LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng: các thông tin, tư liệu được sử dụng trong luận văn Thạc sĩ “Sự thích ứng của cộng đồng dân cư tái định cư trong quá trình đô thị hóa Nghiên cứu trường
Trang 1
ĐỖ HOÀNG PHƯƠNG AN
SỰ THÍCH ỨNG CỦA CỘNG ĐỒNG
NGƯỜI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP: NGƯỜI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được nhiều sự hỗ trợ, quan tâm, giúp đỡ, động viên từ quý thầy cô, cộng đồng người dân tái định cư ở chung cư An Phú, gia đình, bạn bè trong suốt thời gian qua
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Phan Văn Dốp – giảng viên đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn, đồng thời chia sẻ những tư liệu quý giá đồng thời góp ý cho nội dung luận văn thêm hoàn chỉnh
Xin cảm ơn quý thầy cô khoa Nhân học đã truyền dạy cho tôi những kiến thức bổ ích, sự say mê nghiên cứu, tinh thần học hỏi trong suốt quá trình học Đại học và Sau đại học tại khoa
Tôi xin gửi lời tri ân chân thành nhất đến Ban lãnh đạo phường An Phú, Quận 2 và cộng đồng người dân tái định cư ở chung cư An Phú đã tạo điều kiện cho quá trình khảo sát của tôi, đồng thời cung cấp cho tôi những thông tin quý giá liên quan đến nội dung luận văn
Cuối củng, không thể thiếu lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, hỗ trợ tôi rất nhiều khi thực hiện luận văn
Trân trọng!
Đỗ Hoàng Phương An
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: các thông tin, tư liệu được sử dụng trong luận văn
Thạc sĩ “Sự thích ứng của cộng đồng dân cư tái định cư trong quá trình đô thị hóa (Nghiên cứu trường hợp người dân tái định cư P An Phú, Q.2, TP HCM”
là do tôi tiến hành điền dã thực tế, đảm bảo tính trung thực Nội dung luận văn chưa từng công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả
Đỗ Hoàng Phương An
Trang 4MỤC LỤC
DẪN LUẬN 5
Chương 1: Tổng quan về đô thị hóa và tái định cư ở TP Hồ Chí Minh 12
1.1 Tổng quan về vấn đề đô thị hóa ở TP Hồ Chí Minh 12
1.1.1 Các khái niệm về đô thị hóa 12
1.1.2 Sơ lược về các giai đoạn đô thị hóa ở TP Hồ Chí Minh 14
1.1.2.1 Quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn từ 1860 – 1945 17
1.1.2.2 Quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn từ 1945 – 1975 18
1.1.2.3 Quá trình đô thị hóa ở TP Hồ Chí Minh từ 1975 đến nay 22
1.1.3 Vấn đề đô thị hóa ở quận 2, TP Hồ Chí Minh 23
1.1.3.1 Sự gia tăng dân số 25
1.1.3.2 Sự gia tăng mật độ dân cư 26
1.1.3.3 Sự gia tăng số lượng người nhập cư 27
1.1.3.4 Sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất 29
1.1.3.5 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 30
1.2 Tổng quan về vấn đề tái định cư ở TP Hồ Chí Minh 30
1.2.1 Cơ sở lý luận của việc tái định cư 30
1.2.1.1 Lý thuyết hệ thống áp dụng cho việc tái định cư 30
1.2.1.2 Các khuyến cáo về chính sách tái định cư của các tổ chức quốc tế 32
1.2.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu về tái định cư 37
1.2.3 Thực tiễn của việc tái định cư trên địa bàn TP Hồ Chí Minh hiện nay 42
1.2.3.1 Đặc điểm của đối tượng tái định cư 42
Trang 51.2.3.2 Sơ lược một số dự án tái định cư trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 46
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VÀ SỰ THÍCH ỨNG CỦA NGƯỜI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 53
2.1 Thực trạng đời sống kinh tế xã hội của người dân sau tái định cư 53
2.1.1 Tái định cư tác động đến việc làm và thu nhập của người dân 57
2.1.1.1 Tác động đến việc làm 57
2.1.1.2 Tác động đến thu nhập 64
2.1.2 Tái định cư tác động đến nhà ở và các dịch vụ, cùng với môi trường sống của người dân 74
2.1.2.1 Tác động đến nhà ở và các dịch vụ 75
2.1.2.2 Tác động đến môi trường sống 81
2.2 Sự thích ứng của người dân đối với cuộc sống sau khi tái định cư 88
2.2.1 Lựa chọn của người dân đối với mô hình căn hộ chung cư 88
2.2.1.1 Những khó khăn khi lựa chọn căn hộ chung cư 88
2.2.1.2 Nguyên nhân của lựa chọn 91
2.2.2 Các phương thức thích ứng 99
2.2.2.1 Từ phía chủ quan 99
2.2.2.2 Từ phía khách quan 104
2.3 Ý kiến của người trong cuộc và một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng đời sống hiện nay của các hộ gia đình tái định cư 107
2.3.1 Ý kiến người trong cuộc 107
2.3.1.1 Cuộc sống hiện tại so với trước khi tái định cư 107
2.3.1.2 Những nguyện vọng về sự hỗ trợ 108
Trang 62.3.2 Một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng đời sống hiện nay của các hộ gia
đình tái định cư 109
2.3.2.1 Nguyên nhân khách quan 110
2.3.2.2 Nguyên nhân chủ quan 111
2.3.3 Một số giải pháp 115
2.3.3.1 Mô hình tín dụng nhỏ 116
2.3.3.2 Đào tạo nghề cho người tái định cư 117
2.3.3.3 Vấn đề nhà ở 118
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
PHỤ LỤC 1 BẢNG HỎI 129
PHỤ LỤC 2 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU TIÊU BIỂU 136
Trang 7MỤC LỤC BẢNG
Bảng 1 Nhóm tuổi theo giới tính 54
Bảng 2 Trình độ học vấn phân theo giới tính 55
Bảng 3 Nghề nghiệp phân theo giới tính 56
Bảng 4 Sự thay đổi công việc hậu tái định cư xét theo giới tính 57
Bảng 5 Thay đổi công việc hậu tái định cư xét theo nhóm tuổi 60
Bảng 6 Thay đổi công việc hậu tái định cư xét theo trình độ học vấn 61
Bảng 7 Nhóm tuổi ở nhóm Thất nghiệp xét theo giới tính 63
Bảng 8 Trình độ học vấn ở nhóm Thất nghiệp xét theo giới tính 64
Bảng 9 Thu nhập hộ gia đình hiện nay so với trước khi tái định cư 66
Bảng 10 Thu nhập cá nhân hiện tại so với trước khi tái định cư 67
Bảng 11 Thu nhập cá nhân trước và sau khi tái định cư xét theo giới tính 69
Bảng 12 Thu nhập cá nhân hiện nay so với trước khi tái định cư xét theo nhóm tuổi 71 Bảng 13 Thu nhập cá nhân hiện nay so với trước khi tái định cư 72
Bảng 14 Thu nhập cá nhân hiện nay so với trước khi tái định cư 73
Bảng 15 So sánh mức độ hài lòng giữa ngôi nhà trước khi tái định cư 76
Bảng 16 So sánh mức độ hài lòng giữa môi trường tự nhiên 83
Bảng 17 Số hộ có thành viên tiếp nhận một loại hình đào tạo 101
Bảng 18 Số hộ có thành viên có nguyện vọng học nghề 102
Trang 8DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Đô thị hoá là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trên con đường phát triển Quá trình
đô thị hoá bắt đầu ở phương Tây rồi tiếp tục diễn ra ở Mỹ những năm cuối thế kỷ XIX
và ở châu Á vào những thập niên 60, 70 thế kỷ XX Đô thị hóa là hệ quả tất nhiên của công cuộc công nghiệp hóa nhằm hiện đại hoá đất nước Trước đó nữa, sự chuyển biến các chức năng đô thị trong thời kỳ giao lưu hàng hoá, tiền tệ phát triển mạnh làm xuất hiện hàng loạt nhà ga, hệ thống hạ tầng giao thông, điện nước, các phương thức xây dựng mới bằng vật liệu bê tông, sắt, thép làm thay đổi bộ mặt của đô thị, kiến trúc thế giới Trong thế kỷ XX, các nước phát triển đã chuyển gần 80% - 90% dân số cư trú từ nông thôn sang cư trú ở đô thị, đưa số người sống trong đô thị hiện nay lên 50% dân số của thế giới (khoảng hơn 3 tỉ người chỉ trong một thế kỷ)1 Tác động của các cuộc cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi diện mạo của cả khu vực thành thị lẫn nông thôn một cách sâu sắc, hình thành nên hệ thống kiến trúc hiện đại, nếp sống văn minh đô thị tại các nước phát triển trên thế giới
Ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ như một xu hướng tất yếu của sự phát triển Đô thị hóa song hành với quá trình công nghiệp hóa ở nước ta đang từng ngày làm đổi thay diện mạo đất nước, cung cấp những công năng đô thị đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống hiện đại Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình đô thị hoá diễn ra hết sức nhanh chóng nhất là trong
10 năm trở lại đây, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị Tính đến năm 2007, cả nước đã có 729
1
http://www.cefurds.com/index.php?option=com_content&task=view&id=275&Itemid=116
Trang 9đô thị bao gồm 2 đô thị đặc biệt: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội; 4 đô thị loại 1: Hải Phòng,
Đà Nẵng, Cần Thơ, và Huế; 13 đô thị loại 2; 36 đô thị loại 3; 39 đô thị loại 4 và 635
đô thị loại 5 (đạt tỷ lệ đô thị hoá xấp xỉ 27%) Tỷ lệ dân số đô thị hiện nay dưới 40%, theo quy hoạch phát triển đến năm 2010 tỷ lệ đó sẽ đạt 56-60%, đến năm 2020 là 80%2 Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, dân số cư dân đô thị là 25.436.896 người, chiếm 29,63% dân số cả nước (85.846.997 người)3 Đặc biệt, do vị trí địa lý thuận lợi về phát triển giao thương, kinh tế nên quá trình đô thị hóa ở TP Hồ Chí Minh diễn ra tương đối sớm và rất nhanh chóng TP Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất ở Việt Nam, có lịch sử hình thành, phát triển còn rất trẻ, song hiện nay là khu vực
có nền kinh tế năng động nhất cả nước TP Hồ Chí Minh vừa là trung tâm văn hóa lớn đồng thời là trung tâm kinh tế hàng đầu của cả nước Với số dân khoảng 8,5 triệu người (theo thống kê năm 2007), nhưng thành phố đã nộp ngân sách gần 70.000 tỷ đồng (chiếm 1/3 tổng thu ngân sách), GDP chiếm tới 20% và kim ngạch xuất khẩu chiếm hơn 1/3 tổng kim ngạch của cả nước Đánh giá đúng vị trí trọng yếu của Thành phố đối với đất nước, chính phủ Việt Nam đã đề ra mục tiêu đưa TP Hồ Chí Minh trở thành thành phố công nghiệp có công nghệ cao của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của Việt Nam vào năm 2015 – 20174 Thực hiện mục tiêu trên, quá trình đô thị hóa ở TP HCM sẽ diễn ra với tốc độ nhanh chóng hơn và cư dân vùng nông thôn ngoài thành sẽ còn giảm xuống hơn nữa.Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 Thành phố Hồ Chí Minh có dân số 7.162.864 người gồm 1.824.822 hộ dân trong đó: 1.509.930 hộ tại thành thị và 314.892 hộ tại nông thôn5
Trang 10Thu hồi đất, đền bù tái định cư trong các dự án xây dựng là vấn đề chung của các quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việc hình thành các công trình, dự án lớn như giao thông, quốc lộ, vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp, khu đô thị mới v.v… đã kéo theo việc tái định cư cho hàng trăm ngàn con người, đồng thời làm đảo lộn cuộc sống của họ vốn đang ổn định trước đó Ở nước ta, công tác tái định cư là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm với nguyên tắc “đảm bảo cho người dân có cuộc sống nơi ở mới tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ”, với phương châm là tái định cư không chỉ để giải phóng mặt bằng xây dựng mà còn gắn với phát triển kinh tế
xã hội của địa phương nói riêng và đất nước nói chung Tính đến năm 2010, chỉ trong vòng 10 năm, TP HCM đã triển khai giải phóng mặt bằng phục vụ công tác xây dựng tới 1.090 dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật với tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ di dời lên tới 82.000 tỷ đồng Để thực hiện số lượng dự án khổng lồ này, đã có tới 165.180 hộ dân trên địa bàn bị thu hồi đất, trong đó số hộ có nhu cầu tái định cư lên tới 61.780 hộ Tuy nhiên, hiện cũng mới chỉ có trên 23.000 hộ dân được giải quyết tái định cư, 18.400
hộ dân còn lại vẫn đang mòn mỏi chờ đến ngày được nhận nhà, đất Trong khi đó, theo tổng hợp từ Sở Xây dựng, giai đoạn 2011 - 2015 tới đây TP HCM sẽ tiếp tục cho thực hiện khoảng 500 dự án, ảnh hưởng tới nhà đất của 116.000 hộ dân6 Giai đoạn này thành phố cũng sẽ triển khai các dự án đặc biệt lớn, phải tiến hành thu hồi đất đồng loạt với hàng ngàn hộ dân cùng lúc như dự án xây dựng các tuyến Metro; Dự án nâng cấp chỉnh trang đô thị… Bên cạnh việc chuẩn bị đủ quỹ nhà, đất tái định cư cho người dân
bị giải tỏa, cũng cần phải nghiên cứu tìm hiểu đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng người dân tạm cư và tái định cư để nhằm có những hỗ trợ thiết thực, giúp họ mau chóng ổn định cuộc sống
6
http://www.cand.com.vn/vi-VN/xahoi/2010/10/139236.cand
Trang 112 Mục tiêu của đề tài
3 Giả thuyết nghiên cứu, lý thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu
Người dân tạm cư và tái định cư gặp nhiều rất nhiều khó khi bị tách khỏi môi trường sống quen thuộc của họ trước đây Đời sống của họ bị xáo trộn mãnh liệt ở nhiều mặt, đặc biệt là ở vấn đề việc làm Điều này đòi hỏi họ phải đầ ra những phương thức thích ứng cuộc sống mới nhằm ổn định đời sống của bản thân và gia đình Các chính sách đền bù, hỗ trợ việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp của công tác tái định cư tuy có những tác động tích cực nhất định nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu
Lý thuyết nghiên cứu
Đề tài sử dụng thuyết chức năng của Bronislaw Malinowski làm lý thuyết nền tảng Lý thuyết này nhấn mạnh đến nhu cầu trực tiếp của cá nhân cũng như nhu cầu
Trang 12thứ cấp, tính duy lý của cá thể (tương trợ có qua có lại là nguyên tắc của quan hệ xã hội) và sự căng thẳng giữa nhu cầu của cá nhân và quy ước xã hội Đi vào cụ thể, Malinowski nhấn mạnh đến tính toán của cá thể trong quan hệ xã hội và việc quan hệ
xã hội dựa trên nguyên tắc qua lại, đôi bên cùng có lợi, cảm nhận về nghĩa vụ và việc nhìn nhận nhu cầu hợp tác (với những thành viên khác) cùng song hành với ý thức về lợi ích của mình (self-interest), ưu quyền (privileges), và lợi ích (benefit) Lý thyết này được dùng để xem xét động lực thích ứng của các cá nhân cùng với cơ chế hình thành
và duy trì mạng lưới xã hội
4 Phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận đối với đề tài này được xác định là một cách tiếp cận liên ngành xã hội học và nhân học xã hội Về mặt phương pháp luận, đề tài sử dụng các quan điểm sau:
Quan điểm hệ thống cấu trúc: Quan điểm hệ thống cấu trúc là một luận điểm quan trọng của phương pháp luận nhận thức Phương pháp hệ thống là con đường nghiên cứu các đối tượng phức tạp trên cơ sở phân tích đối tượng thành các bộ phận để nghiên cứu một cách sâu sắc, để tìm ra tính hệ thống, tính toàn diện của đối tượng Quan điểm này yêu cầu phải xem xét các đối tượng một cách toàn diện nhiều mặt, nhiều mối quan
hệ, trong trạng thái vận động và phát triển, trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể để tìm ra bản chất và các quy luật vận động của đối tượng
Quan điểm lịch sử lôgíc: Thực hiện quan điểm này một mặt cho phép nhìn thấy toàn bộ sự phát triển của đối tượng nghiên cứu; sự xuất hiện quá trình diễn biến, phát triển và kết thúc sự kiện, giúp phát hiện các quy luật phát triển tất yếu của đối tượng Quan điểm lịch sử - lôgic trong nghiên cứu khoa học yêu cầu phải nghiên cứu đối tượng bằng phương pháp lịch sử Phát hiện nguồn gốc nảy sinh, quá trình diễn biến của
Trang 13đối tượng trong những thời gian Phát hiện nguồn gốc nảy sinh, quá trình diễn biến của đối tượng trong những thời gian, không gian với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể
Nhằm để thao tác hóa các phương pháp luận nêu trên, đề tài sử dụng các phương thức thu thập dữ liệu đặc trưng và liên ngành gồm:
Phương pháp quan sát tham dự: Đây là phương pháp đặc trưng của ngành
Nhân học, nhằm tìm hiểu và có những trãi nghiệm về đời sống của cộng đồng mẫu nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn sâu: Gồm có phỏng vấn sâu cá nhân, phỏng vấn sâu
nhóm, phỏng vấn sâu chiến lược… giúp thu thập các dữ liệu định tính, từ đó cho phép xem xét sâu hơn vấn đề đang nghiên cứu
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế và điều tra bảng hỏi giúp thu
thập các thông tin định lượng, từ đó có thể rút ra các nhận định có tính đại diện cao về vấn đề nghiên cứu
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu – mẫu khảo sát
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng đời sống của cộng đồng người dân tái định cư theo diện nhận căn hộ chung cư cùng với các phương thức thích ứng của họ trong môi trường xã hội mới
Phạm vi nghiên cứu của đề tài về mặt không gian là các chung cư tái định cư ở P
An Phú, Q.2, TP Hồ Chí Minh
Mẫu nghiên cứu của đề tài là người dân sống trong khu vực, bao gồm những người dân đã nhận căn hộ ở chung cư dành cho người tái định cư ở phường An Phú Việc chọn mẫu trong cuộc điều tra bằng bản câu hỏi được tiến hành bằng cách kết hợp giữa phương pháp chọn mẫu điển hình và phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Trước
Trang 14hết chúng tôi chọn hai khu chung cư ở P An Phú, Q 2 do những đặc trưng của khu dân
cư này có thể đại diện cho vấn đề mà đề tài đang nghiên cứu Tại đây, chúng tôi chọn mẫu điều tra hộ gia đình theo phương pháp ngẫu nhiên căn cứ trên danh sách hộ gia đình tái định cư của phường An Phú
6 Ý nghĩa
Ý nghĩa khoa học
Về mặt khoa học, các nghiên cứu về đô thị hóa có ý nghĩa quan trọng trong thời đại ngày này, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam nói chung và TP Hồ Chí Minh nói riêng đang trong xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
7 Nội dung nghiên cứu:
Để lý giải các giả thuyết nghiên cứu đã nêu ở trên, luận văn này sẽ tìm hiểu các nội dung chính sau đây:
- Thực trạng đời sống của cộng đồng cư dân tái định cư, bao gồm các vấn đề về
việc làm, thu nhập, môi trường sống
- Các phương thức để thíc ứng với cuộc sống mới của người dân tái định cư, từ phía chủ quan lẫn khách quan
Trang 15Chương 1: Tổng quan về đô thị hóa và tái định cư ở TP Hồ Chí Minh 1.1 Tổng quan về vấn đề đô thị hóa ở TP Hồ Chí Minh
1.1.1 Các khái niệm về đô thị hóa
Đô thị
Trong tiếng Việt, có nhiều từ chỉ khái niệm “đô thị”: đô thị, thành phố, thị trấn, thị xã Các từ đó đều có 2 thành tố: đô, thành, trấn, xã hàm nghĩa chức năng hành chính; thị, phố có nghĩa là chợ, nơi buôn bán, biểu hiện của phạm trù hoạt động kinh tế Hai thành tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lại trong quá trình phát triển Như vậy, một tụ điểm dân cư sống phi nông nghiệp và làm chức năng, nhiệm vụ của một trung tâm hành chính - chính trị - kinh tế của một khu vực lớn nhỏ, là những tiêu chí cơ bản đầu tiên để định hình đô thị [33, 549]
Ở Việt Nam, theo nghị định 72/2001/NĐ/CP ngày 5/10/2001 của Chính phủ quyết định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí, tiêu chuẩn sau7:
+ Thứ nhất, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định
+ Thứ hai, đặc điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân số tối thiểu từ 4000 người trở lên
+ Thứ ba, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, nội thị từ 65% trở lên trong tổng số lao động nội thành, nội thị và là nơi có sản xuất và dịch vụ thương mại phát triển
+ Thứ tư, có cơ sở hạ tầng kĩ thuật phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị
7
Nghị định của Chính phủ số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị, tr.11
Trang 16+Thứ năm, có mật độ dân số nội thành, nội thị phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng đô thị, tối thiểu là 2000 người/ km2 trở lên
Đô thị hóa
Từ góc độ nhân khẩu học và địa lý kinh tế, đô thị hóa được hiểu là sự di cư từ nông thôn tới đô thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ đô thị Mức độ đô thị hóa của một quốc gia được đo lường bằng tỷ lệ dân cư
đô thị trong tổng số dân Về mặt xã hội, đô thị hóa được hiểu là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của con người đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và những yếu tố vật chất, mà còn làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống kinh tế-
xã hội, phổ biến lối sống đô thị tới các vùng nông thôn, và toàn bộ xã hội Như vậy, quá trình đô thị hóa không chỉ diễn ra về mặt số lượng như tăng trưởng dân số, mở rộng lãnh thổ, tăng trưởng về sản xuất, mà còn thể hiện cả về mặt chất lượng, nâng cao mức sống, làm phong phú hơn các khuôn mẫu và nhu cầu văn hóa
Cho đến thế kỷ 20, quá trình đô thị hóa thế giới chủ yếu diễn ra theo bề rộng, ở đó các dấu hiệu về sự tăng trưởng số dân đô thị, số lượng các thành phố, sự mở rộng lãnh thổ các đô thị chiếm ưu thế Nửa sau của thế kỷ được đánh dấu bởi quá trình đô thị hóa theo chiều sâu, đặc biệt ở các nước công nghiệp phát triển, sự gia tăng của các dấu hiệu định lượng chững lại, thậm chí sút giảm (do phi tập trung hóa đô thị, quá trình đô thị hóa ) Thay vào đó, các dấu hiệu định tính được chú ý đề cao: chất lượng, tiêu chuẩn sống đô thị được nâng cao, sự đa dạng và phong phú các kiểu mẫu văn hóa và nhu cầu Tuy nhiên, đối với các nước thuộc thế giới thứ ba, quá trình đô thị hóa vẫn còn nằm trong khuôn khổ của quá trình đô thị hóa theo bề rộng
Trang 171.1.2 Sơ lược về các giai đoạn đô thị hóa ở TP Hồ Chí Minh
TP Hồ Chí Minh - với tên gọi quen thuộc từ xưa là Sài Gòn, là một vùng đất sớm hình thành và phát triển Thành phố được hình thành trên lằn ranh giới giữa hai vùng phù sa cũ và mới nối từ Tây Ninh xuống thành phố và từ thành phố xuống Long Điền (Bà Rịa - Vũng Tàu) TP Hồ Chí Minh thuộc vùng Đông Nam Bộ cận kề mật thiết với
ba vùng Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Thành phố hiện nay có diện tích khoảng 2.095 km2, chiếm 0,76% diện tích toàn quốc, nằm ở tọa độ địa lý 10010’ - 10038’ vĩ Bắc đến 106022’ - 106054’ kinh Đông TP Hồ Chí Minh gồm 24 quận, huyện với 317 phường xã chia ra 19 quận đô thị nội thành với 254 phường rộng 494 km2 và 5 huyện nông thôn ngoại thành với 63 xã rộng 1.601 km2 [12, 16] Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm, cũng giống như các tỉnh Nam Bộ khác, thành phố chỉ có hai mùa là mùa khô và mùa mưa với thời tiết điều hòa, nóng ẩm, tạo môi trường thuận lợi cho cây cối phát triển tươi tốt Cư dân thành phố vào khoảng hơn 8,5 triệu người (2008), thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau, ngoài người Việt còn có người Hoa, Khmer, Ấn, Mạ, Stiêng và cả một số ngoại kiều, với mật độ dân số khoảng 4.057,3 người /km²8
Vào những thế kỷ đầu công nguyên, vùng Sài Gòn thuộc lãnh thổ vương quốc cổ Phù Nam Đến thế kỷ thứ VII, Phù Nam suy yếu và bị Chân Lạp thôn tính, Sài Gòn trở thành vùng đất phụ thuộc lỏng lẻo Chân Lạp gồm hai khu vực Kampong Krâbei (tức Bến Nghé - nội thành Sài Gòn ngày nay) và Brai Nokor (nay là Sài Gòn - Chợ Lớn) Trong’ Gia Định thành thông chí”, Trịnh Hoài Đức cũng nói Gia Định là đất thuộc Chân Lạp xưa, tên gọi Sài Gòn xuất phát từ tên Brai Nokor, nghĩa là “rừng cây gòn”, người Hoa phiên âm thành Sài Côn, người Việt đọc thành Sài Gòn Nội bộ Chân Lạp
có chiến tranh liên miên và do người Khơ - me có thói quen sinh sống ở các rẻo ruộng
8http://www.hochiminhcity.gov.vn/
Trang 18cao, nên phần lớn vùng Nam Bộ vốn có nhiều đầm lầy, sông rạch bị bỏ thành hoang phế và gần như vùng đất vô chủ Năm 1620, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chey Chetha II (1618 - 1686) và ông đã cho lập hai đồn thu thuế ở Sài Gòn là Kas Brobei và Brai Nokor (1623) Vào năm 1679, một số quan lại cũ dưới triều Minh như Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, Trần
An Bình không chịu thuần phục nhà Thanh đã đem 3.000 quân cùng gia đình trên 50 chiếc thuyền sang xin thần phục chúa Nguyễn Chúa Nguyễn Phúc Tần đã phong cho
họ quan chức và cho phép các nhóm người Hoa vào làm ăn sinh sống rộng khắp vùng đất Nam Bộ xưa Số người Hoa đó đã sớm trở thành công dân đất Việt, góp phần cùng với người Việt khai phá vùng đất Sài Gòn Đầu năm 1679, Sài Gòn được chọn làm nơi trú đóng cho các cơ quan công quyền bán chính thức của nhà Nguyễn
Năm 1698, chúa Nguyễn cử thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược Nguyễn Hữu Cảnh đã lấy “đất Nông Nại làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn; mỗi dinh đặt chức lưu thú, cai bộ và ký lục để cai trị” [32, 137] Ranh giới giữa hai huyện Phước Long (Đồng Nai) và Tân Bình (Sài Gòn) là sông Sài Gòn Năm 1698 trở thành mốc đánh dấu hình thành Sài Gòn, vì từ đó mới có phủ sở Gia Định, huyện sở Tân Bình thuộc phủ Gia Định, xứ Sài Gòn từ lúc đó mới chính thức là đất của Việt Nam Thủ phủ Gia Định đặt ở Bến Nghé và phố thị Bến Nghé (hay còn gọi là phố thị Bến Thành) xưa nằm trải trên bờ sông Sài Gòn và đường Nguyễn Huệ ngày nay Từ năm 1698, Sài Gòn trở thành trị sở quan trọng nhất cho vùng đất mới phía nam
Vào năm 1771 diễn ra giao tranh lớn giữa Tây Sơn và quân Nguyễn ở vùng đất Đồng Nai; cù lao Phố bị tàn phá nên người Hoa (vốn nắm vai trò kinh tế trọng yếu ở đây) bỏ chạy xuống Gia Định, tái lập cơ nghiệp dọc theo kênh Bến Nghé từ khu vực Chợ Cũ Sài Gòn ngày nay đến khu vực Chợ Lớn cũ ngang Xóm Củi (khu vực bưu điện
Trang 19Quận 5 ngày nay) Nhiều người cho rằng địa danh “Chợ Lớn” có lẽ được phát âm theo tiếng Khmer “Cần Chớ” có nghĩa là cái cần ché hay xé, loại vật dụng đan bằng tre để phục vụ ngày mùa hay săn bắt thủy hải sản Ở Nam Bộ nhất là Sài Gòn, Chợ Lớn ngày nay vẫn còn thông dụng nhiều vật dụng đan lát bằng tre, trong đó có cần xé - có nguồn gốc từ chữ Cần Chớ Người Việt chỉ ghi nhận chữ “Chớ” đọc thành “Chợ” Người ta gọi Chợ Lớn ở Sài Côn có lẽ là để phân biệt với Chợ Nhỏ ở Bến Nghé
Sài Gòn vẫn phát triển không ngừng, kể cả trong giai đoạn tranh chấp giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn Sau khi lấy lại Gia Định (năm 1788), Nguyễn Ánh thấy các lũy đất chưa đủ vững chắc để bảo vệ Gia Định, nên năm 1790, ông ta đã sai Trần Văn Học cùng một số người Pháp xây dựng thành Gia Định theo kiểu công sự Vauban Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, vị trí thành Gia Định nằm trên vùng đất tiếp giáp giữa bốn đường Lê Thánh Tôn - Tôn Đức Thắng, Đinh Tiên Hoàng - Nguyễn Đình Chiểu - Nam Kỳ Khởi Nghĩa ngày nay Từ thế kỷ XVII trở đi, Sài Gòn dần dần trở thành trung tâm hành chính quan trọng và là đầu mối trung tâm, phố chợ của một vùng đất đai rộng lớn, với số dân “hơn 4 vạn hộ” Trên vùng đất mới này, vì muốn nhanh chóng khai thác đất đai, lúa gạo, chúa Nguyễn đã ban hành cơ chế quản lý khá mềm dẻo: cho cư dân tự do khai phá và chiếm hữu ruộng đất, cho mua bán nô tì và khuyến khích phát triển thương mại Chính sách kinh tế xã hội khá “thoáng” và linh hoạt của nhà Nguyễn đã góp phần đẩy mạnh công cuộc khẩn hoang lập ấp và biến lúa gạo thành hàng hóa thương phẩm quan trọng ở vùng Gia Định xưa Do vậy, việc xuất hiện “thị trường lúa gạo ở Gia Định đã khá sớm, khá lớn, đã tấp nập, ít ra là từ giữa thế
kỷ XVIII” [13, 221] Gia Định không chỉ trở thành vựa lúa quan trọng hàng đầu đối với vùng đất phía nam mà còn đối với cả nước Các hoạt động nông nghiệp truyền thống
đã tạo điều kiện cho kinh tế công thương nghiệp phát triển, thay đổi bộ mặt vùng đất mới Do đấy, Sài Gòn đã trở nên thành phố hay thành thị rất sớm và luôn phát triển cùng với toàn vùng đất miền Nam
Trang 201.1.2.1 Quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn từ 1860 – 1945
Sau khi đánh chiếm thành Gia Định (1859), Pháp đã đổi tên thành phố Chợ Lớn (khu vực quận 5) và phố thị Bến Nghé (hay khu vực phố thị Bến Thành) là thành phố Sài Gòn Thành Gia Định (tức thành Phụng) Pháp cũng gọi là thành Sài Gòn Từ 1860, Pháp xúc tiến xây dựng, khai thác Sài Gòn để phục vụ cho nuôi dưỡng chiến tranh xâm lược, nên việc xây cất Sài Gòn đã có những thay đổi mạnh mẽ Ngày 22 tháng 2 năm
1860, Pháp cho mở hải cảng Sài Gòn đón thương thuyền của Pháp và các nước Châu
Âu và để xuất cảng lúa gạo, nông sản Nam Kỳ [14, 12] Thực dân Pháp bắt đầu xây dựng khu hành chính trung tâm, cùng hàng loạt các công trình giao thông, dinh thự, nhà thờ cùng các cơ sở hạ tầng, đã làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt của đô thị Sài Gòn Sài Gòn dưới thời Pháp thuộc là một đô thị thương cảng nổi tiếng ở vùng Đông Nam Á và Đông Bắc Á Sài Gòn trở thành một trong những thương cảng hàng đầu trong các quốc gia thuộc địa của Pháp Ngày 15 - 3 - 1874, tổng thống Pháp ký sắc lệnh thành lập thành phốSài Gòn Đầu thế kỷ XX, Chợ Lớn sáp nhập vào thành phố Sài Gòn
và Sài Gòn trở thành đô thị lớn nhất xứ Đông Dương thuộc Pháp Pháp đã cho xây dựng hàng loạt các công trình hạ tầng ở Sài Gòn phục vụ cho việc cai trị và khai thác thuộc địa, nên tiến trình đô thị hóa ở thành phố Sài Gòn diễn ra khá mau chóng Sơ đồ quy hoạch đô thị Sài Gòn được trung tá công binh Pháp là Coffyn vẽ trên cơ sở của Nghị định do Charner phác họa ngày 11 - 2 - 1861 Phác đồ này gồm nhiều khu hành chính, thương mại, nhà ở công chức Pháp, trại lính v.v… dành cho số dân là 500.000 người Đề án của Coffyn bị coi là hết sức viển vông và bị người Pháp bác bỏ, vì họ cho rằng không bao giờ Sài Gòn có đủ số dân đó (cả Nam Bộ lúc đó chỉ có gần 1 triệu dân) Coffyn đã đúng, nhưng có lẽ ông cũng chưa hình dung hết quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn sau này lại diễn ra rất nhanh chóng Điểm khởi đầu của quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn là việc xây dựng phố Catinat và một hệ thống nhà thờ Công giáo ở khu vực người Việt và người Hoa Từ năm 1905 cho đến năm 1935, đô thị hải cảng Sài Gòn đã được xây dựng và hoàn chỉnh, cấu trúc đô thị Sài Gòn không khác nhiều lắm so với năm
Trang 211954 sau này Cho đến năm 1905, phố xá và khu vực đô thị, các công thự, đường đi của đô thị Sài Gòn đã có phần bề thế, khang trang còn hơn cả một số đô thị khác ở Đông Nam Á như Singapour, Kualampur, Băng Cốc v.v Đô thị trung tâm Sài Gòn được tập trung chỉnh trang, xây cất nhiều ở các khu vực quận 1 và một phần đất của quận 3 ngày nay [8, 54-55] Ở các vùng lân cận hai khu vực trên tốc độ đô thị hóa cũng diễn ra mạnh mẽ
Suốt hơn 80 năm dưới thời thuộc Pháp, Sài Gòn là thành phố đứng hàng đầu Đông Dương và được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” Nó là thủ phủ của xứ Nam Kỳ thuộc địa Pháp, trở thành thủ đô kinh tế của Liên bang Đông Dương [22297]
và là đầu cầu giao thương với thị trường Hồng Kông và Singapour thuộc Anh Vào năm 1929, Sài Gòn - Chợ Lớn có hơn ba trăm ngàn dân và dân số của nó đạt tới 498.000 người vào năm 1943 [31, 75] Hàng vạn nông dân từ các vùng nông thôn đổ
về Sài Gòn, làm thuê trong các nhà máy của Pháp, đã làm cho dân số ở thành phố Sài Gòn tăng lên nhanh chóng
1.1.2.2 Quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn từ 1945 – 1975
Do tác động của thực dân mới của Mỹ, tiến trình đô thị hóa ở Sài Gòn trong thời
kỳ 1954 - 1975 có bước phát triển mau chóng, nhưng cũng tạo ra sự lộn xộn làm đảo lộn cấu trúc xã hội [6, 584], đặc biệt là gia tăng dòng người nhập cư Ở miền Nam, từ năm 1955 cho đến năm 1960, Mỹ và chính quyền Sài Gòn ra sức cưỡng bức dân nhập
cư công giáo (khoảng 1 triệu đồng bào công giáo miền Bắc di cư vào Nam) lập ra những vành đai dân cư bảo vệ an ninh từ xa cho Sài Gòn và các căn cứ quân sự Khoảng thời gian từ năm 1960 cho đến đầu năm 1965, chính quyền Sài Gòn xúc tiến thực hiện đô thị hóa cưỡng bức tạo ra một sự tăng vọt cư dân các đô thị miền Nam, nhất là thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn Tỷ lệ dân số đô thị miền Nam năm 1960 từ 10%
so với tổng số dân tăng lên 30% năm 1965 [30, 344] Do chính sách khủng bố và đàn
áp, chiến dịch bình định nông thôn, “tát nước bắt cá” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn,
Trang 22hàng triệu nông dân miền Nam buộc phải rời bỏ làng quê, vào sống trong các ấp chiến lược hoặc trở thành người tị nạn và kéo vào các thành phố
Quá trình đô thị hóa cưỡng bức ở Sài Gòn diễn ra ráo riết dưới tác động của chiến tranh xâm lược, đặc biệt là khi quân Mỹ nhảy vào miền Nam (8 - 3 - 1965) Các chiến dịch khai quang của Mỹ từ 1961 đến 1972, đặc biệt là chương trình sử dụng chất độc hoá học chứa dioxin trệt hạ lương thực (Denial Food Programs) đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn miền Nam Việt Nam nơi có tới 80% dân số là nông dân Nó đã tạo nên quá trình đô thị hóa cưỡng bức đã làm xáo trộn và gây ra những tác hại toàn diện đối với môi trường và kinh tế xã hội miền Nam Việt Nam
Ngoài khối lượng lớn bom đạn dội xuống miền Nam (vượt xa chiến tranh thế giới lần thứ hai), Mỹ và quân đội Sài Gòn còn dùng chất độc làm trụi lá cây để đẩy nông dân vào các trại tập trung Một bộ phận quan trọng của nông dân bị đẩy ra khỏi ruộng đất canh tác, vốn là nguồn sống cơ bản của một xã hội nông nghiệp Ước tính dè dặt nhất cho rằng 1965 - 1968, có ít nhất 3 triệu nông dân bị đẩy khỏi làng quê, bị ép buộc vào sống trong các trại tập trung, hoặc họ trở thành dân tỵ nạn vào sống lang thang trong các đô thị lớn, chủ yếu là Sài Gòn Hầu hết 3 triệu người tỵ nạn (chỉ tính từ 1965
- 1969) là nông dân mà nhà cửa ruộng vườn của họ đã bị bom đạn và chất độc hoá học huỷ hoại sạch để cắt nguồn tiếp tế cho “Việt cộng” Người nông dân bị đẩy vào những trại tỵ nạn ở đô thị với kẽm gai rào quanh, thực chất là một trại tập trung và là dạng nhà
tù trá hình Mỗi người tỵ nạn là nạn nhân của sự ngược đãi và tài sản của họ đều bị huỷ diệt, mối liên hệ giữa họ và tổ tiên (mồ mả cha ông) bị xâm phạm Đô thị hoá cưỡng bức đã tạo nên mật độ dân cư ở Sài Gòn gia tăng nhanh chóng Trong các trại tập trung, những “khu tỵ nạn” với diện tích thường từ 2 - 4 km2 mà phải chứa từ 1,5 vạn đến 3 vạn người Các học giả Mỹ đến miền Nam nhận xét rằng những người tỵ nạn ở Sài Gòn đều mòn mỏi về thể chất, suy sụp về tinh thần trong các trại tập trung, đó là lỗi do
Trang 23chính người Mỹ gây ra [35, 2] Những người dân nghèo thành thị phải sống chen chúc nhau trong những căn hộ chật hẹp, với hệ thống xử lý chất thải đô thị và nhà ở của người lao động là rất lạc hậu như chung cư Ấn Quang gồm 850 căn hộ trên khu vực đất rộng 2,39 ha hay chung cư Bàn Cờ với 1.260 hộ/3,62ha Do chỗ ở chật chội, người tỵ nạn chui rúc thiếu oxy để thở, lại thêm khí thải của nhiều xe cộ lưu thông, cho nên không khí trong các trại tỵ nạn bị ô nhiễm rất nặng Tình trạng ăn ở chen chúc tồi tệ và thiếu vệ sinh một cách kinh khủng như ăn đói, thiếu nước uống và tắm rửa, thiếu thuốc men khi đau ốm, đã làm cho người dân bị cưỡng ép vào đây đi đến chỗ chết dần, chết mòn Sau tết Mậu Thân các trại tỵ nạn ở Sài Gòn đông nghẹt người, người tỵ nạn sống hoàn toàn dựa vào đồ viện trợ của Mỹ Đó là dịp để Mỹ và chính quyền Sài Gòn mở ra chiến dịch tuyên truyền chính trị rầm rộ, vu cáo cách mạng tạo ra cái gọi là dòng người
“tỵ nạn cộng sản” Trong các thành thị và các khu dồn dân, bệnh lao, bệnh phong và các bệnh hoa liễu đã trở thành phổ biến Ở Sài Gòn có 15.000 người mắc bệnh phong
đi lang thang trên đường phố [36, 7-28] Năm 1971, Jean Mayer cố vấn đặc biệt về dinh dưỡng của Nixon đã cảnh báo rằng: chính sự thiếu ăn tại nhiều vùng ở miền Nam Việt Nam và những chứng bệnh nguy hiểm như phù thũng, thiếu máu và lao sẽ gia tăng, nếu như chương trình huỷ diệt thực phẩm bằng chất độc hoá học vẫn tiếp tục Một khi đã vào trại tập trung, mức sống người nông dân giảm đi mất hai phần ba, còn mất mát về tâm lý thì không sao kể xiết Kết quả là đô thị hoá một xã hội nông thôn một cách chưa từng thấy trong thế kỷ này [35, 2] Nạn thất nghiệp và đủ mọi loại tệ nạn xã hội tràn lan trong những người tỵ nạn Ở Sài Gòn, Hoa kiều chiếm khoảng 1/6 dân cư đô thị, nắm độc quyền hầu hết các hoạt động kinh tế quan trọng, những người tới sau may mắn lắm chỉ có thể làm những công việc tạp dịch hoặc lao động thuê mướn thủ công theo thời vụ Năm 1960, 20 % dân miền Nam sống trong các vùng đô thị; tỷ
lệ đó lên 26 phần trăm năm 1964, 36% năm 1968, năm 1971 còn tăng cao hơn nữa, một tốc độ tăng gấp năm lần so với tất cả các nước kém phát triển trong cùng thập kỷ
Do kết quả của quá trình “đô thị hóa cưỡng bức” này, dân số đô thị miền Nam Việt
Trang 24Nam đã tăng lên nhanh chóng Vào đầu những năm 1970 dân số Sài Gòn đã tăng lên tới 3.000.000 người (gấp 10 lần trước đây) [31, 75] Dân cư tăng rất nhanh ở ngoại thành Sài Gòn, nhưng ở nội thành tỷ lệ tăng không lớn so với các đô thị khác như Cần Thơ, Đà Nẵng, Biên Hoà, Huế v.v Đến năm 1971 số dân ở Sài Gòn chiếm 43 % toàn
bộ số dân đô thị miền Nam, nhưng nếu không tính vùng ngoại ô, thì tỷ lệ đó là 1/5 Nhìn chung, sự phát triển dân số đô thị Sài Gòn chủ yếu là nguyên nhân chiến tranh, còn lý do kinh tế thì rất phụ, vào năm 1971, 3/4 những người dân đô thị ở Sài Gòn không phải sinh ra ở đây Làn sóng nông dân liên tục tràn vào Sài Gòn, làm cho dân số của thành phố tăng gấp 3 lần, đến năm 1969 là 12.740 người trên một dặm vuông, đã biến Sài Gòn trở thành một trong những thành phố có mật độ dân số cao nhất thế giới [8, 69] Dân tỵ nạn tăng vọt ở các trại tập trung và đô thị đã gây ra những đổ vỡ nền tảng đạo đức và băng hoại đời sống xã hội miền Nam Việt Nam, dù vào đầu năm 1969 con số người tỵ nạn tụt xuống còn 50% so với trước đây Quá trình”đô thị hoá cưỡng bức” đã phá hoại những yếu tố văn hoá truyền thống thôn quê và đẻ ra bao tệ nạn xã hội
Tuy nhiên, nhờ vào viện trợ của quân đội Mỹ đổ ồ ạt vào miền Nam, bộ mặt của thành phố Sài Gòn biến đổi nhanh chóng Nhiều cao ốc khách sạn, văn phòng sang trọng nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở nghỉ ngơi, giải trí cho đội quân viễn chinh đông đảo Do nhu cầu phục vụ chiến tranh xâm lược, Sài Gòn - Gia Định ngày càng được
mở rộng Mỹ tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, xa lộ, những công trình kiến trúc và các khu căn cứ quân sự khổng lồ Công việc chỉnh trang đô thị Sài Gòn được đẩy mạnh, sân bay được mở rộng và xây dựng mới, khách sạn tối tân, nhà cao tầng, vũ trường, casino, nhà hàng snack - bar, đại lộ mở rộng, các dịch vụ hiện đại, một số xí nghiệp tối tân ra đời, xe ô tô con thượng hạng cùng xe jeep quân sự… đi lại ngày càng nhiều trên đường phố Sài Gòn Bộ mặt phồn vinh của đô thị Sài Gòn chỉ là bên ngoài, song về thực chất sự phát triển của đô thị Sài Gòn trong giai đoạn 1954 - 1975 vẫn
Trang 25mang tính chắp vá, không thể phát triển đồng bộ theo chỉnh thể và bố cục thống nhất Giáo sư Mạc Đường cho rằng trước năm 1975, Sài Gòn chủ yếu vẫn là một trung tâm quyền lực chính trị, không giống với các thành phố công nghiệp của các nước tư bản phát triển [9, 247] Đô thị Sài Gòn giai đoạn này phát triển theo qui luật của một xã hội tiêu thụ hiện đại vừa mang tính lệ thuộc về kinh tế với nước ngoài, lại vừa có sự chi phối của các hoạt động quân sự phục vụ chiến tranh xâm lược do Mỹ điều khiển
1.1.2.3 Quá trình đô thị hóa ở TP Hồ Chí Minh từ 1975 đến nay
Ngày 30 - 4 - 1975, với sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước Việt Nam thống nhất Cuối tháng 6 đầu tháng 7 - 1976, Quốc hội khóa VI họp kỳ họp đầu tiên tại Hà Nội, quyết định đổi tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh Quá trình đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua nhiều thay đổi qua giai đoạn 1975 - 1985 và từ 1986 đến nay [7, 198]
- Giai đoạn 1976 - 1985: thành phố chú trọng phục hồi kinh tế sau chiến tranh, chưa có công trình xây cất gì lớn Năm 1982 với sự giúp đỡ của Liên Xô, Viện Quy hoạch bước đầu triển khai phương hướng cải tạo và xây dựng thành phố Hồ Chí Minh,
dù chưa được phê duyệt Đến năm 1985, Trung ương xác định thành phố Hồ Chí Minh
là một trung tâm kinh tế lớn, một trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của cả nước…
có vị trí quan trọng chỉ sau thủ đô Hà Nội Giai đoạn này, lượng người nhập cư chủ yếu
từ các tỉnh phía Bắc (40,8%) [11, 298], đại bộ phận là người miền Nam tập kết trở về cùng gia đình và những người miền Bắc được phân công vào công tác ở TP Hồ Chí Minh
- Giai đoạn từ 1986 đến nay: thành phố bước vào giai đoạn đổi mới, dòng người nhập cư vào thành phố trong giai đoạn này từ đồng bằng sông Cửu Long và duyên hải miền Trung vào làm ăn sinh sống Trong những năm 1991 - 1994 khi cả nước bước đầu thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước đầu phục hồi kinh tế thì sức ép về dân nhập cư vào thành phố lại càng mạnh mẽ hơn Trong sự gia tăng dân số nhanh
Trang 26chóng của TP Hồ Chí Minh, con số gia tăng cơ học đã đóng góp một phần quan trọng Dân cư đổ về thành phố Hồ Chí Minh vì ở đây dễ kiếm tiền và có việc làm, có mức sống tốt hơn nhiều so với nông thôn TP Hồ Chí Minh trở thành một cực thu hút mạnh luồng người từ các nơi đổ về tìm việc làm và cư ngụ
1.1.3 Vấn đề đô thị hóa ở quận 2, TP Hồ Chí Minh
Quận 2 là một quận mới của thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập và chính thức hoạt động vào ngày 1 tháng 4 năm 1997 trên cơ sở tách từ năm xã thuộc huyện Thủ Đức Quận 2 nằm ở phía đông thành phố Hồ Chí Minh, trên tả ngạn sông Sài Gòn Phía Bắc giáp quận Thủ Đức, Bình Thạnh (qua sông Sài Gòn và sông Rạch Chiếc) Phía Nam giáp quận 7, huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai (qua sông Sài Gòn và sông Đồng Nai) Phía Đông giáp quận 9, Thủ Đức (qua rạch Bà Cua, Rạch Chiếc) Phía Tây giáp quận 4, quận 1, quận Bình Thạnh (qua sông Sài Gòn) Từ năm xã thuộc huyện Thủ Đức: An Phú, Thảo Điền, An Khánh, Bình Khánh, Bình An, Thủ Thiêm, An Lợi Đông, Bình Trung Đông, Bình Trưng Tây, Thạnh Mỹ Lợi Và Cát Lái Tổng diện tích
tự nhiên của quận 2 là 5017 ha Ngày đầu mới thành lập, diện tích đất nông nghiệp chiếm 2.543,8 ha Đến năm 2005, diện tích dất nông nghiệp còn 1.611 ha, đất dân cứ chiếm 1.402 ha Các phường có diện tích lớn nhất là phường Thạnh Mỹ Lợi với 1.325
ha, phường An Phú với 1.021 ha Các phường có diện tích nhỏ là phường Thủ Thiêm với 150 ha, phường An Khánh với 180 ha và phường Bình An 187 ha
Vùng đất quận 2 có lợi thế về giao thông thủy bộ thuận tiện, trên bến dưới thuyền Toàn bộ vùng Tây Nam của quận được bao bọc bởi sông Sài Gòn và sông Đồng Nai
Hệ thống kênh rạch đan xen Ngoài 2 con sông lớn là sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, còn có các Rạch, sông nhỏ hơn như sông Kỳ Hà, ông Mỹ Thủy trên địa bàn phường Thạnh Mỹ Lợi, sông Giồng Ông Tố trên địa bàn phường Bình Trưng Tây, Bình Trưng Đông, An Phú, rạch Bà Cua trên địa bàn phường bình trưng Đông, phường Cát Lái, rạch Cá Trê lớn, rạch Cá Trê nhỏ, sông Ông Tranh trên địa bàn phường Bình Khánh,
Trang 27Bình An, An Khánh… và nhiều rạch nhỏ chằng chịt khác Do vậy, từ hàng trăm năm trước, vùng đất quận 2 đã có điều kiện tốt cho việc canh tác lúa nước, làm vườn, phát triển tiệu thủ công nghiệp, nghề chài lưới Từ đó đã hình thành các trung tâm cư trú, thương mại như Bình Trưng, Giồng Ông Tố, Cát Lái, Thạnh Mỹ Lợi…
Hệ thống giao thông nội bộ quận 2 ngày mới thành lập chỉ có 5 con đường chính với tổng chiều dài khoảng 20km, đó là: xa lộ Hà Nội, Liên tỉnh lộ 25, đường Nguyễn Thị Định (đường 32 cũ), Lương Định Của, đường Trần Não và Hương Lộ 33 Còn lại chủ yếu là đường đất nhỏ, uốn lượn trong các xóm ấp Sau khi được thành lập, quận đã tiến hành xây dựng, sửa chữa, nâng cấp đường Lương Định Của, Trần Não, Hương lộ
33 (đường Nguyễn Duy Trinh), đường Xuyên Tâm 1, Xuyên Tâm 2 ở Thảo Điền… Xây dựng mới đường liên phường Liên tỉnh lộ 25B song song với đường Liên Tỉnh lộ
25 để phục vụ cho khu công nghiệp, cảng Cát Lái và các khu dân cư mới phường Thạnh Mỹ Lợi, Cát Lái Xây dựng đường ven sông Sài Gòn, đoạn qua An Lợi Đông và Thủ Thiêm Ngoài ra, theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, tại 11 pường còn thực hiện nhiều công trình nhựa hóa, bê tông hóa và mở rộng các đường, hẻm nội
bộ
Với vị trí địa lý thuận lợi là cửa ngõ phía Đông của thành phố, tiếp giáp quận 1, trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, xung quanh là các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu; có hệ thống giao thông đối ngoại vô cùng thuận lợi cả trong nước và quốc tế, quận 2 có những điều kiện để phát triển thành một trung tâm đô thị mới, trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ cao cấp tầm cỡ khu vực Đông Nam Á trong vài thập kỷ đầu của thế kỷ XXI
Đô thị hóa ở Quận 2 được thể hiện rõ ở những chỉ báo như gia tăng dân số, dân
cư tập trung đông, tăng sức hút dân nhập cư, thay đổi mục đích sử dụng đất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việc phân tích các chỉ báo này để làm rõ quá trình đô thị hóa ở Quận 2 được dựa trên các số liệu báo cáo từ năm 1997 đến 2007
Trang 281.1.3.1 Sự gia tăng dân số
Sau 10 năm tách ra từ Quận Thủ Đức, dân số Quận 2 đã tăng lên nhanh chóng Năm 1997, dân số Quận 2 là 91840 người Năm 2007, dân số đạt 131860 người Như vậy, trong 10 năm, dân số của Quận 2 đã tăng lên hơn 40000 người, tăng hơn 140% Dân số tăngnhanh nhất trong giai đoạn 1997 – 2005, tốc độ tăng trung bình hơn 4.000 người/năm Tuy nhiên, trong giai đoạn từ 2005 – 2007, tốc độ tăng dân số có xu hướng giảm lại, còn khoảng hơn 2.000 người/năm do quá trình giải tỏa để xây dựng các khu dân cư mới cũng như các công trình phục vụ công cộng bắt đầu triển khai thực hiện
Tỉ trọng dân số Quận 2 so với thành phố cũng tăng lên: từ 1,9% năm 1997 tăng lên 2,1% năm 2007 Sự gia tăng dân số Quận 2 cũng như các quận vùng ven khác là do:
- Các khu công nghiệp, khu chế xuất được hình thành chủ yếu ở vùng vành đai nhằm đảm bảo yêu cầu về diện tích và môi trường, kéo theo sức hút lao động từ các nơi khác đổ về
- Nhiều nhà máy hiện đang hoạt động ở nội thành, nhưng do ô nhiễm và cần mặt bằng lớn cũng chuyển ra các vùng ven với số lượng lớn nhân công
- Giá đất tại các Quận vùng ven còn thấp cũng là yếu tố thu hút dân nội thành và các nơi khác chuyển về
- Cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật ở các vùng ven được đầu tư phát triển và cải thiện (Hệ thống cầu đường, điện nước được hoàn thiện Nhiều trường học, bệnh viện, siêu thị được xây dựng)
- Các dự án tái định cư, khu dân cư mới với qui mô lớn được triển khai tại các vùng ven nhằm giãn dân đô thị và phát triển thành phố một cách đồng bộ
Trang 29Tốc độ tăng dân số của các phường cũng có sự chênh lệch Trong 11 phường, phường Thảo Điền có tốc độ tăng dân nhanh nhất với hơn 11500 người trong 10 năm, tăng hơn 270% Trong khi đó, phường Thủ Thiêm và phường An Khánh lại có xu hướng giảm dân số (phường An Khánh giảm hơn 1000 dân, đạt 92,3% so với năm 1997; phường Thủ Thiêm giảm gần 4000 dân, đạt 62% so với năm 1997) Nguyên nhân ảnh hưởng đến sự tăng, giảm dân số của các phường là do chính sách qui hoạch của Quận nói riêng và của thành phố nói chung: Các phường như Thảo Điền, Bình An,
An Phú, Cát Lái được đầu tư xây dựng thêm các công trình nhà ở phục vụ người dân cũng như xây dựng khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất công nghiệp, dịch vụ… thì dân
số tăng nhanh Ngược lại, những phường có các qui hoạch đất đai với các công trình xây dựng công cộng như cầu đường, khu hành chính – thương mại… thì dân số giảm nhanh do giải tỏa, người dân phải di dời đi nơi khác
1.1.3.2 Sự gia tăng mật độ dân cư
So với các quận được thành lập cùng thời điểm năm 1997, mật độ dân số trung bình của Quận 2 cũng thấp hơn: Quận Thủ Đức có mật độ dân số trung bình cao nhất với 7706 người/km2, tiếp đến là Quận 12 với 6248 người/km2, Quận 7 với 5575 người/km2 Mật độ dân số Quận 2 chỉ cao hơn so với Quận 9 (quận có mật độ dân số trung bình thấp nhất, đạt 1941 người/km2)
Mật độ dân số Quận 2 tuy còn thấp, nhưng tăng nhanh từ năm 1997 đến năm
2007 Năm 1997, mật độ dân số đạt 1830 người/km2, đến năm 2007 là 2628 người/km2, tăng 143,6% Đô thị hóa tạo sức hút dân cư từ các nơi khác đổ về, làm dân
số Quận 2 tăng lên, kéo theo mức độ tập trung dân cư cao hơn Đây là điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp nguồn nhân lực để phát triển kinh tế Quận 2
Mật độ dân số của các phường trong quận cũng có sự chênh lệch rất lớn: Năm
2007, mật độ dân số thấp nhất thuộc phường Thạnh Mỹ Lợi với 776 người/km2, thấp hơn 3 lần so với trung bình Quận 2 với 2628 người/km2 Ngược lại, phường Bình An
Trang 30có mật độ dân số cao nhất với 8018 người/km2, gấp 3,5 lần so với trung bình Quận và gấp 10 lần so với phường Thạnh Mỹ Lợi
Nguyên nhân của sự chênh lệch này là do: những phường đã và đang thực hiện qui hoạch đất đai, chuyển đất nông nghiệp sang đất đô thị thường có mật độ dân số cao Ngược lại, những phường còn hoạt động sản xuất nông nghiệp thì mật độ dân số thấp hơn Bên cạnh đó, có thể thấy rất rõ những phường gần với các Quận nội thành như phường Thảo Điền, Bình An, An Khánh, Thủ Thiêm, An Lợi Đông thường có mật độ dân cư cao hơn Hơn nữa, nhờ hệ thống cầu đường giao thông nối từ Quận 2 với Quận
1, Quận 4, Quận 7, Quận Bình Thạnh qua cầu Phú Mĩ, cầu Sài Gòn, cầu Thủ Thiêm thuận tiện cũng tạo điều kiện dân nội thành dãn ra các phường này dễ dàng hơn Điều
đó cho thấy rất rõ sức hút đô thị hóa của các quận nội thành đối với vùng ven
1.1.3.3 Sự gia tăng số lượng người nhập cư
Dân số của Quận 2 có đặc điểm: dân nhập cư chiếm 1/3 dân số (Năm 2007, dân tạm trú là 37865 người trên tổng số dân 131860 người của Quận) Trong đó, phường Thảo Điền có tỉ lệ dân nhập cư cao nhất, chiếm hơn 58,6% dân số Phường có tỉ lệ dân nhập cư thấp nhất là phường Bình Trưng Tây với 9,6% dân số Các phường còn lại đa phần có tỉ lệ dân địa phương cao hơn so với dân nhập cư như Bình Trưng Tây, Thạnh
Mỹ Lợi Nguyên nhân do quá trình đô thị hóa tại các phường còn chậm và một số phường đã đô thị hóa từ trước nên dân số đã đi vào ổn định Bên cạnh đó, do qui hoạch tại phường chủ yếu hiện nay đang tập trung vào xây dựng các công trình giao thông công cộng như cầu, đường nên cũng phần nào hạn chế hình thành các điểm dân cư mới, khiến sức hút dân nhập cư yếu Điển hình là phường Bình Trưng Tây, nơi dân số với tỉ lệ dân nhập cư thấp nhất, người dân đa số đã định cư nơi đây tử rất lâu (với
13899 người thường trú trên tổng số 15380 người của phường vào năm 2007) nên tình hình dân số ổn định hơn
Trang 31Tuy nhiên, tỉ lệ dân tạm trú trong Quận có xu hướng tăng lên (năm 2006, tỉ lệ dân tạm trú là 27% dân số Năm 2007, con số này đạt 27,8% dân số) Điều này chứng tỏ dân nhập cư vào Quận có xu hướng tăng lên Trong số đó, các phường như Cát Lái, Bình Trưng Đông và An Phú là những phường có tỉ lệ dân tạm trú tăng lên (Năm 2006 đến 2007: Cát Lái từ 21,3% lên 28%; Bình Trưng Đông từ 13,6% lên 16,6% và An Phú
từ 29,1% lên 30,4%) Những phường này đã và đang xây dựng nhiều khu dân cư mới với các công trình phục vụ công cộng hiện đại, tạo sức hút đối với dân cư từ nơi khác
Năm 1997, gia tăng dân số Quận 2 chủ yếu vẫn do gia tăng tự nhiên (dân số tăng
cơ học chỉ đạt 519 người, trong khi dân số tăng tự nhiên là 1324 người) Tuy nhiên, từ sau năm 1997, số dân tăng cơ học Quận 2 có xu hướng tăng mạnh, luôn gấp đôi so với
số dân tăng tự nhiên (Năm 2000, dân số tăng cơ học là 3846 người so với dân số tăng
tự nhiên là 1355 người Năm 2005, số dân tăng cơ học đạt 3266 người, số dân tăng tự nhiên là 1576 người)
Từ năm 2005, do quá trình đô thị hóa, việc giải tỏa mặt bằng để xây dựng các công trình công cộng cũng như nhiều dự án chưa được thực hiện, nhiều hộ gia đình phải chuyển cư đến các quận khác, nên dân số tăng cơ học giảm Năm 2007, dân số tăng cơ học chỉ đạt 746 người so với 1589 người tăng tự nhiên
Tại các phường, tình hình biến động dân số có sự khác biệt lớn Năm 1997, chỉ có phường Thảo Điền và An Phú có dân số tăng cơ học cao hơn so với dân số tăng tự nhiên Từ năm 2000, các phường đều có dân số tăng cơ học cao hơn so với tăng tự nhiên Đặc biệt, vào năm 2005, số dân tăng cơ học của phường An Phú và Bình Trưng Đông tăng rất nhanh so với tăng tự nhiên
Thời gian từ năm 2005 đến nay, nhiều phường lại có dân số tăng cơ học âm (–), điển hình là An Khánh, Thủ Thiêm, An Lợi Đông và Thảo Điền Năm 2007, các phường An Lợi Đông, Bình Khánh, An Khánh và Thủ Thiêm có số dân tăng cơ học
Trang 32âm Các phường có số tăng cơ học cao hơn so với tăng tự nhiên là An Phú, Bình An và Thạnh Mỹ Lợi Nguyên nhân do thời gian này, các qui hoạch bắt đầu triển khai, khiến dân cư bị giải tỏa di dời đi nơi khác, do đó một số phường giảm dân số tăng cơ học
Thạnh Mỹ Lợi là phường luôn có số dân tăng cơ học cao hơn tăng tự nhiên từ khi Quận 2 mới thành lập Nguyên nhân do đây là phường còn diện tích đất nông nghiệp đang trong quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng cao nhất, giá đất còn thấp nên thu hút lượng dân nhập cư từ các nơi khác chuyển về nhiều hơn An Phú là phường có dân
số tăng cơ học cao nhất do vị trí nằm gần trục đường chính nối các Quận trung tâm thành phố với các quận vùng ven khác như Thủ Đức và Quận 9 qua cầu Sài Gòn nên dân cư tập trung chuyển về đây rất đông
Tỉ lệ tăng dân số chung của Quận 2 hiện nay khá ổn định, đạt 1,77%, nhưng giữa các phường vẫn có sự chênh lệch khá lớn do tình hình nhập – xuất cư: tỉ lệ tăng dân số thấp nhất là ở phường An Lợi Đông (với – 10,44%) và cao nhất là phường An Phú (với 8,115%)
Trang 33cư đô thị ban đầu là 434,39 ha (8,4% tổng diện tích tự nhiên) nhưng vào năm 2007 tăng lên đến 1545,64 ha, chiếm toàn bộ diện tích đất dân cư với 30,8% tổng diện tích tự nhiên Quá trình đô thị hóa đã làm thay đổi rõ nét mục đích sử dụng đất, chuyển đất nông nghiệp thành đất dân cư cũng như đất sử dụng cho các hoạt động phi nông nghiệp khác Đồng thời, nhóm đất này tăng lên thể hiện sự thu hút dân cư vào Quận 2 ngày càng đông, khiến nhóm đất dành cho dân cư tăng, nhằm đáp ứng nhu cầu nơi ở cho người dân
1.1.3.5 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự chuyển dịch đáng kể trong cơ cấu kinh tế Quận 2 thể hiện qua ngành nông nghiệp có giá trị thấp nhất và ngày càng giảm tỉ trọng Năm 1997, tỉ trọng nông nghiệp đạt 2,03% giá trị sản xuất, đến năm 2007 giảm còn 0,25% Trong khi đó, ngành công nghiệp với tỉ trọng ban đầu rất cao: năm 1997 đạt 94,57% giá trị sản xuất, nhưng sau
đó cũng giảm dần, chỉ còn 53,47% năm 2007 Tuy nhiên, công nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế Quận 2 Ngành dịch vụ dù có tỉ trọng thấp hơn ngành công nghiệp nhưng có xu hướng tăng lên nhanh chóng sau 10 năm phát triển Năm 1997, giá trị sản xuất dịch vụ chỉ chiếm 3,4% giá trị sản xuất, đến năm 2007 tăng lên 46,28%, tăng nhanh nhất với hơn 13,6 lần
1.2 Tổng quan về vấn đề tái định cư ở TP Hồ Chí Minh
1.2.1 Cơ sở lý luận của việc tái định cư
1.2.1.1 Lý thuyết hệ thống áp dụng cho việc tái định cư
Tiếp cận hệ thống là một nguyên lý hoạt động của khoa học điều khiển học Nguyên lý đó được nhiều ngành khoa học khác nhau ứng dụng, trong đó có xã hội học Đại biểu cho lý thuyết hệ thống là nhà xã hội học Mỹ Talcott Parsons Lý thuyết này được ông xây dựng vào khoảng năm 1940 – 1950, sau đó lan rộng và ảnh hưởng ở nhiều nước trên thế giới
Trang 34Lý thuyết hệ thống cho rằng, xã hội là một sinh thể hữu cơ đặc biệt với hệ thống gồm các thành phần có những chức năng nhất định tạo thành cấu trúc ổn định Như vậy, xã hội ở tầm vĩ mô hay vi mô đều luôn luôn tồn tại với một hệ thống toàn vẹn Hệ thống đó là tổng hoà các thành tố, các thành phần, các bộ phận và các mối quan hệ giữa chúng theo một kiểu nào đó tạo thành một chỉnh thể toàn vẹn, hoàn chỉnh Đối với một
hệ thống như thế, đòi hỏi phải được xem xét trong một sự thống nhất, trong một nhãn quan đa diện, biện chứng và thống nhất
Các cộng đồng dân cư tái định cư có thể xem như là các hệ thống xã hội, trong
đó các thành phần cấu tạo nên hệ thống này bao gồm các yếu tố như: kinh tế (việc làm
và thu nhập), giáo dục và đào tạo, điều kiện nhà ở và các điều kiện sinh hoạt khác, việc tiếp cận y tế và các dịch vụ xã hội, các quan hệ xã hội Tất cả những yếu tố này là các thành phần của một hệ thống xã hội, và chúng quan hệ, tương tác với nhau tạo thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, đó chính là cộng đồng dân tái định cư
Lý thuyết hệ thống còn cho rằng, một xã hội, một hệ thống tồn tại được, phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc Bất kỳ một sự thay đổi ở trật tự và thứ tự của các thành phần, hay sự thay đổi ở kiểu quan hệ giữa các thành phần, hoặc một sự phát triển quá nhanh hay quá chậm, sự bành trướng hay thu hẹp quá mức, sự thay đổi quá sớm hay quá muộn của bất kỳ một thành phần nào cũng đưa đến “sự lệch pha”, sự thay đổi ở các thành phần khác và ảnh hưởng đến trạng thái cân bằng của toàn bộ hệ thống Trạng thái mất cân bằng, mất ổn định của hệ thống về thực chất đều đưa đến sự suy yếu và đổ vỡ của hệ thống, nhưng một đằng hứa hẹn sự thay thế bằng một hệ thống tốt hơn, một đằng thì làm cho hệ thống ngày càng trở nên tồi tệ hơn
Từ những luận điểm trên, đề tài nghiên cứu về thực trạng đời sống kinh tế xã hội các hộ gia đình sau tái định cư xác định rằng, tái định cư là việc di dời một nhóm, một
bộ phận hay một cộng đồng dân cư từ nơi ở này sang nơi ở khác Đây chính là sự thay
Trang 35đổi về chỗ ở của cộng đồng dân cư được di dời Theo lý thuyết hệ thống, chỉ một sự thay đổi về chỗ ở này cũng có thể dẫn đến những thay đổi ở các thành phần khác trong
hệ thống như: kinh tế (việc làm và thu nhập), giáo dục và đào tạo, điều kiện nhà ở và các điều kiện sinh hoạt khác, việc tiếp cận y tế và các dịch vụ xã hội, các quan hệ xã hội,… Và như thế sự ổn định, trạng thái cân bằng của cộng đồng dân tái định cư đã bị ảnh hưởng Sự mất cân bằng này có thể hứa hẹn một sự sụp đổ của hệ thống Thực trạng đời sống kinh tế xã hội các hộ gia đình sau tái định cư: vấn đề và giải pháp cũ và thiết lập được một hệ thống mới, một cộng đồng dân cư mới có đời sống tốt hơn nếu có những chính sách tác động phù hợp và hiệu quả Tuy nhiên, nếu không có những chính sách hỗ trợ hoặc các chính sách hỗ trợ không phù hợp, không đáp ứng đúng nhu cầu và nguyện vọng của người dân thì có thể dẫn tới việc chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư tái định cư sẽ ngày càng đi xuống và tồi tệ hơn Chính sách đóng một vai trò, nếu không muốn nói là có tính quyết định trong việc ổn định cuộc sống người dân tái định cư, trước mắt là nhận ngôi nhà mới, và cả về lâu dài cho “cuộc sống sau tái định cư”
1.2.1.2 Các khuyến cáo về chính sách tái định cư của các tổ chức quốc tế
Kinh nghiệm của Ngân hàng Thế Giới (World Bank, 2004) cho thấy rằng, tái định cư có thể dẫn đến những nguy cơ nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường như: hệ thống sản xuất bị phá vỡ, người dân phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo khi những điều kiện sản xuất và những nguồn tạo thu nhập của họ mất đi, người dân có thể
bị di dời đến những nơi không có việc làm hay các tài nguyên kiếm sống không có nhiều, các thiết chế cộng đồng và mạng lưới xã hội bị phá vỡ, các mối quan hệ họ hàng thân thích cũng bị ảnh hưởng; các yếu tố truyền thống, văn hoá và tình tương thân tương ái có thể bị mất đi Đây chính là những chi phí, những tổn thất “vô hình” mà người dân tái định cư phải gánh chịu bên cạnh những mất mát về nhà cửa, đất đai Bên cạnh đó, ngoài những thiệt hại trên đã được nêu ra trên, Ngân hàng Phát triển Châu Á
Trang 36(ADB, 1995) còn nêu thêm những thiệt hại khác mà người dân tái định cư có thể gặp phải như: Cư dân tại chỗ các khu vực tái định cư không thân thiện hay không có những nét tương đồng về văn hoá, những khó khăn về công việc làm ăn nơi ở mới có thể khiến cho người dân tái định cư phải khai thác tối đa đến mức kiệt quệ các tài nguyên môi trường để sinh tồn và điều này gây ra những hậu quả hết sức tai hại cho môi trường
Như vậy, có thể thấy, đối với các tổ chức quốc tế, việc di dời, giải toả, tái định cư không chỉ mang đến những thiệt hại về nhà cửa, đất đai cho người dân bị ảnh hưởng,
mà họ còn phải chịu rất nhiều thiệt hại và mất mát liên quan đến kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường Những khuyến cáo này cho thấy việc phải giải toả, di dời sẽ khiến cho đời sống của người dân bị đảo lộn, cuộc sống mất ổn định và môi trường cũng bị
đe doạ Những khuyến cáo này cho chúng ta thấy nếu không quan tâm đến các chi phí, các tổn thất “vô hình” mà người dân tái định cư phải chịu khi bị di dời thì sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng Những hậu quả đó có thể là: sự xuống dốc và nghèo đói của một bộ phận dân cư, sự suy giảm các yếu tố văn hoá của một cộng đồng, và ô nhiễm môi trường Bên cạnh những hậu quả lâu dài, người dân còn phải chịu những khó khăn trước mắt gây hại cho sức khoẻ thể chất và tinh thần của họ như: phải đi làm
xa, khó khăn trong việc chuyển hộ khẩu và chuyển trường cho con cái, khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội khác,… Người dân có thể chưa nhìn thấy những hậu quả lâu dài, nhưng chính những khó khăn trước mắt này khiến cho họ mất lòng tin vào các dự án phát triển và thường không muốn di dời đến nơi ở mới Chính vì thế, quan tâm đến các chi phí và tổn thất “vô hình” mà người dân tái định cư phải chịu giúp cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn về cuộc sống người dân tái định cư, nhờ đó có những
hỗ trợ tích cực hơn cho họ, đồng thời cũng giúp cho công tác giải toả, di dời, tái định
cư được dễ dàng hơn, các dự án phát triển có thể được tiến hành nhanh hơn
Trang 37Tổ chức UNDP (Sở Xây Dựng, 1997, Dự án VIE/95/051) đã đưa ra 6 nguyên tắc khuyến cáo thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thực hiện trong các dự án phát triển, trong đó có nguyên tắc: Nguyên tắc bồi thường “phi vật chất” cho các hộ nên được chú trọng nhiều hơn, so với việc bồi thường vật chất, bằng tiền Tuy nhiên, thực tế tại các dự án ở Việt Nam, các bồi thường “phi vật chất” vẫn chưa được quan tâm đúng mức Hầu hết các khung chính sách hỗ trợ di dời tái định cư trong thời gian qua chỉ chú trọng đến việc xác định được mức giá bồi thường, giúp đỡ tối đa cho những hộ dân bị ảnh hưởng bằng vật chất (bằng tiền) Riêng về khía cạnh hỗ trợ “phi vật chất”, mặc dù có được đề cập, nhưng dường như chưa được chú trọng nhiều qua việc cụ thể hoá trong các hành động thiết thực như: tạo việc làm gắn với đào tạo nghề, tạo những quyền cơ bản khi đến định cư tại nơi ở mới
Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2004) thì cho rằng, việc tính toán chi phí cho
di dời, tái định cư là một việc làm mang tính phát triển Chi phí này không đơn giản chỉ
là chi phí cho nhà ở mà cần phải bao gồm các nhân tố sau: chi phí bồi thường đất/nhà/thiệt hại sản xuất kinh doanh, chi phí di chuyển và chuyên chở, chi phí kiếm đất định cư nơi ở mới, chi phí xây dựng, mở rộng cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, xã hội tại địa bàn di dời, chi phí xây dựng nhà ở, chi phí tái khôi phục đời sống kinh tế xã hội, chi phí quản lý Trong đó, đáng chú ý là chi phí tái khôi phục đời sống kinh tế xã hội Kinh nghiệm thực tế cho thấy, đây là một công việc rất khó tính toán chính xác vì tái khôi phục đời sống kinh tế xã hội là một hiện tượng không đo đếm được, tuỳ theo sự mất mát của đối tượng và tuỳ theo khả năng thích nghi của đối tượng
Bên cạnh đó, Ngân hàng Thế giới cũng cho rằng các dự án phát triển cần phải cân nhắc, hoạch định một cách nghiêm túc, không phải chỉ nghĩ đến lợi ích kinh tế mà còn phải quan tâm đến các lợi ích xã hội, môi trường và vấn đề giảm nghèo Nguyên tắc này thể hiện tính toàn diện và bền vững trong việc lên kế hoạch các dự án Nếu các dự
án phát triển không xem xét, cân nhắc giữa lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội, các tác động
Trang 38đến môi trường và vấn đề phúc lợi xã hội cho các hộ dân phải di dời thì rất có thể sẽ dẫn đến rất nhiều vấn đề nghiêm trọng như: thu nhập giảm sút, thất nghiệp, bỏ học, ô nhiễm môi trường, mối quan hệ xã hội bị giảm sút,… Hơn nữa, nếu không thực hiện các chính sách tái định cư đến nơi đến chốn thì sẽ vô tình làm tăng thêm số những người nghèo và tạo nên một gánh nặng cho đất nước Do đó, để có thể phát triển bền vững, các dự án, các chương trình tái định cư cần quan tâm đến tất cả các vấn đề có liên quan và giải quyết chúng một cách đồng bộ
Ngoài ra, Ngân hàng Thế giới cũng cho rằng, để tránh những thiệt hại đáng tiếc xảy ra về mặt tình cảm láng giềng, người dân tái định cư nên nhanh chóng hoà nhập về kinh tế và xã hội với cộng đồng dân cư nơi ở mới nhằm giảm thiểu sự xung đột hay va chạm lẫn nhau Cách tốt nhất để đạt được sự hoà nhập này là phải lập kế hoạch để khu vực tái định cư được hưởng lợi từ dự án, hay cũng có thể thông qua sự trao đổi, thảo luận trước với cộng đồng dân cư nơi ở mới
Trong những năm gần đây, chính sách tái định cư của Việt Nam cũng đã quan tâm phần nào đến việc bồi thường các yếu tố “phi vật chất” của các hộ dân tái định cư
Cụ thể là một số dự án như dự án Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, dự án Đại lộ Đông Tây,
dự án Môi trường nước… đã đề cập đến nguyên tắc: Nguyên tắc bồi thường “phi vật chất” (hỗ trợ khía cạnh kinh tế - xã hội) cho các hộ nên được chú trọng nhiều hơn, so với việc bồi thường vật chất bằng tiền Tuy nhiên, mặc dù đã được đề cập đến nhưng trên thực tế, hầu hết các khung chính sách về hỗ trợ, di dời tái định cư trong thời gian qua chỉ cho thấy phía dự án chú trọng đến việc xác định mức giá bồi thường, để giúp
đỡ tối đa cho người dân bị ảnh hưởng Còn về khía cạnh “phi vật chất” và “hậu tái định cư” vẫn chưa được quan tâm đúng mức như: tạo việc làm gắn với đào tạo nghề, hay đáp ứng những quyền cơ bản của người dân khi họ đến nơi ở mới,… Những thiếu sót này của các dự án khiến cho cuộc sống của người dân tái định cư Thành phố Hồ Chí
Trang 39Minh gặp khá nhiều khó khăn trong thời gian qua, họ không nhận được bất kỳ sự hỗ trợ nào và họ phải tự thân vận động để có thể thích nghi với nơi ở mới
Bên cạnh việc đề cập đến những chi phí và những tổn thất “vô hình”, các tổ chức quốc tế còn rất quan tâm đến việc ổn định cuộc sống của người dân sau tái định cư Trong 6 nguyên tắc mà tổ chức UNDP khuyến cáo thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (Sở Xây Dựng, 1997, Dự án VIE/95/051), có nguyên tắc: Khi bắt buộc phải tiến hành giải toả di dời, trước tiên cần phải xây dựng một kế hoạch thực hiện thật chi tiết và cụ thể, kể cả kế hoạch quản lý hậu di dời, để bảo đảm rằng những người bị di dời, tối thiểu có cuộc sống tốt hơn hoặc ngang bằng so với nơi ở trước đây về khía
cạnh kinh tế và xã hội Để có thể thực hiện được đầy đủ nguyên tắc thứ hai này, những
người có trách nhiệm không chỉ cần quan tâm đến vấn đề nhà ở cho người dân tái định
cư, mà còn phải có trách nhiệm quan tâm đầy đủ và thăm dò ý kiến của chính những người dân về vấn đề tái định cư để có thể có những kế hoạch cung cấp tốt nhất và sớm nhất các cơ hội về nhà ở, về sinh kế của người dân sau khi họ thay đổi chỗ ở
Tương tự như nguyên tắc của tổ chức UNDP, Ngân hàng Thế giới (World Bank, Resettlement and Rehabilitation Policy) cũng khẳng định rằng: khi việc di dời không thể tránh khỏi, cần phải lên một kế hoạch tái định cư chi tiết Tất cả các hoạt động tái định cư cần được bàn thảo và thực hiện nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững Người dân tái định cư phải được cung cấp đầy đủ các nguồn lực đầu tư và được tạo cơ hội hưởng lợi từ dự án Người dân tái định cư phải được bồi thường mọi thiệt hại và mất mát do phải di dời, được hỗ trợ di dời và được trợ giúp trong suốt quá trình thích nghi với nơi ở mới, và được hỗ trợ để nâng cao mức sống và thu nhập, để có cuộc sống tốt hơn hay ít nhất là ngang bằng so với trước tái định cư
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1995) đã có những đề nghị cụ thể nhằm giúp cho cuộc sống “hậu tái định cư” của người dân được ổn định và dễ dàng hơn Trong chính sách tái định cư không tự nguyện của Ngân hàng Phát triển Châu Á đã đề cập:
Trang 40nếu các cá nhân hay cộng đồng dân cư nào bị mất đất, mất kế sinh nhai, mất lối sống quen thuộc thì phải được:
- Bồi thường mọi tài sản, thu nhập và kế sinh nhai bị mất;
- Giúp di dời và tái định cư;
- Giúp đỡ để đời sống kinh tế và xã hội được tốt hơn, hay ít nhất là ngang bằng so với trước tái định cư;
- Cung cấp đầy đủ đất đai, nhà ở, cơ sở hạ tầng và những yếu tố khác như cuộc sống ban đầu;
- Cung cấp đầy đủ thông tin và tư vấn kỹ càng về các mức bồi thường và các phương án tái định cư
Như vậy, có thể thấy các tổ chức quốc tế đã quan tâm nhiều đến cuộc sống “hậu tái định cư” của người dân Họ đã nhìn thấy tất cả những nguy cơ mà người dân gặp phải khi phải di dời, giải toả, và tái định cư Trong đó, sự suy giảm về kinh tế, thu nhập
và những khó khăn trong công việc làm ăn là những vấn đề đáng được quan tâm nhất
Và đối với các tổ chức quốc tế, quan trọng nhất là người dân phải được bồi thường đầy
đủ và công bằng mọi mất mát họ phải chịu, nhất là những mất mát và tổn thất liên quan đến kế sinh nhai và thu nhập của họ Tuy nhiên, bên cạnh đó, các tổ chức quốc tế cũng
đề nghị các dự án phát triển nên quan tâm đến việc trang bị đầy đủ các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng,…tại nơi ở mới cho người dân tái định cư để họ có thể mau chóng ổn định được việc làm và thu nhập tại nơi ở mới, tiến tới ổn định cuộc sống
1.2.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu về tái định cư
Khảo sát xã hội học “Một dự án tái định cư nhỏ tại phường Bình Trưng Đông, quận 2, TP Hồ Chí Minh” của nhóm tác giả Văn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Quang Vinh,