--- TRẦN THỊ THANH DIỆU KHẢO SÁT CÁCH PHÁT ÂM TRỌNG ÂM VÀ NGỮ ĐIỆU TIẾNG ANH CỦA NGƯỜI BẢN NGỮ VIỆT NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC Thành phố HỒ CHÍ MINH – năm 20
Trang 1-
TRẦN THỊ THANH DIỆU
KHẢO SÁT CÁCH PHÁT ÂM TRỌNG ÂM VÀ NGỮ ĐIỆU TIẾNG ANH CỦA
NGƯỜI BẢN NGỮ VIỆT (NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố HỒ CHÍ MINH – năm 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHI MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- TRẦN THỊ THANH DIỆU
KHẢO SÁT CÁCH PHÁT ÂM TRỌNG ÂM VÀ NGỮ ĐIỆU TIẾNG ANH CỦA
NGƯỜI BẢN NGỮ VIỆT (NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM)
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU
Mã số: 62 22 01 10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN VĂN HUỆ
Phản biện độc lập:
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Văn Hiệp
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Công Đức
Phản biện Hội đồng BVLA cấp Trường:
Phản biện 1: PGS TS Đinh Lê Thư
Phản biện 2: GS.TS Nguyễn Văn Lợi
Phản biện 3: PGS TS Hoàng Dũng
Thành phố HỒ CHÍ MINH – năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kì công trình của tác giả nào khác
Tác giả luận án
Trần Thị Thanh Diệu
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Xin trân trọng cảm ơn thầy Hiệu trường PGS.TS Võ Văn Sen, Ban Giám Hiệu, Phòng Sau Đại học, Khoa Văn học và Ngôn ngữ cùng quý Thầy, Cô Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt khóa học tại trường
Xin chân thành cảm ơn Viện Từ điển học và Bách Khoa thư, Tạp chí Từ điển học và Bách Khoa thư, Tạp chí Ngôn ngữ - Đời sống, Tạp chí Khoa học Công nghệ Đại học Giao thông Vận tải, Tạp chí Khoa học Công nghệ Đại học Thủ Dầu Một, Trương Đại học Mở TP.HCM, Trường Đại học Tôn Đức Thắng, đã tạo mọi điều kiện tốt đẹp để thực hiện công việc nghiên cứu thực nghiệm và hoàn thành luận án này Xin trân trọng ghi ân PGS.TS Nguyễn Văn Huệ, người đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận án này
Tôi cũng xin được trân trọng cảm ơn GS TS Bùi Khánh Thế, PGS TS Đinh Ngọc Vượng, PGS TS Nguyễn Thị Hai, PGS TS Đinh Lê Thư, PGS TS Tạ Văn Thông, PGS TS Hoàng Dũng, PGS TS Bùi Anh Thủy, PGS TS Lê Khắc Cường,, PGS TS Phạn Văn Hảo, TS Tô Đình Nghĩa, PGS TS Marc Brunelle, TS Koichi Honda, TS Trần Thanh Nguyện, TS Nguyễn Văn Phổ, TS Nguyễn Thị Phương Trang,
TS Đinh Lư Giang, các Thầy Cô, bạn bè, đồng nghiệp, các sinh viên và gia đình, đã chiếu cố, tận tình hướng dẫn và giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
TP Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 8 năm 2013
TRẦN THỊ THANH DIỆU
Trang 52.1 Lịch sử nghiên cứu ngôn điệu tiếng Việt 15
2.3 Lịch sử nghiên cứu ngữ âm thực nghiệm ngôn điệu 19
Trang 61.2.1 Định nghĩa 54
1.2.3 Âm khởi trong cấu trúc âm tiết Anh – Việt 57 1.2.4 Âm kết trong cấu trúc âm tiết Anh – Việt 57 1.2.5 Âm tiết trong mối quan hệ với hình vị và từ 59
2.1.2 Đặc điểm phát âm trọng âm từ tiếng Anh của sinh viên Việt Nam 73 2.1.3 Phương án khắc phục lỗi trọng âm từ tiếng Anh đối với sinh viên người Việt 95
2.2.5 Ảnh hưởng của trọng âm trong ngữ đoạn 137
2.3 THỬ NGHIỆM GIẢNG DẠY KIỂM CHỨNG KẾT QUẢ LUYỆN TẬP PHÁT
3.1.2 Chức năng các giọng ngữ điệuAnh ngữ 148
3.1.4 Những vấn đề cần lưu ý khi phân tích dạng ngữ điệu 153
Trang 73.2 ĐẶC ĐIỂM PHÁT ÂM NGỮ ĐIỆU TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN NGƯỜI
3.3.2 Tác dụng khắc phục lỗi của các chức năng của ngữ điệu 180 3.3.3 Tác dụng khắc phục lỗi của các qui tắc cú pháp 182
3.4 THỬ NGHIỆM GIẢNG DẠY KIỂM CHỨNG KẾT QUẢ LUYỆN PHÁT ÂM
2 CÁC PHIẾU KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM VÀ QUAN ĐIỂM SINH VIÊN 231
2.2 PHIẾU KHẢO SÁT TRỌNG ÂM C1 – PHIẾU TRẢ LỜI KT 234
2.4 PHIẾU KHẢO SÁT NGỮ ĐIỆU C2 – PHIẾU TRẢ LỜI KT 239
2.8 PHIẾU KHẢO SÁT NGỮ ĐIỆU TIẾNG VIỆT C6 – THU ÂM 247 2.9 PHIẾU KHẢO SÁT NGỮ ĐIỆU SURVEY 2 – THU ÂM 251
Trang 82.10 PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN VỀ TRỌNG ÂM TỪ TIẾNG ANH 252 2.11 PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN VỀ NGỮ ĐIỆU TIẾNG ANH 254 2.12 BẢNG KHẢO SÁT Ý KIẾN SV VỀ TA - NĐ – 1 256 2.13 PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN SV VỀ TA - NĐ – A1 259 2.14 PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN SV VỀ TA - NĐ – A2 262 2.15 PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN SV VỀ TA - NĐ – B1 265
2.18 DANH SÁCH THÔNG TIN CƠ BẢN CỦA CTV THAM GIA KHẢO SÁT PHÁT
3 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CÁC LOẠI BƯỚC TRONG NGÔN ĐIỆU TIẾNG ANH 269
4 MỘT SỐ KỸ THUẬT SỬ DUNG TRONG GIẢNG DẠY PHÁT ÂM TRỌNG ÂM
5 BIỂU ĐỒ TÓM TẮT CÁC LOẠI HÌNH VỊ VÀ THA HÌNH VỊ TIẾNG ANH 271
10 BIỂU ĐỒ PHÂN LOẠI MỆNH ĐỀ PHỤ TRONG CÂU PHỨC TIẾNG ANH 281
11.1 HÌNH ẢNH MINH HỌA ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ ÂM VỊ 282 11.2 16 KIỂU ÂM TIẾT TIẾNG ANH VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH THỰC NGHIÊM287 11.3 80 KIỂU ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH THỰC NGHIỆM
291 11.4 MỘT VÀI HÌNH ẢNH THỰC NGHIỆM TRỌNG ÂM, NGỮ ĐIỆU TIẾNG ANH
293
Trang 9DANH MỤC QUI ƯỚC VIẾT TẮT
AT/A Âm tiết
CG Control group: nhóm không nhận phương pháp mới
CPAC Cách phát âm chuẩn
PAATT Phụ âm âm tiết tính
PSL Praat Scripting Language (phonetics computer program)
RP Received pronunciation: cách phát âm chuẩn của Anh
SPSS Statistical Package for the Social Sciences: phần mềm thống kê KHXH TTB Trị trung bình
VB2 Văn bằng 2 (Hệ đào tạo)
VHVL Vừa học vừa làm (Hệ đào tạo)
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 0.1: Phát ngôn khẳng định – Đuôi phủ định 13
Bảng 0.2: Phát ngôn phủ định – Đuôi khẳng định 14
Bảng 1.1: Các thanh điệu tiếng Việt 34
Bảng 1.2: Sự phân bố của thanh điệu tiếng Việt 35
Bảng 1.3: Các loại trọng âm 49
Bảng 1.4: Cấu trúc âm tiết tiếng Việt 58
Bảng 1.5: Cấu trúc âm tiết tiếng Anh 58
Bảng 2.1: Đối chiếu mô hình nhịp điệu Anh – Việt 70
Bảng 2.2: Đối chiếu thông số cường độ và cao độ từ cho’rale giữa CPAC và 12 MKS 74
Bảng 2.3: Tỷ lệ các kiểu phát âm trọng âm của các MKS 75
Bảng 2.4: Thông số cường độ, cao độ đỉnh âm tiết 1 của CPAC và MKS 80
Bảng 2.5: Thông số cường độ, cao độ đỉnh âm tiết 2 của CPAC và MKS 82
Bảng 2.6: Thông số trường độ 2 âm tiết của CPAC và MKS 85
Bảng 2.7: Thông số cao độ, cường độ và trường độ của CPAC và MKS 86
Bảng 2.8: Đối chiếu thông số cường độ từ character giữa CPAC và 12 MKS 92
Bảng 2.9: Các kiểu lỗi trọng âm từ tiếng Anh của sinh viên người Việt 93
Bảng 2.10: Một số nguyên tắc trọng âm tiếng Việt 108
Bảng 2.11: Các nguyên tắc trọng âm từ tiếng Anh 112
Bảng 2.12: Đặc điểm chính của âm tiết không nhận trọng âm trong từ đơn 115
Bảng 2.13: Đặc điểm về trọng âm của tiền tố 115
Bảng 2.14: Đặc điểm về trọng âm của hậu tố 116
Bảng 2.15: Đặc điểm âm tiết mang trọng âm trong từ ghép 116
Bảng 2.16: Các dạng âm tiết yếu 120
Bảng 2.17: Nguyên tắc âm đuôi động từ thì hiện tại đơn 128
Bảng 2.18: Nguyên tắc âm đuôi động từ thì quá khứ đơn 128
Bảng 2.19: Các trường hợp PAATT của âm buông bên [ l ] 132
Bảng 2.20: Các trường hợp PAATT của âm mũi [ n ] 133
Bảng 2.21: Các trường hợp PAATT của âm môi-môi [ m ] 133
Bảng 2.22: Các trường hợp PAATT của âm ngạc mềm mũi [ ] hay [ ] 134
Bảng 2.23: Các trường hợp PAATT của âm quặt lưỡi [ r ] 134
Bảng 2.24: Kết hợp của nhiều PAATT 134
Bảng 2.25: Dữ liệu được phân tích bằng Microsoft Excel 141
Bảng 2.26: Các thông số kỹ thuật 141
Bảng 3.1: Đơn vị giọng ngữ điệu cơ bản 148
Bảng 3.2: Nguyên tắc đầu và đuôi của một đơn vị giọng 152
Bảng 3.4: Đối chiếu đơn vị giọng ngữ điệu Anh – Việt 158
Bảng 3.5: Đối chiếu thông số cường độ và cao độ các nhóm theo kiểu lỗi ngữ điệu 172
Bảng 3.6: Kiểu lỗi ngữ điệu và số lượng MKS tương ứng 173
Bảng 3.7: Nguyên tắc ngữ điệu tiếng Anh theo cú pháp 193
Bảng 3.8: Đối chiếu thông số cường độ và cao độ các nhóm theo kiểu lỗi ngữ điệu 195
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH PHỔ
Hình 1.1: Hình ảnh F0 thanh ngang ‘ma’ – CTV phương ngữ Bắc và Trung 36
Hình 1.2: Hình ảnh F0 thanh huyền ‘mà’ – CTV phương ngữ Bắc và Trung 36
Hình 1.3: Hình ảnh F0 thanh sắc ‘má’ – CTV phương ngữ Bắc và Trung 37
Hình 1.4: Hình ảnh F0 thanh nặng ‘ma’ – CTV phương ngữ Bắc và Trung 37
Hình 1.7: Hình ảnh sóng âm và đường nét cường độ thể hiện trọng âm lực 41
Hình 1.8: Hình ảnh sóng âm và tỷ lệ trường độ giữa 2 âm tiết thể hiện trọng âm lựơng 45
Hình 1.9 [ 159]: Hình ảnh đường nét thanh cơ bản biểu hiện trọng âm nhạc tínhcess a 46
Hình 1.10: Hình ảnh đường nét thanh cơ bản F0 thể hiện cao độ 52
Hình 1.11: Hình ảnh sóng âm và đường nét cao độ thể hiện ngữ điệu 53
Hình 1.12: Đối chiểu cấu trúc âm tiết Anh – Việt 55
Hình 1.7: Tỷ lệ thực tập tốt nghiệp: các khối Ngoại ngữ, Kỹ thuật, Kinh tế, Xã hội 63
Hình 2.1: Đối chiếu cường độ đỉnh 2 âm tiết từ chorale giữa CPAC và 12 MKS 75
Hình 2.2: Đối chiếu cường độ đỉnh 2 âm tiết từ chorale giữa CPAC và MKS11 76
Hình 2.3: Đối chiếu cường độ đỉnh 2 âm tiết từ chorale giữa CPAC và MKS 3, 4 77
Hình 2.4: Đối chiếu cường độ đỉnh 2 âm tiết từ chorale giữa CPAC và MKS 1, 10 77
Hình 2.5: Đối chiếu cường độ đỉnh 2 âm tiết từ chorale giữa CPAC và MKS 5, 7, 12 78
Hình 2.6: Đối chiếu cường độ đỉnh 2 âm tiết từ chorale giữa CPAC và MKS 2, 6, 8 79
Hình 2.7: Tỷ lệ các kiểu phát âm từ chorale của các MKS 79
Hình 2.8: Minh họa cường độ và cao độ đỉnh âm tiết 1 giữa CPAC và MKS – từ chorale 80
Hình 2.9: Minh họa cường độ và cao độ đỉnh âm tiết 2 giữa CPAC và MKS – từ chorale 82
Hình 2.10: Đối chiếu cường độ đỉnh 2 âm tiết giữa CPAC và MKS – từ chorale 83
Hình 2.11: Đối chiếu cao độ đỉnh 2 âm tiết giữa CPAC và MKS – từ chorale 84
Hình 2.12: Đối chiếu trường độ và tỷ lệ trường độ 2 âm tiết giữa CPAC và MKS 85
Hình 2.13: Đối chiếu tổng quát cường độ, cao độ và trường độ 2 âm tiết giữa CPAC và MKS – từ chorale 87
Hình 2.14: Đường nét cường độ từ character của CPAC và MKS_10 89
Hình 2.15: Dạng sóng âm, cường độ, cao độ: character của CPAC - MKS_10 90
Hình 2.16: Đối chiếu cường độ đỉnh âm tiết 2 giữa CPAC và 12 MKS – từ character 93
Hình 2.17: Tỷ lệ các kiểu lỗi trọng âm – khảo sát từ character 94
Hình 2.18: Đối chiếu CPAC với các MKS – từ phái sinh advantageous 97
Hình 2.19: Hình ảnh tổng hợp các đường nét cường độ của CPAC và các MKS 98
Hình 2.20: Đối chiếu CPAC với các MKS – từ ghép Northeast 100
Hình 2.21: Kết quả thực nghiệm F0, bước sóng của từ ghép ‘xe đạp’ 102
Hình 2.22: F0: CTV nam (T), nữ (P) -từ ghép kết thúc vơi các thanh điệu khác nhau .103
Hình 2.23: Đối chiếu trường độ từ xe ‘đạp (từ ghép) và ‘xe đạp (danh ngữ) 105
Hình 2.24: Đối chiếu trường độ từ hoa ‘hồng (từ ghép) và ‘hoa hồng (danh ngữ) .106
Hình 2.25: Ngữ cảnh và kết luận của nhóm tác giả René Schiering và Balthasar Bickel .107
Hình 2.26: Hình ảnh formant hiện tượng chêm âm /r/ 125
Hình 2.27: Hình ảnh formant hiện tượng đồng hóa ngang qua biên giới các hình vị 128
Hình 2.28: Hình ảnh formant khi không có hiện tượng đồng hóa 130
Trang 12Hình 2.29: Hình ảnh formant hiện tượng đồng hóa ngang qua biên giới các từ 130
Hình 2.30: Hình ảnh cao độ của CPAC, MKS 131
Hình 2.31: Hình ảnh cường độ của CPAC, MKS 131
Hình 2.32: Hình ảnh formant hiện tượng rút gọn nguyên âm yếu /ə/ 135
Hình 2.33: Hình ảnh cao độ của CPAC, MKS 136
Hình 2.34: Hình ảnh cường độ của CPAC, MKS 136
Hình 2.35: Đồ thị về kết quả kiểm tra kiểm nghiệm giảng dạy 142
Hinh 3.1: Đối chiếu ngữ điệu CPAC và MKS 19 160
Hình 3.2: Đối chiếu trường độ đơn vị giọng ngữ điệu giữa CPAC và MKS_18 161
Hình 3.3: Sự khác nhau về trường độ ngữ đoạn đoạn “You can always renew item if they’re not required by anyone else by telephoning or logging on to our website.” giữa CPAC (trên) và MKS_33 (dưới) 163
Hình 3.4: Đường nét cường độ âm tiết chủ CPAC và MKS_15 165
Hình 3.5: Hình ảnh cao độ 1 Đơn vị giọng ngữ điệu: shall I pay by check, would that do? 166
Hình 3.6: Đối chiếu cường độ CPAC - TTB NHÓM MKS_10: Shall I bring a bank statement, would that do? 170
Hình 3.7: Đối chiếu cao độ CPAC - TTB NHÓM MKS_10: ‘Shall I bring a bank statement, would that do?” 171
Hình 3.8: Đối chiếu cường độ CPAC - TTB 9 NHÓM MKS: Shall I bring a bank statement, would that do? 172
Hình 3.9: Tỷ lệ các kiểu lỗi ngữ điệu tiếng Anh 175
Hình 3.10: F0 và sóng âm của câu ‘Phượng đi xe đạp’ – phát âm nhấn mạnh chủ ngữ 177
Hình 3.11: F0 và sóng âm của câu ‘Phượng đi xe đạp’ – phát âm nhấn mạnh Động từ 178
Hình 3.12: F0 và sóng âm của câu ‘Phượng đi xe đạp’ – phát âm nhấn mạnh tân ngữ .178
Hình 3.13: F0 và sóng âm của câu ‘Phượng đi xe đạp – nhấn mạnh cum động từ 178
Hình 3.14: F0 và sóng âm của câu ‘Phượng đi xe đạp –phát âm nhấn mạnh cả câu 178
Hình 3.15: F0 của CTV nam (T), nữ (P) câu kết thúc vơi các thanh điệu khác nhau 179
Hình 3.16: Kết quả kiểm tra sau đợt dạy thử nghiệm 196
Trang 131.1 Lý do chọn đề tài
Theo các cuộc khảo sát về tình hình dạy và học tiếng Anh ở Việt Nam, cùng với nhận xét của chúng tôi trong quá trình giảng dạy ngoại ngữ thì một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự hiểu sai lệch trong giao tiếp, đặc biệt khi sử dụng Anh ngữ của người Việt, là lỗi về ngữ âm Trong đó, lỗi trọng âm và ngữ điệu được đánh giá là khó khắc phục nhất bởi vì đây là sự chuyển di tiêu cực do ảnh hưởng của tiếng
mẹ đẻ (Việt ngữ) Nguyên nhân chủ yếu là do cấu trúc từ đơn âm tiết của tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập, đơn âm tiết tính có thanh điệu và hoàn toàn không biến hình, tạo ra sự khác biệt rất lớn giữa tiếng Việt và tiếng Anh thuộc hệ thống ngôn ngữ biến hình với từ đa âm tiết
Ngoài ra, một nguyên nhân khá phổ biến dẫn đến lỗi ngôn điệu này là sự chủ quan của người học nên không nhận thấy được mức độ ảnh hưởng đến ngữ nghĩa của
ngôn điệu Đơn cử một ví dụ về ngữ điệu trong “câu hỏi có đuôi” (Question Tag) của tiếng Anh với bốn cấu trúc cơ bản về phần phát ngôn (Statement) khẳng định (+) hay phủ định (-) khi ghép với phần đuôi (tag) khẳng định (+) và phủ định (-)
Trang 14Nghĩa
You haven’t got any cigarettes
have you ? Lên
- Câu hỏi thật sự
- Lời đề nghị dè dặt
You haven’t finished your
Các đường nét ngữ điệu khác nhau đưa đến ý nghĩa khác nhau của cùng một câu hỏi đuôi như trên Cụ thể, trong bốn trường hợp này, ngữ điệu lên hay xuống sẽ tạo ra sáu hình thức ngữ nghĩa khác nhau rõ rệt và có thể dẫn tới những hiểu lầm không tốt trong giao tiếp
Vì vậy, luận án hướng đến việc tìm hiểu nguyên nhân chính xác của các lỗi phát
âm ngôn điệu tiếng Anh của sinh viên người Việt Trên cơ sở những nguyên nhân dẫn đến hiện trạng lỗi phát âm của sinh viên, các kiểu lỗi ngôn điệu cụ thể sẽ được xác định Từ đó, chúng tôi đề xuất biện pháp khắc phục nhằm giúp sinh viên phát âm tiếng Anh chuẩn xác hơn, tạo hiệu quả tốt trong giao tiếp
1.2 Mục đích nghiên cứu
Từ những khó khăn trong việc dạy và học tiếng Anh nêu trên, luận án tập trung vào nghiên cứu, đối chiếu để tìm ra nét đặc trưng ngữ âm, âm vị học tiếng Anh và tiếng Việt từ yếu tố đoạn tính đến siêu đoạn tính, trong sự ảnh hưởng của đặc điểm hình thái,
cú pháp, ngữ dụng Anh – Việt Bởi vì luận án tập trung khảo sát trọng âm từ, trọng âm ngữ đoạn, ngữ điệu, nên sẽ mang đến cho người đọc cảm giác giác đầu tiên là luận án chỉ khảo sát ở bậc ngữ âm – âm vị: bậc đầu tiên trong ngữ học Tuy nhiên, để khảo sát trọng âm từ thì cần phải tham khảo về hình thái từ vì các yếu tố tiền tố, hậu tố tiếng Anh có ảnh hưởng trực tiếp đến vị trí trọng âm từ, hay có thể nói là một số qui luật
Trang 15trọng âm từ tiếng Anh cũng bị ảnh hưởng bởi các phụ tố Thêm nữa, việc khảo sát trọng âm ngữ đoạn và ngữ điệu thì phải liên quan đến cấu trúc câu và ngữ nghĩa, trong
đó cũng bị sự tác động của ngữ dụng
Ngoài ra, luận án cũng mong bước đầu thực hiện tiến trình khảo sát mức độ ảnh hưởng của phương ngữ Việt có giọng tương đối nặng đến cách phát âm, đặc biệt là trọng âm và ngữ điệu tiếng Anh
Cuối cùng, bằng khảo sát thực nghiệm và phân tích những lỗi của người bản ngữ Việt khi phát âm tiếng Anh, đặc biệt là lỗi về trọng âm và ngữ điệu, luận án tiến tới hướng giải quyết và khắc phục các lỗi về trọng âm và ngữ điệu Từ đó đề xuất một hướng dạy ngữ âm sinh động hơn để kích thích cảm hứng nghiên cứu và rèn luyện ngữ
âm nhằm tạo hiệu ứng tốt và thành công trong giao tiếp
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
2.1 Lịch sử nghiên cứu ngôn điệu tiếng Việt
Bên cạnh quyển Ngữ âm học đại cương [ 32] của Zinder R xuất bản và dịch sang tiếng Việt năm 1960 và các công trình của Cao Xuân Hạo [ 24], và Nguyễn Tài
Cẩn [ 7], quyển Ngữ âm tiếng Việt [ 46] của Đoàn Thiện Thuật, tái bản năm 1977 và tái
bản năm 1980, một giáo trình ngữ âm lý luận về cấu trúc âm vị học tiếng Việt, đã nêu lên các khả năng giải quyết và cung cấp phương pháp nghiên cứu về hệ thống âm vị tiếng Việt Nội dung của quyển sách được tinh giản đến mức tối đa để nêu bật lên những nét cơ bản không thể thiếu được của hệ thống ngữ âm tiếng Việt Lý luận hiện đại được vận dụng để phân tích ngữ âm học và kinh nghiệm của các nhà Đông phương học tiên tiến cũng đã được ứng dụng để tìm ra phương pháp phân tích có khả năng nêu bật được những đặc điểm của tiếng Vịệt
Trên cơ sở vận dụng những khái niệm ngữ âm cơ bản và tiếp thu những thành tựu nghiên cứu về ngữ âm tiếng Việt, Đinh Lê Thư và Nguyễn Văn Huệ, trong quyển
Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt [ 47] xuất bản năm 1998, đã trình bày một cách ngắn gọn
những kiến thức cơ bản về ngữ âm học đại cương và ngữ âm tiếng Việt Quyển sách
Trang 16chủ yếu tập trung vào một số đặc trưng về âm học của âm thanh và cũng đã sơ bộ tổng kết những kết quả nghiên cứu về trọng âm và ngữ điệu mà các giáo trình đi trước chưa
đề cập tới hoặc đề cập rất ít Quyển sách là một sự khái quát từ đối tượng và vị trí của ngữ âm học, cơ sở ngữ âm, phân loại âm tố, những vấn đề về âm tiết tiếng Việt cũng như hệ thống âm vị học siêu đoạn tính như thanh điệu, trọng âm và ngữ điệu tiếng Việt Phần phụ lục của quyển sách đã cung cấp danh sách các thuật ngữ ngữ âm học đối chiếu với tiếng Anh để giúp người đọc dễ dàng hơn trong việc tiếp xúc với các thuật ngữ chuyên ngành
Năm 2002, Nguyễn Quang Hồng đã đi sâu vào phân tích âm tiết, một đơn vị cơ
bản của ngữ âm trong quyển Âm tiết và loại hình ngôn ngữ [ 29], với sự nghiên cứu và
phân loại âm tiết rất công phu Tuy nhiên, sự so sánh đối chiếu cấu trúc âm tiết tiếng Anh – Việt cũng như khảo sát cách phát âm và lỗi cơ bản khi phát âm âm tiết tiếng Anh của người bản ngữ Việt hầu như chưa được đề cập chi tiết
Bên cạnh các công trình của Đỗ Hữu Châu & Bùi Minh Toán [ 8], Mai Ngọc
Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến [ 10], Tiếng Việt Đại cương – Ngữ âm [ 37]
của Mai Thị Kiều Phượng được xuất bản vào năm 2008, một lần nữa đã cung cấp những kiến thức cơ bản về đại cương tiếng Việt và ngữ âm tiếng Việt Quyển sách gồm năm phần chính: Những vấn đề đại cương về tiếng Việt (nguồn gốc và sự phát triển lịch sử tiếng Việt); Những vấn đề đại cương về ngữ âm và và ngữ âm học (khái niệm, những cơ sở nghiên cứu ngữ âm, sự phân tích các đơn vị âm thanh và đơn vị ngữ âm đoạn tính và siêu đoạn tính); Những vấn đề về đặc điểm, cấu trúc, phân loại của hệ thống âm tiết tiếng Việt hiện đại cũng như hệ thống âm vị cấu tạo nên âm tiết của tiếng Việt hiện đại và vấn đề về hệ thống chính âm và chính tả tiếng Việt
Hoàng Thị Châu, trong quyển Phương ngữ học tiếng Việt [ 9], xuất bản năm
2007, đã có sự phân tích sâu về tính thống nhất và đa dạng của tiếng Việt hiện đại với với sự tồn tại của khá nhiều phương ngữ đã được phân vùng với sự khác biệt về ngữ pháp, từ vựng và ngữ nghĩa do khác nhau về nguồn gốc Trong đó, sự khác biệt về ngữ
Trang 17âm là một hiện thực không còn gì để bàn cãi, và đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đa dạng về lỗi phát âm của người Việt khi học ngọai ngữ do sự biến thể của hệ thống phụ âm đầu, sự chuyển hóa nguyên âm và phụ âm cuối qua các phương ngữ tiếng Việt, cũng như hệ thống thanh điệu trên các miền đất nước Tác giả cũng đã có sự phân tích về các mặt lịch sử và xã hội của phương ngữ, cũng như vấn đề phương ngữ trong tác phẩm văn học
Nguyễn Đức Dân trong Ngữ dụng học [ 12] xuất bản năm 1998 và Nguyễn Thiện Giáp, trong quyển Dụng học Việt ngữ [ 19] xuất bản năm 2007, đã nêu lên cách sử dụng
ngôn ngữ khi giao tiếp, trong những ngữ cảnh cụ thể để đạt được những mục tiêu tương ứng Từ đó có thể thấy rõ một điều là không thể phủ nhận rằng ngữ điệu đóng một vai trò rất quan trọng từng ngữ cảnh cụ thể để đạt được mục đích giao tiếp Tác giả
đã bỏ ra khá nhiều thời gian để bàn về cấu trúc thông tin, ngữ vực, trường diễn ngôn, tích chất diễn ngôn, phương thức diễn ngôn, cả về vấn đề văn hóa và ngôn ngữ Nguyên nhân chủ yếu, theo tác giả, là nếu chỉ phân tích ngữ pháp và ngữ nghĩa thì không thể phát hiện hết các ý nghĩa trong tình huống phát ngôn Do đó, cần phải nghiên cứu ngữ nghĩa và ngữ pháp trong mối quan hệ với ngữ âm học, khoa học nghiên cứu đặc điểm của những âm thanh dùng trong ngôn ngữ và cung cấp những phương pháp để miêu tả, phân loại và phiên âm chúng Cũng theo tác giả, âm vị học, khoa học nghiên cứu các âm vị, cần được kết hợp với những bộ môn ngữ học còn lại để nghiên cứu cả mặt hình thức vật chất lẫn nội dung ý nghĩa của ngôn ngữ
Tiếp theo các công trình nghiên cứu ngữ âm nêu trên, Ngữ điệu tiếng Việt [ 42]
của Đỗ Tiến Thắng được xuât bản năm 2009, là chuyên luận đầu tiên về ngữ điệu tiếng Việt, với nội dung chính gồm 7 phần: Khái luận, Ngữ điệu cấu tạo, Ngữ điệu mục đích, Ngữ điệu tình thái, Ngữ điệu hàm ý, Ngữ điệu hành vi, Ngữ điệu hội thoại Với 7 nội dung này, vấn đề ngữ điệu tiếng Việt đã được nhìn nhận một cách toàn diện, từ tổng quan đến cụ thể, từ truyền thống đến hiện đại Chuyên luận này cũng đã tiếp cận và bao quát được các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của tiếng Việt Tuy
Trang 18nhiên, kết luận của tác giả về ngữ điệu tiếng Việt do cú pháp quy định thì cần phải được minh chứng bằng thực nghiệm ngữ âm vì nhận xét này cơ bản đối lập với nhận định của các nhà ngữ âm học trước đây về tình trạng ngữ điệu tiếng Việt bị khống chế bởi thanh điệu
2.2 Lịch sử nghiên cứu ngôn điệu tiếng Anh
Dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngữ âm mà cụ thể là ngôn điệu tiếng Anh nhưng vì phạm vị của chương mục lịch sử nghiên cứu có hạn nên chúng tôi chỉ xin điểm qua một số công trình được xuất bản có liên quan trực tiếp đến đề tài luận
án
Trước tiên có thể kể đến quyển An Introduction to English phonology [ 96] của
McMahon A xuất bản năm 1988 Quyển sách giới thiệu tổng quát các kiến thức về âm
vị học tiếng Anh, từ âm vị đến âm tiết tiếng Anh, sự khác nhau về các chất giọng, từ các thành tố của âm tiết cho đến ngữ pháp về mẫu âm tiết tiếng Anh cũng như giới thiệu sơ lược về hệ thống âm vị học siêu đoạn tính, nhằm cung cấp phương pháp nghiên cứu những vấn đề mang tính lý thuyết trừu tượng
Tiếp theo, bên cạnh các công trình của các tác giả Goldsmith J A [ 77] [ 78],
Gussenhoven, Haike C & J [ 80], có thể kể đến công trình của Roach P.quyển English
Phonetics and Phonology [ 102], xuất bản năm 1998 Công trình này đã miên tả cách
phát âm tiếng Anh được chọn làm tiêu chuẩn cho người học tiếng Anh ở Anh quốc và trình bày lý thuyết đại cương về âm thanh và cách vận dụng trong ngôn ngữ Bên cạnh
đó, bản chất ngữ âm học và âm vị học cũng được phân tích theo suốt chiều dài của quyển sách với các chương được sắp xếp rất hợp lý từ việc xác định và mô tả các âm vị Anh ngữ, hệ thống các nguyên âm, phụ âm, đến tiến tới quan sát âm vị và cách dùng ký hiệu theo lý thuyết, cấu trúc âm tiết tiếng Anh trong hệ thống âm vị học đoạn tính Từ
đó, trên cơ sở âm vị học đoạn tính, tác giả đã phân tích khá chi tiết về hệ thống âm vị học siêu đọan tính như trọng âm và ngữ điệu tiếng Anh từ hình thức đến chức năng
Trang 19Cũng đề tài phát âm, cùng với Dalton, Seidholfer C & B [ 66], Jones D [ 86],
Ladefoged P [ 93], Shockey L năm 2003 khi xuất bản quyển Sound patterns of spoken
English [ 109], đã giải quyết vấn đề phát âm trong cuộc sống hàng ngày từ nhiều nhóm
xã hội với nền tảng giáo dục, văn hóa khác nhau, ở các vùng khác nhau và tất nhiên họ
đã tạo ra rất nhiều điểm khác biệt làm tăng tính đa dạng của ngữ âm học phương ngữ Hơn nữa, quyển sách đã bao phủ một vùng nghiên cứu rộng từ ngữ âm, âm vị học, cho đến ngữ học xã hội; từ âm vị học lịch sử đến âm vị học hội thọai; từ âm vị cho đến âm tiết tiếng Anh và cuối cùng là sự phân tích về vấn đề nắm vững ngữ âm tiếng Anh với
tư cách là người bản xứ, cũng như trên góc độ ngọai ngữ
Nhằm giúp cho sinh viên hiểu rõ các khái niệm ngữ âm học của Anderson, John
M và Ewen, Colin J [ 50], Chomsky N và Halle M [ 60], Clements, George N và Samuel J Keyser [ 64], Tủ sách Đại học Sư phạm Tp HCM đã cung cấp quyển sách:
English Phonetics and Phonology [ 114] Quyển sách này đã cung cấp kiến thức cơ bản
về ngữ âm học và âm vị học như bản chất ngữ âm học và âm vị học, mô tả các âm vị Anh ngữ, cấu trúc âm tiết tiếng Anh trong hệ thống âm vị học đoạn tính Quyển sách cũng phân tích khá chi tiết về hệ thống âm vị học siêu đoạn tính như trọng âm và ngữ điệu tíếng Anh từ hình thức đến chức năng Điểm đặc biệt thú vị là quyển sách còn có cách phân tích khá chi tiết về quy luật biến thể âm vị, miêu tả hiện tượng biến đổi đặc điểm của âm vị do sự tác động của các âm lân cận
2.3 Lịch sử nghiên cứu ngữ âm thực nghiệm ngôn điệu
Về phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học, Harris Z.S năm 1947, trong quyển
Những phương pháp của ngôn ngữ học cấu trúc [ 49], qua bản dịch của Cao Xuân Hạo
năm 2006, đã trình bày những phương pháp được sử dụng trong ngôn ngữ học miêu tả:
ngôn ngữ học cấu trúc nhằm thảo luận về những thủ pháp mà nhà ngôn ngữ học có thể thực hiện trong quá trình nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu được sắp xếp dưới dạng thức những thao tác phân tích kế tiếp theo nhau mà nhà ngôn ngữ học dùng để xử
lý các cứ liệu của mình Xuất phát từ tất cả phát ngôn xuất hiện trong một khối cộng
Trang 20đồng ngôn ngữ duy nhất và trong một lần duy nhất, toàn bộ thao tác này xác định điều
gì có thể coi là đồng nhất trong các bộ phận khác nhau của hết thảy phát ngôn khác nhau, và cung cấp một phương pháp để nhận diện tất cả các phát ngôn như một số tương đối ít cách sắp xếp nhất định của những yếu tố nhất định Quyển sách này đã nêu lên những vấn đề về phương pháp luận, sự phân đọan và khu biệt âm vị học, cũng như trường độ âm vị, tiếp tố, tái âm vị hóa, yếu tố hình thái học: chiết đọan hình vị tính, hình âm vị Điều cần lưu ý là, theo tác giả, “quyển sách này, đáng tiếc thay, không phải
là dễ đọc”, nhưng thật quý giá vì những thao tác phân tích trình bày ở đây là kết quả và
sự phát triển các công trình của nhiều nhà ngữ học trên thế giới Quyển sách đã đem lại một cái nhìn tổng quan về âm vị học trong mối quan hệ với hình vị học, đơn vị ngôn ngữ kế tiếp trong chuỗi ngữ học trong mối quan hệ biện chứng không thể tách rời
Về lý thuyếtngữ âm học thực nghiệm, có thể kể đến các công trình của các tác
giả Ashby, M và Maidment, J Introduce to Phonetic Science [ 52], Brentari, Diane A
prosodic model of sign language phonology [ 54], Brunelle, M Fundamentals of experimental phonetics, Lecture [ 56], Fry D B., The dependence of stress judgments
on vowel formant structure [ 72], Duration and intensity as physical correlates of linguistic stress [ 73], Experiments in the perception of stress [ 74] v.v Ladefoged, P
[ 92] trong quyển Phonetic Data analysis, đã mô tả và hướng dẫn rất cụ thể trật tự các
bước trong tiến trình thực nghiệm ngữ âm học từ việc chọn mẫu khảo sát, thu âm giọng nói đến viết lập trình để đo đạc các thông số về cường độ, cao độ và trường độ của các mẫu khảo sát, cách đọc ảnh phổ và khảo sát các dạng sóng âm thanh Phương pháp và các bước khảo sát thực nghiệm ngữ âm học này cũng đã được sử dụng trong luận án với mục đích chứng minh tính chính xác trong nhận định tiêu chí nhận biết âm tiết mang trọng âm trong từ đa âm tiết tiếng Anh
Các công trình thực nghiệm ngữ âm đã công bố có liên quan đến lĩnh vực
nghiên cứu ngôn điệu của luận án có thể lược điểm gồm “Corpus-based Evaluation of
Prosodic Phrase break prediction ssing nltk_lite’s chunk parser to detect prosodic
Trang 21phrase boundaries in the Aix-MARSEC corpus of spoken English” [ 136], based automatic detection of punctuation and interruption events in the ICSI meeting recorder corpus” [ 137], “Classifying turn-level uncertainty using Word-Level Prosody” [ 138], Ngoài ra, Youngim Jung, và Hyuk-Chul Kwon, trong bài
“Prosody-“Consistency maintenance in Prosodic Labeling for reliable prediction of Prosodic
Break”s [ 139] đã công bố kết quả của một dạng thực nghiệm để chứng minh sự chính
xác của phương pháp đoán sự ngắt đoạn trong ngôn điệu Phương pháp này đã cơ bản giải quyết được khó khăn thể hiện những câu mang tính chất mơ hồ bằng tiếng Hàn với nghĩa khác nhau phụ thuộc vào vị trí ngắt đoạn
Bên cạnh đó, cụ thể và được ứng dụng khá thiết thực là bài “A Prosodic
Labeling system for Mandarin Speech Database” [ 140] của các tác giả Chou F C.,
Tseng C Y và Lee L S Các tác giả đã mô tả kỹ thuật, phương pháp để đánh dấu ngữ đoạn, các khoảng ngắt ngôn điệu, với một hệ thống mô hình và dụng cụ để tự động đánh dấu các đoạn ngắt bằng cách nhận dạng các đường nét cao độ ngữ điệu Nội dung
ngôn điệu tiếng phổ thông Trung Quốc được mã hóa bằng hệ thống JSML (Java
Speech Markup Languages) kết hợp với ToBI (Tone and Break Indices) Hệ thống
JSML – ToBI kết hợp với hệ thống IPA - ASCII có thể sẽ được sử dụng như bản chuẩn cho hệ thống phiên âm ngữ âm học bằng máy phát âm tiếng phổ thông Trung Quốc
Về thực nghiệm khảo sát và kiểm chứng các phương pháp nhận diện điểm ngắt ngữ đoạn, cũng chính là điểm cuối của một đơn vị giọng ngữ điệu, thì ngoài các công trình nêu trên, Satsuki N S và Turk A E đã tiến hành một cuộc khảo sát thực nghiệm
ngữ âm qua đề tài “Separability of prosodic phrase boundary and phonemic
informationa” [ 141] Cuộc khảo sát đã được tiến hành với các cộng tác viên ở miền
Nam nước Anh để kiểm chứng giả thuyết rằng sự giải mã, xây dựng lại thông tin âm vị học và ngôn điệu từ những tín hiệu âm học sẽ được thuận tiện hơn khi những thông tin ngôn điệu được mã hóa bởi các tín hiệu siêu đoạn tính xảy ra đồng thời Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng mức độ giao tiếp giữa ranh giới và thông tin nơi tạm dừng bị
Trang 22giảm khi nguyên âm ở trước vị trí ranh giới được báo hiệu bởi trường độ và đường nét thanh cơ bản F0. Như vậy sự đơn giản khi giải mã thông tin âm vị và ngôn điệu xuất phát từ lợi điểm của sự kết hợp với các tín hiệu ngôn điệu
Bên cạnh các công trình khảo sát nhân tố quan trọng nhất của ngôn điệu trong
nhận thức giọng nước ngoài như “The English intonation influence on Chinese Lexical
Tones produced by English-speaking students of Chinese” [ 142], “Prosodic characteristics of Orkney and Shetland dialects - An experimental approach” [ 143],
“Prosodic and Rhythmic Patterns produced by Native and Non-native Speakers of
a Quantity-Sensitive Language” [ 144], “Perception and Production of Non-Native Prosodic Categories” [ 145], bài viết “Testing the contribution of Prosody to the Perception of Foreign Accent” [ 146], Jilka M đã tiến hành một cuộc khảo sát thực
nghiệm ngữ âm học với các cộng tác viên người Đức phát âm các mẫu câu tiếng Anh Mục đích của cuộc khảo sát này là để chứng minh ngữ điệu là một nhân tố quan trọng nhất của ngôn điệu trong nhận thức giọng nước ngoài Ngoài ra, kết quả thực nghiệm ngữ âm cũng cho thấy rằng những khía cạnh đoạn tính của giọng nước ngoài được nhận thức mạnh mẽ hơn những khía cạnh thuộc siêu đoạn tính như trọng âm và ngữ điệu
Về trọng âm từ và trọng âm ngữ đoạn, bên cạnh các bài “Experimental
Investigation of Word Stress” [ 147], “The use of CALL in acquiring foreign language pronunciation and prosody – General specifications for Euronounce Project” [ 148],
các tác giả khác cũng đã có sự nghiên cứu về trọng âm từ tiếng Việt, tiêu biểu như sau:
Nguyễn T và Ingram J., đã tiến hành cuộc khảo sát về trọng âm từ ghép tiếng
Việt trong bài “Stress, tone and word prosody in Vietnamese compounds” [ 149] Hai
tác giả đã khảo sát cặp từ ‘hoa hồng’ trong ngữ cảnh đồng nhất như ‘hoa hồng thì đẹp’ (1 loại hoa: từ ghép), ‘hoa hồng thì đẹp’ (hoa màu hồng: danh ngữ), gắn vào từng bức tranh theo đúng sự mô tả của câu Từ kết quả thực nghiệm, các tác giả đã đi đến kết luận là không có một minh chứng nào từ số liệu khảo sát ủng hộ cho quan điểm rằng
Trang 23tồn tại sự khác nhau về vị trí trọng âm giữa từ ghép và danh ngữ tiếng Việt Tuy nhiên, chúng tôi không đồng thuận với nhận định của hai tác giả trên nên đã tiến hành khảo sát thực nghiệm các mẫu từ vựng và danh ngữ của hai tác giả này, kết quả đã được trình bày cụ thể trong mục trọng âm từ và trọng âm ngữ đoạn của luận án
Cuộc khảo sát thứ hai cũng được thực hiện bởi Nguyễn T và Ingram J Trong
bài “Acoustic and perceptual cues for compound and phrasal contrast n Vietnamse.”
[ 150] hai tác giả này lại một lần nữa đã khảo sát cặp từ ‘hoa hồng’ trong ngữ cảnh đồng nhất như ‘hoa hồng thì đẹp’ (một loại hoa: từ ghép), ‘hoa hồng thì đẹp’ (hoa màu hồng: danh ngữ), gắn vào từng bức tranh theo đúng sự mô tả của câu Nhưng lần này, hai tác giả đã khảo sát thêm khía cạnh trường độ bên cạnh cao độ và cường độ Từ kết quả thực nghiệm, các tác giả cũng đi đến kết luận là không có một minh chứng nào từ
số liệu khảo sát ủng hộ cho quan điểm rằng có sự khác nhau về vị trí trọng âm giữa từ ghép và danh ngữ tiếng Việt Thay vào đó, người Việt đã dùng sự tạm ngừng giữa hai thành tố để phân biệt danh ngữ và từ ghép Tuy nhiên, chúng tôi đã có nhận định cụ thể hơn dựa trên cơ sở nguyên tắc trọng âm từ đa âm tiết tiếng Việt nên đã tiến hành khảo sát lại các mẫu từ vựng của hai tác giả này để chứng minh cho qui luật trọng âm từ đa
âm tiết tiếng Việt Kết quả khảo sát cũng đã được trình bày cụ thể trong phần trọng âm
từ và trọng âm ngữ đoạn của luận án
Về vấn đề trọng âm trong tiếng Việt, có thể kể đến cuộc khảo sát của nhóm tác
giả Schiering R và Bickel B với bài “Aspect of prosody in Vietnamese” [ 151], “Does
Vietnamese have the prosodic words – A Mon-Khmer development and its typological signigicance hay Aspect of prosody in Vietnamese” [ 152] Theo Schiering R và Bickel
B cả từ đa âm tiết và danh ngữ tiếng Việt cơ bản có vị trí trọng âm ở âm tiết cuối
Ngữ điệu tiếng Việt cũng được các tác giả Stephanie J trong bài “Prosodic
focus in Vietnamses” [ 153], đã làm một cuộc khảo sát thực nghiệm ngữ âm để kiểm
chứng đặc điểm ngữ điệu trên cơ sở từ hai âm tiết tiếng Việt (từ ghép) Các từ hai âm tiết này đều được phát âm trong ngữ đoạn với năm cách phát âm khác nhau cho mỗi
Trang 24câu: 1) Nhấn mạnh chủ ngữ; 2) Nhấn mạnh động từ 3) Nhấn mạnh bổ ngữ; 4) Nhấn mạnh cụm động từ; 5) Nhấn mạnh cả câu Theo Stephanie J., đường nét thanh cơ bản
F0 đều đi xuống trong câu Phượng đi xe đạp, dù với năm cách phát âm khác nhau nêu
trên Thêm nữa, tác giả đã đưa ra giả thuyết rằng từ ghép tiếng Việt bị ảnh hưởng bởi thanh điệu Từ đó, thực nghiệm được tiến hành với nhiều từ ghép có thanh điệu khác nhau ở âm tiết thứ hai (Phượng đi xe đạp, Lan uống café, Mến uống nước) Theo kết quả đối chiếu các đường nét thanh cơ bản F0 của CTV nam và CTV nữ, với các cách phát âm nhấn mạnh ở các vị trí khác nhau trong ngữ đoạn, tác giả đã nêu lên nhận định rằng cách phát âm từ ghép tiếng Việt bị khống chế bởi thanh điệu, tuy quy mô thực nghiệm chưa đủ để đưa đến một sự khẳng định về đặc điểm trọng âm từ hai âm tiết tiếng Việt
Do trọng âm tiếng Việt là trọng âm lượng, nên theo chúng tôi, khi khảo sát và đối chiếu giữa từ ghép và danh ngữ tiếng Việt, trường độ là tiêu chí quan trọng nhất, và kết quả khảo sát cũng đã được thể hiện trong luận án
Ngữ điệu và cú pháp là một đề tài cũng không kém phần thú vị, đặc biệt đối với tiếng Anh là một ngôn ngữ mà các nguyên tắc ngữ điệu là do cú pháp qui định Bên
cạnh các bài “CircumReality functionality delta: Blizzard Challenge 2007 to 2008” [ 154], “Prosody Transfer and Suppression: Stages of Tone Acquisition” [ 155], “The
use of prosody in syntactic disambiguation” [ 156], bài viết “Modeling the interaction
of intonation and lexical tone in Vietnamese” của Ha K P và Grice M đã đưa ra nhận
định rằng ngữ điệu tiếngViệt không hoàn toàn bị thanh điệu khống chế trong ngữ cảnh hội thoại qua điện thoại Cuộc khảo sát được thực hiện với các mẫu hồi đáp ngắn qua
điện thoại như: ờ (thanh huyền – đường cao độ đi lên), vâng (thanh ngang – đường cao
độ đi xuống) Từ đó các tác giả đã kết luận rằng trong hội thoại điện thoại, người nói thường lên giọng (đường nét cao độ đi lên) để tỏ ý kết thúc phần phát ngôn của họ và
đã đến lượt người đầu giây bên kia tiếp tục cuộc đối thoại mm lên giọng khi bắt đầu
câu chỉnh sửa thông tin … Cuộc khảo sát chỉ được thực hiện với mẫu thuộc phương
Trang 25ngữ Hà Nội; vì vậy, tác giả cũng đã có định hướng công trình nghiên cứu tiếp theo với
sự qui mô lớn hơn cũng như gia tăng về thời lượng và mẫu khảo sát
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
khác nhau do ảnh hưởng của từ loại của hai căn tố thành phần [Phụ lục 2.1, 2.2, 2.5, 2.10, 2.12, 2.13, 2.14] Ngoài ra, một số nguyên tắc trọng âm tiếng Việt có khả năng
ảnh hưởng làm phát sinh lỗi giao thoa cũng được khảo sát
Về ngữ điệu, luận án tập trung khảo sát các mẫu thu âm một số câu tiếng Anh được chọn trên cơ sở các hình thức ngữ điệu đặc trưng có khả năng phát sinh lỗi phát
âm ngữ điệu tiếng Anh của người Việt [Phụ lục 2.3, 2.4, 2.6, 2.7, 2.8, 2.9, 2.11-2.17]
Bên cạnh đó, luận án cũng khảo sát một số đặc điểm ngữ điệu tiếng Việt có khả năng ảnh hưởng làm phát sinh sự chuyển di tiêu cực
Để thực hiện được những mục đích cụ thể trên, phương pháp nghiên cứu thực nghiệm ngữ âm học được áp dụng
Vì đây là luận án về chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu nên mục đích cuối cùng là sử dụng những kết quả khảo sát nêu trên để cải thiện phương pháp giảng dạy ngữ âm tiếng Anh, đặc biệt là về trọng âm và ngữ điệu Mục đích là nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ nói riêng và ngôn ngữ học nói chung, mong đáp ứng được nhu cầu cấp thiết về giao tiếp trong tiến trình toàn cầu hóa hiện nay
3.2 Phạm vi
o Đây là một công trình nghiên cứu để tìm ra những hạn chế về khả năng phát âm ngôn điệu của sinh viên người Việt nên phạm vi khảo sát được giới hạn là các
Trang 26mẫu thu âm của các cộng tác viên đã học qua môn ngữ âm – âm vị học Vì tiêu chuẩn chọn cộng tác viên là đã có kiến thức về nguyên tắc trọng âm, ngữ điệu nên chủ yếu là sinh viên đại học chuyên ngữ Bởi vì nếu họ chưa học qua lý thuyết về ngữ âm thì lỗi là do không biết nguyên tắc nên không thuộc đối tượng khảo sát của ngữ âm học thực nghiệm
o Luận án chọn phương ngữ chuẩn RP và phương ngữ Hà Nội làm tiêu chuẩn để đánh giá
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
4.1 Ý nghĩa khoa học
Như đã đề cập đến ở phần trên, ngôn ngữ học là lĩnh vực thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Tuy nhiên, không thể phủ nhận những khó khăn vẫn tồn tại trong lĩnh vực ngôn điệu này Ngoài ra, lĩnh vực này không được xếp vào nhu cầu thực
tế cấp bách vì người học không nhận ra rằng trong một số tình huống giao tiếp, lỗi về ngữ âm có thể dẫn đến những hiểu lầm đáng tiếc và kết quả là sự thất bại trong đàm phán hay giao tiếp Vì vậy, hy vọng luận án có thể góp một phần nhỏ vào hệ thống tài liệu nghiên cứu ngữ âm – âm vị lý thuyết cũng như ngữ âm học thực nghiệm, trong tiến trình nghiên cứu ngôn ngữ học lý thuyết và ngôn ngữ học ứng dụng
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Vấn đề ngôn ngữ và việc dạy tiếng ở Việt Nam từ lâu đã được đông đảo mọi người quan tâm Trong tình hình đổi mới nền kinh tế hiện nay thì vấn đề ngoại ngữ và tiếng Việt càng được chú ý nghiên cứu và phát triển Các phương pháp dạy ngoại ngữ ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là phương pháp giao tiếp có kết hợp với một số phương tiện nghe - nhìn khá hiện đại Vì vậy, việc so sánh đối chiếu giữa hai ngôn ngữ trên bình diện ngữ âm bằng phương pháp ngữ âm học thực nghiệm sẽ rất hữu ích cho vịệc dạy và học ngọai ngữ cho người Việt, cũng như vịệc dạy tiếng Việt cho người nước ngòai
Trang 27Thêm nữa, là phương tiện giao tiếp giữa các thành viên của xã hội, ngôn ngữ phản ánh nhiều bình diện của một nền văn hóa và nhiều nền văn hóa trong quá trình giao tiếp Vì vậy, khi áp dụng quan điểm lấy ngữ âm làm cơ sở cho hướng nghiên cứu liên văn hoá - ngôn ngữ qua việc so sánh tiếng Việt và các ngôn ngữ khác chắc rằng sẽ mang đến hiệu quả cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU
5.1 Phương pháp nghiên cứu
5.1.1 Phương pháp phân tích âm vị học
Mục đích của luận án là tìm ra những thiếu sót của học viên Việt Nam khi phát
âm trọng âm và ngữ điệu Bởi vì, không thể phủ nhận rằng những lỗi ngữ âm này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: sự thiếu kíến thức về qui luật ngữ âm, âm vị học; sự khác biệt về ngữ âm nói riêng, cũng như giữa tiếng Anh và tiếng Việt nói chung Do
đó, những đặc trưng ngữ âm tiếng Anh và tiếng Việt đã được phân tích trong mối quan
hệ với các nhánh nghiên cứu của ngữ học như hình vị học, cú pháp học, ngữ nghĩa và ngữ dụng học qua phương pháp phân tích âm vị học, để làm lụận chứng cho phép so sánh đối chiếu giữa hai ngôn ngữ
5.1.2 Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp so sánh - đối chiếu được sử dụng chủ yếu để phát hiện các tương ứng giữa cách phát âm của người Việt với cách phát âm “chuẩn” của tiếng Anh Bởi vì,
so sánh là thao tác tư duy giúp con người nhận thức hiện thực khách quan Quá trình so sánh là quá trình nêu ra những thuộc tính về lượng và chất của đối tượng nhận thức, phân loại, sắp xếp và đánh giá nội dung các sự kiện nhận thức, theo hai hướng:
- So sánh theo chiều dọc được áp dụng để so sánh ngữ âm trong mối quan hệ với các nhánh nghiên cứu của ngữ học như hình vị học, cú pháp học, ngữ nghĩa và ngữ dụng học cũng như khảo sát các phương ngữ Việt
Trang 28- So sánh theo chiều ngang, tức theo mặt cắt ngang cũng được áp dụng để nghiên cứu các vấn đề tương ứng giữa hai đối tượng Cụ thể là so sánh giữa ngữ âm tíếng Việt và tiếng Anh
Bên cạnh đó, vì tiêu chí đối chiếu sẽ quyết định đến kết quả đối chiếu nên tiêu chí đối chiếu của luận án đã được xác định cụ thể là âm vị học đoạn tính (chiết đoạn gồm hệ thống âm vị và cấu trúc âm tiết) và âm vị học siêu đoạn tính (các hiện tượng ngôn điệu: thanh điệu, trọng âm và ngữ điệu)
Trong phạm vi một luận án, các kiểu đối chiếu được xác định trên cơ sở định lượng và định tính Kiểu đối chiếu định lượng nhằm xác định những khác biệt về số lượng các yếu tố ngôn ngữ xét theo một tiêu chí đối chiếu nào đó, được dùng để đối
chiếu số lượng âm vị tồn tại trong 2 phương ngữ chuẩn của 2 quốc gia là RP (Received
pronunciation) của British English và hệ thống âm vị trong phương ngữ Hà Nội Tiếp
theo, số lượng các hiện tượng ngôn điệu tồn tại trong mỗi ngôn ngữ cũng được đối chiếu để xác định loại hình ngôn ngữ Kiểu đối chiếu thứ hai cũng được áp dụng để phát triển luận án là đối chiếu định tính, trong sự đối chiếu trọng âm và ngữ điệu của tiếng Việt và tiếng Anh
5.1.3 Phương pháp ngữ âm thực nghiệm
Các cứ liệu phát âm được phân tích và miêu tả bằng phần mềm chuyên dụng phân tích tiếng nói SPEECH ANALYZER (Copyright © 1996-2007 by SIL International) và PRAAT 5.05.12 (Copyright © 1992-2008 by Paul Boersma and David Weenink) Các mẫu khảo sát được phân tích dựa trên formant trong phổ đồ, bước sóng biểu diễn trường độ âm tiết, cũng như đường nét thanh cơ bản F0 về cao độ, đường nét cường độ trong sự đối chiếu với CPAC
5.2 Nguồn ngữ liệu
Ngữ liệu khảo sát trong trong luận án là một số từ bao gồm các loại âm tiết thường bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng liên ngữ trong ngữ cảnh giao tiếp trực tiếp bằng tiếng Anh Các sinh viên chuyên ngữ: tiếng Anh; năm thứ 3; nam và nữ; nói tiếng Việt thuộc
Trang 293 phương ngữ ‘Ngữ liệu khảo sát trong trong luận án là một số từ bao gồm các loại âm tiết thường bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng liên ngữ trong ngữ cảnh giao tiếp trực tiếp bằng tiếng Anh Các sinh viên chuyên ngữ (tiếng Anh; năm thứ 3; nam và nữ; nói tiếng Việt thuộc 3 phương ngữ Bắc (Hà Nội: 20 CTV có mã số: 16, 24, 25, 31, 39, 43, 45,
1975 - 1960); Hậu Giang: 20 CTV có mã số: 15, 22, 34, 67,94, 115, 124, 130, 143, 197 (năm sinh: 1993 – 1974) và mã số: 9, 42, 53, 68,74, 95, 123, 132, 186, 196 (năm sinh:
1975 - 1960) Như vậy, tổng cộng có 200 CTV tham gia khảo sát lỗi phát âm ngôn điệu, tuổi từ 20 đến 26; và học viên lớn tuổi (40 – 55 tuổi) ở các lớp VHVL, VB2; đã học qua môn Ngữ âm - Âm vị học) Các CTV này được chọn ngẫu nhiên để tiến hành
Trang 30thu âm Sau đó, các mẫu âm được kiểm tra để chọn ra những mẫu phát âm rõ và to nhất, đồng thời chọn một số ngẫu nhiên trong các mẫu thể hiện các lỗi phát âm giống nhau, gọi là mẫu khảo sát (MKS), để đối chiếu với cách phát âm chuẩn (CPAC) trong các tự điển âm thanh ‘Oxford Advanced Learner Dictionary’, ‘Cambridge Advanced Learner Dictionary’ và ‘MultiDictionary version 9.0 Huy Biên 2008’ Quá trình thu âm được thực hiện tại Phòng Thực nghiệm Ngữ âm học, Trường Đại học KHXH và NV - ĐHQG Tp Hồ Chí Minh
Cuối cùng, đây là một đề tài tập trung khảo sát lỗi phát âm của sinh viên người Việt nên chúng tôi đã gặp nhiều khó khăn khi mời CTV tham gia khảo sát Vì vậy chúng tôi đã cam kết không công bố thông tin của các CTV nên các MKS đã được đánh mã số để chúng tôi có thể tra cứu thông tin CTV Bên cạnh đó, giới tính của CTV
cơ bản không ảnh hưởng đến kết quả khảo sát vì chúng tôi không căn cứ trên thông số cường độ và cao độ của MKS để đưa ra nhận định Thay vào đó, chúng tôi cơ bản căn
cứ vào hiệu số cường độ và hiệu số cao độ giữa các đỉnh âm tiết cần thiết trong từ hay trong ngữ đoạn để đánh giá lực phát ra giữa 2 âm tiết đã đủ tạo nên sự khác biệt giữa 2 đỉnh âm tiết nhằm đáp ứng tính nhịp điệu của trọng âm từ tiếng Anh Cũng như hiệu số cao độ giữa các âm tiết có tạo nên đường nét thanh cơ bản F0 lên hay xuống nhằm đáp ứng đúng nguyên tắc ngữ điệu hay không để minh họa cho cách phát âm cũng như lỗi phát âm của sinh viên người Việt Do đó, chúng tôi đã không nêu cụ thể giới tính của các mẫu khảo sát dùng để minh họa để tránh làm tăng số trang của luận án một cách không cần thiết khi phải cung cấp hình ảnh minh họa của cả hai loại MKS của hai giới tính nam và nữ Bởi vì giới tính cơ bản không ảnh hưởng đến nội dung chúng tôi cần
khảo sát do cao độ của nữ (150 Hz đến 320 Hz) cao hơn cao độ của nam (80 Hz đến
210 Hz) nên không thể dùng giá trị cao độ để khẳng định và đối chiếu ngữ điệu giữa
CPAC và MKS
- Các từ, ngữ tiếng Anh bao hàm hiện tượng liên ngữ được chọn cho khảo sát
trong luận án là: two egg, my arm, formular, that person, rob, scripts, bottle
Trang 31- Các từ tiếng Anh được dùng để khảo sát trọng âm gồm các từ cung cấp tại
[Phụ lục 2.1, 2.2, 2.5, 2.10, 2.12, 2.13, 2.14]
- Các ngữ đoạn tiếng Anh và tiếng Việt được dùng để khảo sát ngữ điệu gồm
các đoạn hội thoại được cung cấp tại [Phụ lục 2.3, 2.4, 2.6, 2.7, 2.8, 2.9, 2.11-2.17]
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3 chương sau:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Nội dung của chương 1 là hệ thống hóa các kiến thức về ngôn điệu/ Các đơn vị
cơ bản của ngôn điệu đã được khái quát hóa từ định nghĩa (về thanh điệu, trọng âm, ngữ điệu), đến chức năng, tiêu chí nhận định và đã được minh họa bằng các kết quả thực nghiệm Bên cạnh đó, luận án đã tóm tắt một số kiến thức về ngữ âm thực nghiệm, phương tiện thực hiện các hình ảnh minh họa cho đề tài Cuối cùng, luận án cũng đã phân tích nền tảng cơ bản của các lỗi phát âm ngôn điệu của sinh viên người Việt, và tình hình dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam, để tìm ra những điểm còn hạn chế trong chính sách, phương án cũng như kế hoạch của việc dạy và học ngoại ngữ nào đã ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên Trên cơ sở đó, các kiểu lỗi đã và đang tồn tại
ở người học ngoại ngữ tại Việt Nam cũng được phân tích
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CÁCH PHÁT ÂM TRỌNG ÂM TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN NGƯỜI VIỆT
Nội dung của chương 2 là khảo sát cách phát âm trọng âm tiếng Anh của sinh viên người Việt qua ngữ âm thực nghiệm ở cấp độ từ trong sự đối chiếu với kết quả khảo sát cách phát âm trọng âm từ tiếng Việt Luận án cũng đã hệ thống các kiểu lỗi phát âm trọng âm từ tiếng Anh của sinh viên người Việt, từ đó đề xuất hướng giải quyết; trong đó, các nguyên tắc trọng âm từ tiếng Anh đã được hệ thống ngắn gọn, để giúp học viên dễ nhớ hơn
Trang 32CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT CÁCH PHÁT ÂM NGỮ ĐIỆU TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN NGƯỜI VIỆT
Nội dung của chương 3 là khảo sát cách phát âm ngữ điệu tiếng Anh của sinh viên người Việt qua ngữ âm thực nghiệm trong sự đối chiếu với kết quả khảo sát cách phát âm ngữ điệu tiếng Việt Luận án cũng đã hệ thống các kiểu lỗi phát âm ngữ điệu tiếng Anh của sinh viên người Việt, từ đó đề xuất hướng giải quyết; trong đó, các nguyên tắc ngữ điệu tiếng Anh đã được hệ thống trên cơ sở cú pháp một cách cụ thể, để giúp học viên dễ nhớ và ứng dụng
Trang 331.1.2 Thanh điệu
1.1.2.1 Định nghĩa
“Thanh điệu là sự thay đổi cao độ của giọng nói, tức tần số âm cơ bản trong một
âm tiết có tác dụng khu biệt từ có các nghĩa khác nhau” [ 20, tr 184-187] Một số ngôn
ngữ có thanh điệu như tiếng Việt, tiếng Thái Lan, tiếng phổ thông Trung Quốc (châu Á); tiếng Hottentot, tiếng Zulu, tiếng Hausa (châu Phi); tiếng Cherokee (Bắc Mỹ); tiếng Pirahã (Nam Mỹ); tiếng Thụy Điển, tiếng Nauy (châu Âu)
Có hai loại hình thanh điệu:
1 Thanh điệu âm vực là “loại đơn giản trong đó các thanh chỉ phân biệt nhau
về các mức trên thang bậc cao độ, có thể được miêu tả đơn giản như những điểm”, như tiếng Shona, tiếng Zulu, tiếng Luganda ở châu Phi, chỉ có 2 thanh: cao và thấp Cũng theo Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật và Nguyễn Minh Thuyết, “đương nhiên cao độ được thể hiện suốt trong thời gian phát âm vì vậy không thể là một điểm được” nên “đó chỉ là cách nói để diễn đạt rằng thanh ở đây không có sự biến đổi cao độ từ đầu đến cuối quá trình phát âm, sự phân biệt giữa chúng chỉ đơn thuần là mức cao thấp khác
nhau” [ 20, tr 184-187]
Trang 342 Thanh điệu hình tuyến (đường cong lên và xuống) trong đó “các thanh phân biệt nhau bằng sự di chuyển cao độ từ thấp lên cao hoặc từ cao xuống thấp”
[ 20, tr 184-187], như thanh điệu trong tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Thái
1.1.2.2 Các thanh điệu cơ bản
Bảng 1.1: Các thanh điệu tiếng Việt
Bản chất của quá trình này là vấn đề đường nét các thanh điệu có liên quan đến cách kết thúc âm tiết Bản chất của quá trình này cũng là sự xuất hiện âm vực của từ và sau đó là độ cao của thanh điệu nhằm bù đắp cho thế đối lập âm vị học hữu thanh/ vô thanh của các phụ âm đầu tắc đã bị mất do các phụ âm tắc hữu thanh biến đổi thành các
phụ âm tắc vô thanh tương ứng
Rõ ràng nhất là sự phân bố của thanh điệu trong âm tiết phụ thuộc vào lọai hình kết thúc âm tiết (tức âm cuối), cụ thể như trong sơ đồ sau:
Trang 35Bảng 1.2: Sự phân bố của thanh điệu tiếng Việt
Thanh điệu Ngang Huyền Ngã Hỏi Sắc Nặng
Ngoài ra, thanh điệu còn thể hiện khá rõ sự khác biệt giữa các chất giọng ‘nặng’,
‘nhẹ’ của các phương ngữ thuộc tiếng Việt Kết quả thực nghiệm của các công trình đã công bố cũng đã khẳng định chất giọng ‘nặng’ và ‘nhẹ’ của sinh viên miền Trung là sự khác nhau về cao độ Do đó, các công trình nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt như của
Honda K – Tone in Lam River speech of North-Central Vietnamese – an
acoustically-based multi-speaker description analysis [ 86], [ 87], về khảo sát thanh điệu CTV Nghệ
An, và Vietnamese Tone [ 98] của Phạm A H., hầu như cơ bản khảo sát thanh cơ bản
F0, là tiêu chí đánh giá cao độ của giọng nói con người Như vậy người có chất giọng
‘nặng’ miền Trung vẫn thường thay đổi cao độ nên sẽ có thể thay đổi cao độ cho phù hợp với từng loại câu theo mục đích phát ngôn để đáp ứng được nguyên tắc ngữ điệu
Thêm nữa, điều này cũng đã thể hiện rõ trong nhận định của Nguyễn Tài Cẩn trong quyển Lịch sử ngữ âm tiếng Việt, thanh điệu tiếng Việt có thể phân biệt theo hai tiêu chí [ 7, tr 225]
- Theo âm vực có thanh cao (ngang, hỏi, sắc), thanh thấp (huyền, hỏi, nặng)
- Theo âm điệu (theo đường nét) có
+ Thanh bằng với đường nét bằng phẳng (ngang, huyền) Chúng tôi xin vẽ đối
chiếu MKS của CTV phương ngữ Bắc và Trung để minh họa bằng các hình ảnh đường nét F0 trong hình 1.1 và hình 1.2
Trang 36ĐỐI CHIẾU THANH NGANG 'MA' GIỮA CTV PHƯƠNG NGỮ BẮC VÀ TRUNG_GIỚI TÍNH: NAM
Hình 1.1: Hình ảnh F0 thanh ngang ‘ma’ – CTV phương ngữ Bắc và Trung
ĐỐI CHIẾU THANHH HUYỀN 'MÀ' GIỮA CTV PHƯƠNG NGỮ BẮC VÀ TRUN_GIỚI TÍNH: NAM
Hình 1.2: Hình ảnh F0 thanh huyền ‘mà’ – CTV phương ngữ Bắc và Trung
+ Thanh trắc có đường nét không bằng phẳng, với hai kiểu gồm:
Không gãy (sắc, nặng)
Trang 37ĐỐI CHIẾU THANH SẮC 'MÁ' GIỮA CTV PHƯƠNG NGỮ BẮC VÀ TRUNG_GIỚI TÍNH: NAM
Hình 1.3: Hình ảnh F0 thanh sắc ‘má’ – CTV phương ngữ Bắc và Trung
ĐỐI CHIẾU THANH NẶNG 'MẠ' GIỮA CTV BẮC VÀ TRUNG_GIỚI TÍNH: NAM
Trang 38Hình 1.5: Hình ảnh F0 thanh ngã ‘mã’ – CTV phương ngữ Bắc và Trung
ĐỐI CHIẾU THANH HỎI 'MẢ' GIỮA CTV BẮC VÀ TRUNG_GIỚI TÍNH: NAM
Trang 39Như vậy, âm vực có hai loại và đường nét có ba kiểu, nhân lên thành sáu thanh Tuy nhiên, các phương ngữ khác nhau cũng có những nét khác biệt Phương ngữ miền Bắc có sự phân biệt rõ giữa sáu thanh Còn lại, các phương ngữ khác thì thường có từng cặp thanh điệu khó phân biệt tách bạch được, như phương ngữ miền Trung không
có sự tách bạch giữ hai thanh hỏi và ngã (Huế) hay ngã và nặng (Nghệ An), đường nét thanh cơ bản F0 trong hình 1.4, 1.5, 1.6, của CTV miền Trung (Huế) Tuy nhiên, MKS có đường nét F0 có độ gãy khá giống nhau ở ba thanh nặng, hỏi, ngã dù cho có các đỉnh cao nhất ở các vị trí khác nhau Điều này cho thấy dù quê quán CTV ở Huế nhưng có lẽ cũng có nguồn gốc từ Nghệ An, hay các địa phương lân cận
Hình ảnh thực nghiệm đối chiếu minh họa hai giọng Bắc và Trung cùng phát âm
6 thanh điệu tiếng Việt trong ngữ cảnh đồng nhất để chứng minh đường nét cao độ của giọng Trung không hoàn toàn giống giọng Bắc Giọng Trung có khuynh hướng đi xuống ở một số vị trí, thường là cuối âm tiết như ở thanh huyền, và đỉnh âm tiết của thanh sắc cũng xuống thấp hơn giọng các phương ngữ khác như Bắc, Nam Thêm nữa, các đường nét thanh cơ bản F0 của giọng Trung lại thường tăng vọt lên khá cao ở vị trí đầu thanh ngã và gần cuối của thanh hỏi
Vì vậy chúng tôi không thể so sánh cao độ của hai giọng vì con người dù Bắc, Trung, Nam đều có thể phát âm ở cao độ khác nhau, cơ bản tùy vào giới tính, mà không phụ thuộc vào chất giọng ‘nặng’ hay ‘nhẹ’ Thay vào đó, trong phần khảo sát ở chương 2 và 3, chúng tôi chủ yếu đối chiếu hiệu số cao độ giữa các đỉnh âm tiết cần thiết để xác định CTV có thể hiện đúng mô hình thanh điệu và ngữ điệu hay không
1.1.2.3 Chức năng của thanh điệu trong tiếng Việt
Ngoài chức năng khu biệt nghĩa, trong các phương tiện biểu đạt mà ngôn ngữ văn học vận dụng, khai thác thì thanh điệu là một trong những phương tiện ngữ âm độc đáo
Trang 40Trong sáng tác văn chương, thanh điệu làm nên tính nhạc, nhất là đối với thơ Tính nhạc và âm hưởng tạo ra từ việc phối thanh mang lại hiệu quả về nhận thức và cảm xúc lớn
Thành phần cấu tạo của âm luật thi ca nói chung và ca dao nói riêng là sự thể hiện của hình thức cấu trúc ngôn ngữ với sự hài hòa giữa các thành tố âm tiết tiếng Việt, trong đó trường độ âm tiết quyết định độ dài của nhịp và độ dài của dòng thơ, thanh điệu lại tạo dựng thế đối lập về âm vực và cả âm điệu của dòng thơ
1.1.3 Trọng âm
1.1.3.1 Định nghĩa
Trọng âm được hiểu khái quát là việc tăng cường sự khác biệt bằng những cách khác nhau về lượng, về lực hay nhạc tính, nhằm nêu bật một (hoặc một số) đơn vị nào
đó so với những đơn vị khác trong chuỗi lời nói: Trọng âm câu nêu bật một từ trong
câu, còn trọng âm từ nêu bật một âm tiết trong từ [ 20, tr 187] Điều đó đặc biệt thấy rõ
trong trường hợp tăng cường sự khác biệt đối với một âm tiết so với những âm tiết còn lại trong từ ở các ngôn ngữ đa tiết như tiếng Anh
1.1.3.2 Các loại trọng âm cơ bản
a - Tiêu chí nhấn mạnh một yếu tố nào đó trong ngữ lưu
a1 Trọng âm lực
Loại trọng âm mà “sự nêu bật âm tiết mang trọng âm được tiến hành bằng cách chủ yếu là nêu bật cường độ của âm tiết, còn gọi là trọng âm cường độ, được thể hiện
bằng sức mạnh của luồng hơi thở” [ 20, tr 361] Âm tiết có trọng âm được phát ra mạnh
hơn các âm tiết khác Như vậy, độ lớn của âm thanh cơ bản được xác định bởi cường
độ, dùng để đo lực thính âm Cường độ đôi khi được xem như sự biểu thị của trọng âm, như trong tiếng Anh, bên cạnh cao độ và trường độ Cường độ phụ thuộc vào biên độ của sóng âm thanh và sự biến đổi của áp lực không khí Cường độ được đo bằng decibels (dB) Cường độ của một mẩu âm thanh được đo bằng cách đo đạc biên độ của