1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sưu tầm, tổng thuật và nhận định về sinh hoạt lý luận nghiên cứu phê bình trên tạp chí sáng tạo (1956 1961)

146 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát về tình hình Lý luận, nghiên cứu và phê bình văn học, cũng như chọn tổng thuật và nhận định những bài viết tiêu biểu của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA/ BỘ MÔN: VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Lăng Đức Lợi

Lớp: Chuyên ngành Văn học

Khóa học: 2010 – 2014

Giảng viên hướng dẫn:

PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân

Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2013

Trang 2

PHẦN DẪN NHẬP 1

PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG I: TÌM HIỂU VỀ TẠP CHÍ SÁNG TẠO (1956-196) 5

1.1.Giới thiệu đôi nét về tạp chí Sáng Tạo (1956-1961) 5

1.2 Giới thiệu các tác giả và danh mục các bài lý luận nghiên cứu phê bình văn học trên tạp chí Sáng Tạo (1956-1961) 18

CHƯƠNG II: TỔNG THUẬT TÌNH HÌNH SINH HOẠT LÝ LUÂN NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH TRÊN TẠP CHÍ SÁNG TẠO (1956-1961) 31

2.1 Hoạt động lý luận trên tạp chí Sáng Tạo (1956-1961) 33

2.2.Hoạt động nghiên cứu trên tạp chí Sáng Tạo (1956-1961) 47

2.3.Hoạt động phê bình trên tạp chí Sáng Tạo (1956-1961) 78

CHƯƠNG III: NHẬN ĐỊN TÌNH HÌNH SINH HOẠT LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH TRÊN TẠP CHÍ SÁNG TẠO (1956-1961) 105

3.1.Đặc điểm của sinh hoạt lý luận nghiên cứu phê bình trên tạp chí Sáng Tạo

(1956-1961) 105

3.2.Vai trò của sinh hoạt lý luận nghiên cứu phê bình trên tạp chí Sáng Tạo (1956-1961) đối với đời sống văn học miền Nam lúc đương thời 123

KẾT LUẬN 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

PHỤ LỤC 134

Trang 3

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Tìm hiểu về Lý luận nghiên cứu và phê bình văn học là một công việc hết sức quan trọng và cần thiết cho một người nghiên cứu văn học nói chung và nghiên cứu về lý luận văn học nói riêng

Đặc biệt, “Sưu tầm, tổng thuật và nhận định về sinh hoạt lý luận nghiên cứu

phê bình trên tạp chí Sáng Tạo (1956-1961)” là một đề tài hay, có ý nghĩa thực tiễn và

khoa học cao, nhằm góp phần khám phá và bổ sung thêm một nguồn tư liệu cần thiết vào thư mục nghiên cứu của nền Lý luận văn học Việt Nam

2 Mục tiêu của đề tài

Đề tài này được triển khai theo những mục tiêu cụ thể sau:

Một, bước đầu giới thiệu về tạp chí Sáng Tạo (1956-1961) và các cây bút tiêu

biểu của tạp chí

Hai, lập thư mục các bài lý luận nghiên cứu phê bình trên tạp chí Sáng Tạo

Ba, tổng thuật nội dung các bài lý luận nghiên cứu phê bình theo dòng thời gian, thể loại và hệ vấn đề

Bốn, phân tích, nhận định và đánh giá đặc điểm, diện mạo, vai trò của tờ tạp chí này đối với tình hình sinh hoạt lý luận nghiên cứu phê bình ở miền Nam trước 1975, thông qua các bài báo định kỳ của các tác giả tiêu biểu

Năm, tổng hợp các vấn đề nghiên cứu và đưa ra những lý giải bước đầu

3 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi có những hướng tiếp cận như sau:

- Thống kê

- Phân loại

Trang 4

Theo tìm hiểu bước đầu của chúng tôi, đây là một đề tài rất mới, hầu như chưa có

một công trình nghiên cứu nào tập trung khảo sát toàn bộ tạp chí Sáng Tạo

Nhắc đến tạp chí Sáng Tạo (1956-1961) thì đây là một cái tên còn nhiều xa lạ với

không ít người, thậm chí là đối với sinh viên văn khoa Từ trước đến nay chỉ có các tài liệu, bài viết về những vấn đề chung có đề cập phần nhỏ đến Sáng Tạo Tên của ấn phẩm này hầu như chỉ được nhắc đến một cách khái quát và nhận xét chung nhất qua một số bài

viết của các nhà nghiên cứu văn học như Nguyễn Hiến Lê (Hồi ký), Vũ Hạnh, Nguyễn Ngọc Phan (Văn học thời kỳ 1945-1975 ở Thành Phố Hồ Chí Minh), Ngoài ra, trên một

số trang báo mạng cũng đã có những bài viết giới thiệu tờ tạp chí này

Tuy nhiên, sau khi bắt tay vào công việc sưu tầm, khảo sát nguồn tư liệu có được

về tạp chí Sáng Tạo, chúng tôi nhận thấy có một vài bài nghiên cứu về tình hình lý luận nghiên cứu phê bình và sáng tác văn học trên tạp chí Sáng Tạo cụ thể qua từng năm Có

ba đề tài nghiên cứu đã bước đầu tìm hiểu, khảo sát về tạp chí Sáng Tạo trong những năm

1956, 1957 và 1958 Các bài niên luận này đều do sinh viên khóa (2007-2011), khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thực hiện (tháng 9 năm 2010), do PGS.TS Đoàn Lê Giang hướng dẫn Cụ thể là các đề tài sau:

“Nghiên cứu lý luận phê bình và sáng tác văn học trên tạp chí Sáng Tạo năm

1956 Tổng thuật, nhận định và thư mục.” của sinh viên Nguyễn Ngô Ánh Trinh

“Nghiên cứu lý luận phê bình và sáng tác văn học trên tạp chí Sáng Tạo năm

1957 Tổng thuật, nhận định và thư mục.” của sinh viên Thái Thị Hoài

Trang 5

“Nghiên cứu lý luận phê bình và sáng tác văn học trên tạp chí Sáng Tạo năm

1958 Tổng thuật, nhận định và thư mục.”của sinh viên Trần Thị Trúc

Như tên gọi, những đề tài nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức khảo sát, phân tích

và đánh giá tình hình nghiên cứu lý luận phê bình và sáng tác văn học trên tạp chí Sáng

Tạo qua từng năm riêng rẽ chứ chưa tập trung đi sâu nghiên cứu trên bình diện chung

nhất của tạp chí Sáng Tạo giai đoạn (1956-1961) Hơn nữa, trong các niên luận này,

nhiều bài viết chưa được tổng thuật, ranh giới giữa các thể loại chưa được xác định rõ

Do đó, ở công trình nghiên cứu này: “Sưu tầm, tổng thuật và nhận định về sinh

hoạt lý luận nghiên cứu phê bình trên tạp chí Sáng Tạo (1956-1961), chúng tôi mong

muốn sẽ có được một cái nhìn tổng quan nhất về tình hình nghiên, cứu lý luận và phê

bình văn học trên tạp chí Sáng Tạo, đồng thời bước đầu nêu ra những đặc điểm và vai trò

của tờ tạp chí này đối với tiến trình phát triển của nền văn học Sài Gòn trước 1975 nói riêng và văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 nói chung

5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Sáng Tạo (1956-1961) nhìn chung là một tờ tạp chí có nhiều nội dung phong phú

và đa dạng với nhiều lĩnh vực khác nhau: Văn học, Văn hóa, Giáo dục, Triết học, Hội họa, Âm nhạc, Điện ảnh,… Tuy nhiên, mảng Văn học luôn được chú trọng và chiếm số lượng bài viết nhiều nhất trên tạp chí Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát về tình hình Lý luận, nghiên cứu và phê bình văn học, cũng như chọn tổng thuật và nhận định những bài viết tiêu biểu của các tác giả tiêu biểu về tình hình ấy trên

tạp chí Sáng Tạo (1956-1961)

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, để có cái nhìn khái quát và mở rộng vấn đề, chúng tôi có tham khảo thêm một số tài liệu có liên quan đến đối tượng cần nghiên cứu

6.Cấu trúc của đề tài

Công trình của chúng tôi gồm 130 trang Ngoài phần Dẫn nhập (4 trang), phần

Kết luận (3trang), Phụ lục (11 trang), có các chương sau:

Trang 6

Chương 1: Tìm hiểu về tạp chí Sáng Tạo (1956-1961), chương này có 26 trang,

chúng tôi giới thiệu chung về tạp chí Sáng Tạo

Chương 2: Tổng thuật tình hình sinh hoạt lý luận nghiên cứu phê bình trên

tạp chí Sáng Tạo (1956-1961), gồm có 73 trang, chúng tôi trình bày hoạt động nghiên

cứu lý luận phê bình trên tạp chí Sáng Tạo

Chương 3: Nhận định tình hình sinh hoạt lý luận nghiên cứu phê bình trên

tạp chí Sáng Tạo (1956-1961),với 24 trang viết, chúng tôi đưa ra một vài nhận định

bước đầu về đặc điểm và vai trò của tạp chí Sáng Tạo

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG I: TÌM HIỂU VỀ TẠP CHÍ SÁNG TẠO (1956-1961)

1.1.Giới thiệu đôi nét về tạp chí Sáng Tạo (1956-1961)

1.1.1.Bối cảnh ra đời

Trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, nền văn học nước ta có những đặc điểm và bước chuyển mình riêng biệt của nó Văn học hiện đại Việt Nam trong suốt thế kỷ XX luôn gắn liền với sự vận động của lịch sử, điển hình là hai cuộc đấu tranh chống Pháp và chống Mỹ cứu nước Mối quan hệ ấy đã tác động không nhỏ đến tiến trình phát triển chung của văn nghệ Nhìn lại nền văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975, có thể nhận thấy đây là thời kỳ văn học đạt nhiều thành tựu cao nhất trên nhiều phương diện

Cũng trong thời gian này (1954-1975), hòa bình lập lại ở nước ta ngay sau Hiệp định Genève được ký kết (7.1954) Tuy nhiên, đất nước bị chia cắt thành hai miền rõ rệt: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam nhanh chóng rơi vào tay đế quốc Mỹ Nếu ở miền Bắc, nền văn học hòa chung nhịp đập với bước tiến xây dựng Chủ nghĩa xã hội có phần tạm lắng đọng thì ở miền Nam, nền văn học gắn liền với Chủ nghĩa thực dân mới do

Mỹ cầm quyền có một sự cựa mình tương đối dữ dội Cụ thể, nền văn học ở miền Nam Việt Nam (trong đó có Sài Gòn – Gia Định) là nơi hội tụ đầy đủ sự đa dạng của dòng văn học đô thị, sự sôi nổi của dòng văn học trẻ, sự quyết liệt của dòng văn học yêu nước – cách mạng và sự tinh tế của dòng văn học đấu tranh công khai Đồng thời, cuộc di cư năm 1954, trong đó có nhiều nhà báo, văn nghệ sĩ gốc Bắc, Trung đi theo con đường Nam tiến đã thay đổi bộ mặt văn học nghệ thuật miền Nam nói chung Sài Gòn được xem

là thủ đô Nam phần, là nơi sinh hoạt chủ yếu của báo chí và văn học nghệ thuật theo những hình thức sinh hoạt thông qua quá trình sáng tác, xuất bản và in ấn trên các tờ báo

chí, tạp chí khác nhau Nói như Vũ Hạnh, Nguyễn Ngọc Phan trong cuốn Văn học thời kỳ

1945 – 1975 ở Thành phố Hồ Chí Minh thì: Văn học Sài Gòn – miền Nam Việt Nam

trong giai đoạn này có hai khuynh hướng rõ rệt: khuynh hướng phản động gồm có văn

Trang 8

chương chống cộng, văn chương nhân vị duy linh và văn chương hiện sinh (vừa manh nha hình thành), khuynh tiến bộ có văn chương yêu nước và cách mạng [1, 215]

Nghiên cứu về nền văn học Việt Nam nói chung, văn học miền Nam nói riêng, ngoài nguồn tài liệu nghiên cứu trực tiếp trên những trang sách, ta thấy đã xuất hiện nhiều bài viết trên các báo, tạp chí đề cập đến vấn đề này Chính vì vậy, báo chí lúc bấy giờ vừa là diễn đàn văn nghệ, nơi sản sinh ra các tác phẩm văn học, vừa là nơi quy tụ của những khuynh hướng sáng tác khác nhau Thoạt đầu là những cây bút có tài năng và tâm huyết tập trung thành một nhóm văn nghệ, sau phát triển lên thành các tờ báo, tạp chí có tuổi thọ, ảnh hưởng sâu rộng và giữ một vị trí nhất định trên văn đàn, báo giới Tuy nhưng, thời kỳ từ năm 1954 trở đi, đa số các tờ báo, tạp chí ở miền Nam đều mang tính chất chính trị nhiều hơn là hình thức của một tạp chí văn nghệ chính thống Từ đây, báo chí miền Nam chuyển sang một giai đoạn mới – giai đoạn gắn liền với công cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình, thống nhất đất nước của ta và cũng là công cụ để đế quốc Mỹ sử dụng cho những ý đồ chính trị nhất nhất định Hai mươi năm văn học (1954-1975) có sự

đóng góp của nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng, tập trung ở các tờ báo, tạp chí như Sáng

Tạo, Nhân loại, Văn hóa ngày nay, Bách khoa, Văn đàn, Quan điểm, Văn học,…

Đại diện cho khuynh hướng văn học tiến bộ là sự ra đời của hàng loạt những tờ

báo, tạp chí lớn Thứ nhất là tờ báo Nhân loại (1956-1960), tạp chí Văn hóa ngày nay của Nhất Linh ra đời năm 1958 và hoạt động chỉ được 11 số, sau đó là tờ Tân phong của Nguyễn Thị Vinh nhưng cũng không được lâu Ngoài ra còn có tờ báo Bách khoa (1.1957), tờ Tin văn (1965), và sự xuất hiện của những nhóm Hành Trình, Thái Độ, Quan

Điểm,…cũng gây được tiếng vang trong một thời gian (khảo sát từ cuốnVăn học thời kỳ

1945 – 1975 ở Thành phố Hồ Chí Minh của Vũ Hạnh, Nguyễn Ngọc Phan) [1, 241] Có

thể thấy, những ấn phẩm văn nghệ ở các đô thị là lĩnh vực mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn rất quan tâm vào lúc bấy giờ Vì vậy, những tờ báo, tạp chí mang tư tưởng tiến bộ, mang tinh thần yêu nước, hướng về cách mạng và đặc biệt là không nêu rõ lập trường chống cộng đều bị chính quyền Mỹ – Diệm dùng mọi cách chống bỏ, rất nhiều tờ báo đã

bị đóng cửa và những cây bút rơi vào tình trạng phá sản

Trang 9

Ngược lại, đại diện cho khuynh hướng bị xem là phản động phải kể đến là nhóm

Sáng Tạo, đông đảo trong số đó là tập hợp những văn nghệ sĩ, nhà báo từ miền Bắc di cư

vào trong Nam Ảnh hưởng từ ý thức đấu tranh văn nghệ, người làm văn nghệ xây dựng

một nền nghệ thuật mới thuần túy hơn, kiểu nghệ thuật vị nghệ thuật Nhóm Sáng Tạo ra đời trong hoàn cảnh mới đó Chính vì vậy mà tháng 10 năm 1956, tạp chí Sáng Tạo ra đời

và hoạt động đình đám nhất trên văn đàn Có được địa vị như thế, một mặt tờ Tạp chí này nhận được tài trợ của chính quyền Ngô Đình Diệm, mặt khác nó cũng chủ trương đổi mới trong tất cả các lĩnh vực mà đặc biệt là văn học, được sự đón nhận của đông đảo bạn đọc

1.1.2.Sự thành lập và quá trình hoạt động

Sau một thời gian chuẩn bị và thai nghén thì đến tháng 10 năm 1956, báo chí Việt Nam nói chung, miền Nam nói riêng và Sài Gòn là tâm điểm có thêm sự ra đời của Tạp

chí Sáng Tạo Tại đây, Sáng Tạo hiện diện lên một cách độc lập và hoạt động công khai

trong bối cảnh đất nước còn trong thời chiến, xã hội đứng trước những luồng tư tưởng và văn hóa mới, con người đang trong quá trình định hình lại bản ngã của mình

Sáng Tạo là một tờ tạp chí văn nghệ xuất bản hàng tháng, do Thanh Tâm Tuyền

cùng với Mai Thảo chủ trương xuất bản Trong đó, chủ trương biên tập và đứng tên là

Mai Thảo Tạp chí Sáng Tạo có tòa soạn và trị sự nằm ở số 133B, đường Ký Con, Sài

Gòn Tờ tạp chí này xuất bản trong chế độ Mỹ - Diệm và được sự tài trợ từ chính quyền

Ngô Đình Diệm Có thể nói, trước tiên Sáng Tạo là nơi tập hợp những cây bút có khuynh hướng chống Cộng Tuy nhiên, tạp chí Sáng Tạo trong quá trình hoạt động đã chủ động

đổi mới các vấn đề về văn hóa – văn nghệ - văn học như cái tên của nó và thực sự tạo

được dấu ấn trong lòng bạn đọc Vì thế mà thời ấy, nhiều người đã xem Sáng Tạo như

luồng gió mới của báo chí miền Nam, và hơn hết làm nên một hiện tượng của văn học thời kỳ (1954 – 1975) có ảnh hưởng rộng khắp trên văn đàn

Năm 1956 là năm đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện của tạp chí Sáng Tạo đối với báo

chí đương thời Số đầu tiên ra đời vào tháng 10 năm 1956 và kéo dài được 31 số, đình bản từ tháng 9 năm 1959, đến tháng 7 năm 1960 thì tiếp tục bộ mới nhưng cũng chỉ ra

Trang 10

thêm được 7 số mà thôi Trong suốt sáu năm hoạt động (1956-1961), tạp chí Sáng Tạo đã

cho ra đời một số lượng tạp chí khá lớn Cụ thể được thống kê theo từng năm như sau:

Năm 1956 khởi đầu với 3 số: từ số 1 (tháng 10 năm 1956), số 2 (tháng 11 năm 1956), đến số 3 (tháng chạp năm 1956)

Năm 1957 với 12 số đều đặn: từ số 4 (tháng giêng năm 1957) đến số 15 ( tháng

chạp năm 1957) Số đặc biệt, Sáng Tạo mùa xuân Đinh Dậu số 5 (tháng 2 năm 1957)

Năm 1958 cũng với 12 số như thường lệ: từ số 16 (tháng giêng năm 1958) đến số

27 (tháng chạp năm 1958) Trong đó, số 25 (tháng 10 năm 1958) là số Kỷ niệm đệ nhị chi

niên, và đặc biệt mùa xuân Mậu Tuất số 17 (tháng 2 năm 1958)

Năm 1959 chỉ xuất bản được 4 số: số đặc biệt 28 – 29 ấn phẩm nhân dịp mùa xuân Kỷ Hợi (do tháng 1 và tháng 2 năm 1959 hợp thành), số 30 (tháng 5 năm 1959) và

số 31 (tháng 9 năm 1959)

Năm 1960, Sáng Tạo bộ mới xuất bản được 6 số: số 1(tháng 7 năm 1960) đến số 6

(tháng 12 năm 1960)

Năm 1961 chỉ cho ra đời được hai số, trong đó có một số ghép chung với năm

1960 (số 6, tháng 12 năm 1960 và tháng 1 năm 1961), số 7 vào tháng 9 năm 1961

Thống kê lại từ tháng 10 (năm 1956) đến tháng 9 (năm 1961), tạp

chí Sáng Tạo đã

ấn phẩm được 38

số (kể cả các số được ghép đôi)

Trang 11

Căn cứ vào số ấn phẩm của tạp chí Sáng Tạo ở trên thì dễ dàng nhận thấy tờ tạp

chí này đã có một quá trình hoạt động và phát triển hết sức biến động Thoạt đầu, nó ấn phẩm được đều đặn trong ba năm đầu tiên (từ 1956 đến 1958) với các số báo xuất bản hàng tháng, cụ thể là hạ tuần của tháng Từ năm 1959 cho ra được 4 số, đến năm 1960 thì duy trì được 6 số Cuối cùng, năm 1961 chỉ tồn tại duy nhất 1 số Giải thích cho nguyên nhân trên, có thể thấy tình hình chính trị, kinh tế và xã hội lúc đương thời chi phối rất nhiều Một mặt tờ tạp chí này phải hoạt động trong thời chiến giữa chính quyền Sài Gòn

và lực lượng cách mạng của ta, mặt khác nó cũng chịu sự ảnh hưởng từ Mỹ – Diệm vì nhận được sự tài trợ từ chúng Cho nên, khi cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam đi

vào ngõ cụt, Mỹ – Diệm bị lật đổ thì tạp chí Sáng Tạo cũng hết sức khó khăn Tuy vậy, trong chặng đường phát triển chung ấy (1956-1961), Sáng Tạo cũng đã cố gắng rất lớn để

có được sự thay đổi về mặt hình thức đến nội dung, điển hình là chuyển từ bộ cũ sang bộ

mới Năm 1960 đến năm 1961 đánh dấu sự ra đời của Sáng Tạo bộ mới

Xét lại, sự phát triển đầy biến động, thậm chí đến mức đột biến này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Phải chăng đó là sự tác động khách quan từ bên ngoài như tình hình chính trị – quân sự – kinh tế – xã hội – báo giới – độc giả…, và sự ảnh hưởng chủ quan từ bên trong của chính tờ tạp chí này (nguồn vốn, nhân lực, ý thức, thái độ và hành động…) đã ảnh hưởng đến điều đó? Phải nhìn nhận rằng, những bất cập trong công tác xuất bản, biên tập, nhân sự,… cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển chung ấy Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa và tác động trực tiếp nhất đến sự sống còn của tạp chí

Sáng Tạo là vẫn không thoát khỏi tình hình chung của đất nước vốn dĩ còn nhiều biến

động bởi thời chiến Bởi lẽ, những năm 60 của thế kỷ XX, hoạt động văn nghệ ở miền Nam có nhiều thay đổi, đồng thời ảnh hưởng dữ dội của chiến tranh giữa dân tộc ta và

Mỹ ngụy

Ngay từ những năm đầu, tạp chí Sáng Tạo đã có được một vị trí nhất định trong

lòng bạn đọc, tạo được nhiều dư luận, tiếng tăm và từng bước được đón nhận trên khắp văn đàn, báo chí Năm 1957, 1958 được xem là đỉnh cao và phát triển hoàn thiện nhất của

tờ tạp chí này với số lượng tạp chí xuất bản đều đặn không bỏ sót số nào Những năm sau

Trang 12

đó có phần chùng lại và rồi đi vào ngõ cụt Sau một thời gian cựa quậy, duy trì thì đến

năm 1960, tạp chí Sáng Tạo đình bản Nhưng cuối cùng, Sáng Tạo chính thức ngừng hoạt

động vào năm 1961, lùi dần theo sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm Giải thích

cho sự kết thúc này, Trần Thanh Hiệp, trong buổi Hội luận về tạp chí Sáng Tạo do Viện

Việt học tổ chức, đã nói: “Đầu thập niên 60, chúng tôi ngưng lại vì có nhiều triệu chứng cho thấy nó đang bị bao vây bởi hàng rào quyền lực mới Những người như anh em chúng tôi đứng giữa hai làn đạn mới: độc tài cộng sản và chính quyền ở miền Nam Chính quyền nào cũng muốn có những người cầm bút, những người nghệ sĩ, hay đúng hơn chính quyền dùng họ làm những tên hề nghệ thuật, chúng tôi ý thức được điều đó và

tự ý đình bản, vì nếu tiếp tục hoạt động thì đã đi vào vai trò cũng những tên hề văn nghệ Như thế, đời sống tạp chí rất ngắn ngủi, từ cuối thập niên 50 đến đầu thập niên 60 Đó là

lý do về sau không còn Sáng Tạo nữa.” [10]

Như vậy, tạp chí Sáng Tạo kể từ khi hình thành cho đến lúc tan rã đã tồn tại được

một chặng đường sáu năm (1956-1961), duy trì khoảng 63 tháng hoạt động và cho ấn phẩm được 38 số tạp chí để gửi đến bạn đọc gần xa

1.1.3.Hình thức và nội dung

Về hình thức, đi từ ngoài vào trong thì thấy tạp chí Sáng Tạo có hình thức tương

đối chỉn chu Cuốn tạp chí có khổ in 15 x 23 cm, có bìa cứng được in màu (căn cứ theo

bộ Sáng Tạo đóng thành tập) Số trang thay đổi theo từng số, ban đầu có 48 trang, sau

duy trì đều đặn mỗi số 56 trang, từ số 18 (tháng 3 năm 1958) tăng thêm 24 trang Do đó,

số trang có thể được tăng lên hay hạ xuống tùy theo số lượng bài vở trong số đó Riêng những số mùa xuân thì cả cuốn tạp chí đều được in màu, ở mỗi bài có thêm hình ảnh minh họa, số trang cũng tăng lên đáng kể do các bài viết là những sáng tác văn học như thơ, truyện ngắn, ký và tiểu thuyết

Về trang bìa chính, dễ dàng nhận thấy một điều là bìa của tạp chí Sáng Tạo được

thay đổi màu sắc theo từng số, được thiết kế và trình bày theo chủ trương của ban biên tập để tạo ra sự mới lạ, thu hút bạn đọc Phía chính giữa trên cùng của trang bìa là măng –

sét (manchette) mang tên SÁNG TẠO in đậm, in hoa và in màu, phần này mang tính ổn

Trang 13

định cao, ít thay đổi, nếu có thì chỉ là thay đổi màu sắc tên báo Phía dưới liền kề là những bài viết và tên của mỗi tác giả Phía dưới cùng, góc bên phải in dòng chữ: TẠP CHÍ VĂN NGHỆ XUẤT BẢN HÀNG THÁNG – THÁNG MƯỜI 1956 – SỐ 1 – GIÁ 6$00 Giá tạp chí ban đầu chỉ là 6$00, đến số mùa xuân 17 (tháng 2/1958) thì tăng lên

10$00, từ Sáng Tạo bộ mới thì tăng giá lên đến 15$00 Góc bên trái đối diện thì in dòng

chữ: CHỦ TRƯƠNG BIÊN TẬP: MAI THẢO, Tòa soạn và Trị sự: 133B, KÝ – CON – SAIGON Kể từ số thứ 2 trở đi thì đổi lại in ở phía chính giữa dưới cùng cho gọn gàng và chuyển tên số tạp chí qua góc bên trái, tên giá qua góc bên phải phía dưới cùng Cho đến

số 26 (tháng 11 năm 1958) thì đổi trình bày lại, các mục được lọc bớt, chỉ còn phía dưới góc trái được in lại: Chủ trương biên tập: Mai Thảo, Tòa soạn và Trị sự: 133b, Ký Con – Saigon, còn góc bên phải đánh số tạp chí, giá tạp chí Cách trình bày trang bìa này được

duy trì cho đến hết số Sáng Tạo bộ cũ Điều đặc biệt, từ đầu tháng 5 năm 1957 (số 8)

Sáng Tạo được đóng thành tập 1 (từ số 1 đến số 6), có bìa cứng, trình bày mỹ thuật, dày

400 trang, giá đặc biệt 30$00, tập 2 (từ số 7 đến sô 12) dày 300 trang, giá 30$00, …

Tiếp sau bìa cứng là trang bìa lót, ở đây nhắc lại nội dung số này có những bài viết

gì và sau mỗi tên bài viết có đánh dấu cụ thể số trang cho độc giả tiện theo dõi Đặc biệt, phía dưới của trang bìa lót này có in một cái khung, trong đó ghi thông tin của tòa soạn gửi đến bạn đọc thông qua đó hiểu thêm về tờ tạp chí này Ví dụ: MỤCHỘP THƯ SÁNG TẠO, thư từ và bài vở gởi cho Mai Thảo, tiền bạc và ngân phiếu thì gởi cho Đặng Lê Kim, thể lệ mua báo dài hạn, giá báo, và không quên in lại dòng chữ TÒA SOẠN TẠP CHÍ SÁNG TẠO, 133B, đường Ký Con – SAIGON Cũng như trang bài lót, bìa sau của cũng được in thêm khung nền ghi những dòng chữ với hình thức thương mại, quảng cáo, thông báo từ tòa soạn Cụ thể in lại danh sách các bài viết đã được đăng trong các số trước, giới thiệu những tác phẩm văn thơ, những bài nghiên cứu của các tác giả có bài đăng trong những số tiếp theo, cũng như trong những số tới có những gì để độc giả tiện theo dõi và đón đọc Điều đáng ghi nhớ là trong bìa sau, mặt trong có in thêm khung HỘP THƯ SÁNG TẠO để trả lời thư từ bạn đọc và bài viết của các cộng tác viên Tiếp theo trang bìa sau là trang bài chót, trang này cũng ghi rõ những dòng chữ giới thiệu với

Trang 14

bạn đọc những tác phẩm văn nghệ và danh mục cái bài viết đã và sẽ phát hành nhưng với câu chữ mang đậm tính quảng cáo hơn Ngoài ra, tòa soạn còn chừa chỗ cho phần tường trình sai sót, chỉnh lý để kịp thời sửa đổi, xuất bản báo đúng tiến độ Cứ như thế, xuyên suốt các số sau đều có in các khung, mục quảng cáo này từ tòa soạn Cuối cùng là địa chỉ nhà in, ban đầu in tại nhà in Nguyễn Trung Thành, 55, đường Phát Diệm – SAIGON, sau

in ở nhà in Nguyễn Đình Vượng, 38 Ph-ngũ-Lão Sg (bắt đầu từ số 7, tháng 4 năm 1957), đến số đặc biệt 28 – 29 (tháng 1, 2 năm 1959) thì ở nhà in Nam Sơn, 36, Nguyễn an Ninh – Saigon

Phần quan trọng nhất của tờ tạp chí Sáng Tạo là trang nội dung Ở đây in những

nội dung chính của tạp chí như đã giới thiệu ở trang bìa, được trình bày bao gồm: tên bài viết – tiêu đề (hay còn gọi là Tít (titre), tên tác giả liền kề phía dưới bài viết in hoa Phần nội dung trung tâm được trình bày sáng rõ dưới dạng một văn bản hoàn chỉnh Phía cuối

bài viết một lần nữa ghi tên tác giả và cũng được in hoa Riêng ở mục Qua các bộ môn

văn nghệ thì có khi được trình bày thành những cột báo ngăn cách nhau bằng phi – lê

(đường kẻ hoặc họa tiết phân cách), ở đây là phần màu trắng vì thời đó chưa có nhiều kiểu cách trang trí bài báo như hiện nay

Đến Sáng Tạo bộ mới thì hình thức trình bày vẫn tương tự, nhưng có một vài thay

đổi trong việc in ấn, đề mục nhằm thể hiện rõ hơn quan điểm văn nghệ của toà soạn Ở bộ mới này, trang bìa cũng được trang trí khác đi, măng – sét thì in thường, kiểu chữ tân thời, tên bài viết và tên một số cây bút chính trong số đó được in trực tiếp lên trang bìa, phía dưới cùng in ngắn gọn, ví dụ: “Bộ mới số 1 Tháng 7 – 1960 – diễn đàn văn học nghệ thuật hôm nay” Trang bìa lót được trình bày theo dạng chia khung giống như báo ngày nay, mỗi khung được phân cách bằng một đường kẻ thẳng ghi từng nội dung chuyên biệt Điều đáng chú ý là măng – sét của tạp chí in hoa (trái với trang bìa chính), điều ấn tượng tiếp theo là in danh của những thành viên nòng cốt: Bộ Biên Tập: DOÃN QUỐC

SỸ, DUY THANH, MAI THẢO, NGUYỄN SỸ TẾ, THÁI TUẤN, THANH TÂM TUYỀN, TÔ THÙY YÊN, TRẦN THANH CHỦ NHIỆM: MAI THẢO QUẢN LÝ: Đặng LÊ KIM TRÌNH BÀY: DUY THANH Đi vào sâu bên trong, số trang được đánh ở

Trang 15

phía dưới trang, còn ở bộ cũ ở phía trên Các trang bìa sau cũng được trình bày dưới dạng khung chia ra từng nội dung chuyên biệt, nội dung cũng như bộ cũ, nhưng đẩy mạnh tính quảng cáo hơn, phía sau cùng có in tóm lược lại nội dung của bài viết chủ đề trong tháng

Nhìn chung, hình thức trình bày của tạp chí Sáng Tạo cũng có những nét tương đồng và

khác biệt so với những tờ báo, tạp chí đương thời Như đã giới thiệu ở trên, hình thức trình bày của tờ tạp chí này từ bố cục, màu sắc, trang trí đều được đầu tư một cách bày bản, chỉnh tề, khuôn khổ, có phần cầu kì mang đậm tinh thần sáng tạo theo cái tên cũng như chính tính cách kĩ lưỡng của những người con gốc Bắc làm công tác văn thư, báo chí, văn nghệ di cư vào trong Nam vậy

Về nội dung, Tạp chí tập trung khai thác các vấn đề trên nhiều lĩnh vực như: Văn

hóa, Giáo dục, Triết học, Hội họa, Âm nhạc, Điện ảnh,…và đặc biệt là văn học Ở mỗi số

tạp chí được chia gồm những chuyên mục như: Biên khảo, Khảo luận, Sáng tác, Thơ tự

do, Phê bình văn nghê, Vấn đề văn học, Qua các bộ môn văn nghệ Trong đó, mục Biên khảo hay Khảo luận để trước mục Sáng tác, kế đến là mục Thơ tục do, bên cạnh đó còn

có mục Các vấn đề văn học hay Phê bình văn nghệ và cuối cùng là mục Qua các bộ môn

văn nghệ Mỗi chuyên mục chứa đựng một số lượng lớn bài viết của các tác giả, của các

cộng tác viên xoay quanh những vấn đề trên nhiều lĩnh vực kể trên

Đầu mỗi số tạp chí có mục Biên khảo hoặc mục Khảo luận, mục này luôn dành

phần lớn cho các bài nghiên cứu về Văn hóa, Triết học, Giáo dục, Âm nhạc, Hội họa, cũng có khi đề cập đến phạm vi thuộc về văn học Có thể dễ dàng nhận thấy, trong những

số đầu, Sáng Tạo đã tập trung khai thác và hô hào mạnh mẽ về cái gọi là văn hóa, một thứ văn hóa mới chỉ có ở miền Nam với những loạt bài như: “Sài Gòn Thủ đô văn hóa

Việt Nam” của Mai Thảo, “Thử định nghĩa văn hóa”, “Phong độ văn hóa” của Lê Văn

Siêu, “Thần trí và hồn tính dân tộc Việt Nam” của Nguyễn Sỹ Tế,… Điều này dấy lên

một làn sóng mạnh mẽ, như một sự nổi loạn cốt để gây dựng cái mới, một nền văn hóa

mới Như trong số đầu tiên, Mai Thảo đã tuyên bố “Sài Gòn thay thế cho Hà Nội, từ một

đô thị miền Nam trở thành thủ đô tinh thần của toàn thể đất nước Sài Gòn sáng tạo và suy tưởng” (số 1/1956) Kế đến là những bài viết đề cập đến vấn đến Triết học gồm một

Trang 16

số bài viết đã giúp cho độc giả có được những kiến thức cơ bản về nó như: “Triết học là

gì?”, “Vấn đề triết học căn bản”, “Nhận định đại cương và triết học hiện hữu” của

Nguyên Sa, “Vấn đề định nghĩa triết học” của Trần Thanh Hiệp,… Hay một số bài viết

ấn tượng như:“Nguyên lý âm nhạc trong căn bản ngôn ngữ”, “Tìm đường sống cho âm

nhạc” của Lê Thương, “Giáo dục âm nhạc” của Nguyễn Phụng, “Một vài nhận xét về nghệ thuật hội họa”, “Hội họa sẽ đi về đâu” của Thái Tuấn, “Nói về hội họa” của Duy

Thanh, “Sân khấu và vấn đề xây dựng con người” của Vũ Khắc Khoan, “Giáo dục: Giải

phóng hay áp bức?” của Hoàng Thái Linh, “Một nền Đại học Việt thuần túy” của Doãn

Quốc Sỹ… Việc dành một số lượng bài viết không nhỏ kể trên chứng tỏ tạp chí rất quan tâm đến những vấn đề thuộc về văn hóa, triết học, âm nhạc, hội họa, cũng như đề cao hồn tính dân tộc dung chứa nhiều giá trị về mặt tinh thần Thông qua đó góp phần bảo tồn và phát huy nét bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập và phát triển

Lĩnh vực Văn học vẫn là nơi chiếm diện tích đất lớn nhất trên tạp chí Sáng Tạo Văn học được tạp chí tập trung hơn cả với rất nhiều chuyên mục như : Sáng tác, Thơ tự

do, Phê bình văn nghệ, Vấn đề văn học, Qua các bộ môn văn nghệ Bạn đọc có thể tìm

thấy những tác phẩm văn nghệ mới, các sáng tác trên nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, ký,

kịch và tiểu thuyết của các tác giả tên tuổi của tạp chí như Tô Thùy Yên, Duy Thanh,

Nguyên Sa, Quách Thoại, Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh Riêng mục Phê bình văn nghệ và Vấn đề văn học là nơi mà các nhà Lý luận nghiên cứu phê bình gửi những

bài viết của mình đến độc giả và thường mang tính chất bác học nhiều hơn; cụ thể và cốt lõi là những bài Lý luận, nghiên cứu và phê bình văn học trong nước và ngoài nước, dịch

văn học nước ngoài (Pháp, Nhật) Ngoài ra, mục Qua các bộ môn văn nghệ ở cuối tạp chí

là những bài cảm nhận ngắn về các tác phẩm văn chương, giới thiệu sách, những bài đưa tin về hội họa, điện ảnh,… vì thế ít nhiều mang tính chất ký sự, báo chí đời thường nhiều hơn là bác học (hình thức này về sau được phát triển thành dạng đưa tin vắn, tin ngắn, điểm sách, mục ý kiến bạn đọc,… trên những trang báo in, báo truyền hình, báo phát

thanh và báo điện tử như bây giờ) Đặc biệt, từ Sáng Tạo bộ mới (7.1960) trở đi, tạp chí được nâng lên thành “diễn đàn văn học nghệ thuật hôm nay” Nội dung của nó cũng vì

Trang 17

thế mà tập trung chính yếu vào vấn đề Văn học, bao gồm các bài Lý luận nghiên cứu phê bình chung về tình hình văn học nghệ thuật trong và ngoài nước, các sáng tác văn học và phong trào dịch thơ văn từ nước ngoài cũng được đẩy mạnh Do đó, lĩnh vực Văn học là nơi đón nhận nhiều nhất đông đảo bạn đọc bốn phương, góp phần tạo nên sức hấp dẫn và thành công cho tờ Tạp chí

Từ những nội dung kể trên, có thể nhận thấy, tạp chí Sáng Tạo đặc biệt quan tâm

đến việc bồi dưỡng kiến thức về văn học và nghệ thuật Các tác giả đa phần là những nhà văn nhà thơ, những tác phẩm của họ đã thực sự tác động đến nhận thức chung của người đọc, cũng như tình hình văn học chung của nước nhà Bởi đơn giản, những người viết văn, làm báo cũng chính là những người có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục và nuôi dưỡng tài năng văn học

1.1.4 Tôn chỉ và mục đích hoạt động

Vốn là một tờ tạp chí văn nghệ nhận được sự tài trợ của chính quyền Ngô Đình

Diệm Nhóm Sáng Tạo trước tiên là tập hợp của những cây bút có khuynh hướng chống

cộng Hay nói chính xác hơn, vị trí ra đời và quá trình hoạt động của nó cho thấy rõ một

sự nổi loạn Tạp chí Sáng Tạo tuy không trực tiếp nêu ra tôn chỉ và mục đích hoạt động

như một số tờ báo khác, nhưng dễ dàng nhận thấy tôn chỉ của nó qua số báo đầu tiên

tháng 10 năm 1956 Sau khi ra mắt, Sáng Tạo đã phát động ngay một nền nghệ thuật mới

– nghệ thuật hôm nay như một cách nói kiêu căng của “lớp ngựa non háu đá”, lớp văn sĩ

miền Bắc di cư vào trong Nam mong tìm kiếm một nền văn nghệ mới, điển hình là Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế,… Họ cố kiến tạo ra cái mới, đoạn tuyệt hoàn toàn với những tàn tích của cái cũ Họ còn hô hào đem cả một thủ đô văn

hóa theo tạp chí nữa Điển hình là lời phi lộ của Mai Thảo trong bài viết “Sài Gòn thủ đô

văn hóa Việt Nam”, Sáng Tạo số 1, tháng 10 năm 1956 đã nêu ra những ý chính:

“Sài Gòn thủ đô văn hóa Việt Nam là một thực thể được minh định: Văn hóa Việt Nam thực hiện hôm nay và sẽ được kiện toàn trong ngày tới đã có một trung tâm xuất phát và sinh thành: Thủ đô Sài Gòn

Trang 18

Từ một điểm son bé nhỏ vô nghĩa trên tấm bản đồ hình thể xứ sở, đến những công trình xây dựng bề mặt, thành phố dựng lên theo chiều cao đang tỏa đi theo chiều rộng và thấm lắng xuống chiều sâu, để từ một đô thị miền Nam biến thành một thủ đô tinh thần của toàn thể đất nước

Sài Gòn đã đứng vào vị trí Đã nhận nhiệm vụ của mình Sau khi Hà Nội đã từ bỏ

vị trí nhiệm vụ của Hà Nội Lửa văn hóa vượt vĩ tuyến đã sáng lên ở đây, hôm nay

Sài Gòn khác biệt với bất cứ một thủ đô nào của thế giới Nhưng Sài Gòn cũng là một trong những thủ đô văn hóa thế giới Trên bản đồ đất nước, chúng ta ghi tên Sài Gòn: thủ đô văn hóa, dân tộc hôm nay và ngày mai.”

Trong Sáng Tạo số 12 (tháng 9 năm 1957), “Bản lên tiếng chung của tám tác giả

Việt Nam”, bao gồm Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Mai Thảo, Mặc Đỗ, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Vũ Khắc Khoan Nêu rõ:

“Chúng tôi, những tác giả Việt Nam ký tên dưới đây, nhận thức:

- Những ràng buộc tất nhiên giữa cá nhân tác giả và cuộc sống của toàn thể –những ràng buộc đó đòi hỏi ở tác giả ý kiến, thái độ, hành động;

- Trách nhiệm mặc nhiên của tác giả trước xã hội và lịch sử – trách nhiệm đó phải được công nhận đảm nhận;

- Giá trị của sự lên tiếng chung – đã đến lúc tiếng nói của từng tác giả cần phải kết hợp vì đòi hỏi và trách nhiệm trên;

Bởi vậy, tự ý liên kết để:

- Thống nhất quan điểm, bày tỏ ý kiến, thái độ về những vấn đề cần đặt ra trong tinh thần tôn trọng tự do, độc lập của mỗi người;

- Tranh thủ những điều kiện căn bản tự do, độc lập thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của tư tưởng, văn chương, nghệ thuật;

Không nghĩ rằng công việc của chúng tôi có ảnh hưởng quyết định trong việc giải quyết những vấn đề, nhưng ít nhất cũng có giá trị một cố gắng của những người tha thiết

Trang 19

với trách nhiệm, chúng tôi chân thành kêu gọi bạn đồng tình và viết bản văn này xác nhận

có mặt của chúng tôi.”

Bản tuyên bố này có thể coi là “tuyên ngôn” của nhóm Sáng Tạo Suy cho cùng,

lời phi lộ, tôn chỉ hoạt động của Tạp chí y như đúng cái tên của nó đặt ra vậy

Mục đích của Sáng Tạo: Thanh toán với thế hệ trước, xác định lại giá trị đích thực

của nghệ thuật tiền chiến, khơi mở một con đường tiến tới trước nghệ thuật hôm nay Một nghệ thuật để con người chinh phục thân phận của chính mình Một nghệ thuật mang

trong nó sự vận động biện chứng của hủy diệt và sáng tạo (Trong bài Nhìn lại nghệ thuật

tiền chiến – Mai Thảo ghi, Sáng tạo Bộ mới, Số 4, Tr.1-16)

Bên cạnh đó, một trong những chủ trương của nhóm Sáng Tạo là giải phóng tình dục Thạch Chương trong bài “Giới thiệu một nhận thức siêu thực về nghệ thuật”, viết:

“Chúng tôi muốn quay lại vũ trụ hoang sợ dục tình nguyên vẹn mà tâm hồn mỗi kẻ còn trinh nguyên như sữa Nhưng là cái tinh khiết đáng sợ của con bò rừng Nghệ thuật hôm nay là sự biểu lộ một “furie du total”, một tiếng gọi quay trở về rừng thẳm mà ở đó còn vẳng lên những tiếng cười điên mê, những tiếng la cuồng dại vọng về từ trăm thế kỷ của bản năng thuần túy… Nghệ thuật hôm nay còn được biểu tỏ mãnh liệt trong tình yêu ngọt

ngào của xác thịt, hay “tình điên”.Tạp chí Sáng Tạo bộ mới đăng nhiều truyện ngắn đầy dục tính của các tác giả như Duy Thanh (Khép cửa, Thằng Khởi, Chiếc lá,…), Thạch Chương (Tinh cầu),… Trong truyện Thằng Khởi, Duy Thanh để cho nhận vật một cô gái

16 tuổi ra tay “hãm hiếp” một thằng gánh nước người Chàm, hay trong truyện Chiếc lá,

Duy Thanh đã để nhận vật là cô gái 18 tuổi “thích thay đổi từ vấn đề ái tình, sinh lý, không khí, đồ ăn,…” [3, 193] Do đó, nó đã khiến dư luận báo chí lúc này cho rằng, giải

phóng tình dục là một trong những chủ trương văn nghệ của nhóm Sáng Tạo

Tuy nhiên, bỏ qua hết những bất cập còn sót lại, Sáng Tạo, ngoài việc tạo ra một

diễn đàn văn nghệ rộng khắp, một cơ quan ngôn luận đầy quyền lực chi phối cả nước về đời sống văn hóa, tinh thần, chính trị theo cách riêng của những nhà sáng lập ra nó thì cách tạo ra một nhịp cầu văn học, quan tâm khai trí và bồi dưỡng nhu cầu văn chương cho thế hệ độc giả dù sao cũng đáng được trân trọng và gìn giữ

Trang 20

1.2.Giới thiệu các tác giả và danh mục các bài lý luận nghiên cứu phê bình văn học

trên tạp chí Sáng Tạo (1956-1961)

1.2.1.Giới thiệu các tác giả của tạp chí Sáng Tạo

Nhà phê bình văn học Nguyễn Tà Cúc đã có bài phát biểu trong một cuộc Hội luận

về tạp chí Sáng Tạo do Viện Việt học tổ chức vào năm 2011, bà nói: Tạp chí Sáng Tạo

không những phản ảnh bầu không khí tưng bừng của văn học miền Nam mà còn phản ảnh những con người miền Nam Miền Nam giúp cho tạp chí xuất hiện và tạo được một

biến chuyển mới trong văn học Tuy Mai Thảo lập tờ chí Sáng Tạo từ nguồn vốn tài trợ

của thông tin Hoa Kỳ nhưng nó sinh hoạt hoàn toàn độc lập, một diễn đàn văn nghệ độc

lập và tự do Cho nên, Mai Thảo đã xem miền Nam như quê hương mới và viết bài “Sài

Gòn thủ đô văn hóa Việt Nam” và đã có nhiệm vụ thay thế cho thủ đô Việt Nam Nhóm Sáng Tạo là một góc quyền xã hội miền Nam thu nhỏ với tất cả những ý nghĩa tiêu biểu

của nó từ sự tự do chọn nghề, cho đến sự hành nghề Nhóm có giáo sư dạy học là Doãn Quốc Sỹ và Nguyễn Sỹ Tế, có luật sư Trần Thanh Hiệp, có ba nhà thơ nhưng tùng sự trong quân lực Việt Nam Cộng hòa là đại úy Dư Văn Tâm (Thanh Tâm Tuyền), Thiếu tá Đinh Thành Tuyên (Tô Thùy Yên) và trung tá không quân Cung Thúc Cần (Cung Trầm Tưởng), có hai họa sĩ là Duy Thanh và Thái Tuấn, tất cả những nghề nghiệp đó đề không được phép hành nghề ở miền Bắc Chính vì điều đó, mà ở miền Nam cái quyền tự do

được phép chọn nghề và hành nghề đã tạo nên một sức sống mãnh liệt cho Sáng Tạo.[10]

Thật rõ ràng, tạp chí Sáng Tạo ra đời là một nỗ lực không nhỏ của tập thể, từ toà

soạn, ban biên tập, trị sự, kỹ thuật viên, tác giả cho đến cộng tác viên Như đã tìm hiểu thì

nhóm Sáng Tạo phần lớn là lớp văn nghệ sĩ, báo giới từ ngoài Bắc di cư vào trong Nam

sinh sống, tại đây họ kết hợp với lực lượng tại chỗ, cho nên số lượng tác giả của Tạp chí cũng hết sức đa dạng ở mọi vùng miền và mang nhiều phong cách khác nhau Chúng tôi

đã khảo sát thông tin các tác giả một phần cũng từ trên trang

websitehttp://www.wikipedia.org, đồng thời từ nguồn tài tiệu của tạp chí Sáng Tạo Có

thể nêu lên một số tác giả lớn, nổi bật của tờ tạp chí này như sau:

Trang 21

Thứ nhất phải kể đến là tác giả Mai Thảo, ông là người đầu tiên chủ trương cho

sự ra đời của tạp chí này Mai Thảo (1927-1998) tên thật là Nguyễn Đăng Quý, có bút hiệu khác là Nguyễn Đăng, sinh ngày 8 tháng 6 năm 1927 tại chợ Cồn,Hải Hậu,Nam Định Thuở nhỏ, Mai Thảo học tiểu học ở trường làng, học trung học ở Nam Định rồi tiếp

tục học lên cao ở Hà Nội Năm 1946, chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, ông tham gia

kháng chiến, viết báo, rồi theo các đoàn văn nghệ đi khắp nơi từ Liên khu III, Liên khu

IV đến chiến khu Việt Bắc.Thời kỳ này đã để lại dấu ấn sâu sắc trong văn chương ông.Năm 1954, ông di cư vào Nam, gia nhập làng báo.Năm 1956, Mai Thảo chủ nhiệmtờ

tạp chí Sáng tạo, gây được tiếng vang Năm 1956, ông chủ trương báo Nghệ Thuật, và

từ 1974, trông nom tạp chí Văn Ngoài ra, ông còn tham gia chương trình văn học nghệ

thuật của Đài phát thanh Sài Gòn từ 1960 đến 1975

Mai Thảo được biết đến ở nhiều vị trí khác nhau, trong đó có nhà văn, nhà thơ, nhà báo Sự nghiệp ấy có hơn 50 tác phẩm đã xuất bản và là cây bút chính của tạp chí

Sáng Tạo Các sáng tác của ông như: Đêm giã từ Hà Nội (1955), Tháng giêng cỏ non, Mái tóc dĩ vãng (1956), Khi mùa mưa tới (1964,) Mưa núi (1970), Bên lề giấc mộng, Cửa trường phía bên ngoài(1973), Ôm đàn tới giữa đời (1974), Ngọn hải đăng mù (1987), Một đêm thứ bẩy(1988), Những người tình tuổi song ngư (Xuân Thu, 1992) Đặc biệt,

trên tạp chí Sáng Tạo nói riêng, ngay từ trong những số đầu, Mai Thảo đã có những bài viết chính như: “Sài Gòn thủ đô văn hóa Việt Nam, Những ngón tay bắt được của trời,

Cửa hiệu tạp hóa, Những vì sao thứ nhất, Chiếc xe đạp cũ, Một vài ý nghĩ gửi bạn đọc Chữ tình truyện ngắn của Võ Phiến, Ai có qua cầu – Tâm bút của Hoài Đồng Vọng, Đi tìm một căn bản tư tưởng của Nghiêm Xuân Hồng,…” và rất nhiều bài viết khác nữa Ở

Mai Thảo có sự đa dạng trong phong cách nghệ thuật Ông là người tập hợp của những khuynh hướng văn học khác nhau, vừa phản động nhưng cũng vừa tiến bộ theo tinh thần văn học bối cảnh 1945 đến 1975, cũng như có sự hội nhập của nền văn học ngoại quốc trong những sáng tác khi ông ở nước ngoài Nhà văn Mai Thảo mất tại Santa Ana, California (Hoa Kỳ) ngày 10 tháng 1 năm 1998

Trang 22

Thứ đến là tác giả Thanh Tâm Tuyền, ông là người cùng với Mai Thảo chủ

trương tạp chí Sáng Tạo Thanh Tâm Tuyền (1936-2006) tên thật Dzư Văn Tâm, sinh

ngày 13.3.1936 tại Vinh – Nghệ An Từ năm 1952, ông đã đi dạy và có truyện đăng báo

Thanh niên, Hà Nội Sau đó, ông hoạt động trong Tổng hội sinh viên Hà Nội, cùng với

Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp chủ trương Nguyệt san Lửa Việt (1954), rồi di cư vào Nam và cùng với Mai Thảo thành lập Tạp chí Sáng Tạo từ 1956 đến 1961

Thanh Tâm Tuyền là một nhà thơ, nhà văn gốc Việt nổi tiếng, được xem là một trong những người khai sáng của lối thơ mới trong Nam bằng tập thơ thể tự do đầu tiên

ở Miền Nam Việt Nam Ông cũng là một trong những cây bút sáng tác chính cho tạp chí

Sáng Tạo như: tập thơ đầu tay Tôi không còn cô độc (1956), Hơi thở ngực tôi, Sự tầm thường của ngày khai trường, Bài ngợi ca tình yêu, Thức giấc, Khai từ một bản anh hùng

ca, Sớm mai, Thoại ơi! Thoại ơi! Không biết khóc,… và nhiều tác phẩm khác như: tập

truyện Bếp lửa (1957), Liên, Đêm, Mặt Trời Tìm thấy (thơ, 1964), Tiếng động (truyện,

1970), Thơ ở đâu xa (thơ, 1990 Hoa Kỳ), Một chủ nhật khác (truyện, Hoa Kỳ Thanh

Tâm Tuyền mất ngày 22 tháng 03 năm 2006 tại Minnesota, Hoa Kỳ

Kế đến là Doãn Quốc Sỹ, ông sinh ngày 3.2.1923 tại Hà Nội Ông từng dạy học

tại các trường trung học công lập như Nguyễn Khuyến (Nam Định, 1951-1952), Chu Văn

An (Hà Nội, 1952-1953), Trần Lục (Sài Gòn, 1953-1960) Đặc biệt, ông làm hiệu trưởng trường Trung học Công lập Hà Tiên (1960-1961), giáo sư trường Trung học Hồ Ngọc Cẩn (1961-1962), giáo sư trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn, Đại học Văn Khoa Sài Gòn trong thập niên 1960 Ông du học tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và rồi trở về nước tiếp tục công việc giảng dạy cho đến năm 1975 Sau năm 1975, ông bị chính quyền Việt Nam giam cầm nhiều lần vì tội “viết văn chống phá cách mạng” Hiện tại, Doãn Quốc Sỹ đang sống tại Houston, Texas, Hoa Kỳ

Ông là một nhà văn miền Nam và đồng thời cũng là một trong những cây bút chủ

lực của tạp chí Sáng Tạo Trong Hội luận về tạp chí Sáng Tạo của Viện Việt học, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã có những tâm sự hoài niệm về nhóm Sáng Tạo: “Chúng tôi là những

sinh viên Hà Nội di cư vào Nam trong giai đoạn 1954 Thoạt đầu tôi làm chủ nhiệm tập

Trang 23

san Người Việt, sau đó gặp Sáng Tạo, nhóm gồm 7 người, mọi người hay nói vui là nhóm

thất tinh Số mệnh của chúng tôi là cái nghiệp cầm bút bên cạnh nghiệp cầm phấn của nhà giáo Chúng tôi cũng mong muốn vào cái nghiệp tự do, thống nhất đất nước.” Tác

phẩm nổi tiếng nhất của ông là Khu rừng lau, một trường thiên tiểu thuyết gồm có: Ba

sinh hương lửa (1962), Người đàn bà bên kia vĩ tuyến (1964), Tình yêu thánh hóa (1965), Những ngả song (1966), ngoài ra còn có Đốt biên giới (1966), Sầu mây (1970), Vào thiền (1970),… Phần lớn cái tác phẩm được đăng trên Sáng Tạo như: Một nền đại học thuần túy,Đi tìm dân tộc tính trong truyện cổ tích Việt Nam, Sợ lửa (1956), U hoài (1957), Gánh xiếc (1958), Cái chết của một người, Cánh đồng xanh (tiểu thuyết), Trăng sao (kịch), Gìn vàng giữ ngọc, Dòng sông định mệnh (1959),… và rất nhiều bài

viết khác nữa

Cùng với các tác giả trên là Nguyễn Sỹ Tế, ông sinh năm 1922 tại Nam Định Ông

bắt đầu viết văn và đi dạy từ năm 1945 Ông hoạt động trong ngành giáo dục nhiều năm, dạy học ở nhiều nơi Tại Sài Gòn, ông làm hiệu trưởng trường Trung học Tư thục Trường Sơn (năm 1958) Từ 1962, dạy tại các trường Đại học miền Nam: Đại học Sư Phạm, Đại học Vạn Hạnh (Sài Gòn), Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ Trong thời gian (1957-1963), ông dạy môn kịch nghệ tại trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ - Sài Gòn Bên cạnh các tác phẩm sáng tác, ông viết nhiều sách biên khảo văn học Ông còn

tham gia hoạt động báo chí, đã viết cho các báo: Phổ Thông, Người Việt, Chuyển Hướng,

Hòa Bình, Dân Chủ, Sáng Tạo, Văn Học, Vấn Đề, Văn (Sài Gòn), Trúc Lâm (cơ quan của

Giáo hội Liên Tông Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ), Khởi Hành (quận Cam), Phụ Nữ

Việt (quận Cam), Vietnam News (Atlanta) Nguyễn Sỹ Tế sống ở Hoa Kỳ từ năm 1992

Thời gian ở Hoa Kỳ, ông làm Trưởng ban Văn học Viện Việt Học tại Quận Cam, California Ông mất ngày 16 tháng 11 năm 2005, tại Hoa Kỳ

Đặc biệt, tại tạp chí Sáng Tạo, Nguyễn Sỹ Tế có nhiều bài viết bàn về những vấn

đề Văn học như: Quan niệm nhận thức Nguyễn Du, Ý thức siêu nhân trong thơ Nguyễn

Công Trứ, Khuynh hướng siêu thoát trong văn chương Việt Nam, Hệ thống trào phúng của Trần Tế Xương, Vấn đề phân chia thời đại và khuynh hướng văn học Việt Nam, Tinh

Trang 24

thần văn học thời Lê Thánh Tôn (Hậu bán thế kỷ XV), Văn chương cổ điển Việt Nam, Vấn

đề xác định một thời hiện đại trong văn học Việt Nam, Bàn về văn học sử Việt Nam, Triết

lý đoạn trường,… Với những bài nghiên cứu thiết thực như thế, Nguyễn Sỹ Tế được coi

là lý thuyết gia của tạp chí Sáng Tạo

Bên cạnh những tác giả nêu trên còn có Tô Thùy Yên (tên thật là Đinh Thành

Tiên), sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định Ông học Pétrus Ký và Đại học Văn học Sài Gòn Ông từng tham gia trong quân đội Sài Gòn và giữ cấp bậc Thiếu tá Vì vậy, ông được xem là một nhà thơ của quân đội Sài Gòn Cũng như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên xuất hiện và là một cây bút chuyên sáng tác những bài thơ ca nổi tiếng cho tạp chí

Sáng Tạo, có thể kể đến là Tình anh em, Tuyên ngôn, Cánh đồng con ngựa chuyến tàu,

Tôi lên tiếng, Tại sao không? Tôi, Hú Tim, Bọt nước, Bi hành khúc, Thân phận thi sĩ, Cảm giác, Dù sao, Ký thác, Nhân nói về một danh từ,… Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh

Tâm Tuyền, cùng với các họa sĩ Duy Thanh, là những người nòng cốt của tạp chí Sáng

Tạo, với phong trào khai sinh “Thơ tự do” trên văn đàn Miền Nam vào thập niên 1960

Ngoài các thành viên chủ yếu trên tạp chí Sáng Tạo đã nêu, còn có nhiều tác giả

mà những bài viết của họ đã để lại một dấu in riêng biệt trong lòng độc giả Từ những số đầu tiên và kéo dài theo những số tiếp theo, tạp chí đã cho ra mắt rất nhiều thế hệ tác giả

và nhận được rất nhiều bài viết trên từng lĩnh vực khác nhau:

Nguyên Sa với các bài viết: Giáo dục: Kể thức rộng và chuyên môn, Kinh nghiệm

Hemingway, Tự do, Hồ Xuân Hương – Người lạ mặt, Đêm mưa, Kinh nghiệm thi ca, Ngỏ

ý, Người con gái trong truyện Liêu Trai, Trang, Vấn đề thượng đế trong văn chương, Sự

cô độc thiết yếu,… Ngoài ra, Nguyên Sa cũng là một nhà nghiên cứu về triết học khi ông

có nhiều bài viết như: Triết học là gì?, Vấn đề triết học căn bản, Nhận định đại cương và

triết học hiện hữu

Trần Thanh Hiệp góp phần cùng tạp chí các sáng tác thơ: Sau những chuyến mùa

đi, Chắp nối, Bài thơ yêu,… Điện ảnh có bài “Điện ảnh quốc tế và Việt Nam” Triết học

thì có “Vấn đề định nghĩa triết học” Ngoài ra còn có những bài nghiên cứu văn học như

Để giải quyết mâu thuẫn trong Đoạn Trường Tân Thanh, Vài điểm gợi ý về thơ tự do,…

Trang 25

Thái Bạch có khá nhiều bài nghiên cứu văn học, cụ thể như: Giới thiệu sơ lược về

cao dao miền Nam, Thơ trào phúng ở miền Nam, Đỗ Minh Tâm , một nhà thơ trào phúng, Một nữ sĩ miền Nam, Bạch Mai Thi Xã, Khái luận về đặc tính văn nghệ miền Nam, Nữ sĩ Trần Kim Phụng, Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa,… Như vậy, giống như Nguyễn Sỹ Tế, Thái

Bạch cũng là một nhà lý thuyết về việc nghiên cứu văn học

Một số tác giả cũng đã xuất hiện ngay từ những số đầu như: Lê Văn Siêu với

những tác phẩm được đăng như: Quán cháo lú (truyện ngắn), Phong độ văn hóa, Biên

Kinh trên lá chuối, Bài trả lời ông Ngô Quân nói về sách Nếp sống tình cảm của người

Việt Nam, Hà Ô Lôi – Tiếng hát giết người,…Mặc Đỗ với loạt bài nghiên cứu: Công việc

dịch văn, Đọc La Chute của A.Camus, Đọc Nam Et Sylvie của Nam Kim,… Một số sáng

tác như Khung cửa mở, Nem hia haltak meg!, Một buổi họp mặt,… Vũ Khắc Khoan có

bài nghiên cứu Một khía cạnh tâm sự của Ôn Như Hầu, Ba người bạn (ký), Khép cửa

(truyện ngắn), bài viết “Sân khấu và vấn đề xây dựng con người”… Nhà thơ Quách

Thoại có những bài thơ như Xanh, Cờ dân chủ, Chiều tiễn biệt, Những tiếng giày, Đêm,

Trăng thiếu phụ, Hương Giang dạ nguyệt, … Tô Kiều Ngân có bài viết Khảo về hò Huế,

Hội mùa xuân (truyện ngắn), Về một ánh nắng (Đoản văn)

Những số tiếp theo có sự xuất hiện của nhiều tác giả:Lữ Hồ với loạt bài nghiên

cứu: Thơ, tục: Hồ Xuân HươngBài ca của một cuồng sĩ, Định mệnh Văn học, Có chăng

một bà Hồ Xuân Hương?, Nghĩ về Nguyễn Công Trứ, Truyện Kiều hấp hối Nhà thơ

Trần Dạ Từ qua một số bài thơ Mộng đầu, Một bài thơ, Mỏi, Và chủ nhật,… Võ Phiến

với Kể trong đêm khuya, Dừng chân, Tâm sự,… Ngọc Dũng có những sáng tác Bài thơ

hoang, Đêm, Ngoại ô, số hai,… Đặc biệt là có góp mặt của Thạch Chương, ông vừa

sáng tác, vừa viết bài nghiên cứu văn học như Tôi khóc hôm nay, Đời sống (thơ), Đối

thoại, Sonnet, Một đóa hồng cho Emily, Sự chán chường trong việc phê bình văn nghệ, Hai quan niệm nổi loạn của Albert Camus,…

Một số tác giả ở lĩnh vực hội họa, tác giả Thái Tuấn có những bài viết “Vài nhận

xét về nghệ thuật hội họa, Hội họa sẽ đi về đâu, Siêu thực và ấn tượng, Và nhận xét về

triển lãm Tạ Tỵ, Hội họa cổ điển, Nhận xét về hội họa trừu tượng,… Tác giả Duy Thanh

Trang 26

có những bài “Nói về hội họa, Cuộc triển lãm hội họa, đồ gốm, Triển lãm của Shungo

Sekiguchi,…” Ngoài ra, Duy Thanh có những bài thơ được đăng trong những số sau như Sương, Điệu buồn, Khoảng cách, Thu, Thơ của một người, Những bài thơ chữ một,…

Cùng với Thái Tuấn và Duy Thanh, tác giả Trường Giang còn có nhiều bài viết đưa tin

về hội họa như Đại hội triển lãm nghệ thuật quốc tế lần thứ 28 tại Venise, Triển lãm hội

họa Mỹ Quốc tại Pháp, Triển lãm Họa sĩ và thời đại,…

Vẫn còn rất nhiều tác giả và kể cả những cộng tác viên của tờ tạp chí nữa, có thể điểm qua từng tác giả như: Dương Nghiễm Mậu, Hàm Thạch, Vũ Hoàng Chương, Kiêm Minh, Lý Hoàng Phong, Vinh Lộc, Vương Tân, Người Sông Thương, Mai Trung Tĩnh, Phạm Nguyên Vũ, Nguyễn Duy Diễn, Trần Tuấn Kiệt, Cung Trầm Tưởng, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Thao Trường,… và rất nhiều tác giải khác nữa Một số cộng tác viên điển hình như: Vương Đức Lệ, Nguyễn Trường Sơn, Nguyễn Trường Anh, Trường Thi, T.Phong Đalat, Trần Duy Hinh, Cung Tiến (Sydney), Phương Duy, Lôi Tam, Thạch Trân Trường Dzi, Ngọc Bích, Trường Phong, Lưu Hoàng Hoa, Tuấn Huy, Lan Anh, Hoàng Bảo Việt,… v.v

Nhìn chung, bên cạnh một số cây bút chuyên viết về các lĩnh vực như Văn hóa, triết học, hội họa, âm nhạc, điện ảnh thì có những cây bút chỉ chuyên sáng tác các thể loại như thơ, truyện, ký và tiểu thuyết Tuy nhiên, đối với một số tác giả lớn, nòng cốt thì vừa

có thể sáng tác vừa viết lý luận, nghiên cứu và phê bình văn học, có thể kể đến là Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp,

Vũ Khắc Khoan, Thạch Chương, Như vậy, số lượng tác giả trên tạp chí Sáng Tạo trong

suốt giai đoạn (1956-1961) từ những thành viên nòng cốt cho đến các tác giả lớn nhỏ, cộng tác viên,… đã xây dựng thành một đại gia đình, tập thể thế hệ văn nghệ sĩ – nhà báo dùng ngòi bút của mình phục vụ cho văn nghệ, báo chí miền Nam đương thời Vì lực lượng tác giả, cộng tác viên rất đông nên chúng tôi không thể thống kê hết, chỉ có thể liệt

kê những tác giả, công tác viên tiêu biểu Thế nhưng, dù tất cả ở họ có đóng góp như thế

nào cho tờ tạp chí Sáng Tạo thì vẫn được ghi danh và đã được độc giả đón nhận

Trang 27

1.2.2.Danh mục các bài lý luận nghiên cứu phê bình trên tạp chí Sáng Tạo

(1956-1961)

Để tiện cho việc tra cứu, khảo sát tư liệu về tình hình sinh hoạt Lý luận nghiên cứu

và phê bình văn học trên tạp chí Sáng Tạo (1956-1961), chúng tôi lập sẵn một danh mục

bao gồm tên bài viết thuộc Lý luận nghiên cứu phê bình văn học ứng với tên tác giả trên

tạp chí Sáng Tạo (1956-1961)

Danh mục được sắp xếp theo dòng thời gian, bao gồm: tên bài viết, tên tác giả, số

tạp chí, số trang tương ứng Căn cứ theo số liệu thống kê thì tổng cộng có 109 bài viết thuộc thể loại Lý luận nghiên cứu phê bình văn học, cụ thể như sau:

1 “Công việc dịch văn” – Mặc Đỗ (Số 1, Tr.19-21)

2 “Quan niệm nhận thức Nguyễn Du” – Nguyễn Sỹ Tế (Số 1, Tr.44-48)

3 “Đi tìm dân tộc tính trong những chuyện cổ tích” – Doãn Quốc Sỹ (Số 2,

Tr.42-50)

4 “Đọc La Chute của A Camus” – Mặc Đỗ (Số 1, Tr.51-53)

5 “Kinh nghiệm Hemingway” – Nguyễn Sa (Số 1, Tr.54-56)

6 “Ý thức siêu nhân trong thơ Nguyễn Công Trứ” – Nguyễn Sỹ Tế (Số 3, Tr47-51)

7 “Hồ Xuân Hương, người lạ mặt” – Nguyên Sa (Số 3, Tr.17-20)

8 “Tôi không còn cô độc” thơ của Thanh Tâm Tuyền (Người Việt xuất bản) – Hàm

Thạch(Số 3, Tr.52-53)

9 “Cái chết của người thi sĩ” – Nguyên sa (Số 4, Tr.24-28)

10 “Giới thiệu sơ lược về ca dao miền Nam” – Thái Bạch (Số 4, Tr.35-42)

11 “Khảo về hò Huế” – Tô Kiều Ngân (Số 4, Tr.43-48)

12 “Sợ lửa” của Doãn Quốc Sỹ – Hàm Thạch (Số 4, Tr.53)

13 “Khuynh hướng siêu thoát trong văn chương Việt Nam” – Nguyễn Sỹ Tế (Số 6,

Tr.16-25)

14 “Để giải quyết mâu thuẫn trong Đoạn trường tân thanh” – Trần Thanh Hiệp (Số

6, Tr.44-52)

Trang 28

15 “Tiếu lâm thân thời” của Ba Vui (Lạc Việt xuất bản) – Hàm Thạch (Số 6,

Tr.53-54)

16 “Trèo lên cây bưởi hái hoa”– Thanh Tâm Tuyền (Số 7, Tr.21-24) (PB)

17 “Hệ thống trào phúng của Trần Tế Xương” – Nguyễn Sỹ Tế (Số 7, Tr.36-46)

21 “Vài điểm gợi ý về thơ tự do”– Trần Thanh Hiệp (Số 8, Tr.41-47)

22 “Xác lá rừng thu” thơ Diên Nghị – Nguyễn Đăng (Số 8, Tr.53-54)

23 Một ý kiến về: “U hoài” của Quốc Sỹ – Thanh Nam (Số 8, Tr.55-56)

24 “Nguyễn Khuyến thi sĩ của đồng quê Việt” – Nguyễn Văn Mùi (Số 9, Tr.38-43)

25 “Dân ca: Một yếu tố nhân loại của việc giáo dục” – Nguyễn Phụng (Số 9,

28 “Văn chương và siêu hình học”– Hoàng Thái Linh (Số 10, Tr.19-24)

29 “Thơ Bàng Bá Lân” – Nguyễn Đăng (Nguyễn Hiến Lê xuất bản) (Số 10, Tr.54)

30 “Người đi qua lô cốt” tiểu thuyết của Tô Kiều Ngân – (Phong Lan xuất bản) (Số

10, Tr.54-55)

31 “Đường thi” của Trần Trọng San – Nguyễn Đăng (Số 10, Tr.55)

32 “Một khía cạnh tâm sự Ôn Như Hầu” – Vũ Khắc Khoan (Số 11, Tr.25-29)

33 “Nguồn cảm hứng trong văn nghệ Ấn Độ” – Trần Thanh Hiệp (Số 11, Tr50-53)

Trang 29

34 “Con bọ hung vàng” truyện của Edgar Poẽ (Bản dịch của Hoàng Lan – Nhà xuất

bản Như Nguyện) – Hầu Anh (Số 11, Tr.56)

35 “Ai có qua cầu”– Tâm bút của Hoài Đồng Vọng (Quan điểm xuất bản) – Mai

Thảo (Số 12, Tr.53)

36 “Tặng phẩm” của Trùng Dương (Gift from the sea) của Anne Morrow Lindbergh

(Nhà xuất bản Như Nguyện) – Hầu Anh (Số 12, Tr.53-54)

37 Đọc “Nam et Sylvie”của Nam Kim – Mặc Đỗ (Số 12, Tr.54-56)

38 “Sự tích Đông phương” – Nguyễn Sỹ Tế (Số 13, Tr.42-46)

39 “Nội cỏ của thiên đường” bản dịch Vĩnh Sơn Lang – Nguyễn Đăng (Số 13, Tr.55)

40 “Chiếc áo thiên thanh” tập truyện ngắn chọn lọc (Nhà xuất bản Hướng Dương) –

Nguyễn Đăng (Số 13, Tr.56)

41 “Văn chương cổ điển Việt Nam” – Nguyễn Sỹ Tế (Số 14, Tr.1-7) (NC)

42 “Tiếng võng đưa” thơ của Bàng Bá Lân (Nguyễn Hiến Lê xuất bản) – Nguyễn

Đăng (Số 14, Tr.52)

43 “Tình hương dạ lý” (Hướng Dương xuất bản) – Nguyễn Đăng (Số 14, Tr.52-53)

44 “Văn chương cổ điển Việt Nam” – Nguyễn Sỹ Tế (Số 15, Tr.1-7) (NC)

45 “Bài trả lời ông Ngô Quân nói về sách Nếp sống tình cảm của người V.N.” – Lê

Văn Siêu (Số 15, Tr.36-42) (PB)

46 “Nguyễn Du, trên những nẻo đường của tự do” – Nguyên Sa (Số 15, Tr.46-53)

47 “Hồng Ngọc và Người nữ danh ca” của Thanh Nam (Sống Mới xuất bản) –

Nguyễn Đăng (Số 15, Tr.55-56)

48 “Bốn mươi” của Mặc Đỗ (Quan Điểm xuất bản) – Nguyễn Đăng (Số 15, Tr.56)

49 “Vấn đề Thượng đế trong văn chương Việt Nam” – Nguyên Sa (Số 16, Tr.1-7)

50 “Thơ, tục: Hồ Xuân Hương” – Lữ Hồ (Số 18, Tr.20-24)

51 “Đỗ Minh Tâm một nhà thơ trào phúng” – Thái Bạch (Số 18, Tr.33-37)

52 “Người tù” truyện ngắn của Võ Phiến (Bình Minh xuất bản) – Nguyễn Đăng (Số

18, Tr55)

53 “Bão rừng” truyện dài của Nguyễn Văn Xuân (Trùng Dương xuất bản) – Nguyễn

Đăng (Số 18, Tr.55-56)

Trang 30

54 “Những năm trưởng thành” của Van Wyck Brooks (Thời đại xuất bản) –

Nguyễn Đăng (Số 18, Tr.56)

55 “Về một hiện tượng trưởng thành của nghệ thuật” – Mai Thảo (Số 18, Tr.1-9)

56 “Bài ca của một cuồng sĩ” – Lữ Hồ (Số 18, Tr51-60)

57 “Vũ nữ Saigon của Hoàng Hải Thủy” (Tác giả xuất bản) – Nguyễn Đăng

(Số 18, tr.78)

58 “Trên vỉa hè SAIGON” của Triều Đẩu – Mai Thảo (Số 12, Tr.78)

59 “Nhạc khúc mầu xanh” thơ Tuấn Giang – Nguyễn Đăng (Số 18, Tr.79)

60 “Thần tháp rùa” của Vũ Khắc Khoan (Quan Điểm xuất bản) – Mai Thảo

(Số 18, Tr.70-80)

61 “Chủ thuyết Siêu thực” – Nguyễn Sỹ Tế (Số 19,Tr.1-11)

62 “Một nữ sĩ miền Nam” – Thái Bạch (Số 19, Tr.38-43)

63 “Xóm nghèo” của Nguyễn Thị Vinh (Phượng Giang xuất bản) – Nguyễn Đăng

(Số 19, Tr.78)

64 “Bốn truyện ngắn anh văn chọn lọc”, bản dịch của Võ Hà Lang (Nhà xuất bản

Thời đại) – Nguyễn Đăng (Số 19, Tr.78-79)

65 “Bạch Mai thi xã” – Thái Bạch (Số 20, Tr 49-52)

66 “Phân tích nghệ thuật” – Nguyễn Duy Diễn (Số 20, Tr.11-14)

67 “Thân thế thi sĩ Henry Wadsworth Longfellow” – Nguyễn Đình Hòa

(Số 20, Tr.62-66)

68 “Sự cô độc thiết yếu” – Nguyên Sa (Số 20, Tr.71-76)

69 “Trăng nước Đồng Nai” của Nguyễn Hoạt (Nguyễn Thế xuất bản) –

Nguyễn Đăng (Số 20, Tr.78)

70 “Bàn về văn học sử Việt Nam” – Nguyễn Sỹ Tế (Số 21, Tr.1-8)

71 “Chúng ta hình thành văn nghệ mới”– Trần Thanh Hiệp (Số 21, Tr.9-15)

72 “Khái luận về đặc tính của văn nghệ miền Nam” – Thái Bạch (Số 21, Tr.33-37)

73 “Kinh nghiệm thi ca” – Nguyên Sa (Số 21, Tr.65-72)

74 “Vấn đề xác định một thời hiện đại trong Văn học Việt Nam” – Nguyễn Sỹ Tế

(Số 22, Tr.1-7)

Trang 31

75 “Trường hợp FrançoiseSagan hay vấn đề luân lý trong tiểu thuyết” – Hoàng Thái

Linh (Số 22, Tr.33-45)

76 “Cao Bá Quát, một chiến sĩ cách mạng?” – Nguyễn Duy Diễn (Số 22, Tr.71-75)

77 “Bài thơ Khóc Thị Bàng không phải của vua Nguyễn Dực Tông” – Phan Văn Dật

(Số 23, Tr.8-16)

78 “Nữ sĩ Trầm Kim Phụng” – Thái Bạch (Số 23, Tr.27-32)

79 “Khảo luận về thơ Baudelaire (I)” – Lê Huy Oanh (Số 23, Tr.42-53)

80 “Định mệnh Văn học” – Lữ Hồ (Số 23, Tr.58-61)

81 “Khảo về thơ Baudelaire (II)”– Lê Huy Oanh (Số 24, Tr.23-32)

82 “Cao Bá Quát” – Việt Tử (Số 24, Tr.49-66)

83 “Có chăng một bà Hồ Xuân Hương?” – Lữ Hồ (Số 24, Tr.67-74)

84 “Thuyền thơ thi tuyển” của Đông Xuyên – Hà Nam (Số 24, Tr.75-76)

85 “Thế giới Quách Thoại” – Trần Thanh Hiệp (Số 26, Tr.9-15)

86 “Thơ Nhật Bản” – Hồ Nam (Số 26, Tr.44-46)

87 “Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa” – Thái Bạch (Số 26, Tr.56-61)

88 “Truyện Kiều hấp hối”– Lữ Hồ (Số 26, Tr.69-71)

89 “Tiếng bên trời” thơ của Hà Liên Tử – Nguyễn Đăng (Số 26, Tr.79)

90 “Gõ đầu trẻ” truyện của Nguyên Sa (Số 26, Tr.80)

91 “Triết lý Đoạn trường” – Nguyễn Sỹ Tế (Số 27, Tr.1-8)

92 “Khái luận về thi ca Việt Nam”– Hồ Nam (Số 27, Tr.9-13)

93 “Nghĩ về Nguyễn Công Trứ” – Lữ Hồ (Số 27, Tr.27-32)

94 “Nguyễn Công Trứ”– Việt Tử (Số 30, Tr.43-49)

95 “Việt Nam Văn học toàn thư của Hoàng Trọng Miên” (Quốc Hoa xuất bản) –

Nguyễn Sỹ Tế (Số 30, Tr.76-77)

96 “Giòng thơ sang mùa” của Hà Phương – Hà Nam (Số 30, Tr.78)

97 “Nỗi buồn trong thơ hôm nay” – Thanh Tâm Tuyền (Số 31, Tr.1-6)

98 “Verlaine, nhà thơ tượng trưng”– Lê Huy Oanh (Số 31, Tr.54-71)

99.“Nhân vật trong tiểu thuyết” –Mai Thảo (Bộ mới, số 1, Tr.5-18)

Trang 32

100.“Sự chán chường trong việc phê bình văn nghệ” – Thạch Chương (Bộ mới, Số 1,

Tr.52-60)

101.“Nói chuyện về thơ bây giờ” – Mai Thảo (Bộ mới, Số 2, Tr.1-17)

102.“Sự thưởng ngoạn nghệ thuật bây giờ” – Trần Thanh Hiệp (Bộ mới, Số 2,

Tr.103-112)

103.“Trình bày và phê bình hai quan niệm nổi loạn của Albert Camus” – Thạch

Chương (Bộ mới, Số 3, Tr.68-88)

104.“Nghệ thuật đen” – Thanh Tâm Tuyền (Bộ mới, Số 3, Tr.35-48)

105.“Nhìn lại văn nghệ tiền chiến Việt Nam” – Mai Thảo (Bộ mới, Số 4, Tr.1-16) 106.“Ý thức nghệ thuật” – Nguyễn Sỹ Tế (Bộ mới, Số 4, Tr.32-41)

107.“Giới thiệu một nhận thức siêu thực về nghệ thuật” – Thạch Chương (Bộ mới, Số

Trang 33

CHƯƠNG II: TỔNG THUẬT TÌNH HÌNH SINH HOẠT LÝ LUẬN NGHIÊN

CỨU PHÊ BÌNH TRÊN TẠP CHÍ SÁNG TẠO (1956-1961)

Sau khi tiến hành tìm hiểu, khảo sát, sưu tầm và xử lý nguồn tài liệu chính yếu về

tạp chí Sáng Tạo giai đoạn (1956-1961), ở chương này, chúng tôi đi vào tổng thuật một cách khách quan tình hình sinh hoạt Lý luận nghiên cứu phê bình trên tạp chí Sáng Tạo

(1956-1961) để hiểu sâu hơn về tờ Tạp chí này trên phương diện Văn học

Trước hết, để có được nguồn tài liệu hiếm hoi, quý giá của tạp chí Sáng Tạo,

chúng tôi đã khảo sát trên hai nguồn tài liệu:

Thứ nhất, nguồn tài liệu của Thư Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, tài liệu chỉ có từ năm 1956 đến hết năm 1959, như vậy là từ số 1 đến số 31

Thứ hai, nguồn tài liệu được cung cấp bởi TS.Võ Văn Nhơn đang giảng dạy tại Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân văn, Đại học

Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tài liệu được bổ sung thêm Sáng Tạo bộ mới, từ tháng

7.1960 đến năm 1961

Nhìn chung, chúng tôi đã sưu tầm nguồn tài liệu về Sáng Tạo tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh Có thể nhận thấy, trong chừng ấy năm hoạt động (1956-1961), tạp chí Sáng

Tạo đã cho ấn phẩm từng số và đóng thành tập dưới dạng tập san khá chỉn chu, chúng tôi

đã khảo sát trên những cuốn tập san ấy Điều đáng quan tâm, số lượng bài viết trên tạp chí rất nhiều, là kết quả của sự lao động trí óc của riêng cá nhân tác giả và của tập thể tòa soạn Như đã trình bày ở chương một, nội dung của những bài viết tương đối đa dạng,

như về Văn hóa, triết học, hội họa, âm nhạc, điện ảnh, văn học nghệ thuật,… đặc biệt,

tập trung nhiều nhất ở lĩnh vực Văn học Đây cũng là phạm vi mà chúng tôi khảo sát Tuy nhiên, ở lĩnh vực văn học có hai hoạt động cốt lõi là sáng tác văn học và hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình văn học, hai hoạt động này chiếm số lượng bài viết nhiều nhất, chi phối sự sống còn của Tạp chí Do phạm vi nghiên cứu của đề tài nên chúng tôi chỉ chọn đối tượng là những bài viết thuộc về tình hình nghiên cứu, lý luận và phê bình

văn học trên tạp chí Sáng Tạo để khảo sát và nghiên cứu

Trang 34

Xét thấy, văn học là một môn khoa học nghiên cứu về văn học, cho nên, hoạt động nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học từ lâu đã được giới nghiên cứu khai mở và chú trọng như là hoạt động sống còn của một nền văn nghệ Cùng với quá trình sáng tác văn học và tiếp nhận văn học, hoạt động nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học đã tạo nên một đời sống văn học, một bộ mặt văn học sôi nổi nhất để góp phần vào sự phát triển của nền văn học nước nhà Hoạt động ấy cũng được duy trì và đẩy mạnh trên diễn đàn văn

học và nghệ thuật của tạp chí Sáng Tạo để góp phần tạo nên nhịp sống cho nền văn học

đô thị Sài Gòn miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975

Có một điều đáng nói, lĩnh vực văn học hay đúng hơn là bộ môn văn học tuy đã

được đem ra nghiên cứu một cách khoa học, gồm ba phân ngành chính là Lý luận văn

học, Lịch sử văn học, và Phê bình văn học, với những đặc thù riêng biệt Song hoạt động

nghiên cứu văn học, lý luận văn học hay phê bình văn học cũng có những đặc trưng riêng của nó, ranh giới để phân biệt chúng hết sức phức tạp, chỉ ở mức tương đối mà thôi Cho

nên, những cây bút của Sáng Tạo cũng thế và chúng tôi cũng vậy, chúng tôi đã vận dụng

kiến thức văn học của mình để phân loại hoạt động sinh hoạt lý luận nghiên cứu và phê bình văn học một cách tương đối trong cái tuyệt đối

Chúng tôi đã làm một phép thống kê nho nhỏ, trong giai đoạn (1956-1961), tạp chí

Sáng Tạo có 109 bài viết khác nhau của các tác giả khác nhau về tình hình lý luận nghiên

cứu và phê bình văn học Những bài viết này cho thấy một sự ý thức nghệ thuật và lao động trí óc hăng say của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học, muốn góp tiếng nói của mình vào công cuộc xây dựng văn học nghệ thuật nước nhà

Sau đây, chúng tôi tổng thuật tình hình lý luận nghiên cứu và phê bình văn học

trên tạp chí Sáng Tạo (1956-1961) một cách đầy đủ và khách quan nhất Chúng tôi sử

dụng phương pháp tổng thuật nội dung các bài viết theo dòng thời gian, theo thể loại và theo hệ vấn đề

Trang 35

2.1.Hoạt động lý luận trên tạp chí Sáng Tạo (1956-1961)

Hoạt động Lý luận văn học trên tạp chí (từ 1956-1961) có 21 bài viết nổi bật

Những bài viết đã bước đầu cung cấp cho độc giả những lý luận chung khoa học về văn học, lấy văn học nghệ thuật làm đối tượng để nghiên cứu Vì số lượng bài lý luận tương đối ít nên chúng tôi tổng thuật chúng theo dòng thời gian, theo số tạp chí

Sáng Tạo bộ cũ gồm có:

“Công việc dịch văn” – Mặc Đỗ (Số 1, Tr.19-21)

Theo tác giả thì công việc dịch văn rất quan trọng Chính vì vậy, công việc này đã đặt ra hai vấn đề lớn:

Thứ nhất là vấn đề chọn lựa những tác phẩm để dịch: Thế giới văn chương rất

phong phú và đa dạng nên cần chọn lọc tác phẩm Gạn lọc lấy tính chất của kho tàng văn học nhân loại qua một số tác phẩm tiêu biểu nhất

Căn cứ vào những tiêu chuẩn đó, tác giả hoạch định chương trình làm việc:

Chương trình bao quát: lập ủy ban những chuyên viên có tư cách để thảo luận, cân nhắc và liệt kê danh sách những tác phẩm quốc tế cần phải phiên dịch

Phổ biến sâu rộng: phí phiên dịch, bản quyền tác giả, công tác tuyên truyền, trách nhiệm của nhà xuất bản, kỹ thuật phiên dịch

Thứ hai là vấn đề kỹ thuật của người dịch: Dịch nguyên tác hay dịch qua bản

dịch? Dịch hay là hóa? Những nhân danh, địa danh dùng trong nguyên tác

Từ những vấn đề được đề cập trong bài viết, Mặc Đỗ đã cho giới nghiên cứu và độc giả một cái nhìn mang tính chất khoa học và khách quan hơn về công việc dịch văn

trong quá trình nghiên cứu, sáng tác văn học

“Vài điểm gợi ý về thơ tự do” – Trần Thanh Hiệp (Số 8, Tr.41-47)

Tác giả đặt vấn đề: Thơ tự do đã xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như một người khách lạ, tính chất mới lạ hoặc không cởi mở đã làm cho thơ tự do mang tiếng “tăm tối”

và “bí hiểm” Nhiều người khi phê bình thơ tự do đã trực tiếp hay gián tiếp thú nhận sự

Trang 36

bất lực của họ trong việc khám phá lối thơ này, và việc họ gán cho những người làm thơ

tự do cái tội lập dị để tự biện hộ là một ác ý, không đưa tới một kết quả đáng kể nào Vì

vậy, tác giả đưa ra nhận định: “Xin hãy hiểu biết sâu rộng trước khi nghiêm khắc phê

bình thơ tự do Tôi không có ý định giải quyết trọn vẹn, dứt khoát vấn đề, ngay lúc này hãy còn quá sớm Tôi chỉ nêu lên một vài điểm gợi ý”

Tác giả đưa ra một vài gợi ý cho thơ tự do như:

Thứ nhất, điểm khởi hành:Phải vạch rõ một con đường tiến tới mới cho thi ca Việt Nam, nghĩa là trở về với thi ca thuần túy, chối bỏ những nền thi ca công thức: công thức của lý trí, của kỹ thuật, của tập tục,… Thơ tự do cô độc hay đúng hơn là độc đáo, vi điểm khởi hành của nó

Thứ hai, bàn về thơ tự do Việt Nam Thơ tự do Việt đã có một cá tính riêng biệt, khắc hẳn với thơ tự do Tây phương, đòi hỏi có mặt của nhiều loại từ phụ trợ (liên từ, trạng từ, mạo từ) nhưng điều đó không cần thiết đối với thi pháp Việt

Thứ ba, là bàn về kỹ thuật thơ tự do Việt Nam Tác giả nêu những nguyên tắc được rút ra từ những thi phẩm đã hoàn thành như: Từ khúc bản vị, liên ảnh giản tục, tiếng thơ, vần lẩn Từ những ý niệm trên vạch rõ ranh giới giữa thơ phá thể và thơ tự do Đặc biệt, một cực điểm của thơ tự do là thơ xuôi đã chứng minh rằng thơ không chỉ là vần và điệu mà phải chứa đựng những rung cảm cô đọng của thị hứng, sức truyền cảm phong phú của thi nhiệt và tiết điệu phù chú của thi ca, điển hình là những bài thơ nổi danh của Whilman, Tagore

Cuối cùng, tác giả đặt ra câu hỏi “Thơ tự do Việt Nam là lý thuyết hay thực tại?” Người ta cho rằng, thơ tự do Việt Nam chỉ mới là lý thuyết Thơ tự do Việt Nam chưa thể khẳng định đạt tới giá trị tuyệt đối của nó, vì bất cứ một sự chạy đua nào cũng cần có thời gian và sự bứt phá Cho nên, với việc dẫn một một số bài thơ tự do đặc sắc của Tô Thùy Yên, Nguyên Sa, Vương Tân, Quách Thoại, Người Sông Thương, tác giả nhận định:

“Thơ tự do Việt Nam đã thành hình rõ rệt, đang lớn mạnh một cách hiển nhiên.”

Trang 37

Như vậy, từ những điểm gợi ý cho thơ tự do được trình bày, Trần Thanh Hiệp

khẳng định một điều: “Trong khi chờ đợi người ta có quyền phê bình thơ tự do theo sở

thích Nhưng không vì thế mà chúng ta có thể tự mãn với nền thi ca Việt Nam ốm yếu hiện tại Thí nghiệm thơ tự do có thể coi như thất bại nếu người ta chứng tỏ có những lối thơ xứng đáng hơn, đủ uy lực phô diễn tâm trạng của thời đại, tham dự cuộc chiến đấu dân tộc, của thế hệ mới.”

“Văn chương và siêu hình học” – Hoàng Thái Linh (Số 10, Tr.19-24)

Tác giả đặt ra vấn đề: Khởi điểm chung, văn chương chỉ có tính cách tiểu thuyết, nghĩa là tưởng tượng hay phân tích tâm lý, hay kỹ thuật hành văn đều không còn nghĩa lý

gì Văn chương trở thành những suy nghĩ (méditations) về thân phận con người, về ý nghĩa sau cùng người đời với đời người

Nó biểu hiện ở chỗ:

Thứ nhất là tiểu thuyết triết lý, tác phẩm nào của một đại văn hào nào cũng đều

bao hàm một vài tư tưởng triết lý Cũng giống như triết học, văn học là hình thức biểu lộ khác nhau lập trường của con người trước người đời và đời người, do vậy, tiểu thuyết không còn nhằm mục đích kể chuyện, mô tả tâm tình nhân vật hay hoàn cảnh xã hội Tiểu thuyết Pháp hiện đại là một dạng trình bày “thân phận con người trong những khía cạnh sâu sa và phổ biến nhất của nó” Sartre, A.Camus, G.Marcel là những nhà triết học, đồng thời cũng là nhà văn, viết kịch, tiểu tuyết Họ là những người vừa suy tưởng vừa viết văn Người đọc không hiểu tác phẩm văn chương họ viết nếu như không hiểu tư tưởng của họ

Thứ hai là đề cập một nhân bản bi đát, những vấn đề triết lý được nêu lên trong

một không khí bi đát, bi đát trong việc tìm cho cuộc đời một ý nghĩa và thực hiện ý nghĩa

đó Chính trong hoàn cảnh bi đát đó, con người mới khám phá thấy đồng loại của mình cùng chung một thân phận, một kiếp người Văn chương không còn là tiếng nói cảm xúc

cá nhân, mà là tình yêu bao chùm cả loài người, lo lắng cho số phận nhân loại và bảo vệ những giá trị phổ biến trong con người

Từ những biểu hiển trên, tác giả kết luận: Văn chương là Siêu hình học

Trang 38

“Nguồn cảm hứng trong văn nghệ Ấn Độ” – Trần Thanh Hiệp (Số 11, Tr50-53)

Lịch sử nghệ thuật Ấn Độ với những đặc tính của nó đã cống hiến cho lịch sử nghệ thuật nhân loại những trang chói lọi Tất cả mọi ngả đường đưa tới văn nghệ Ấn Độ đều đi qua cửa ngõ tôn giáo Bởi thế văn nghệ thường có một nguồn rung cảm sâu xa, không phải hoàn toàn do kinh nghiệm hay giác quan quyết định

Nghệ thuật không bó buộc văn nghệ sĩ phải chép lại thiên nhiên, mà phải diễn tả những rung cảm của mình trước nó, tái tạo nó Cho nên, trong địa hạt văn nghệ, người ta thường công nhận thi ca có nhiều khả năng nghệ thuật nhất Văn nghệ phẩm có giá trị của

Ấn Độ bao giờ cũng được sáng tác theo một quan điểm nghệ thuật như vậy Thế giới của nghệ thuật Ấn Độ là thế giới của những gì bất tử

Từ vấn đề rung cảm trong văn nghệ Ấn Độ trên, tác giả muốn nhắc nhở và khơi gợi một nguồn cảm hứng mới trong văn nghệ chúng ta

“Về một hiện tượng trưởng thành của nghệ thuật” – Mai Thảo (Số 18, Tr.1-9)

Trong bài viết, Mai Thảo chỉ rõ: Sự im lặng của giới nghệ sĩ miền Nam cho thấy ý thức của họ và đã đánh dấu một ý thức trưởng thành trong lòng người nghệ sĩ, hay nói một cách đúng hơn là thái độ nghệ sĩ Ý thức sáng tác của người nghệ sĩ biểu hiện ở sự minh bạch tri thức, không muốn đánh lừa mình và lừa người, ý thức độc lập và cá nhân Người sáng tạo nhận thức được mặt non kém của nghệ thuật của mình, ý thức đó là sự biểu dương một hàng động can đảm Bài viết bộc lộ niềm tin của tác giả vào sự phát triển của văn nghệ miền Nam

“Chủ thuyết Siêu thực” – Nguyễn Sỹ Tế (Số 19, Tr.1-11)

Tác giả đặt vấn đề về sự xuất hiện của chủ nghĩa Siêu thực ở Việt Nam, một chủ nghĩa đem lại nhiều sự tranh cãi, đem lại nhiều cái nhìn rất khác nhau Tác giả lần lượt đặt ra các vấn đề và giải quyết chúng:

Siêu thực là gì? Đó là phong trào có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa Tượng trưng, chống lại sự đề cao duy lý quá mức Nó được thúc đẩy bởi chủ nghĩa Đađa Ý muốn chấm dứt tinh thần hỗn loạn của Đađa, nhưng vẫn giữ một sự phi lý và hỗn loạn riêng

Trang 39

Lãnh vực tư tưởng: Tham vọng vượt qua lằn ranh giữa duy tâm tuyệt đối và duy vật biện chứng Cố gắng phác họa một nền nhân bản mới, một quan niệm và phương cách nhận thức Quan niệm về thực thể và vũ trụ, một siêu thực tại nằm bên trong thực tại

Lãnh vực nghệ thuật: Nghệ thuật phải vươn khỏi những khả năng trí tuệ để đạt tới tuyệt đối Chủ trương sáng tác tự động, sử dụng trực cảm và vô thức Lối diễn tả khác thường, bất chấp quy tắc Lấy tâm giới và ngoại giới nối liền làm đối tượng, lấy khả năng thần bí của những siêu thực thể làm phương cách nhận thức

Từ đó, tác giả khẳng định chủ nghĩa Siêu thực là một khuynh hướng triết học nhân bản mới, một vũ trụ quan mới, một phong trào nghệ thuật mới nhưng xây dựng được bản sắc có chiều sâu

“Phân tích nghệ thuật” – Nguyễn Duy Diễn (Số 20, Tr.11-14)

Tác giả đặt vấn đề về những thủ pháp khi phân tích thơ: những biện pháp nghệ thuật được nêu tên có phải nằm trong chủ ý của tác giả?

Tác giả dẫn ra nhiều trường hợp, chính tác giả của tác phẩm phải ngạc nhiên trước khả năng phân tích của nhà phê bình về tác phẩm của mình Những dẫn chứng ấy không

để mỉa mai, mà có phần sự thực, sự thực là chính những ý kiến phê bình, phân tích chuyên nghiệp đã gọi tên được nhiều đặc sắc nghệ thuật

Người nghệ sĩ sáng tác trong những phút giây thần hứng, nhiều khi chính họ cũng không hiểu hết tác phẩm của mình, nên phải cần đến nhà phê bình Những điều nhà phê bình nói chính là nằm sâu trong tiềm thức của người nghệ sĩ Do đó, người nghệ sĩ và nhà phê bình cùng gặp nhau trong tác phẩm

Tác giả kết luận bằng việc khẳng định phê bình luôn là người bạn đường cùng nghệ thuật khám phá cái Đẹp

“Sự cô độc thiết yếu” – Nguyên Sa (Số 20, Tr.71-76)

Tác giả đặt vấn đề: Người làm văn cũng sống như tất cả mọi người, họ sống bằng tất cả mọi thường trực trong những mối lo âu về thế sự cuộc đời hay tình riêng, họ sống

Trang 40

liên đới mật thiết với vũ trụ, xã hội và vạn vật bao quanh Tất cả đó một trong những điều kiện giúp nhà văn sáng tạo

Thế nhưng, những chất liệu đến từ cuộc đời chưa đủ để nhà văn làm nên tác phẩm văn nghệ Theo ông, người sáng tác muốn thể hiện một tác phẩm bao giờ cũng phải đứng lùi ra ngoài khoảng đất rộng của cuộc đời, phải trở về với nội tâm, phải trở về một niềm

cô độc Chính vì vậy, giây phút nhập tâm để sáng tạo đòi hỏi người làm văn nghệ trở về với một niềm cô độc vốn thiết yếu

Bài viết khẳng định: Người làm văn nghệ bên bờ vực của hai cái có thể: có thể có

và có thể không Có thể họ nói được và có thể họ sẽ không bao giờ nói lên được điều muốn nói Có thể họ là một con người sáng tạo, có thể tài năng là tưởng tượng, nó đang

bị tiêu diệt như cơ thể họ hao mòn theo thời gian Đó là niềm lo âu bang bạc, thôi thúc, bao bọc đến nghẹn thở đến cuồng loạn tâm thần Đó là một niềm cô độc kinh khủng Nhưng đó cũng là sự cô độc thiết yếu cho sáng tạo

“Chúng ta hình thành văn nghệ mới” – Trần Thanh Hiệp (Số 21, Tr.9-15)

Mở đầu bài viết, tác giả đặt vấn đề: Nền văn nghệ, tạm gọi là văn nghệ mới, đại diện cho thời đại chúng ta, chưa thành hình Nhưng chúng ta vẫn hy vọng, tin tưởng ở sự trưởng thành của nghệ thuật Vì chúng ta đang đi tới Chúng ta hình thành văn nghệ mới

Tác giả đưa ra một vài ý kiến:

Nghệ thuật là sự sống, mà sống thì cơ thể phải có cảm giác, tâm hồn rung động, lý trí suy tưởng Nghệ thuật cần có lý trí để con người thăng hoa, vượt qua khỏi biên giới của thể chất hữu hạn và cao bay tới siêu việt Văn nghệ nặng màu sắc lý trí là một thứ văn nghệ tranh đấu, không phải văn nghệ hưởng thụ

Đặt câu hỏi “Chúng ta sẽ hình thành văn nghệ mới như thế nào?” là đã lên tiếng khởi luận về một vấn đề căn bản cho văn nghệ Theo đó, tác giả đã phân biệt văn nghệ thành hai loại là văn nghệ ngoại dân tộc và văn nghệ dân tộc Và dĩ nhiên, chúng ta hình thành văn nghệ mới tức là chọn con đường văn nghệ dân tộc

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Hạnh, Nguyễn Ngọc Phan (2008), Văn học thời kỳ 1945 – 1975 ở Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học thời kỳ 1945 – 1975 ở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Vũ Hạnh, Nguyễn Ngọc Phan
Nhà XB: NXB Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2008
2. Phong Lê (2009), Hiện đại hóa và đổi mới văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện đại hóa và đổi mới văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
3. Trương Ngọc Tường, Nguyễn Ngọc Phan (2007), Báo chí ở Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hóa Sài Gòn.Tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí ở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trương Ngọc Tường, Nguyễn Ngọc Phan
Nhà XB: NXB Văn hóa Sài Gòn. Tạp chí
Năm: 2007
4. Số 1 đến số 31 – Tạp chí Sáng Tạo (năm 1956-1959), Thư viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số 1 đến số 31 – Tạp chí Sáng Tạo (năm 1956-1959)
5. Số 1 đến số 7, Sáng Tạo bộ mới – (photo), TS.Võ Văn Nhơn, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.Niên luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số 1 đến số 7, Sáng Tạo bộ mới – (photo)
8. Trần Thị Trúc(2010), Nghiên cứu lý luận phê bình và sáng tác văn học trên tạp chí Sáng Tạo năm 1958. Tổng thuật, nhận định và thư mục.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lý luận phê bình và sáng tác văn học trên tạp chí Sáng Tạo năm 1958. Tổng thuật, nhận định và thư mục
Tác giả: Trần Thị Trúc
Năm: 2010
6. Nguyễn Ngô Ánh Trinh(2010), Nghiên cứu lý luận phê bình và sáng tác văn học trên tạp chí Sáng Tạo năm 1956. Tổng thuật, nhận định và thư mục Khác
7. Thái Thị Hoài(2010), Nghiên cứu lý luận phê bình và sáng tác văn học trên tạp chí Sáng Tạo năm 1957. Tổng thuật, nhận định và thư mục Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w