăm là người Man ở nước Hồ Tôn, sang phần bản kỷ gọi
là người Chiêm ở nước Chiêm Thành Trong lịch sử của Trung Quốc cũng
đã có những ghi chép về mảnh đất và con người nơi đấy Cuối thế kỷ II, đời
Sơ Bình (190-193) nhân lúc Trung Quốc loạn lạc, dân Tượng Lâm ở nơi xa xôi nhất đã được thắng lợi trước tiên Họ đã nổi dậy, giết huyện lệnh, giành quyền tự chủ và lập nước Cuộc khởi nghĩa tiến hành trong hoàn cảnh thuận lợi: dân Giao Chỉ và Cửu Chân cũng đang đứng lên đấu tranh chống sự hà khắc của Trung Quốc, đánh phá Châu Thành, giết thứ sử Chu Phù (190) khiến mấy năm nay không lập nổi quận trị Người lãnh đạo Nhật Nam có tên là Khu Liên (theo tiếng Chăm gọi là Kurung, có nghĩa là tộc trưởng, thủ lĩnh, vua Quốc gia mới lập của nhân dân Tượng Lâm một thời gian dài
được các thư tịch cổ Trung Hoa gọi là nước Lâm Ấp “Lương thư” tức bộ
sử của nhà Lương (502-556) do Diêu Tư Liêm soạn vào đầu thế kỷ VII đã dựa vào tài liệu ghi chép của các thời trước cho biết một cách hệ thống về nước Lâm Ấp: Khu Liên, Phạm Hùng, Phạm Duật, Phạm Văn… làm vua vào khoảng cuối thế kỉ II đến đầu thế kỷ V Trong thời gian này thì các quan lại Trung Hoa nhiều lần đem quân đánh Lâm Ấp nhưng không thắng vì Lâm
Ấp dựa vào địa điểm hiểm trở chống cự được Biên niên sử Trung hoa cũng
đã ghi chép lại quá trình hình thành vương quốc Chăm-pa Từ năm 335, vua Chăm là Wen (Phạm Văn) đã đem quân đi chinh phục được hết các bộ lạc hoang dã ở miền núi, để thành lập vương quốc thống nhất đa dân tộc, mở rộng biên giới tới dãy Hoành Sơn (Quảng Bình) Tên gọi Chămpa được biết xuất hiện lần đầu tiên trên văn bia của vua Sambhurarman (595-629), và cả trên văn bia Chân Lạp gọi là bia Arg Chumnik Tên gọi này có thể là tên của một loài hoa rất đẹp - hoa Ngọc Lan Champaca, hay là địa danh một nơi nào
đó ở vùng Ấn Độ phía bắc hạ lưu sông Hằng Đây cũng là nguồn tài liệu bia
Trang 12ký quan trọng, ít nhiều so sánh các tên vua theo cách gọi của bi ký và thư tịch
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Vương quốc Chămpa:
Từ khoảng TK III đến TK VIII, cương vực Chămpa lúc mở rộng nhất nằm trải dài từ dãy núi Hoành Sơn sông Gianh ở phía Bắc cho đến sông Dinh – Hàm Tân (Bình Thuận) và từ biển Đông đến tận miền núi phía Tây nước Lào ngày nay Tỉnh Quảng Nam ngày nay được coi là chiếc nôi sinh thành của Chămpa Lãnh thổ Chămpa chia ra thành hai vùng: vùng phía Bắc (Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, là nơi cư trú của bộ tộc Cau) Vùng phía Nam (Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận; là nơi cư trú của bộ tộc Dừa) Dãy núi Trường Sơn chia cắt Chămpa thành nhiều vùng thường được gọi là các châu, gồm có châu Armavati (ở phía Bắc,
từ Quảng Bình đến Quảng Nam với kinh đô Indrapura - Đồng Dương về sau Đồng Dương còn là một trung tâm Phật giáo)
Trong các thời kỳ lịch sử các châu này tranh giành ảnh hưởng và địa vị lẫn nhau Tiểu quốc nào mạnh sẽ ảnh hưởng bao trùm lên các tiểu quốc và tiểu vương ở đó sẽ trở thành kinh đô của cả vương quốc rộng lớn Do đó, trong lịch sử Chămpa đã trải qua nhiều kinh đô khác nhau
- Giai đoạn Sinhapura(hay còn gọi là Lâm Ấp) từ đầu đến khoảng năm
750 Vào cuối thế kỷ II sau Công nguyên nhà nước Lâm Ấp đã được ra đời,
do vua Khu Liên lập ra năm 192, là kết quả đấu tranh chống lại ách đô hộ của nhà Hán của nhân dân vùng đất cực nam quận Nhật Nam Đây được coi
là thời kỳ đầu của vương quốc Chămpa
Căn cứ vào theo các nguồn sử liệu nêu trên xác định sự ra đời và tồn tại của Chămpa cổ Trung tâm Lâm Ấp là huyện Thọ Linh cũ (thuộc Thuận Hóa, Thừa Thiên, Huế) và vùng Kim Sơn, Bồng Miêu (Quảng Nam) Tuy gặp phải nhiều khó khăn nhưng Lâm Ấp vẫn giữ được chủ quyền và bắt đầu công cuộc phát triển đất nước Năm 653, Chư Cát Địa trở thành vua và cho
Trang 13xây nhiều đền tháp ở Mỹ Sơn Vua Vikrantarman nối ngôi và truyền cho Lư
Đà Na (Rudravarman) Lâm Ấp tồn tại đến khoảng năm 758
- Giai đoạn Virapura(Hoàn vương _ Panduranga) khoảng 750 – 850
Khoảng năm 749 lãnh thổ Lâm Ấp được mở rộng đến Panduranga Đây là thời kỳ vùng miền Nam Kauthara (Nha Trang) và Panduranga (Phan Rang) nắm bá quyền đối với các tiểu quốc khác của Chămpa Kinh đô Chămpa chuyển về Virapura nên giai đoạn này gọi là giai đoạn Virapura hay còn gọi
là Hoàn vương Vương triều Virapura trải qua 5 triều đại gồm:
819 Chămpa tiến đánh An Nam Từ năm 813 đến 817, hoàng tử Chămpa là Vikrantavaman III đã hai lần tiến quân đánh Chân Lạp Trong những năm sau đó, ông đã lên nối ngôi vua nhưng không có con trai nên triều đình chọn Indravarman, xuất thân từ phía Bắc Chămpa lên nối ngôi, lịch sử Chămpa chuyển sang một thời kỳ mới – thời kỳ của vương triều Indrapura phía Bắc
và đến đây thời kỳ Hoàn Vương chấm dứt sau 100 năm cai trị Trong suốt giai đoạn lịch sử 100 năm của vương triều Hoàn vương – Virapura là một thời kỳ lịch sử khá đặc biệt Suốt thời gian dài 100 năm các vị vua có nguồn
Trang 14gốc phía Nam đã lên trị vì Chămpa Do có sự chuyển biến trung tâm quyền lực từ Bắc vào Nam nên hầu như những bia ký hay những công trình được xây dựng thời gian này tập trung chủ yếu ở Kauthara và Panduranga Theo các tài liệu bia ký cũng cho biết thủ độ Virapura cũng được xây tiếp trên cơ
sở lâu đài cũ của dòng vua chúa phía nam Sau Hoàn vương một thời kỳ mới
đã được mở ra – thời kỳ Vương triều Indrapura (Đồng Dương)
- Giai đoạn Indrapura (khoảng 850 – 982) mở ra giai đoạn mới, lập kinh
đô mới mang tên Indrapura, ở địa điểm làng Đồng Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; kinh đô mới này lui về phía Nam, cách địa điểm cũ vài chục kilômet, là nơi đây kín đáo và thuận tiện đường giao thông Bắc – Nam và hướng ra biển, tôn thờ thần Siva dưới tên gọi mới, Sambhubhadresvara – Campapuraparamesvara Đến lúc này ta thấy có sự thay đổi về dòng vua cũng như địa điểm kinh đô từ Sinhapura đến Virapura rồi lại đến Indrapura Trong Thư tịch Trung Quốc mà cụ thể là Tân Đường thư gọi ba giai đoạn này là Lâm Ấp, Hoàn Vương và Chiêm Thành
Đây là một giai đoạn với nhiều nét đặc sắc, là một bước ngoặt trong lịch
sử và văn hóa Chăm Giai đoạn này gọi là Indrapura – Đồng Dương, tức địa danh ngày nay Vương triều Đồng Dương có đến 20 minh văn và phế tích kiến trúc, trải trên một địa bàn rộng từ Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi và đến cả cao nguyên, Khánh Hòa, Ninh Thuận Bản thân Đồng Dương – Indrapura vừa là hoàng cung, vừa là đền miếu thờ thần Phật, nó cũng được coi là kiến trúc lớn của Chămpa
Kinh đô được dời đến Indrapura và lúc này Phật giáo trở thành quốc giáo Vua Indravarman đặt tên nước là Campura (Chămpa) Các vua nối ngôi là Jaya Simhavarman, Jaya Saktivarman, Bhadravarman II và Indravarman II Năm 945, vua Chân Lạp Rajendravarman II đánh châu Kauthara (Nha Trang) và tiến công thủ phủ của châu này Trong đời vua tiếp theo là Indravarman, Chân Lạp tiến đánh vùng Pô Nagar Vua Jaya Indravarman lên ngôi năm 960 Đến năm 972, Champa có vua mới là Paramesvaravarman I Năm 979 vua này đã giúp sứ quân Ngô Nhật Khánh tiến đánh Đại Việt
Trang 15nhưng thất bại Năm 982, vua Lê Đại Hành đánh Chămpa và tiến vào kinh
đô Chămpa, vương triều Indrapura chấm dứt
Nhìn chung, trong toàn bộ sơ kì Chămpa tuy biến động vương triều nhiều lần song đều là thời gian hình thành, củng cố, phát triển vương triều, gắn liền với sự mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán và đứng vững trước các tấn công
từ Java và Campuchia
Vào thế kỷ II trước Công nguyên, nhà Hán xâm lược và thống trị Âu Lạc, đồng thời chiếm luôn phần đất từ Đèo Ngang đến Quảng Bình và Nghĩa-Bình lập thành quận Nhật Nam Người Chăm liên tục đứng dậy cùng nhân dân Âu Lạc chống lại ách đô hộ của nhà Hán Đến thế kỷ II sau Công nguyên, sau cuộc khởi nghĩa thắng lợi của Khu Liên (năm 192), người Chăm
ở huyện Tượng Lâm, huyện xa nhất của quận Nhật Nam, thuộc phần đất Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay lập ra tiểu quốc độc lập Vào thế kỷ IV, dưới thời Phạm Văn, toàn bộ đất Quảng Nam lúc bấy giờ thuộc lãnh thổ của quốc gia Chămpa
Thời đó cửa sông Thu Bồn còn cách xa bờ biển Thu Bồn ngày nay, đồng bằng Thu Bồn chưa được mở rộng như bây giờ Vùng hạ lưu dọc biển chủ yếu là đầm phá và nồng cát, đất nông nghiệp không nhiều, phía tây có rừng rậm bao phủ Người Chăm với một dân số không nhiều lại sống rải rác, tiến hành khai phá đất đai để làm ruộng, đào ao hồ để trữ nước tưới, xây dựng các hệ thống mương máng dẫn nước để chống hạn Họ sản xuất thóc lúa và một số loại nông sản khác như đỗ, lạc, mía, cau, hồ tiêu và các loại cây ăn quả Trên các bãi sông Thu Bồn người ta trồng dâu nuôi tằm lấy tơ dệt vải, lụa Người đàn bà Chăm bấy giờ đã dệt được những chiếc váy kama uốn quang mình dài xuống đến cổ chân, cùng nhiều thứ lụa là, gấm vóc Rừng cũng được người Chăm bắt đầu khai thác, các thứ gỗ mun, trầm, kỳ nam, đậu khấu, sừng tê được khai thác để xuất khẩu Nhiều thứ đá quý được người Chăm mài tiện làm đồ mỹ nghệ, người Chăm còn đãi vàng dọc các suối ngòi vùng Bồng Miêu, họ đã làm các loại thuyền buồm dùng để vượt biển đi buôn ở chốn cung đình tập trung nhiều thợ giỏi các nghề xây dựng, điêu
Trang 16khắc, đúc tượng, làm đồ trang sức bằng vàng bạc, ngọc ngà, dệt gấm thiêu hoa, chuyển sản xuất phục vụ vua quan, quý tộc các triều vua Chăm của cải đầy ắp là do bóc lột của nhân dân, lại còn do chinh chiến với các lân bang để bắt tù binh đem ra bán ở nước ngoài làm nô lệ Tất cả của cải đem vào việc
xa xỉ và xây dựng đền tháp, cung điện
Mỗi vị vua Chăm sau khi lên ngôi đều đến đây làm lễ cúng thần linh hoặc xây dựng thêm đền đài hiến dâng lên thần Srisanabhadresvara - đấng tối cao bảo vệ vương quyền Chiến tranh đã làm cạn kiệt nguồn tài lực của nhân dân
và bản thân vương quốc cũng ngày một suy yếu Nguồn nhân lực hao mòn, không đủ sức duy trì việc khai thác đất đai, mà bản thân việc khai thác trước đây cũng đã không thể thực hiện một cách triệt để Cuộc xâm lược của quân Nguyên- Mông đối với Chăm pa vào thế kỷ XIII tuy bị thất bại hoàn toàn, nhưng đã tàn phá nặng nề đất nước này và tiêu diệt khá nhiều người Chăm Người Chăm sùng bái các thần Ấn giáo như là bộ ba Bhrama, Visnu, Siva, và tiếp thu cả đạo Phật thuộc phái Đại thừa Về chữ viết, chữ Phạn (sanskrit) - một văn tự cổ của Ấn Độ cũng được tiếp thu cải biến thành chữ Chăm và được sử dụng rất sớm ở Chămpa (đặc biệt là giai đoạn từ thế kỷ II- VIII) Triều đình Chămpa đã lấy các từ Ấn Độ thậm chí các địa danh Ấn Độ
để đặt tên nước, tên châu, tỉnh và kinh đô của mình như Chămpa, Amaravati (vùng bắc Chămpa), Sinhapura, Inđrapura, Vigiaya Các công thức văn bia chữ Phạn, các điển tích tôn giáo và văn học Ấn Độ cũng được các vua chúa, các học giả người Chăm lĩnh hội và sử dụng rất rộng rãi Người Chăm còn tiếp thu và sử dụng lịch Ấn Độ trong sản xuất và đời sống Đó là hệ thống lịch saka, áp dụng ở miền Bắc Ấn Độ từ ngày 3 tháng 3 năm 78 và được phổ biến sang nhiều nước Đông Nam Á, trong đó có Chămpa Người ta cũng tính thời gian theo chu kỳ 12 năm, mỗi năm 12 tháng và cũng lấy các con thú làm biểu tượng cho mỗi chu kỳ (giống như lịch Can Chi của Trung Quốc) Đây cũng là hệ thống âm lịch, nên người ta dựa vào tuần trăng để chia một tháng
ra 2 tuần và mỗi tuần có 7 ngày Các công trình xây dựng đền tháp, nghệ thuật kiến trúc, môtíp kiến trúc của Chămpa cũng đều học tập của Ấn Độ
Trang 17Tuy vậy, không phải văn hóa Ấn Độ đã mang vào Chămpa một cách nguyên vẹn, rập khuôn, mà trong thực tế tất cả những hình thức văn hóa đó đều đã được gia giảm và thể hiện theo kiểu Chămpa Ta có thể nhận thấy tháp đền Chămpa có những dáng vẻ riêng Nghệ thuật kiến trúc và tạc tượng thế kỷ VII - X rất sinh động và độc đáo Chữ viết mặc dù vay mượn từ chữ Phạn nhưng người Chăm lại sáng tạo thành chữ Chăm cổ Trong vương quốc Chămpa, âm nhạc, ca múa đặc biệt phát triển Người Chăm đã giữ rất lâu bền một số phong tục cổ truyền như ăn trầu, nhuộm răng đen, coi trọng phụ
nữ, tục thờ cúng tổ tiên, tục hỏa thiêu người chết và chôn tro xương trong các mộ vò
Xã hội người Chăm ở vương quốc Chămpa cổ là xã hội của cư dân sản xuất nông nghiệp và quan hệ chủ yếu trong xã hội cũng là những quan hệ về ruộng đất, về chế độ sớ hữu và các hình thức sử dụng ruộng đất đó Vua là nhân vật chuyên chế, có uy quyền tuyệt đối, nhưng chưa thấy sự xuất hiện các lãnh địa riêng của nhà vua, cũng hoàn toàn chưa thấy có dấu hiệu nào chứng tỏ các quý tộc và quan lại có lãnh địa riêng hay có ruộng đất riêng Một khi không thấy có sở hữu ruộng đất lớn của vua và quý tộc-quan lại thì
ta có thể nghĩ rằng hầu hết ruộng đất đều do người nông dân giữ và canh tác Ruộng đất ở đây vẫn được coi là ruộng đất chung của công xã Người nông dân vẫn sống theo từng làng (tức công xã) và có thể làng đã giao ruộng đất cho từng gia đình nông dân công xã canh tác Công xã là nơi duy trì các mối quan hệ cộng đồng và thân tộc trong đời sống kinh tế và tinh thần Quá trình phân hóa và phát triển của xã hội diễn ra tương đối chậm Xã hội Chămpa cổ
đã sớm hình thành tầng lớp nô lệ Nô lệ phục vụ trong các gia đình quý tộc
và đền miếu, trong những công việc và phạm vi mà người ta không thể cưỡng bức lao động của nông dân công xã Nô lệ đã trở thành một thành phần không thể thiếu của cơ chế xã hội Chămpa cổ Như vậy, xã hội Chămpa mang những đặc trưng cơ bản của khu vực Đông Nam Á
Trang 181.2 Sự di dân của người Việt vào đất Quảng Nam :
1.2.1 Vương quốc Chămpa và những cuộc chiến tranh với người Việt
Lịch sử dựng nước và giữ nước của vương quốc Chămpa gắn liền với những cuộc chiến tranh liên miên với các quốc gia láng giềng để giành quyền lợi Trải qua các triều đại từ Lâm Ấp – Hoàn Vương (Simhapura) – Indrapura cho đến Chiêm Thành và những triều đại về sau, không thời nào
mà người Chămpa lại không có những cuộc chiến tranh, phía Bắc họ chống Đại Việt, phía Nam gây hấn Chân Lạp, phía tây lại nhiều lần đánh nhau với vương quốc ĂngKo Tuy mạnh yếu mỗi thời mỗi khác, chiến tranh cũng có lúc thắng lợi vinh quang mà có khi thất bại nhục nhã nhưng có thể nói chính những cuộc chiến tranh không ngừng nghỉ của vương quốc này đã làm suy kiệt sức người sức của của đất nước, bên cạnh đó, cuộc chiến tranh qua nhiều thời kỳ với người Việt là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự tiêu vong của một dân tộc từng đạt đến đỉnh cao rực rỡ của một nền văn minh tiêu biểu trong khu vực Đông Nam Á
Các sử liệu của người Việt hiện nay đã có chép rõ về sự bang giao cũng như quá trình tranh đấu giữa hai dân tộc Việt – Chăm trong suốt chiều dài lịch sử Theo đó, cuộc chiến đầu tiên giữa hai quốc gia nói trên diễn ra dưới thời vua Lê Đại Hành và vua Indravarman IV Năm Nhâm Ngọ 982, sau khi lên ngôi được một thời gian, nhận thấy vùng đất phía Nam đang không được yên ổn do bị người Chăm liên tục quấy phá, vua Lê Đại Hành đã đích thân đem quân đi phạt tội vua Chăm, trong lần đánh nhau này, quân đội Đại Việt
đã không gặp bất kỳ trở ngại lớn nào và nhanh chóng đánh thẳng vào kinh
đô Indrapura của Chiêm Thành lúc bấy giờ (Chiêm Thành là từ gọi theo người Trung Quốc) Vua Chiêm là Indravarman IV phải chủ động xin nghị hòa, chịu xưng thần và chấp nhận triều cống hằng năm cho triều đình nhà
Lê Như vậy trong cuộc chiến tranh biên giới lần đầu tiên này, người Việt đã giành được thắng lợi to lớn, tuy không chiếm giữ đất đai của người Chăm nhưng cũng biến họ thành một nước chư hầu của ta
Trang 19Năm 986, vua Chiêm là Indravarman IV mất, một vị tướng của ông là Cu Thi Lị Ha Thân Bài Ma La lên nắm quyền lấy hiệu là Ku Cri Harivarman II đóng đô ở Vijaya (người Việt gọi là Phật Thệ tức thành Chà Bàn Bình Định ngày nay) Lúc này nội bộ triều đình Chămpa không được đoàn kết, thế nước đang suy yếu Vua Lê Đại Hành biết rõ điều này nên lập tức đưa quân đánh chiếm châu Địa Lí (thuộc Quảng Bình ngày nay), biến Địa Lí thành một vùng đất của người Việt Như vậy, châu Địa Lí là vùng đất đầu tiên mà người Việt chiếm giữ trong cuộc nam chinh mở rộng lãnh thổ của mình Quan hệ giữa Chămpa với người Việt dưới thời tiền Lê ngoài cuộc chiến tranh đầu tiên của Lê Hoàn với Indravarman IV thì nhìn chung đều diễn ra tốt đẹp, Chiêm Thành lúc này là một nước nhỏ, phải hòa hoãn xưng thần và thực hiện triều cống hàng năm với Trung Hoa và Đại Việt
Năm 992, vua Lê Đại Hành đã sai Phụ Quốc Ngô Tử An đem 3 vạn người
mở một con đường bộ đi vào đất Chiêm Thành, con đường này kéo dài từ cửa biển Nam Giới (Hà Tĩnh ngày nay) đến châu Địa Lí mà vua mới chiếm được Đây là con đường bộ đầu tiên nối liên hai quốc gia Việt – Chăm, mở
ra một thời kỳ mới trong quan hệ giữa hai dân tộc láng giềng này
Từ triều đại nhà Lý của người Việt trở đi, mối quan hệ của hai quốc gia Việt – Chăm bắt đầu có sự rạng nứt do tham vọng của cả hai bên Về phía Đại Việt lúc này đã là một quốc gia ổn định và cường thịnh, các triều đại nối tiếp nhau luôn có nhu cầu mở rộng lãnh thổ để đưa nước mình lên một vị thế mới Nước Đại Việt phía Bắc giáp Trung Hoa hùng mạnh, phiá Đông là biển
cả và phía Tây là rừng núi, chính vì thế chỉ có vùng đất phía Nam là nước Chiêm Thành mới đáp ứng được tham vọng bành trướng lãnh thổ của các triều đại phong kiến Việt Nam Về phía người Chiêm, lịch sử đã cho thấy họ
là một dân tộc có truyền thống hiếu chiến và luôn muốn gây hấn xâm lăng ra bên ngoài để bù đắp cho sự nghèo nàn trong nước Không những thế, đối với người Việt, người Chăm còn giữ cái hận giết vua, tàn phá kinh đô từ trước nên đã tìm cách thần phục và dựa dẫm vào uy thế của đế quốc Trung Hoa, điều này gây nên sự tức giận với các vua Đại Việt Từ chính những nguyên
Trang 20nhân này đã gây nên những cuộc chiến tranh liên miên của hai quốc gia này trong suốt một thời gian dài qua nhiều thế kỷ, chiến trường trải dài từ dải đất Hoành Sơn đến vùng biên giới Chân Lạp
Từ khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi, nước Chiêm chỉ sai sứ triều cống một lần vào năm Thuận Thiên thứ 2 (1011) rồi sau đó không triều cống nữa Nhà vua
ắt hẳn rất giận dữ về điều đó nên đã sai quân tấn công vào lãnh thổ Chiêm
Thành “Đến năm Thuận Thiên thứ II (1020) vua sai Khai Thiên Vương Thái
Tử Phật Mã và Đào Thạc Phu đem quân đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chánh; đến núi Long Tị, chém được tướng Chiêm là Bố Linh Bấy giờ ở Chiêm Thành, cuối đời vua Virantavarman IV, nội tình hỗn loạn, nhiều cuộc tranh giành, xâu xé trong hoàng gia xảy ra, nên có nhiều nhân vật chạy sang triều đình nhà Lý lánh nạn Năm sau (1040), người coi trạm Bố Chánh của Chiêm là Bố Linh, Bố Kha, Lan Đà Tinh đem bộ hạ hơn 100 người xin quy phụ.”1
Năm Minh Đạo thứ 2 (1043), người Chiêm lại làm loạn, liên tục cho quân quấy nhiễu vùng biên giới nước ta, vua Lý Thái Tông phải sai Đào Tử Trung
đi đánh dẹp Cũng nhân lí do đó và được sự đồng tình của quần thần trong triều, đến năm Minh Đạo thứ 3 (1044) vua Thái Tông cất quân đánh Chiêm Thành, lần thân chinh của vua lần này trước là để tỏ uy thế của mình và sau
là để thực hiện cái mưu đồ bành trướng lãnh thổ mà các triều đại trước đã đặt nền tảng Xét theo quy luật của lịch sử các quốc gia phong kiến thì sự tranh giành lãnh thổ và quyền lực hay thôn tính lẫn nhau của các triều đại âu cũng là chuyện tất yếu phải có Xuất quân lần này, vua tôi Đại Việt đánh đâu thắng đó, chẳng mấy chốc đã đánh thẳng đến kinh đô Phật Thệ (Vijaya) của Chiêm Thành, bắt cả triều đình vua Chiêm, thu được rất nhiều vàng bạc châu
báu và tù binh Sau khi về kinh sư ăn mừng chiến thắng, “vua xuống chiếu cho các chiến tù Chiêm, theo từng bộ thuộc, đến ở trấn Vĩnh Khương thẳng
1
Theo Nguyễn Quang Thắng, Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước, NXB Tổng
hợp TP.HCM, tr 16.
Trang 21đến Đăng Châu lập ra làng, ấp, theo danh hiệu vua cũ Chiêm Thành mà đặt tên.”2
Cuối năm 1061, Rudravarman III lên ngôi vua ở Chiêm Thành (người Việt quen gọi là Chế Củ), ngoài mặt thì giả vờ thần phục, sai người sang dâng lê vật và triều cống hàng năm cho triều đình vua Lý Thành Tông nhưng trong lòng lại hết sức căm giận và quyết chí báo thù Đại Việt Năm 1068, vua Chê Củ nước Chiêm lại cho quân quấy phá vùng biên giới nước ta, vua Thánh Tông nhân cớ đó đã quyết định xuất binh phạt tội người Chiêm
“Năm Kỉ Dậu, Thiên Hướng Bửu Tượng năm thứ 2 (1069), tháng 2, ngày Mậu Tuất vua xuống chiếu thân chinh, chọn Lý Thường Kiệt làm nguyên soái, đi tiên phong, đem 5 vạn quân Ngày Canh Dần, xuống chiếu xuất quân, đi đường thủy Đến cửa Nhật Nam thuyền quân bị thủy quân Chiêm chận đánh Vua sai tướng Đại liêu ban Hoàng kiện đối địch, quân Chiêm thua Đại quân tiếp tục tiến lên, ghé nghĩ ở cửa Tư Dung, rồi theo bờ biển vào Nam, ngày Bính Tý đầu tháng 3 đến cửa Thị Nại.”3
Quân đội của vua Thánh Tông nhanh chóng đánh vào kinh đô Trà Bàn, vua Chế Củ bỏ thành chạy thoát thân nhưng cũng nhanh chóng bị quân Đại Việt bắt được, hơn 5 vạn quân Chiêm bị bắt sống Vua chiếm được kinh đô nước Chiêm Thành nhưng có lẽ xét thấy chưa đủ lực để trấn giữ nên ra lệnh rút quân về Thăng Long Vua Chế Củ phải xin dâng ba châu Bố Chánh, Địa
Lý, Ma Linh (vùng đất thuộc tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị ngày nay) để được tha về, vua Thái Tông đồng ý và sai quân tiếp quản ba vùng đất này
Sách Đại Việt sử kí toàn thư cũng có chép sơ lược về lần thân chinh này của vua Thánh Tông tuy hơi có khác với Việt Sử lược : “Tháng 2, vua thân chinh Chiêm Thành, bắt được vua nước ấy là Chế Củ và dân chúng 5 vạn người Trận này vua đánh Chiêm mãi không thắng, đem quân trở về, đến châu Cự Liên nghe tin Nguyên Phi coi việc nội trị, khiến lòng dân hòa hiệp,
Trang 22trong nước yên tĩnh, tôn sùng Phật giáo, nhân dân gọi là nang quan âm, vua nói : “Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là đàn ông há không được việc gì hay sao?” rồi vua quay trở lại đánh, bèn thắng”.4
Từ giai đoạn này trở đi cho đến đầu thời Trần, quan hệ giữa Đại Việt và Chiêm Thành diễn ra tốt đẹp, và vương quốc Chiêm Thành lúc này là một thuộc quốc của Đại Việt Từ khi vua Trần Thái Tông lên ngôi năm Ất Dậu (1025), vương quốc Chiêm Thành đã nhiều lần sai sứ sang triều công và dâng tặng lễ vật cho Đại Việt , tỏ ý thần phục; đồng thời lại có lúc quấy nhiễu vùng ven biển và các vùng đất đã cắt nhượng cho Đại Việt vào các năm 1257 – 1266.5
Từ khi vua Trần Anh Tông lên ngôi (1293), quan hệ hai nước Việt – Chăm bước vào thời kỳ hòa bình và mối bang giao có phần tốt đẹp hơn trước Trong giai đoạn này, bên phía Chiêm Thành đang là thời gian trị vì của vua Chế Mân (Jaya Simhavarman), nhà vua đã nhiều lần sai sứ sang giao hảo và tặng lễ vật mừng vua Anh Tông của nước Việt, đây cũng là thời điểm diễn ra những chuyến đi của Thượng hoàng Nhân Tông sang thăm vương quốc láng giềng trên danh nghĩa du lịch (1301) nhưng thực chất là để tiếp xúc tạo mối quan hệ bền chặt với quốc gia này
Năm 1306, một cuộc hôn nhân chính trị rầm rộ trong lịch sử dân tộc đã diễn ra khi thượng hoàng Nhân Tông hứa gả con gái của mình là công chúa HuyềnTrân cho vua Chiêm Chế Mân Đổi lại, vua Chiêm đã dùng hai châu
Ô và châu Lý để làm sính lễ, cuộc hôn nhân này có thể xem là môn đăng hộ đối giữa hai quốc gia và cũng là chiếc cầu nối cho nền hòa bình của hai dân tộc, xóa bỏ những hiềm khích, hận thù trước đó để hai dân tộc có thể bắt tay nhau tạo ra mối bang giao tốt đẹp, mang lại lợi ích cho cả đôi bên
Trang 23Ngay khi công chúa Huyền Trân vừa về làm hoàng hậu nước Chiêm thì dân Việt ở châu Hoan (Thanh Hóa) và châu Ái ( Nghệ An) cũng nhanh chóng kéo nhau vào tiếp quản hai châu Ô, Lý của Chiêm Thành Năm 1307, vua Anh Tông cho đổi hai châu Ô, Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu, chọn người trong dân chúng để làm quan, vua còn sai quan Hành khiển Đoàn Nhữ Hài vào kinh lý và cai trị vùng ấy, thực hiện các chính sách an dân Nhân dân ta thường gọi chung hai vùng ấy là châu Thuận Hóa (địa bàn chủa 2 châu Thuận – Hóa kéo dài từ huyện Hải Lăng của Quảng Trị đến huyện Duy Xuyên của Quảng Nam ngày nay) Như vậy, sau cuộc hôn nhân chính trị này, người Chiêm đã mất đi một vùng đất rộng lớn có tầm chiến lược về quân sự, thương mại và mất cả vùng đất được xem là thánh địa của dân tộc Chăm là Amaravâti, Indrapura Lãnh thổ của nước Việt cũng được mở rộng đến phần lớn tỉnh Quảng Nam trong thời gian này
Việc mất hai vùng đất quan trọng của mình vào tay Đại Việt chỉ bằng một cuộc hôn nhân của nhà vua đã khiến cho toàn thể nhân dân Chămpa không được vui và vẫn ngấm ngầm chống đối sự sát nhập đất đai này Năm 1307, vua Chế Mân mất, tạo ra một giai đoạn không hay trong mối quan hệ Việt –
Chăm Theo các sách Đại Việt sử kí toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt Nam Sử Lược thì theo tục lệ của người Chăm khi vua chết
thì hoàng hậu và các phi tử đều phải thác theo để tròn đạo, vua Anh Tông nghe tin ấy thì lo sợ bèn sai tướng của mình vào đất Chiêm tìm kế giúp công
chúa Huyền Trân thoát nạn “Huyền Trân công chúa lấy Chế Mân được một năm thì mất, mà theo tục Chiêm Thành, hễ khi vua chết, thì các hậu phải hỏa táng theo Anh Tông được tin ấy, sai Trần Khắc Chung giả mượn tiếng vào thăm để tìm kế đưa công chúa về”.6
Cuộc đào tẩu ngọn mục của Trần Khắc Chung và công chúa Huyền Trân
đã làm cho lòng dân Chiêm Thành hết sức bất bình, họ cảm thấy đó là điều
sỉ nhục với dân tộc mình nên căm tức muốn đòi lại hai châu Ô, Lý mà vua
6Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Thời đại
Trang 24Chế Mân đã dâng cho Đại Việt làm sính lễ Ngay sau khi vua Chế Mân chết, con trai là Chế Chi lên thay (tức Cri Jaya Simhavarman IV), ngoài mặt thì vị vua mới của Chiêm vẫn tỏ vẻ thần phục nhà Trần nhưng kì thực trong lòng lại đầy phản trắc Biết được điều đó, năm Hưng Long thứ 19 (1311), vua Anh Tông sai các tướng đi đánh Chiêm Thành, nhà vua đích thân ngự giá cùng Huệ Võ Vương Quốc Chấn, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, Minh Hiến vương Uất và tướng quân Phạm Ngũ Lão ra quân Quân tướng nhà Trần với oai danh ba lần đạp tan sự xâm lược của Mông-Nguyên đã làm cho nước Chiêm khiếp sợ, quân Đại Việt đi đến đâu thì người Chiêm đầu hàng đến đấy, tướng quân Đoàn Nhữ Hài lập công lớn trong lần xuất hinh này, không đánh mà khuất phục được Chiêm Thành Vua Chiêm Chê Chi bị bắt giải về Thăng Long, nhà Trần lập em của Chê Chi là Chế Năng (Chế Đa A
Bà Niê) lên làm vua có quyền coi việc nước Để vỗ về nhân dân Chiêm Thành và tạo dựng mối quan hệ bang giao hòa hão với họ, vua Anh Tông đã phong Chế Chi tước Hiệu Trung vương (sau là Hiệu Thuận vương) , vương được bố trí ở tại hành cung của vua Trần ở Gia Lâm đến năm 1313 thì mất
“Năm Hưng Long thứ 21, Xiêm La lấn cướp Chiêm Thành, vua Anh Tông sai
An phủ sứ Đỗ Thiên Hư làm kinh lược sứ đi kinh lược Nghệ An và Lâm Bình
để sang cứu Chiêm Thành.”7
Sau khi quân Đại Việt rút đi, vua Chiêm Chế Năng ra sức ổn định tình hình trong nước, nhân việc lòng dân đang hết sức oán hận người Việt, Chế Năng đã cho quân quấy nhiễu cướp phá vùng biên giới Năm 1314, thừa dịp vua Minh Tông nhà Trần mới lên ngôi còn phải đang lo nhiều việc quốc sự, Chế Năng đã xua quân tái chiếm hai châu Ô, Lý Không bao lâu sau, vào năm Đại Khánh thứ 5 (1318), Huệ Võ vương Trần Quốc Chân nhận lệnh vua Minh Tông cất quân sang phạt tội người Chiêm lộng hành, đánh nhau vài trận, quân Chiêm thua to, ta đánh đến kinh đô của họ, buộc vua Chế Năng phải bỏ chạy sang nước Qua Oa ( tức Java) lánh nạn Như vậy với sự thất bại
7
Nguyễn Quang Thắng, Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước, tr 22, NXB Tổng
hợp TP.HCM
Trang 25này của Chê Năng, vương triều thứ XI nước Chiêm đã chấm dứt Tháng 6 năm 1318, quân Đại Việt lại tiếp tục đánh vào vùng Cổ Lũy động (phía Bắc Quãng Ngãi ngày nay) nhưng không được phải quay về
Năm 1360, Chê Bồng Nga lên ngôi vua ở đất Chiêm Thành, bắt đầu xây dựng lại đất nước, mở ra một thời kỳ phú cường của vương quốc Chămpa Năm 1361,vua Chiêm Chế Bồng Nga đem một đạo quân lớn theo đường biển đánh vào cửa biển Đà Lý thuộc phủ Lâm Bình nhưng nhanh chóng thất bại Năm sau quân Chiêm Thành lại đến cướp phá vùng này, vua Trần Dụ Tông phải cho phòng giữ nghiêm ngặt để giữ vững vùng Hóa châu Năm Đại Trị thứ 9 (1366) Chiêm Thành lại vào đánh cướp phủ Lâm Bình, bị Tri phủ
lầ Phạm A Song đánh đuổi phải rút về
Năm Đại Trị thứ 10 (1367), vua Trần sai Minh Tự Trần Thế Hưng làm Thống quân hành khiển đồng tri Thượng thư tả ty sự, Đỗ Tử Bình làm phó tướng đi đánh Chiêm Thành Đời vua Duệ Tông lại sai dân mở đường từ Cửu Chân đên Hà Hoa để chuẩn bị đánh Chiêm Thành Những lần xuất binh này không mang lại kết quả gì lớn lao mà còn mang lại thất bại nặng nề cho quân Đại Việt Năm 1377, vua Duệ Tông tử trận ở thành Đồ Bàn, quân ta thua to Năm 1378, quân Chiêm đánh thẳng vào Thăng Long, vua tôi nhà Trần phải bỏ chạy, quân Chiêm cướp phá nhiều ngày rồi rút về
Đời vua Thuận Tông, vào năm Quang Thái thứ 2 (1389), quân Chiêm Thành lại tiến đánh Thanh Hóa, vua Trần sai Lê Quý Ly ngăn địch, hai bên đánh nhau một trận lớn, quân Đại Việt thua to Sau đó quân Chiêm còn thắng nhiều trận nữa, uy thế tăng cao làm triều đình nhà Trần phải khiếp sợ Vua Trần phải sai Trần Khát Chân làm tướng cự địch, bên phía Chiêm gặp phải nội phản, quân Việt nhờ may mắn mà thắng được, vua Chiêm là Bồng Nga bị chết trận, bị tướng của mình là Nguyên Diệu cắt đầu đem dâng Lần tiến quân này là thất bại rất lớn của Chiêm Thành, chủ tướng Chê Bồng Nga mất, chấm dưt vương triều thứ XII được xem là một trong những vương triều thịnh đạt nhất trong lịch sử của vương quốc Chămpa
Trang 26Theo Đại Việt sử kí toàn thư sau khi Chế Bồng Nga mất rồi, nhà Trần liền
cho thu phục lại đất cũ Tháng 2 năm Quang Thái thứ 4 (1394) sai Lê Quý
Ly (sau đổi là Hồ Quý Ly) đem quân đi tuần châu Hóa, xét định quân ngũ, sửa, xây thành trì Đất từ Hóa Châu trở ra Nghệ An lại về Đại Việt
Năm 1400, Hồ Quý Ly phế bỏ nhà Trần và tự mình lên ngôi vua, đổi tên nước là Đại Ngu Vua Hồ lúc này đang bị lòng dân chê trách nên rất muốn làm được việc gì to lớn để trấn an thời cuộc, lúc đó ông liền nghĩ đến việc
phải đánh Chiêm Thành mở rộng bờ cõi phía Nam “Năm Nhâm Ngọ (1402) tướng nhà Hồ là Đỗ Mãn đem quân đi đánh Chiêm Thành Vua nước ấy là
Ba Đích Lại sai cậu là Bồ Điền sang dâng đất Chiêm Động (phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) để xin bãi binh Quý Ly bắt phải dâng đất Cổ Lũy (Quãng Ngãi)” 8
Về việc này, Đại Việt Sử ký toàn thư cũng ghi chép : “Vua nước Chiêm là
Ba Đích lại sợ, sai cậu là Bố Điền dâng voi trắng voi đen mỗi thứ một con
và các sản vật địa phương, lại dâng đất Chiêm Động để xin rút quân Bố Điền đến Quý Ly bắt ép phải đổi tờ biểu là dâng nộp cả động Cổ Lũy Rồi chia đất ấy ra làm bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đặt an phủ sứ và phó
sứ lộ Thăng Hoa để cai trị, miền đầu nguồn đất ấy thì đặt trấn Tây Ninh Chiêm Thành thu lấy những dân tiệm cận về nước, còn người ở lại thì bổ làm quan”.9
“Năm Quý Mùi (1403) nhà Hồ lại muốn lấy những đất Bạt Đạt Gia, Hắc Bạch, và Sa Ly Nha về phía nam những đất đã nhường năm trước, bèn sai Phạm Nguyên Khôi và Đỗ Mãn đem thủy bộ cả thảy 20 vạn quân sang đánh Chiêm Thành Quân nhà Hồ vào vây thành nhà Hồ hơn một tháng trời mà đánh không đổ, lương thực hết cả, phải rút quân về Lần này hao binh tổn tướng mà không có công trạng gì”.10
8
Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Thời đại
9Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Thời Đại
10
Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Thời đại
Trang 27Họ Hồ chiếm được Chiêm Động và Cổ Lũy thì chia đất làm 4 châu là
Thăng, Hoa, Tư , Nghĩa, đặt lộ Thăng Hoa làm thống hạt 4 châu “Sau khi nhượng đất Chiêm Động và Cổ Lũy cho ta, Chiêm Thành thu lấy những dân cận tiệm đem về nước, còn người ở lại thì dùng làm quân, có lẽ đóng ở biên giới Như vậy trong đất ấy chắc là không còn nhiều người Chiêm”.11
Như vậy từ đời nhà Hồ thì vùng đất Chiêm Động và Cổ Lũy lại được sát nhập vào nước ta Đây là một tổn thất to lớn vì hầu hết những vùng thánh địa trung tâm của văn minh Chămpa đều nằm ở vùng đất này, trong đó có hai kinh đô cũ là Simhapura và Indrapura (tức Đồng Dương và Trà Kiệu) Cũng
từ giai đoạn này trở đi, vùng đất Quãng Nam đã chính thức sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt và chịu sự quản lí trực tiếp của chính quyền phong kiến trung ương
Về sau, lợi dụng nước ta vừa trải qua cuộc kháng chiến với nhà Minh, Chiêm Thành đem quân vào đánh phá Nào ngờ Việt tộc lại sớm phục hưng với nhà Lê Và nhà Lê từ thời Lê Thái Tông năm 1434, 1444, 1445, Chiêm Thành được lòng nhà Minh lại đánh cướp Hóa Châu nhưng bị quân ta đánh bại Đến thời Lê Thánh Tông vào năm 1470 Chiêm Thành đem 100.000 quân đánh Thuận Hóa
Lần này, 1471, vua Lê Thánh Tông sắp đặt một trận đại quy mô để quyết tâm làm cho Chiêm Thành kiệt quệ Thắng trận Đồ Bàn (hay còn gọi là Trà Bàn), kinh đô của Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm, vua Lê Thánh Tông lấy tất cả đất đai từ Thạch Bi Sơn (tỉnh Phú Yên) về phía Bắc lập thành Thừa Tuyên Quảng Nam, đặt phủ, huyện, ra lệnh khắc bia trên núi gọi là núi Đá Bia Còn bao nhiêu đất đai của Chiêm Thành còn lại (1/5) vua chia thành ba nước nhỏ là Chiêm Thành, Hoa Anh và Nam Phan cho tướng Chàm làm chúa
11
Nguyễn Quang Thắng, Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước, tr 26, NXB Tổng
hợp TP.HCM
Trang 28Theo sử liệu để lại thì nước ta còn tiến về phương Nam trong giai đoạn về sau nữa, nhưng bằng nhiều con đường khác nhau Từ sau lần vua Lê Thánh Tông đem quân vào nam đến đất Phú Yên lần này thì nhìn chung nước Chămpa đã suy yếu lắm rồi, không còn đủ sức quấy phá Đại Việt nữa Cuộc chiến tranh triền miên qua nhiều thời kỳ giữa hai dân tộc Việt – Chăm đến đây xem như kết thúc
1.2.2 Sự di dân của người Việt vào đất Quảng Nam :
Thông qua những cuộc chiến tranh giành lãnh thổ, biên giới của nước Đại Việt không ngừng mở rộng về phía Nam và từ đời vua Lê Thánh Tông đã kéo dài đến vùng đất Phú Yên như đã nói ở trên Từ năm 1306, người Việt
đã làm chủ vùng đất phía Nam đến bờ Bắc sông Thu Bồn, nghĩa là đã làm chủ một phần lớn tỉnh Quảng Nam ngày nay Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau như cách trở về giao thông, vùng đất xa xôi nên triều đình không thể kiểm soát được, người Việt ở phương Bắc cũng không quen với khí hậu khắc nghiệt nơi đây nên nhà Trần không đặt bộ máy hành chính nơi đây dù các triều đại về sau của phong kiến Đại Việt luôn xem đây là vùng đất đai của mình về mặt biên bản
Người Việt đến cư trú ở vùng đất kinh đô của người Chăm cũng từ rất sớm thông qua các cuộc chiến tranh có thể đã có những người lính Việt ở lại chung sống với cộng đồng dân Chăm đông đúc, hoặc là những binh sĩ được phân công ở lại trấn giữ vùng đất mới chiếm được Những người ở lại này đã chung sống hòa hợp với người bản xứ nhưng nhìn chung là số lượng không nhiều và sự di cư này diễn ra một cách lẻ tẻ phân kì
Sử liệu để lại đã cho biết trước thế kỷ thứ X, khi mà người Việt còn đang chịu ách đô hộ của nhà Đường phương Bắc thì người Chăm đã lập nên một vương quốc hùng mạnh đóng đô ở Trà Kiệu Quốc gia ấy đã nhiều lần đánh sang biên giới và dĩ nhiên sẽ bắt không ít người Việt đưa về Trong lịch sử của vương quốc Chămpa cũng ghi nhận có một vị vua tên Phạm Văn là người Giao Châu, người này đã lập nên một vương triều kéo dài gần 100
Trang 29năm ở đất Chiêm Thành Đó có lẽ là những người Việt đầu tiên đến định cư nơi đất của người Chăm mà chúng ta còn biết đến
Sử cũ cũng cho biết cuộc viễn chinh của vua Lê Đại Hành năm 982 đã sang tận kinh đô Đồng Dương của Chiêm rồi đóng ở đó gần 1 năm Trong thời gian này diễn ra một sự kiện là viên quan quản giáp tên Lưu Kế Tông đã trốn ở lại để tự xưng làm vua miền Bắc nước này và chắc hẳn đã kéo theo không ít binh lính người Việt cùng ở lại Năm 1306 với sự kiện Huyền Trân công chúa được gã cho Chế Mân thì vùng đất từ Bắc Hải Vân đến sông Thu Bồn đã thuộc về Đại Việt Đã có một số dân Việt đến tiếp nhận vùng đất này nhưng có lẽ không nhiều vì đường xá xa xôi và khí hậu cũng khác biệt rất nhiều Như vậy từ trước năm 1402 hàng trăm năm thì người Việt đã có mặt ở vùng đất Quảng Nam ngày nay nhưng với những lần di cư rải rác với số lượng không nhiều
Công cuộc di dân đến khai phá và định cư ở phía nam của người Việt có
lẽ bắt đầu từ thời Hồ mới diễn ra bằng con đường chính thức, bắt đầu từ lộ Thăng Hoa vào năm 1402.Sau khi chiếm được đất Cổ Lũy và Chiêm Động của người Chiêm, Hồ Quý Ly đã đem chia thành bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và đặt quan cai trị Các sử liệu còn lại của nước ta đều nói đến vấn đề này Sau khi mất đi vùng đất quan trọng, dân Chiêm đã bỏ vào vùng đất phía Nam khá nhiều, những người ở lại được sử dụng các công việc chính trị và trị an là chủ yếu Tình thế này buộc Hồ Hán Thương phải ra lệnh cho dân chúng các vùng từ Nghệ An đến Thuận Hóa nếu ai không có ruộng đất thì khuyến khích vào vùng đất Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa để khai khẩn đất đai, thu nhiều mối lợi Lại lệnh cho các nhà giàu hiến trâu bò hoặc các công cụ lao động cho dân vào khai hoang thì sẽ được khen thưởng Những di dân vào đất mới phải thích tên châu mình đến ở vào nơi cánh tay và biên chế thành quân
ngũ Theo Đại Việt sử kí toàn thư: “họ Hồ hạ lệnh cho dân có của mà không
có ruộng ở Nghệ An, Thuận Hóa đem vợ con vào ở để khai khẩn, dân ấy phải thích hai chữ tên châu mình trên cánh tay; lại mộ người có trâu đem nộp và cấp cho phẩm tước, để lấy trâu cấp phát cho dân cày Người Chiêm
Trang 30Thành không có họ, từ đó từ Thăng Hoa trở vào Nam, ai có họ là dân Việt mới đến sau” 12
Cùng với việc đưa dân vào khai khẩn ở vùng đất mới, các vua nhà Hồ đã
cử Hoàng Hối Khanh làm Thái thú Thăng Hoa kiêm Tiết chế trấn Tân Ninh, Đặng Tất làm Đại tri trâu cùng chăm lo công việc khai khẩn vùng đất mới này Năm 1405, Hồ Quý Ly đã chơi một chiêu bài cao tay khi phái Nguyễn Ngạn Quang làm Tuyên phủ sứ kiêm Chế trí sứ trấn Tây Ninh và lộ Thăng Hoa, thống lĩnh cả vùng đất mới bình định Đây có thể xem là những chính sách mang tính pháp lí đầu tiên đã được hai triều đại phong kiến Việt Nam
và Chiêm thành cùng thỏa thuận và chấp nhận
Tháng 12 năm 1445, vua Lê Nhân Tông lệnh cho Lê Khả đem 60 vạn quân đi đánh Chiêm Thành Quân đội Đại Việt với số lượng và khí thế áp đảo đã nhanh chóng đánh tới Trà Bàn – kinh đố của Chiêm Thành lúc bấy giờ nhưng trận đánh này chỉ mang tính răn đe chứ không chiếm đất Sau chiến thắng này, người Chăm buộc phải rút khỏi vùng đất Quảng Nam, người Việt lại quay trở về vùng đất ấy Và cũng sau trận đánh này chắc hẳn
đã có một số lượng lớn binh lính được cắt cử ở lại trông coi vương triều Ma
Ha Quý Lai do triều đình nhà Lê dựng nên và làm nhiệm vụ bảo vệ những người Việt đang sống ở đây Cũng rất có thể đã có một bộ phận dân cư không nhỏ theo gót chân chiến thắng của quân đội mà vào Nam để hưởng thành quả và ưu thế
Vào năm 1471, đời vua Lê Thánh Tông triều Hậu Lê, triều đình đã tổ chức cải tổ lại hệ thống hành chính ở các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, cho
lập Đạo Thừa tuyên Quảng Nam để cai quản và giao cho Phạm Nhữ Tăng
quyền đứng đầu Quảng Nam đô thống phủ đặt ngay tại thành Đồ Bàn – kinh
đô Vijaya cũ của nước Chiêm Thành Cũng từ đây, dân Việt di cư vào nam ngày một đông đảo hơn, bao gồm nhiều hạng người khác nhau, cùng chung sống và hòa nhập cùng nhân dân bản địa để xây dựng một vùng đất mới
12 Đại Việt sử ký toàn thư, (đã dẫn)
Trang 31Nước Đại Việt đầu thời Hậu Lê bước vào giai đoạn ổn định và hưng thịnh hơn trước, tạo nên một thế và lực mới trong việc mở mang lãnh thổ và cai trị những vùng đất ở xa của đất nước Chính sự ổn định của cả thế và lực của nước ta là tiền đề và động lực thuận lợi cho chủ trương chuyển cư quy mô lớn, tăng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu khai thác những tiềm năng kinh
tế của vùng đất mới
Công cuộc Nam tiến để khai phá những vùng đất mới của dân Việt trong thời gian này được diễn ra với quy mô tập trung và hết sức đa dạng phong phú Cuộc di cư này bao gồm nhiều thành phần người khác nhau, bằng nhiều con đường khác nhau (lúc này đường bộ từ Bắc vào vùng Quảng Nam đã thông suốt nhưng vẫn còn rất nguy hiểm, vì vậy đường biển được sử dụng nhiều hơn) Có những đoàn di dân bị tách rẽ trên đường đi của mình Họ không thống nhất đi một mạch từ nơi này sang nơi kia mà phân thành nhiều giai đoạn, có khi sóng biển đưa họ lênh đênh đến vùng Bình Định, Phú Yên, cũng có khi họ phát hiện những vùng đất trù phú trên đoạn đường di chuyển của mình nên dừng lại và lập làng lập ấp Nhưng đông đảo hơn cả là bộ phận dân Việt đến định cư và sinh sống tại vùng đất Quảng Nam
Để khuyến khích việc di dân vào Nam, vua Lê Thánh Tông đã cho ban hành nhiều chính sách đặc biệt như giảm thuế khóa, cấp dường công cụ lao động cho nhân dân, lập đồn điền ở những nơi xung yếu hay còn nhiều đất
hoang Theo sách Thiên Nam dư hạ tập thì thời ấy cả nước có 43 đồn điền,
trong đó có ghi các sở đồn điềnở Thăng Hoa, trấn Quảng Nam
Công tác di dân, lập ấp để ổn định vùng đất mới của các vương triều phong kiến nước ta không diễn ra một cách suôn sẻ thuận lợi mà luôn phải đối mặt với sự chống đối thù địch của người Chăm với mưu đồ tái chiếm vùng đất cũ của mình Vậy nên mới nói công lao khai hoang mở đất để nối rộng lãnh thổ nước Việt mà ông cha ta tạo dựng là vô cùng đáng quý Mà người Việt vào Nam cũng rất nhiều thành phần, rất nhiều hoàn cảnh khác nhau, trong đó phần lớn là nông dân hoặc binh lính trở về sau các cuộc chiến tranh, có lẽ vì quen với vùng đất mới hay vì nhiều lý do khác nhau đã ở lại
Trang 32đây đã an cư Trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú có
nói đến việc từ sau năm 1474 chính quyền nhà Lê đã quyết định đày các phạm nhân vào các “châu xa”, tức là những vùng biên cương của Đại Việt lúc bấy giờ Người mắc tội nhẹ thì lưu đày đến Thăng, Hoa (Thăng Bình, Tam Kì của Quảng Nam ngày nay), tội nặng thì lưu ở Tư, Nghĩa (thuộc
Quảng Ngãi, Bình Định) Trong Lê triều hình luật (Luật Hồng Đức) cũng ghi
rõ là người mắc tội bị kết tội lưu đều bị đày đến châu ngoài tức đày vào châu Thăng, Hoa
Theo Việt sử xứ Đàng Trong : “trong các đất đai của vua Lê Thánh Tông vừa mới thu hoạch, có miền Vijaya, vua đặt là phủ Hoài Nhơn, tức tỉnh Bình Định ngày nay, là vùng đất rộng rãi, có những đồng bằng phì nhiêu, có cửa biển lớn, nên chắc đã hấp dẫn những dân xa xôi hơn, như Nghệ An, vốn quen nghề ghe thuyền; họ đã vượt biển di cư đến đó Đời Lê, còn những phần tử bắt buộc phải di cư vào Nam, ấy là những tù nhân bị kết án lưu Bấy giờ, trong ngũ hình, về lưu hình (đày) có 3 bậc: lưu cận châu là lưu đi các
xứ thuộc Nghệ An, Hà Hoa (tức Hà Tĩnh ngày nay); lưu ngoại châu là lưu đi các xứ thuộc châu Bố Chánh; lưu viễn châu là lưu đi các xứ thuộc châu Tân Bình Sau khi lấy được các đất từ Thăng, Hoa trở vào, năm Hồng Đức thứ 5 (1474) vua Thánh Tông sắc chỉ rằng tù xử tội lưu đi cận châu thì sung vệ quân ở Thăng, Hoa, đi ngoại châu thì xung sung Vệ quân ở Tư, Nghĩa, đi viễn châu thì sung Vệ quân Hoài Nhơn, tội nhân được tha tội chết cũng sung vào Vệ quân Hoài Nhơn” 13
Bên cạnh những thành phần dân cư kể trên, trong đoàn quân dân đến khai thác vùng đất giáp biên mới mẽ này còn có các vị tướng hay quan lại từ đời
Lê Thánh Tông cho đến khi Nguyễn Hoàng cùng đoàn tùy tùng vào trấn thủ Thuận Hóa Phần lớn đoàn người tiên phong này là người gốc Thanh Hóa tự nguyện lìa bỏ quê hương để đến vùng đất mới khai khẩn và tìm kiếm cơ hội Đoàn người này về sau sẽ góp công khai thác và xây dựng xứ Đàng Trong ngày một mở rộng và giàu mạnh
13 Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng trong, nxb Văn học 2001
Trang 33Như vậy, so với các triều đại Trần - Hồ trước đó thì đến thời Hồng Đức
đã hội đủ đầy đủ các điều kiện cho việc di dân, cả về khách quan lẫn chủ quan Một đặc điểm về sự di dân của người Việt trong giai đoạn này là việc người dân di cư thường đi theo từng nhóm lớn nhỏ khác nhau, có khi là cả làng cùng đi và không phải lúc nào họ cũng có những chuyến đi thông suốt một mạch từ vùng đất khởi nguồn cho đên vùng đất mới mà họ mong muốn Theo các tài liệu tra cứu gia phả của các dòng họ lớn ở vùng Quảng Nam thì con đường bộ lúc bấy giờ nối liền từ đất Thanh – Nghệ đến tận đèo Cù Mông
đã hình thành nhưng còn rất nguy hiểm nên người dân di cư chủ yếu đi theo đường biển Chính vì thế chuyến đi của họ phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thiên nhiên, hành trình có khi diễn ra thành từng chặng, nhiều đoạn, có khi quanh co, xuôi ngược Có những hành trình diễn ra qua nhiều thế hệ mới đến được nơi định cư lâu dài và tất nhiên có những gia đình phải dừng lại nửa chừng
Theo các nguồn tư liệu lịch sử, ta có thể nhận thấy cơ cấu cộng đồng dân
di cư bao gồm nhiều thành phần khác nhau Có thể kể đến như sau :
Những người lính đánh trận được phân công ở lại trông giữ vùng đất mới
Những người nông dân nghèo không có ruộng đất, bị bắt ép hoặc theo khuyến dụ của vua mà vào khai khẩn vùng trong với những chính sách khuyến khích
Những tội đồ của triều đình bị bắt đi đày khổ sai
Vào thời Nam – Bắc phân tranh và giai đoạn Trịnh – Nguyễn về sau lại có thêm những người là tù binh hay hàng binh hoặc là dân ở vùng Nam Nghệ Tĩnh bị bắt đưa vào Đàng Trong khai khẩn đất đai
Và một thành phần tuy không nhiều nhưng có đóng góp rất quan trọng cho sự phát triển của vùng đất mới này là những người thích phiêu lưu tìm kiếm vùng đất mới, những người thợ thủ công, muốn thử thời vận
Trang 34Từ năm 1561 cho đến 1608, ở vùng ngoài liên tiếp gặp phải những năm mất mùa đói kém làm cho người ta càng đổ xô vào vùng đất phía Nam để tị nạn mong tìm được con đường sống Đặc biệt sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Quảng năm 1558 thì số lượng người di cư vào Nam ngày một
nhiều hơn nữa Đại Việt Sử ký toàn thư tập 3, tr 147 đã chép về vùng đất này như sau : “Hoàng vỗ trị mấy chục năm, chính mệnh khoan hòa, thường ban ân huệ, dùng phép công bằng, chấn chỉnh khuyên răng tướng sĩ bản bộ Cấm chỉ, trừ bọn hung ác, dân hai trấn đều cảm mến nhân đức, thay đổi phong tục, chợ búa không nói thách, dân chúng không làm giặc, cổng ngoài không phải đóng, thuyền buôn nước ngoài đều đến mua bán trao đổi phải giá, quân lệnh nghiêm cẩn, người người gắn sức.”
Ngoài những lần di cư dưới thời Trần – Hồ - Lê, đến khi các chúa Nguyễn vào trấn giữ vùng đất Phía Nam thì công cuộc di dân và khai khẩn Đàng Trong lại tiếp tục diễn ra sôi nổi Nhưng trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ dừng lại tìm hiểu về những đoàn người Việt đã di cư vào sống ở vùng đất Quảng Nam, tức là vùng đât Thăng, Hoa dưới thời Lê Thánh Tông như đã nói ở trên
Trang 35CHƯƠNG II : VĂN HÓA CHĂMPA VÀ QUÁ TRÌNH TIẾP XÚC, ĐAN XEN VĂN HÓA GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT – CHĂM
2.1 Văn hóa nguyên thủy của người Chăm :
Trong phần này, chúng ta sẽ đề cập đến những vấn đề thuộc về những giá trị văn hóa nguồn gốc của người Chăm được tạo dựng từ hàng ngàn năm trước cho đến tận những thế kỷ gần đây Vì tính phổ biến rộng rãi của những giá trị văn hóa đặc sắc đã từng làm nên nền văn minh Chămpa rực rỡ nên chúng tôi không chỉ xét riêng ở bất cứ vùng đất nào mà phải xét trong cả cộng đồng Chăm Trong những nét đẹp truyền thống mà chúng tôi đề cập đến ở đây có cả những điều chỉ được hình thành nên sau khi người Chăm đã rút hết vào Nam và đóng đô tại vùng Panduganra nhưng để có thể hình dung được nền văn minh Chămpa một thời lừng lầy nên chúng tôi thiết nghĩ phải kể đến để mọi người cùng rõ
2.1.1 Văn hóa Xã hội
2.1.1.1 Tổ chức cộng đồng
Người Chăm thường sống tập trung trong các palei Chăm (làng Chăm) mỗi palei có khoảng 300 đến 400 hộ gia đình,cùng theo một tôn giáo nhất định, gồm nhiều tộc họ sinh sống với nhau Mỗi palei đều có một đơn vị hành chính của làng là:hội đồng phong tục và Po palei (trưởng làng), trong đó, Polay là người quan trọng nhất trong Palei Luật tục Chăm có ghi:
“Ếch có nắp đậy hang
Làng có chủ cai quản”
Po Palay được dân làng bầu, phải là người cao tuổi, có uy tín, am hiểu phong tục tập quán, luôn vì mọi người,có lòng vị tha Đồng thời, Po Palei cũng phải là người lao động giỏi, có kinh nghiệm trong sản xuất, gia đình hạnh phúc con cháu xum họp đoàn kết Người Chăm ví von Po Palei như là cây cao, bóng cả:
Trang 36“Cây to lang tỏ một lòng
Xòe ra che mát cho người dừng chân”
Hội đồng phong tục do dân làng bầu chọn và có nhiệm vụ trong coi vấn
đề phong tục, tập quán, tính ngưỡng Thành viên của Hội đồng phong tục đều là những người có uy tín trong tôn giáo, trong các tộc họ, là người am hiểu tập quán, phong tục lễ nghi,tín ngưỡng tôn giáo của người Chăm, có quyền phân xử thành viên trong Palei vi phạm luật tục Trong trường hợp người vi phạm ngoan
cố thì khi cha hoặc mẹ hoặc người thân chết, hội đồng phong tục sẽ cấm các tu
sĩ, chức sắc không được cúng lễ và xem như người vi phạm đã bị tách ra khỏi cộng đồng
Người Chăm có tập quán bố trí cư trú dân theo bàn cờ Mỗi dòng họ, mỗi nhóm gia đình thân thuộc hay có khi chỉ một đại gia đình ở quay quần thành một khoảnh hình vuông hoặc hình chữ nhật Phần lớn làng người Chăm có khoảng từ 1000 người đến 2000 người
Mỗi dòng họ có một chiếc Atâu, một Akaut Guăp và một vật tổ riêng Luật tục Chăm quy định, Akaut Guăp phải là người cao tuổi, am hiểu phong tục tập quán có uy tín trong dòng họ, gia đình giàu có, không được có chồng chắp
vợ nối
2.1.1.2 Quan hệ xã hội :
Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình,dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa.Về sau, thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp quý tộc và tăng lữ Dưới thị tộc 6 là các dòng
họ theo thuyết hệ mẹ, đứng đầu là người đàn bà thuộc dòng con út Mỗi dòng
họ lạ có nhiều chi họ Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp
Trang 37như xã hội Ấn Độ cổ đại Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ quan hệ hôn nhân, không ăn cùng mâm, không sống cùng một xóm…
2.1.2 Văn hóa vật chất và tinh thần
2.1.2.1 Chữ viết :
Chữ Phạn là chữ của vương quốc Chămpa cổ từ thế kỉ thứ II Những bia
kí tìm được điều khắc bằng chữ Sancrit một văn tự cổ của Ấn Độ Chữ Arập được du nhập vào vương quốc Chiêm Thành cùng với đạo Hồi XI đến thế kỉ
XV nhưng không lấn át được chữ Phạn và lâu dần chữ Phạn cổ có nhiều thay đổi
Người Chăm pha trộn và cải biến chữ Phạn cổ thành tiếng Chăm mới nhất
là sau thế kỉ XV sau khi vương quốc miền Bắc tan rã, dân chúng Nam Chiêm Thành chỉ sử dụng chữ Chăm mới và còn áp dụng cho đến ngày nay Chữ Chăm mới còn trùng hợp với các loại chữ viết của các dân tộc hải đảo Đông Nam Á nhất là ngôn ngữ của Malaisia và Indonesia
2.1.2.2 Nhà cửa :
Thoáng nhìn thấy nhà của người Chăm không khác gì nhà của người kinh
và của một số dân tộc khác Thế nhưng bố cục và chưc năng của từng đơn vị kiến trúc trong một khuôn viên lại rất đặc biệt và phản ánh rõ tính chất mẫu hệ của gia đình người Chăm Trong đó, ngôi nhà tục (thang yo ) được làm trước tiên Nhà gồm hai gian một cháy theo hướng Đông –Tây và chái phía tây là nơi
ở đầu tiên của vợ chồng con gái chủ nhà Khi 7 người em gái lấy chồng, vợ chồng cô chị sẽ nhường thang yo cho em và chuyển sang mư yâu được dựng song song với thang yo Ngoài ra trong khuông viên còn có nhà ngang (thang gan) nơi nghỉ ngơi của cha mẹ và các người con chưa lập gia đình Nhà bếp (thang gin) là nơi nấu nướng của gia đình
Ngoài nhà bếp nằm riêng, ba nhà kia được nối liền nhau bằng một cửa sổ
và hệ thống máng nước giữa các mái tiếp xúc nhau Quanh khuông viên là một
Trang 38hàng rào cây khô xen dày với một cổng ra vào (thường lui vào bên trong hàng rào một đoạn) quay về hướng Nam hoặc Tây Nam
Người chăm ở An Giang tổ chức mặt bằng sinh hoạt còn phảng phất cái hình đồ sộ của nhà thang yo ở Bình Thuận Khuông viên của nhà Chăm không còn nhiều nhà mà chỉ có nhà chính và nhà phụ kết hợp thành hình thước thợ Chuồng trâu bò và lợn được làm ở xa nhà Nhà ở là nhà sàn, chân rất cao đề phòng ngập lụt Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt hoàn toàn khác với nhà ở Bình Thuận cũng như ở An Giang
2.1.2.3 Ẩm thực :
Như các dân tộc ở các nước Đông Nam Á khác người Chăm lấy gạo, rau
và cá làm thức ăn chính Thế nhưng truyền thống ẩm thực của người Chăm cũng có những sắc thái riêng
Thức ăn gồm thịt, cá, rau củ do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi trồng trọt mang lại Cũng lấy rau để làm canh ngoài các món canh thông thường người Chăm rất thích và hay nấu các món “canh bồi” loại canh được nấu bằng nhiều loại rau băm nhỏ trộn với gạo ngâm giã nhỏ và khuấy đều cho nhừ (loại canh phổ biến của các dân tộc tiểu số ở Tây Nguyên Và lấy cá làm thức ăn có chất đạm chính ngoài các món cá khác để ăn ngay người Chăm còn chế biến nhiều loại nước mắm và mắm cá Ngoài nấu cơm từ gạo được nấu trong các những nồi đất nung lớn, nhỏ thì người Chăm Ninh- Bình còn làm bún làm các loại bánh tượng trưng cho âm và dương ( như loại bánh dày bánh tét của người Việt)
Riêng người chăm An Giang thì làm nhiều bánh mang hình thù khác nhau
mà tiêu biểu là bánh tổ chim Ngoài ra thì thức uống có rượu cần và rượu gạo Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền
Trang 392.1.2.4 Trang phục
Dân tộc Chăm phân bổ theo những nhóm địa phương khác nhau.Chủ yếu
là sống tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận vad Bình Thuận Một số nơi khác như
An Giang Tây Ninh, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh Trang phục dân tộc Chăm có lối tạo dáng và trang trí riêng khó lẫn lộn với các tộc người trong nhóm ngôn ngữ hoặc khu vực
Trang phục nam của dân tộc Chăm vùng Thuận Hải, đàn ông lớn tuổi thường để tóc dài, quấn khăn Đó là loại khăn màu trắng có dệt thêu hoa văn ở các mép và hai đầu khăn cũng như các tua vải Khăn đội theo lối chữ nhân, hai đàu thả ra hai mang tai Nhóm Chăm Hroi đội khăn trắng quấn gọn trên đầu Nam mặc áo cánh xẻ ngực màu sáng hoặc tối Đó là loại áo cổ tròn cài cúc Có người mặc áo ngắn xẻ ngực, cộc tay Các đường viền ở cổ sườn, hai thân trước
và gấu được trang trí và đính cái miếng kim loại hình tròn, có nhóm mặc lễ phục là loại áo dài xẻ nách trắng hoặc đỏ Trang phục cổtruyền là chiếc váy và quần
Nhìn chung, phụ nữ các nhóm Chăm thường đội khăn Cách hoặc là phủ trên mái tóc hoặc quấn gọn trên đầu, hoặc quấn theo lối chữ nhân hoặc với loại khăn to quàng từ đầu rồi phủ kính vai Khăn đội đầu chủ yếu là màu trắng có loại được trang trí hoa văn theo lối viền các mép khăn Nhóm Chăm Hroi thì đội khăn màu chàm Lễ phục thường có chiếc khăn vắt vai ngoài chiếc dài màu trắng Đó là chiếc khăn dài tới 23 mét vắt qua vai chéo xuống hông, được dệt thêu hoa văn cẩn thận với các màu đỏ, trắng, vàng của các mô típ trong bố cục của dải băng Nhóm Khánh Hòa và một số nơi chị em mặc quần bên trong áo dài Nhóm Chăm Hroi mặc váy quấn (hở) có miếng đáp sau váy Nhóm Quãng Ngãi mặc áo cánh xẻ ngực cổ đeo vòng và các chuỗi hạt cườm.Trang phục Chăm vì có nhóm cơ bản là theo đạo Hồi nên cả nam và nữ lễ phục thiên về màu trắng Có thể thấy đặc điểm là lối tạo hình áo ( khá điển hình) là lối khoét
cổ và can thân và nách từ một miếng vải khổ hẹp thẳng ở giữa làm trung tâm áo cho cả áo ngắn và áo dài Mặt khác có thể thấy ở đây duy nhất là tộc còn thấy nam giới mặc váy ở nước ta với trang phục và phong cách thẩm mỹ riêng Ngày
Trang 40nay cộng đồng người Chăm lớn nhất thế giới là vào khoảng giữa nửa triệu đến một triệu tại Campuchia sau đó là cộng đồng Việt Nam với gần tám mươi ngàn người
2.1.2.5 Tôn giáo – Tín ngưỡng
Người Chăm có tín ngưỡng, tôn giáo rất phong phú Tín ngưỡng của người Chăm có từ xa xưa và mang dấu ấn của người nguyên thủy Đó là sự tin tưởng vào sự tồn tại của một thế giới siêu nhân, nơi các thần linh ngự trị và cũng chính là nơi tồn tại của ma quỉ và linh hồn của những vật thể ở thế giới trần tục sau khi chết Người Chăm luôn tin rằng tất cả các vật thể cũng như mọi người đều có linh hồn và linh hồn thì tồn tại vĩnh viễn dù con người có chết đi
và các vật thể đã bị hư hại những linh hồn cùng với maquỉ và thần linh luôn có những tác động, chi phối, ảnh hưởng tới thế giới hiện hữu đến 10 đời sống của cộng đồng cũng như đến từng thành viên trong cộng đồng người Chăm Người Chăm thờ rất nhiều vị thần linh như thần cây, thần đá thần nước, thờ linh hồn tổ tiên
Người Chăm là một cộng đồng đa tôn giáo niềm tin tôn giáo luôn đóng vai trò rất cao trong đời sống tâm lí của họ, chi phối hoạt động nhận thức, tình cảm, ý chí của mỗi cá nhân trong cộng đồng người Chăm có niềm tin tôn giáo rất sâu sắc chịu sự chi phối ràng buộc chặt chẽ bởi tôn giáo truyền thống
Người Chăm theo Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo Tôn giáo chính thời vương quốc ChămPa cổ là Ấn Độ giáo và văn hóa chịu ảnh hưởng sâu sắc của
Ấn Độ Tuy nhiên cái gọi là đạo Bàlamôn (tức là tục bachăm) ngày nay hoàn toàn không liên quan với Ấn Độ giáo này Ngày nay hầu hết người Chăm theo Hồi giáo Hồi giáo của người Chăm có hai loại là: tục Bani - tục Bachăm và hồi giáo Suni (thuộc giáo phái Hanafi) Tục Bani và tục Bachăm là một tôn giáo chịu ảnh hưởng của Hồi giáo Shi’a, họ rất tôn trọng Ala như Muhamad Còn Hồi giáo Suni thì không chắp nhận tộn trọng Ala như Muhamad
Đặc biệt vật linh mà người Chăm xưa hay thờ phụng là Linga và Yoni trong các ngôi tháp của mình Hình ảnh hay biểu tượng của vật linh này là sự