khẳng định và minh chứng cái ẩn sâu bên trong mọi động thái chính trị của các nhà lãnh đạo cũng như sự tham gia của quần chúng nhân dân vào đời sống chính trị theo các cách khác nhau, th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC -
TRẦN THỊ MÂY
PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC ẤN ĐỘ
CUỐI THẾ KỶ XIX – ĐẦU XX
TỪ KHÍA CẠNH VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC -
TRẦN THỊ MÂY
PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC ẤN ĐỘ
CUỐI THẾ KỶ XIX – ĐẦU XX
TỪ KHÍA CẠNH VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC
Mã số: 60 31 50
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS HOÀNG VĂN VIỆT
Trang 3LỜI CẢM ƠN!
Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của các thầy cô giáo, bạn bè, và gia đình trong suốt khoá học cũng như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn
Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Văn Việt, người Thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và viết đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Hội đồng đã cho tôi những lời nhận xét cũng như những ý kiến đóng góp quý báu, giúp tôi hoàn thiện bản luận văn này
Tôi xin cảm ơn quý Thầy, Cô giáo các chuyên ngành về những bài giảng thú vị
và hữu ích; cảm ơn quý Thầy, Cô giáo trong khoa Đông Phương và phòng Sau đại học
đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và viết đề tài
Tôi xin đặc biệt cảm ơn gia đình đã có sự trợ giúp to lớn về mọi mặt, xin cảm
ơn bạn bè về sự cổ vũ tinh thần lớn lao
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
TRẦN THỊ MÂY
Trang 4Ý KIÊN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 5Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8
5 Đóng góp của luận văn 9
6 Bố cục 9
Chương 1 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN TIẾP CẬN VẤN ĐỀ 11
I Khái niệm Văn hóa chính trị 11
1 Văn hóa 11
2 Chính trị 13
3 Văn hóa chính trị 15
4 Đặc trưng và chức năng của Văn hóa chính trị 22
II Văn hóa chính trị Ấn Độ 24
1 Nội dung Văn hóa chính trị Ấn Độ 24
1.1 Văn hóa chính trị truyền thống Ấn Độ 24
1.2 Văn hóa chính trị hiện đại Ấn Độ 30
2 Cơ sở hình thành Văn hóa chính trị Ấn Độ 33
2.1 Cơ sở hình thành Văn hóa chính trị truyền thống Ấn Độ 33
2.2 Cơ sở hình thành Văn hóa chính trị hiện đại Ấn Độ 42
Chương 2 – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở ẤN ĐỘ CUỐI THẾ KỶ XIX – ĐẦU XX 46
Trang 7I Tiền đề lịch sử hình thành và phát triển phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn
Độ 46
1 Bối cảnh quốc tế 46
2 Bối cảnh trong nước 50
2.1 Sự thay đổi trong chính sách cai trị của thực dân Anh 50
2.2 Những hệ quả của công cuộc bóc lột thuộc địa của thực dân Anh ở Ấn Độ 52
II Các bước phát triển của phong trào và kết quả, ý nghĩa của nó 56
1 Các bước phát triển của phong trào 56
1.1 Phong trào dân tộc theo hệ tư tưởng phong kiến cuối thế kỷ XIX 56
1.2 Phong trào dân tộc theo xu hướng tư sản và phong trào tư sản Ấn Độ cuối thế kỷ XIX 59
1.3 Cao trào dân tộc chủ nghĩa đầu thế kỷ XX 62
1.4 Bước đầu của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo đường lối bất bạo động của M.K.Gandhi 66
2 Kết quả và ý nghĩa của phong trào 71
Chương 3 – VĂN HÓA CHÍNH TRỊ TRONG PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở ẤN ĐỘ CUỐI THẾ KỶ XIX – ĐẦU XX 75
I Chủ nghĩa dân tộc – ngọn cờ tiên phong của phong trào 75
1 Ý thức giữ gìn và bảo vệ văn hóa dân tộc 76
2 Ý thức bảo vệ và phát triển các giá trị tôn giáo 80
3 Chủ trương lôi kéo, tập hợp mọi lực lượng quần chúng tham gia phong trào 86
II Các lực lượng tham gia phong trào 89
1 Lãnh đạo phong trào - tầng lớp trí thức tiểu tư sản 89
2 Nông dân - lực lượng chủ chốt của phong trào 93
III Phong trào đấu tranh từ chủ trương bạo động đến bất bạo động 95
1 Tư tưởng đấu tranh bạo động 95
Trang 82 Tư tưởng đấu tranh bất bạo động 100
IV Sự chi phối của chế độ đẳng cấp trong các phong trào đấu tranh 106
V Sự tiếp thu nhanh chóng và vận dụng tư tưởng dân chủ tự do trong phong trào đấu tranh 111
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ LỤC 129
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đến giữa thế kỷ XIX, hầu hết các quốc gia châu Á, châu Phi, trước sức tấn công ồ ạt và mạnh mẽ của thực dân phương Tây, đã lần lượt trở thành các nước thuộc địa hoặc bán thuộc địa Quá trình xâm lăng và công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân phương Tây đã gây ra những hậu quả báo động đối với nền kinh tế cũng như làm tổn thương nghiêm trọng các giá trị văn hóa lâu đời của các xã hội phương Đông, đưa tới sự bùng nổ của phong trào đấu tranh đòi tự do độc lập dân tộc Thông qua những con đường khác nhau, ở những mức độ khác nhau, từ nửa sau thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh chống chính quyền thực dân ngày càng dâng cao ở các nước thuộc địa
Năm 1857, thực dân Anh hoàn thành việc xâm chiếm Ấn Độ, biến nước này trở thành thuộc địa rộng nhất và giàu có nhất trong các thuộc địa của Anh Bằng một chế độ thuế khóa nặng nề cùng với sự du nhập kỹ nghệ tân thời, người Anh đã vắt kiệt sức người nông dân, phá vỡ thủ công nghiệp địa phương gây lên những hậu quả nghiêm trọng về mọi phương diện của đời sống xã hội truyền thống
Ấn Độ Cũng như ở các nước thuộc địa khác, bắt đầu từ các cuộc đấu tranh mang tính tự phát, thiếu tổ chức, phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ ngày càng dâng cao dưới nhiều hình thức khác nhau khiến chính quyền thực dân Anh phải lao đao
Trong hơn nửa thế kỷ, kể từ khi phong trào khởi phát bằng cuộc binh biến Cipayes (1857) cho tới kết thúc phong trào bất hợp tác lần 1 (năm 1922) do Gandhi lãnh đạo, phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ đã từng bước đạt được những thành tựu đáng kể, tạo tiền đề to lớn cho công cuộc đấu tranh giành lại độc lập vào giai đoạn kế tiếp Những thành công và thất bại, những đặc trưng nổi bật của phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ trong giai đoạn này có một sự liên hệ mật thiết với cốt cách của người Ấn Độ, với nền văn hóa Ấn Độ
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ là một vấn đề
không mới, song việc soi rọi phong trào này dưới góc nhìn văn hóa chính trị lại là
một đề tài mới Đề tài “Phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ cuối thế kỷ XIX – đầu XX – từ khía cạnh văn hóa chính trị” được chọn về mặt khoa học sẽ góp phần
Trang 10khẳng định và minh chứng cái ẩn sâu bên trong mọi động thái chính trị của các nhà lãnh đạo cũng như sự tham gia của quần chúng nhân dân vào đời sống chính trị theo các cách khác nhau, theo những mức độ khác nhau và đạt những kết quả khác nhau có một sự liên hệ hết sức mật thiết tới văn hóa nếu không nói là một kết
quả tất yếu được quy định bởi các nét văn hóa truyền thống Ấn Độ
Ý nghĩa thực tiễn: Việc tiếp cận phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ theo
hướng mới giúp tác giả hiểu sâu hơn Ấn Độ - một đất nước giàu truyền thống văn hóa, dồi dào về mặt tài nguyên, lớn về diện tích, đông về dân số, có ảnh hưởng sâu rộng tới các nước phương Đông nói chung, thế giới nói riêng trong lịch sử, và ngày càng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế trong giai đoạn hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ
Ấn Độ là một xứ sở đặc biệt, một đất nước rộng lớn, giàu đẹp về tài nguyên
và truyền thống văn hóa Với một quá trình hình thành và phát triển liên tục quá mấy ngàn năm lịch sử và có sức ảnh hưởng sâu rộng đối với thế giới nói chung và với các nước phương Đông nói riêng, văn hóa Ấn Độ từ lâu đã có một sức hút khó cưỡng lại đối với các học giả, các nhà khoa học Theo thời gian, các công trình viết về Ấn Độ ngày càng nhiều, càng toàn diện và sâu sắc Trong tình hình chung
đó, phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn Độ cuối thế kỷ XIX – đầu XX cũng được nghiên cứu và ghi lại tương đối toàn diện trong các công trình nghiên cứu của các học giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam
Nước ngoài: Các công trình nghiên cứu của Ấn Độ: History of Freedom
Movement in India (1857 – 1947) của tác giả S.N.Sen là một công trình nghiên
cứu về lịch sử phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ tiêu biểu Trong công trình tác giả trình bày chi tiết về diễn biến của phong trào, quá trình hình thành, phát triển
của phong trào cũng như tiểu sử của các lãnh tụ Cuốn The History of India: From the earliest time to the end of colonialism của Michael Edwardes dành một chương
trình bày khá toàn diện về phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ giai đoạn cuối thế
kỷ XIX – đầu XX Cả hai công trình trên đều đề cập tới phong trào giải phóng dân tộc chủ yếu dưới góc độ lịch sử, kinh tế Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khác về lịch
Trang 11sử Ấn Độ cũng ít nhiều đề cập tới giai đoạn lịch sử này, tiêu biểu có thể kể tới
Abrief history of India của Walsh, Sudith E; A Concise History of India của Barbara D Metcalt và Thomas R Metcalt
Trong nước: Các tài liệu lịch sử, văn hóa Ấn Độ rất phong phú, các công
trình viết về lịch sử giải phóng dân tộc Ấn Độ khá nhiều và kỹ lưỡng Tiêu biểu có
thể kể tới Lịch sử Ấn Độ của Vũ Dương Ninh; Bán đảo Ấn Độ từ 1857 đến 1947, các nét chính của sự diễn biến đã tạo thành Ấn Độ và Hồi quốc ngày nay của tác giả Nguyễn Thế Anh, Ấn Độ hôm nay và ngày mai của tác giả R Pan – mơ Đớt; hay Lịch sử thế giới: thời hiện đại 1900 – 1945 của Từ Thiên Ân do Phong Đảo dịch; Con đường cứu nước trong đấu tranh giải phóng dân tộc ở một số nước Châu Á – cuối thế kỷ XIX đến 1945 của tác giả Đỗ Thanh Bình Ngoài ra còn nhiều
công trình nghiên cứu khác về lịch sử, văn hóa, kinh tế… ít nhiều có đề cập tới
phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ
Văn hóa chính trị Ấn Độ
Nước ngoài: Politics in India, tác giả Rajni Khothri có dành một chương để
bàn về văn hóa chính trị (Political culture) và sự xã hội hóa (socialization) ở Ấn
Độ Tại đây tác giả nêu lên một số nội dung của văn hóa chính trị Ấn Độ như một
sự gợi ý và tham khảo, nhằm lý giải một số vấn đề trong lịch sử chính trị của Ấn
Độ, đặc biệt là khơi gợi một cách tiếp cận mới cho nghiên cứu chính trị Ấn Độ trong giai đoạn chuyển tiếp từ mô hình quản lý truyền thống của Ấn Độ sang mô hình quản lý một đất nước thống nhất lấy tư tưởng dân chủ tư sản làm nền tảng Tác giả lý giải một số vấn đề liên quan tới sự hiện đại hóa chính trị ở Ấn Độ, nhìn nhận những thành công và hạn chế của cuộc hiện đại hóa chính trị ở Ấn Độ dưới góc nhìn văn hóa chính trị; giải thích những thành công và hạn chế này từ những
nét văn hóa truyền thống và sự định hướng của văn hóa truyền thống
The Political Culture of Indian State, tác giả Ashis Nandy đi vào nhận định
lại nền chính trị của Ấn Độ sau 40 năm tồn tại Bài viết đề cập tới những sự biến đổi của hoạt động quyền lực ở Ấn Độ ngày càng xa rời với lý thuyết dân chủ mà người Ấn đã lựa chọn làm nền tảng cho chính trị Ấn Độ kể từ khi giành được độc lập Ashis Nandy cho rằng, văn hóa chính trị truyền thống Ấn Độ với thái độ sùng bái cá nhân và sự nổi lên của các thế lực chính trị khiến người Ấn Độ không thể
Trang 12duy trì một nền chính trị dân chủ như trước Một quốc gia dân tộc Ấn Độ thống nhất vào thời thuộc địa và sau thuộc địa có nguy cơ bị thay thế bởi sự lớn mạnh của những khác biệt mang tính chất văn hóa như thời kỳ trước đó Vấn đề dân chủ
ở Ấn Độ được đặt ra trong sự liên hệ mật thiết với nền dân chủ thế giới nói chung,
và những kinh nghiệm chính trị ở Ấn Độ có thể coi là một vấn đề chung của nền dân chủ thế giới
Trong nước: Chưa thấy các công trình nghiên cứu, các sách viết chuyên
biệt về văn hóa chính trị Ấn Độ Hiện nay, mới chỉ có bài viết của tác giả Hoàng
Văn Việt về Văn hóa chính trị truyền thống Ấn Độ in trong cuốn Các quan hệ chính trị ở phương Đông Ở đó, tác giả giới thiệu và minh chứng một số nội dung
chính của Văn hóa chính trị truyền thống Ấn Độ, đồng thời đi vào phân tích các nhân tố làm hình thành nên những nét văn hóa đó
Bên cạnh đó, có nhiều công trình về văn hóa, tư tưởng Ấn Độ nói chung và
về lịch sử Ấn Độ nói riêng, theo chúng tôi, cũng đã ít nhiều đề cập gián tiếp tới
vấn đề văn hóa chính trị Ấn Độ như: Văn hóa Ấn Độ của Nguyễn Tấn Đắc Trong
công trình này, tác giả đã trình bày những nghiên cứu hết sức công phu về cơ sở hình thành văn hóa Ấn Độ, trong đó có gián tiếp đề cập tới cơ sở hình thành văn hóa chính trị, từ điều kiện tự nhiên, quá trình tộc người và cơ cấu đẳng cấp, và tôn giáo triết học
Ngoài ra, Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX, một cách tiếp cận của Đỗ Thanh Bình có dành một phần lý giải con đường đấu tranh giải phóng dân tộc Ấn Độ “được quy định bởi những truyền thống văn hóa, lịch sử của dân tộc Ấn Độ”, ở đó tôn giáo là cơ sở chính của tư tưởng “bất bạo lực”; bài viết Thử tìm hiểu đường lối đấu tranh đòi độc lập dân tộc của M Gandhi trong giai đoạn 1915 –
1920 của hai tác giả Phan Văn Ban và Văn Thành in trong Tạp chí Nghiên cứu lịch
sử số 1/1995; bài viết Tinh thần khoan dung và sự hòa giải trong tư duy người Ấn
Độ của Hajine Nakamura in trên Văn hóa dân gian, số 1(2006) và Vài suy nghĩ về
tư duy đối ngoại của Ấn Độ của tác giả Tôn Sinh Thành in trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 51; Nền ngoại giao Ấn Độ qua các thời đại của Dinkar Shukla, tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 35; Tìm hiểu tư tưởng hòa bình trong chính sách đối ngoại của nước cộng hòa Ấn Độ của Nguyễn Cảnh Huệ trên Tạp chí Nghiên
Trang 13cứu lịch sử, số 3/1998… đều có ít nhiều đề cập tới văn hóa chính trị Ấn Độ với đặc điểm nổi bật là sự chi phối của truyền thống tôn giáo tâm linh
Do tình hình nghiên cứu còn bỏ ngỏ như trên, tác giả mong muốn luận văn hoàn thành sẽ cung cấp một cái nhìn mới về phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ, cũng như một cái nhìn tương đối toàn diện về văn hóa chính trị Ấn Độ để gợi mở một hướng nghiên cứu mới đối với lịch sử, văn hóa của bán đảo này
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đi từ việc làm rõ nội hàm các khái niệm
về văn hóa, chính trị, văn hóa chính trị thông qua tham khảo, phân tích các quan điểm của các học giả ở cả phương Đông và phương Tây Luận văn phân tích các cuộc đấu tranh của nhân dân Ấn Độ trong suốt thời gian nửa sau thế kỷ XIX và hơn hai mươi năm đầu thế kỷ XX, các giá trị văn hóa truyền thống của Ấn Độ cũng như những tư tưởng và thực tiễn chính trị phương Tây đương thời để làm rõ vấn đề
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu phong trào giải phóng dân tộc
trong không gian rộng lớn của tiểu lục địa Ấn Độ (bao gồm các nước Ấn Độ, Pakistan và Nepal ngày nay) vào khoảng thời gian từ 1857 tới 1922
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Tác giả luận văn trước hết vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử trong tiếp cận vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp khoa học: Nghiên cứu phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ
từ khía cạnh văn hóa chính trị, tác giả sử dụng phương pháp của nhiều ngành khoa học khác nhau bao gồm phương pháp nghiên cứu văn hóa học, phương pháp
nghiên cứu lịch sử, phương pháp nghiên cứu khu vực học, chính trị học Cụ thể:
Phương pháp chính trị học: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp của chính trị học để làm rõ những hoạt động chính trị thể hiện qua thái độ, nhận thức chính trị, quá trình tham gia chính trị, cách thức sử dụng quyền lực chính trị của các lãnh đạo phong trào cũng như các tầng lớp nhân dân Ấn Độ mang đậm dấu ấn nền tảng văn hóa tư tưởng Ấn Độ và các giá trị dân chủ phương Tây
Trang 14Phương pháp lịch sử - logic được vận dụng để nghiên cứu các cuộc đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ theo trật tự thời gian, trong bối cảnh lịch sử cụ thể, trong diễn biến, kết quả và ý nghĩa của nó
Phương pháp nghiên cứu văn hóa học, trong đó thao tác phân tích được thực hiện thông qua việc tổng hợp nhiều phương pháp trong việc nhận định đánh giá văn hóa và các bình diện của văn hóa tộc người và cộng đồng xã hội nhằm đúc kết các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống Ấn Độ, chứng minh sự ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa tới xu hướng và hành vi chính trị của người Ấn Độ trong phong trào giải phóng dân tộc
Phương pháp so sánh được vận dụng để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ với các nước phương Đông khác để rút ra những những nét riêng của phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ từ khía cạnh văn hóa chính trị
Ngoài ra trong suốt quá trình hoàn thành luận văn, tác giả thường xuyên vận dụng những phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
- Nguồn tư liệu: Hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng nguồn tư liệu về lịch
sử, văn hóa, chính trị - những sách, tạp chí chuyên đề, các công trình nghiên cứu
đi trước có liên quan, nguồn internet, các tài liệu bằng tiếng Việt là chủ yếu và có
sự tham khảo một số tài liệu tiếng Anh
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của Văn hóa chính trị truyền thống cũng như hiện đại của Ấn Độ; nhìn nhận sự vận động chính trị ở
Ấn Độ cuối thế kỷ XIX – đầu XX từ khía cạnh văn hóa chính trị; góp phần làm sáng tỏ hơn sự tác động của những yếu tố bên ngoài cũng như những yếu tố bên trong thúc đẩy sự hình thành, phát triển
6 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba chương:
Trang 15Chương 1 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn tiếp cận vấn đề Chương này đi vào
tìm hiểu các khái niệm có liên quan như văn hóa, chính trị, văn hóa chính trị và những nét văn hóa chính trị truyền thống cũng như hiện đại của Ấn Độ
Chương 2 Quá trình hình thành và phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn Độ cuối thế kỷ XIX – đầu XX Tác giả đi vào trình bày tổng quan về
bán đảo Ấn Độ trong bối cảnh bị thực dân Anh xâm lược; đồng thời trình bày các bước phát triển cũng như kết quả và ý nghĩa của phong trào giải phóng dân tộc Ấn
Độ cuối thế kỷ XIX – đầu XX để có cái nhìn toàn diện về phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ giai đoạn này
Chương 3 Văn hóa chính trị trong phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn Độ cuối thế kỷ XIX – đầu XX Ở chương này, tác giả đi vào phân tích phong trào giải
phóng dân tộc Ấn Độ, giải thích các động thái chính trị của các cá nhân lãnh tụ phong trào cũng như giải thích xu hướng hoạt động chính trị của quần chúng trong
sự liên hệ mật thiết với các yếu tố văn hóa truyền thống và hiện đại Ấn Độ
Trang 16Chương 1 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN TIẾP CẬN VẤN ĐỀ
I Khái niệm Văn hóa chính trị
đầu, văn hóa là cái gắn liền với cách ứng xử có giáo dục của con người; văn hóa là hướng tới cái đẹp, cách cư xử đẹp
Ngày nay, thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện nhiều, phổ biến ở hai nghĩa: Thứ
nhất, văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp là một trong bốn lĩnh vực đời sống xã hội bao
gồm: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; văn hóa theo nghĩa này được hiểu là toàn
bộ lĩnh vực đời sống tinh thần của con người bao gồm tư tưởng, khoa học, nghệ
thuật, tôn giáo, tín ngưỡng Thứ hai, văn hóa hiểu theo nghĩa rộng “bao gồm tất
cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến những tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động…” [Trần Ngọc Thêm (1999), tr 10]
Xung quanh việc giải thích thuật ngữ văn hóa theo nghĩa rộng, có rất nhiều quan điểm khác nhau: Nhà nghiên cứu nhân học người Anh, Edward B.Taylor,
định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa hay văn minh, hiểu theo nghĩa dân tộc học bao quát của nó, là một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ năng lực và tập quán nào được lĩnh hội bởi con người với tư cách là thành viên của xã hội” [dẫn theo Trung tâm Khoa
học xã hội và nhân văn quốc gia (2001), tr 8] Trong định nghĩa, Edward B.Taylor
đã liệt kê những lĩnh vực căn bản của đời sống tinh thần con người Cũng với tinh thần đó, nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Đàm Gia Kiện của Trung Quốc quan
Trang 17niệm: “Ngoại diên của văn hóa có rộng, có hẹp…, song trong đó các mặt chủ yếu không ngoài chế độ điển chương (văn trị), tập tục xã hội, văn học, nghệ thuật, triết học, tôn giáo, khoa học kỹ thuật” [Dẫn theo Phạm Xuân Nam (2008), tr 18]
Nhưng văn hóa là cái gì còn hơn thế nữa, không bó hẹp trong một số biểu hiện cụ thể của đời sống tinh thần con người
Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác thì văn hóa hình thành gắn liền với quá trình lao động của con người Con người bắt đầu tách khỏi thế giới động vật khi biết chế tạo những công cụ lao động đầu tiên Quá trình lao động đã sản sinh ra con người và đồng thời là cội nguồn của văn hóa Theo quan điểm trên, Giáo sư Nguyễn Văn Huyên cũng đã định nghĩa về văn hóa như sau:
“Văn hóa là phạm trù Người; nó chỉ toàn bộ đời sống của con người trong quan
hệ giữa chính mình và với thế giới bên ngoài, ở đó kết tinh toàn bộ giá trị, phương thức sống, năng lực hoạt động và trình độ phát triển của chính con người” [Trần
Ngọc Linh (2006), tr 222] Các giá trị GS đề cập tới trong định nghĩa bao gồm toàn bộ giá trị vật chất và giá trị tinh thần được hình thành trong quá trình con người lao động
“Văn hóa” là cái gắn chặt với con người, là thứ con người sáng tạo ra bao gồm lĩnh vực vật chất và tinh thần Chỉ với hai đặc điểm trên đã khiến văn hóa trở thành một khái niệm có ngoại diên rộng lớn và nội hàm hết sức phức tạp Văn hóa trở thành một trong những khái niệm gây tranh cãi nhất Trong rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này, chúng tôi đồng tình nhất với định nghĩa của GS
Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [Trần Ngọc Thêm (1999),
tr 10] Định nghĩa đã khái quát được những đặc trưng chủ yếu của văn hóa bao gồm bản tính người của văn hóa, và sản phẩm văn hóa là các giá trị vật chất và tinh thần thống nhất hữu cơ với nhau
Qua phân tích các quan điểm như trên, có thể hiểu “văn hóa” là tất cả những gì do con người sáng tạo ra bao gồm cả các sản phẩm vật chất và các sản phẩm tinh thần Văn hóa mang “bản chất người”, bản chất xã hội Các sản phẩm
Trang 18văn hóa không chỉ là biểu hiện của năng lực con người trước thiên nhiên mà còn
thể hiện toàn bộ “hoạt động sống xã hội, nó bao chứa toàn bộ tính chất của xã hội
từ giá trị đến năng lực của xã hội và trình độ phát triển của con người trong xã hội đó” [Học viện chính trị - hành chính quốc gia Tp Hồ Chí Minh (2009), tr 308-
309] Các sản phẩm văn hóa – sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra thống nhất hữu cơ với nhau, bất cứ sản phẩm vật chất nào cũng chứa đựng trong nó nội dung tinh thần nhất định và các sản phẩm tinh thần đều biểu hiện dưới một hình thức vật chất cụ thể
Do những đòi hỏi cụ thể của đề tài nghiên cứu, để phục vụ cho những luận điểm về văn hóa chính trị Ấn Độ ở chương sau, chúng tôi khu biệt việc nhận định khái niệm văn hóa theo hướng dân tộc học để phục vụ cho quá trình nghiên cứu văn hóa chính trị của một dân tộc cụ thể
Văn hóa của một dân tộc cụ thể xét theo hướng tiếp cận văn hóa như trên có thể hiểu là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do nhân dân sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội trong suốt chiều dài lịch sử, từ khi xuất hiện cộng đồng xã hội đầu tiền trong lịch sử cùng toàn bộ quá trình tồn tại và phát triển của dân tộc mình (dân tộc ở đây
hiểu theo nghĩa quốc gia dân tộc) Văn hóa ấy không chỉ là “kết tinh các giá trị tinh thần mà là tổng hòa toàn bộ sức sống, tinh lực và sức mạnh con người” Nói tới văn hóa của một dân tộc “không có nghĩa chỉ nói tới đời sống tinh thần của dân tộc đó” mà là nói tới “tổng lực vật chất - tinh thần của cả hình thức tổ chức xã hội, của các phương thức hoạt động và phương thức sống của toàn dân tộc, các năng lực hoạt động và trình độ phát triển của cả cộng đồng người” [Học viện
chính trị - hành chính quốc gia Tp Hồ Chí Minh (2009), tr 306]
Trang 19Vào thời cổ đại, ở cả phương Đông và phương Tây, các nhà tư tưởng đều coi chính trị là công việc riêng của tầng lớp bên trên Nhà triết học Hy Lạp cổ đại,
Platon đã quan niệm: Chính trị là “nghệ thuật cung đình”, là “nghệ thuật cai trị bằng ý chí”, “nghệ thuật dẫn dắt xã hội”; còn học trò của ông, Aristotle thì cho rằng: “Chính trị là khoa học cai trị nhà nước, lãnh đạo con người, là khoa học làm chủ, kiến trúc xã hội” [Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
(2009), tr 10] Khổng Tử của Trung Quốc thì coi chính quyền nhà vua mang bản chất thần thánh và xem xét các vấn đề nhà nước, cai trị, quy tắc hành vi con người dựa trên lập trường thần định; trời được coi là thần thánh định trước số phận của con người; vua sinh ra để cai trị thần dân còn nhân dân phải phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh của vua Tuy nhiên, cũng ngay từ thời Khổng Tử, Trung Quốc cũng xác lập một truyền thống chính trị mà ở đó sức mạnh của nhân dân thực chất được ví
như mệnh trời – “ý dân là ý trời” Ở Ấn Độ cổ đại, thuyết Bàlamôn về hệ thống
đẳng cấp Vácna cũng quy định rõ chỉ có hai Vácna đầu là cao nhất và bởi vậy có quyền điều khiển những công việc quốc gia
Các quan điểm về chính trị ngày càng nở rộ dọc theo chiều dài phát triển của lịch sử nhân loại Ở mỗi học thuyết chính trị đều vừa phản ánh bên trong thực
tế phức tạp của đời sống chính trị, vừa đóng góp những nhân tố hợp lý cho quá trình nhận thức đúng đắn hơn về chính trị Tuy nhiên những nhận định và kiến giải đúng đắn, hoàn thiện về nguồn gốc, bản chất cũng như những khía cạnh cơ bản khác của chính trị phải đợi tới khi chủ nghĩa Mác ra đời
Dựa trên thế giới quan duy vật về lịch sử và phương pháp luận biện chứng
về sự phát triển xã hội, C Mác cho rằng chính trị xuất hiện ở một giai đoạn phát
triển cao của xã hội loài người: “Chính trị là một hiện tượng xã hội hình thành từ khi xã hội loài người xuất hiện giai cấp và đối kháng giai cấp – các mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa – lại bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế là sự ra đời
của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất” [dẫn theo Lê Minh Quân (2009), tr 16]
Về mặt bản chất, chính trị chính là việc giải quyết các mối quan hệ giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội trong vấn đề quyền lực và phân bổ lợi ích Việc giải quyết vấn đề quyền lực được coi là vấn đề cơ bản của chính trị Quyền lực theo
Mác là “mối quan hệ xã hội, trong đó người này hay nhóm người này chi phối còn
Trang 20người kia hay nhóm người kia phục tùng” [Lê Minh Quân (2009), tr 22] Và với
tính phức tạp đa chiều của đời sống chính trị trong lịch sử nhân loại, chính trị vừa
có tính giai cấp, vừa có tính dân tộc, vừa có tính thời đại
Lấy nền tảng là những quan điểm chung của Mác và Ăngghen về chính trị cộng với thực tiễn lịch sử, Lênin cho rằng chính trị không phải là công việc của một nhóm người mà là của hàng triệu người tham gia vào công việc nhà nước Theo ông, cái quan trọng nhất trong chính trị là tổ chức chính quyền nhà nước
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu chính trị theo quan điểm Mác – Lê nin là quan hệ trong hoạt động của các quốc gia, dân tộc về vấn đề giành, giữ và
sử dụng quyền lực nhà nước; là hoạt động thực tiễn của các công dân tham gia quản lý và tổ chức xã hội; là hoạt động thực tiễn của các Đảng phái, tổ chức chính trị nhằm đạt đến mục tiêu chính trị của các lực lượng xã hội, giai cấp mà nó đại diện Nói tới chính trị là nói tới vấn đề quyền lực, là sự tham gia của mọi lực lượng xã hội trong vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Chính trị là hoạt động quyền lực chính trị thể hiện trong cả nhận thức, tổ chức và tham gia
chính trị của các lực lượng khác nhau trong xã hội Hay hiểu một cách ngắn gọn như định nghĩa của Giáo sư Nguyễn Văn Huyên “chính trị là lý luận và thực tiễn, khoa học và nghệ thuật giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, thực hiện lợi ích
giai cấp, dân tộc, quốc gia” [dẫn theo Học viện chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh (2009), tr 310]
3 Văn hóa chính trị
Văn hóa chính trị (political culture) là một trong những phạm trù quan
trọng của khoa học chính trị, xuất hiện cùng lúc với sự ra đời độc lập của chính trị học từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Với cách tiếp cận văn hóa và chính trị như trên, trước tiên cần khẳng định rằng văn hóa chính trị là một bộ phận quan trọng cấu thành nên văn hóa nói chung Văn hóa chính trị là mối quan hệ biện chứng giữa hai phạm trù cơ bản của đời sống xã hội có giai cấp đó là văn hóa và chính trị Chính vì văn hóa chính trị là sự giao thoa giữa hai phạm trù hết sức tạp của đời sống con người mà xung quanh khái niệm này đã có rất nhiều quan điểm khác nhau Trước khi đồng thuận với một hướng tiếp cận về văn hóa chính trị làm nền
Trang 21tảng lý thuyết định hướng cho những luận điểm về văn hóa chính trị Ấn Độ trong chương sau, chúng tôi đi vào trình bày riêng các quan điểm về văn hóa chính trị của các nhà khoa học phương Đông và phương Tây, vì quan niệm về văn hóa chính trị ở phương Đông và phương Tây hiện nay còn nhiều điểm chưa được thống nhất
Một số quan niệm về “Văn hóa chính trị” ở phương Tây
Tuy khái niệm Văn hóa chính trị mới xuất hiện gần đây, nhưng nội hàm của khái niệm này được đề cập trong suốt chiều dài lịch sử tư tưởng của nhân loại ở cả phương Đông và phương Tây Ở phương Tây, công việc điều khiển nhà nước đã được các nhà tư tưởng Platon và Aristotle nâng lên thành nghệ thuật khi các ông
đề cập tới một nền chính trị có sự tham gia của triết học hoặc hướng tới cuộc sống phúc lợi Có nghĩa là các ông đề cập tới chiều hướng chủ quan của chủ thể chính
trị và làm thế nào để hướng tới cách cai trị tốt đẹp, cách cai trị có văn hóa trong nghệ thuật điều khiển nhà nước
Nhiều công trình nghiên cứu ghi nhận, trước khi thuật ngữ văn hóa chính trị được sử dụng, ở phương Tây đã có một số công trình nghiên cứu công phu về nội dung này Điển hình có thể kể tới những nhận định về động cơ hình thành nên các
hành vi chính trị, trong đó có các “tục lệ chính trị”, những “thói quen tinh thần”,
“thói quen tình cảm” trong sự phân tích nổi tiếng của Alexis de Tocqueville về dân
chủ ở nước Mỹ; hay những nhận định về thể chế chính trị và kinh tế của nhà xã
hội học người Đức, Max Weber trong tác phẩm Đạo đức tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản [Lâm Quốc Tuấn (2007), tr 20]
Theo Văn Hải trong bài viết Về văn hóa chính trị, tổng thuật từ các tài liệu
nước ngoài, thì thuật ngữ “Văn hóa chính trị” lần đầu tiên xuất hiện trong bài viết
“Các hệ thống chính trị so sánh” của nhà chính trị học người Mỹ G.Almond vào
năm 1956 Từ đó cho tới nay, dù vẫn còn nhiều tranh cãi song các nhà khoa học đã
có nhiều công trình nổi tiếng nghiên cứu về đề tài này và đưa đến những luận điểm quan trọng góp phần xây dựng lên một hệ thống lý thuyết công cụ cơ bản làm nền tảng cho những nghiên cứu cụ thể về các hiện tượng cũng như các quá trình chính trị trong lịch sử và cả hiện tại ở một góc độ mới
Trang 22Trong công trình nghiên cứu Văn hóa chính trị và lịch sử dưới góc nhìn Văn hóa chính trị xuất bản năm 2008, tác giả Phạm Hồng Tung có giới thiệu một
số cách tiếp cận chính trong nghiên cứu Văn hóa chính trị ở phương Tây Tiêu
biểu là hướng tiếp cận định hướng chính trị của hai nhà khoa học Mỹ Gabriel A.Almond và Sidney Verba trình bày trong tác phẩm “Văn hóa công dân – Những thái độ chính trị và nền dân chủ ở năm quốc gia” (The Civic Culture Political Attitudes and Democracy in Five Nations) và lý thuyết về sự Lựa chọn chính trị
của Aaron Wildavsky
Quan điểm của các nhà khoa học A.Almond và Sidney Verba trong “Văn hóa công dân – Những thái độ chính trị và nền dân chủ ở năm quốc gia” đã đặt
những nền móng đầu tiên cho ngành nghiên cứu Văn hóa chính trị trong việc đặt
ra và phân tích một số thuật ngữ cơ bản Các ông định nghĩa về Văn hóa chính trị
như sau: “Văn hóa chính trị của một dân tộc là cách chia sẻ riêng của các thành viên của dân tộc ấy những dạng thức của sự định hướng quan tâm tới các khách thể chính trị” [Lâm Quốc Tuấn (2007), tr 33] Đi kèm với đó, các ông giải thích tường tận những thuật ngữ có liên quan như “các dạng thức của sự định hướng”
và “các khách thể của sự định hướng chính trị” Các dạng thức của sự định hướng
là “định hướng tri nhận”, “định hướng cảm nhận”, “định hướng đánh giá” – tức là
các ông đề cập trực tiếp tới cấu trúc của văn hóa chính trị Từ các khách thể của sự định hướng chính trị, các ông đã đưa ra ba loại hình cơ bản của văn hóa chính trị làm cơ sở để nhận dạng và phân tích bản chất và các đặc trưng của văn hóa chính
trị của các dân tộc Đó là loại hình Văn hóa bộ lạc (Parochial culture), Văn hóa thần thuộc (Subject culture) và Văn hóa tham dự (Participant culture) hay còn gọi
là văn hóa công dân (Civic culture) Các ông cũng lưu ý sự phân loại này là một
sự gợi mở cho quá trình nghiên cứu thực tiễn đời sống chính trị Bên cạnh thuyết
về loại hình Văn hóa chính trị như trên Almond và Verba còn đưa ra những luận
điểm về “Tiểu Văn hóa chính trị (Political subculture) và Văn hóa chính trị chức năng (Political role culture)” gợi mở một hướng tiếp cận trong nghiên cứu Văn
hóa chính trị trong định hướng chính trị của một số giai tầng trong xã hội Những luận điểm về Văn hóa chính trị được trình bày trong The Civic culture đã đặt nền
Trang 23móng học thuật cho toàn bộ môn nghiên cứu về Văn hóa chính trị Cho tới nay, Almond và Verba vẫn được tôn vinh như cha đẻ của bộ môn này
Cách tiếp cận Lựa chọn chính trị (Political preference) của giới khoa học chính trị Mỹ mà đại biểu tiêu biểu là Aaron Wildavsky thì cho rằng “sự hình thành các lựa chọn chính trị phải được coi là một trong những chủ đề chính của khoa học chính trị” Ông nhấn mạnh tới nguyên nhân sâu xa làm cơ sở để mỗi cá nhân
đưa ra lựa chọn của mình liên quan tới vị trí và mối quan hệ của người đó với môi trường chính trị và hệ thống chính trị Những lựa chọn chính trị là mang tính nội
sinh và vì vậy Wildavsky cũng cho rằng Văn hóa chính trị là các chiều cạnh chủ quan của các mối tương tác chính trị Trên cơ sở đó, Wildavsky cũng đề xuất mô hình của bốn loại hình văn hóa chính trị tiêu biểu: Đó là loại hình văn hóa chính trị theo kiểu định mệnh chủ nghĩa; loại hình văn hóa chính trị chủ nghĩa tập thể; kiểu mô hình thể chế; mô hình thứ tư là mô hình mà ở đó thái độ ứng xử chính trị
của con người theo nguyên tắc bình đẳng Tác giả cũng lưu ý các mô hình chuẩn trong nghiên cứu văn hóa chính trị chỉ có ý nghĩa gợi mở ra hướng nghiên cứu mới đối với thực tiễn phức tạp đa dạng của đời sống chính trị
Trên đây là hai cách tiếp cận có ảnh hưởng nhất trong nghiên cứu văn hóa chính trị ở Phương Tây Bên cạnh hai hệ thống lý thuyết quan trọng trên, mỗi nhà khoa học khi nghiên cứu về văn hóa chính trị đều cố gắng đi vào giải thích thuật ngữ này Do đó, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa chính trị Tuy nhiên, theo chúng tôi, định nghĩa văn hóa chính trị trong Chính trị học – Từ điển Bách khoa của Nga là một định nghĩa ngắn ngọn nhưng đầy đủ hơn cả Theo đó,
văn hóa chính trị được định nghĩa như sau: “Văn hóa chính trị là kinh nghiệm lịch
sử, kí ức cộng đồng xã hội và nhóm người trong lĩnh vực chính trị, là phong tục tập quán, thói quen và các xu hướng ảnh hưởng đến hành vi cá nhân, nhóm cá nhân trong hoạt động chính trị.” [dẫn theo Hoàng Văn Việt (2009), tr 9]
Như vậy, Văn hóa chính trị mặc dù là một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ,
nhưng đã được quan tâm nghiên cứu khá kỹ lưỡng trong giới học thuật phương Tây Sự tồn tại nhiều hệ thống lý thuyết cũng như nhiều định nghĩa về thuật ngữ này cho thấy sự khó khăn, phức tạp trong việc đi đến những nhận định chung về
Trang 24văn hóa chính trị Nhìn lại các quan điểm trên ta thấy khái niệm văn hóa chính trị
đã được phân tích kỹ lưỡng và có cơ sở lý thuyết từ bản chất tới cấu trúc và cả chức năng Những thành quả nghiên cứu về văn hóa chính trị của giới học thuật phương Tây vẫn đang được làm phong phú thêm bởi những nghiên cứu ứng dụng
lý thuyết về văn hóa chính trị vào trong thực tiễn chính trị hiện nay
Một số quan niệm về “Văn hóa chính trị” ở phương Đông
Ở phương Đông, “Văn hóa chính trị” cũng đã được quan tâm nghiên cứu với nhiều công trình nghiên cứu công phu Ở Trung Quốc, việc nghiên cứu về Văn
hóa chính trị (hay còn gọi là văn minh chính trị) được coi là một trong những hoạt
động quan trọng phục vụ cho sự nghiệp hiện đại hóa Văn minh chính trị theo các nhà nghiên cứu chính trị ở quốc gia này được xem như vừa là sự tổng hòa các thành quả chính trị do con người cải tạo xã hội mà có, vừa là thước đo trạng thái tiến bộ của xã hội loài người Quyển Chính trị học thuộc Trung Quốc Đại Bách
khoa toàn thư có định nghĩa: “Văn minh chính trị là sự tổng hòa các thành quả chính trị do con người cải tạo xã hội mà có, thông thường nó biểu hiện thành mức
độ thực hiện dân chủ, tự do, bình đẳng, giải phóng của con người trong một hình thái xã hội nhất định” [Dẫn theo Lâm Quốc Tuấn (2007), tr 27] Một học giả của
Trung Quốc là Ngu Sùng Thắng (Đại học Vũ Hán) trong bài Phân biệt khái niệm
văn minh chính trị đã nêu ra: “Văn minh chính trị, xét từ trạng thái tĩnh, nó là toàn
bộ thành quả tiến bộ đạt được trong tiến trình chính trị; xét từ trạng thái động, nó
là quá trình tiến hóa cụ thể trong sự phát triển chính trị của xã hội loài người.”
[Dẫn theo Lâm Quốc Tuấn (2007), tr 26]
Giáo sư nhân học người Nhật, Toh Goda trong một nghiên cứu công phu của mình về văn hóa chính trị tộc người ở một số quốc gia Đông Nam Á cũng đưa
ra định nghĩa về văn hóa chính trị, ông cho rằng: “Văn hóa chính trị là một hệ thống hoàn chỉnh các tổ chức, giá trị, diễn ngôn, hành vi và hệ thống tín ngưỡng
về quyền lực.” [Toh Goda (2001), tr 1]
Ở Việt Nam những nghiên cứu về văn hóa chính trị cũng đã được quan tâm
Trong công trình “Văn hóa chính trị Việt Nam truyền thống và hiện đại” GS Nguyễn Hồng Phong nhận định: “Phạm trù cốt lõi của chính trị là quyền lực
Trang 25Nhưng quyền lực nằm trong tay ai, để phục vụ cho lợi ích nào, phương pháp thực thi quyền lực ra sao; và đặc biệt là vai trò của dân đối với quyền lực chính trị đến một mức độ nào? Những vấn đề ấy là một phức hợp, tạo thành những truyền thống văn hóa chính trị khác nhau trong lịch sử đời sống nhân loại, trong đó có Việt Nam” Những truyền thống văn hóa chính trị khác nhau mà Giáo sư đề cập là:
“truyền thống phương Đông” cụ thể là “phương Đông Khổng giáo”, nơi mà
“quyền lực của giai cấp thống trị không phải là tuyệt đối” Quyền lực tuyệt đối là quyền lực của “dân”; và “truyền thống chính trị phương Tây” – nơi “quyền lực của giai cấp thống trị là tuyệt đối” khi Thế quyền La Mã kết hợp với Thần quyền Cơ
đốc giáo Và ở phương Tây, dân chủ mới thực sự trở thành động lực giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, khỏi nô lệ vào quyền lực của giai cấp thống trị bắt đầu từ thời đại cách mạng tư sản
Bên cạnh đó, các nhận định về văn hóa chính trị của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam được đưa ra theo quan điểm Mác – xít với sự quan tâm đúng mực tới đặc trưng giai cấp Tiêu biểu là Sách Chính trị học đại cương do PGS Đinh Văn
Mậu làm chủ biên, có nhận định văn hóa chính trị “là một bộ phận của văn hóa nói chung gắn với cá nhân chính trị, với nhóm xã hội hay với giai cấp trong lĩnh vực đời sống chính trị.”[Đinh Văn Mậu (1997), tr 215] Trong tác phẩm, tác giả đã
giải thích về văn hóa chính trị trong những tương tác với quá trình lịch sử, là một hiện tượng lịch sử, văn hóa chính trị xuất hiện và phát triển trong mối liên hệ mật thiết với các yếu tố lịch sử Văn hóa chính trị cũng có sự biến đổi, phát triển và nguồn gốc tâm lý xã hội
PGS.TS Hoàng Văn Việt trong hợp tuyển Các quan hệ chính trị ở phương Đông, lịch sử và hiện tại cho rằng khi nói tới văn hóa chính trị là “nói đến văn hóa chính trị truyền thống và văn hóa chính trị hiện đại của cộng đồng xã hội và nhóm người trong lĩnh vực chính trị và ảnh hưởng của nó trong hoạt động chính trị Văn hóa chính trị là một động thái, luôn phát triển, thường xuyên được làm phong phú thêm bằng lịch sử và hoạt động của con người cả nội dung và hình thức” Ở phương Đông nói chung “các thành tố của văn hóa chính trị trở thành các nguyên tắc đạo đức – luân lí và tiêu chuẩn pháp lí xã hội, biểu hiện qua các luật tục, các
Trang 26nguyên tắc quan hệ chính trị của xã hội; qua các phương thức sản xuất vật chất, các hình thái của tổ chức nhà nước và cách thức, biện pháp, phương pháp quản lý
xã hội của các cộng đồng cư dân” [Hoàng Văn Việt (2009), tr 10]
Quan điểm của các học giả phương Đông về văn hóa chính trị bổ sung thêm những luận điểm mới về bản chất của văn hóa chính trị, tính giai cấp của văn hóa chính trị, những biểu hiện của văn hóa chính trị và hướng nghiên cứu văn hóa chính trị trong điều kiện cụ thể của nền chính trị Á đông
Một số những quan điểm như trên của các học giả ở cả phương Đông và phương Tây đã cho thấy, có rất nhiều ý kiến khác nhau về văn hóa chính trị, và việc đi tới sự thống nhất quan điểm về khái niệm này là rất khó khăn Mặc dù có
nhiều điểm chung trong nhận định về sự định hướng của cá nhân hay tập thể trong
quá trình chính trị, nhưng bên cạnh đó, các học giả phương Đông đã chú trọng hơn đến vấn đề giai cấp
Qua phân tích các quan điểm về văn hóa chính trị như trên, điều cốt lõi nhất trong nhận thức về văn hóa chính trị trên cơ sở đúc kết các quan điểm về văn hóa chính trị của các học giả Đông, Tây là sự giải thích hợp lý hành vi chính trị của các cá nhân hay tập thể như là kết quả của sự tổng hòa các giá trị văn hóa của xã hội mình đang sống Và văn hóa chính trị trước hết phải là một bộ phận cấu thành
lên văn hóa nói chung Nếu chia văn hóa thành các loại hình văn hóa bao gồm: văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử và văn hóa tổ chức như ý kiến của GS Trần Ngọc Thêm trong Cơ sở văn hóa Việt Nam thì Văn hóa chính trị thuộc về phạm trù “văn
hóa tổ chức” Văn hóa chính trị mang tính giai cấp, thể hiện năng lực, phẩm chất, khả năng, trình độ của các chủ thể chính trị và văn hóa chính trị luôn biến đổi theo
sự thay đổi của chủ thể chính trị cũng như môi trường chính trị Văn hóa chính trị bao gồm hai nội dung: văn hóa chính trị truyền thống phương Đông và văn hóa chính trị hiện đại phương Tây Nếu văn hóa là các giá trị vật chất và tinh thần do con người tích lũy và sáng tạo trong lịch sử qua quá trình hoạt động tương tác với
tự nhiên và xã hội, thì văn hóa chính trị cũng mang trong nó cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong đời sống chính trị Văn hóa chính
Trang 27trị đi vào lý giải những đặc trưng riêng biệt trong hệ thống chính trị và quá trình chính trị của một quốc gia dân tộc cụ thể
4 Đặc trưng và chức năng của Văn hóa chính trị
Đặc trưng của Văn hóa chính trị: Văn hóa chính trị được định hình với những đặc trưng sau:
Thứ nhất, văn hóa chính trị mang tính xã hội và tính giai cấp Theo lý thuyết hình thái kinh tế xã hội của Mác, xã hội loài người trải qua các hình thái kinh tế xã hội cơ bản gồm: xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản mà xã hội xã hội chủ nghĩa là giai đoạn chuyển tiếp lên hình thái xã hội cộng sản Văn hóa chính trị ở mỗi hình thái kinh tế đều mang những đặc trưng riêng, phản ánh trình độ văn hóa của con người trong những nấc thang cụ thể của tiến trình phát triển xã hội, đồng thời thực tiễn đấu tranh giai cấp trong mỗi hình thái kinh tế xã hội trên làm nảy sinh các đặc trưng văn hóa chính trị của mỗi giai cấp Văn hóa chính trị bị chi phối bởi thế giới quan,
hệ tư tưởng và những quan điểm chính trị mà nền tảng là lợi ích của các giai cấp
Thứ hai, văn hóa chính trị mang tính nhân loại vừa mang tính dân tộc Văn
hóa chính trị là một bộ phận của văn hóa nói chung, văn hóa chính trị là sự kết tinh các giá trị vật chất và giá trị tinh thần của con người trong hoạt động chính trị, nó
là thành tựu chung của nhân loại Bên cạnh đó, văn hóa chính trị của một cộng đồng cụ thể đều mang những nét đặc trưng riêng Văn hóa chính trị nói riêng, văn hóa nói chung là căn cứ để người ta nhìn nhận sự khác biệt giữa cộng đồng này và cộng đồng khác Văn hóa chính trị không chỉ thể hiện sự khác biệt giữa các cộng đồng người trong lịch sử mà nó còn quyết định tới vận mệnh một quốc gia khi đứng trước những thời cơ và thách thức mang tính thời đại, quyết định một con đường đi cho riêng cho dân tộc mình
Ngoài ra, văn hóa chính trị còn mang tính lịch sử và tính thời đại Một nền
văn hóa chính trị chắc chắn phải mang tính lịch sử, nó phản ánh thực tiễn đời sống
xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Lịch sử nhân loại là lịch sử các hình thái kinh tế xã hội nối tiếp nhau Mỗi một hình thái kinh tế xã hội có một kiểu văn hóa
chính trị riêng Có “Văn hóa chính trị chủ nô, văn hóa chính trị phong kiến, văn
Trang 28hóa chính trị tư sản, văn hóa chính trị vô sản Không có văn hóa chính trị nào là phi giai cấp và phi lịch sử” [Lâm Quốc Tuấn (2007), tr 40]
Chức năng của Văn hóa chính trị: Văn hóa chính trị vừa nảy sinh trong
thực tiễn hoạt động chính trị vừa tác dụng ngược trở lại đời sống chính trị trên
nhiều phương diện, thể hiện ở bốn chức năng sau:
Chức năng nhận thức: Văn hóa chính trị đóng vai trò quan trọng trong việc
nhận thức bản chất và giá trị các hiện tượng và quá trình chính trị Văn hóa chính trị với tư cách là những giá trị văn hóa được hình thành trong thực tiễn đời sống chính trị tác động tới nhận thức ở chỗ nó đặt nền móng cho con người thừa nhận một cách rộng rãi các hiện tượng hay quá trình chính trị hay phủ nhận các hiện tượng hay quá trình chính trị này là không hợp lý, không tiến bộ Văn hóa chính trị cung cấp cho chủ thể chính trị những tiêu chuẩn và khuân mẫu chính trị nhằm đánh giá tính chất tốt hay xấu của của một vấn đề chính trị dựa trên cơ sở quan hệ của cá nhân với hệ thống chính trị và các hoạt động chính trị
Chức năng định hướng: Văn hóa chính trị định hướng cho cá nhân, tập thể khi tham gia các hoạt động chính trị xã hội trên cơ sở hệ tư tưởng thống trị của mỗi thời Chức năng định hướng của Văn hóa chính trị thể hiện trên hai cấp độ:
Thứ nhất, văn hóa chính trị với tư cách là những nét văn hóa chính trị truyền thống
tác động một cách ngấm ngầm, tự nhiên tới hành vi chính trị của con người trong trường hợp quốc gia, dân tộc đứng trước nguy cơ giặc ngoại xâm Trong trường hợp đất nước nguy nan, hay những biến động chính trị trong nội bộ chính quyền thì thái độ của chủ thể chính trị (quần chúng nhân dân) tỏ thái độ thờ ơ hay quan
tâm sâu sắc một phần là do văn hóa chính trị truyền thống của cộng đồng đó Thứ hai, văn hóa chính trị định hướng hành vi tham gia hoạt động chính trị của chủ thể
một cách có chủ định bằng cách giáo dục nâng cao trình độ để mọi người tham gia vào hoạt động một cách có ý thức và hiệu quả Hướng con người đi tới những lựa chọn sáng suốt trong quan hệ với các Đảng chính trị, thủ lĩnh chính trị, những quyết định sáng suốt trong quá trình tham gia chính trị
Chức năng liên kết: Với tư cách là nền tảng cơ bản tạo nên hệ thống chính
trị, Văn hóa chính trị có chức năng liên kết các cá nhân và tập thể trong hoạt động
Trang 29chính trị Sự thâm nhập của văn hóa chính trị vào trong mỗi cá nhân sẽ làm cho họ tham gia tích cực vào các quá trình chính trị Đối với tập thể, văn hóa chính trị có vai trò to lớn trong việc hình thành và hoàn thiện cơ chế thu hút quần chúng nhân dân vào trong quá trình chính trị, tạo môi trường xã hội thuận lợi để kích thích hoạt động chính trị của mọi người Một cơ sở xã hội to lớn và mạnh mẽ được tạo
ra bởi nền tảng văn hóa chính trị sẽ góp phần to lớn làm nên một hệ thống chính trị vững chắc
Chức năng đánh giá và dự báo: Trên cơ sở nhận thức về những giá trị và
khuôn mẫu chính trị, các cá nhân, các nhóm xã hội hay cả một cộng đồng đánh giá các hiện tượng của đời sống chính trị và lựa chọn hành vi cho mình theo đánh giá
ấy Và cũng trên cơ sở các hiện tượng và quá trình chính trị, căn cứ trên tri thức và định hướng theo khuôn mẫu và giá trị, người ta có thể dự báo được sự phát triển của hiện tượng chính trị hay quá trình chính trị đó trong tương lai
II Văn hóa chính trị Ấn Độ
Bán đảo Ấn Độ rộng lớn với điều kiện tự nhiên đa dạng, thành phần cư dân phức tạp, tồn tại rất nhiều thứ ngôn ngữ và tôn giáo khác nhau nhưng lại có một
“khuôn mặt riêng, thống nhất” Vẻ riêng, thống nhất đó có được chính là nhờ nền
văn hóa Ấn Độ - một trong những nền văn hóa lâu đời nhất trên thế giới Văn hóa
Ấn Độ nói chung và Văn hóa chính trị Ấn Độ nói riêng là toàn bộ những giá trị văn hóa mà cộng đồng các dân tộc trên bán đảo Ấn Độ đã sáng tạo và tích lũy qua hàng ngàn năm Văn hóa chính trị Ấn Độ xét tới thời điểm phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ bùng nổ và phát triển cuối thế kỷ XIX – đầu XX là một sự hòa trộn giữa văn hóa chính trị truyền thống đã tồn tại lâu đời trong lịch sử hình thành và phát triển của bán đảo và Văn hóa chính trị hiện đại Ấn Độ - những giá trị văn hóa được tiếp thu do điều kiện tiếp xúc với người Phương Tây đương thời
1 Nội dung Văn hóa chính trị Ấn Độ
1.1 Văn hóa chính trị truyền thống Ấn Độ
“Truyền thống” là những cái “vốn có”, “tự có” và “tại chỗ” được kế thừa từ
thế hệ này sang thế hệ khác [dẫn theo Hoàng Văn Việt (2009), tr 10] Theo đó văn hóa chính trị truyền thống là những nét văn hóa được định hình trong quá trình
Trang 30chính trị qua hàng ngàn năm lịch sử của một cộng đồng dân tộc Tuy nhiên, trong nghiên cứu văn hóa chính trị ở Việt Nam, nhiều học giả đã sử dụng cụm từ “văn hóa chính trị truyền thống” để chỉ những nội dung văn hóa chính trị phương Đông, phân biệt với những nét “văn hóa chính trị hiện đại” – vốn là những nét văn hóa chính trị phương Tây được du nhập vào các xã hội phương Đông từ thời thực dân Văn hóa chính trị truyền thống Ấn Độ có thể hiểu là những nét văn hóa định hình
từ trong quá trình hình thành và phát triển của quốc gia dân tộc này Văn hóa chính trị truyền thống Ấn Độ có thể nhận diện qua một số nội dung tiêu biểu sau:
Sự sùng bái cá nhân, thần thánh hóa các lãnh tụ chính trị là một trong những nội dung nổi bật của văn hóa chính trị truyền thống Ấn Độ
Sùng bái cá nhân và dành những tình cảm đặc biệt cho những nhân vật kiệt xuất trong nhiều lĩnh vực trong đó bao gồm cả nhưng lãnh tụ chính trị là đặc điểm chung của văn hóa Á đông Ở các xã hội phương Đông nông nghiệp, sự xuất hiện nhà nước xuất phát một phần từ nhu cầu giải quyết các vấn đề công cộng Vai trò của người lãnh đạo nhà nước, mà trong buổi ban đầu là thủ lĩnh các bộ lạc, các vị vua chuyên chế, là rất quan trọng đối với cộng đồng Ở Ấn Độ, tình cảm của người dân dành cho những người lãnh đạo không chỉ dừng lại ở sự phụ thuộc của dân chúng vào người lãnh đạo khi công đồng cần liên kết lại, sự phụ thuộc vào vai trò cách mạng của họ mà còn bởi tư cách đạo đức gương mẫu và thánh thiện hoặc tâm hồn cao quý và phong cách anh hùng của người như M.Gandhi và J.Nehru Hơn thế nữa, những lãnh tụ chính trị được coi trọng ở Ấn Độ không chỉ đơn thuần là một nhà lãnh đạo, trong mắt người Ấn Độ, họ còn là những đại diện tiêu biểu mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp của người Ấn – những người chuyển tải xuất sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của Ấn Độ
Trong thời cổ trung đại, biểu hiện của sự sùng bái cá nhân là tình cảm nồng hậu, đặc biệt dành cho các vị vua hiền minh, những cá nhân có học vấn uyên bác
và có tấm lòng cao quí Người dân Ấn Độ quan niệm rằng “con người lý tưởng vẫn luôn là con người có học thức rộng và giàu lòng nhân ái, có bản chất tốt, có tính kỷ luật tự giác và sẵn sàng hy sinh vì mọi người” [J.Nehru (1997), T2, tr 176]
Đẳng cấp Brahman trong lịch sử Ấn Độ được tôn lên làm đẳng cấp cao quí cũng một phần vì họ đã sản sinh ra những nhà tư tưởng, những triết gia
Trang 31Sự ưu ái đặc biệt của người dân Ấn Độ đối với những cá nhân, những lãnh
tụ dễ nhận thấy qua những danh xưng cao quí mà họ ưu ái dành cho những người này Trong thời cận đại, Rammohun Roy (1774 – 1833) được giới trí thức đương
thời tôn vinh là “cha đẻ tinh thần” của họ; Ramakrishnah (1836 – 1886) với những lời giảng dạy của ông được người đời coi là “thánh điển”; hay Ban Gaggada Tilak (1856 – 1920) được nhân dân Ấn Độ ca ngợi là “người cha của cách mạng Ấn Độ” Sang thời hiện đại, vị lãnh tụ phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc Ấn Độ Mohandas Karamchand Gandhi (1869 – 1948) được người dân Ấn
Độ tôn kính như một “người cha”, một vị thánh – “Mahatma” của đất nước Ấn
Độ Lời nói và hành động của ông có sức mạnh hiệu triệu hàng triệu trái tim người
Ấn
Tâm lý sùng bái cá nhân và thần thánh hóa các lãnh tụ chính trị đã khiến cho việc tập hợp và tổng động viên các lực lương chính trị - xã hội nhằm giải quyết những nhiệm vụ cấp bách cho cộng đồng, quốc gia dân tộc gặp nhiều thuận lợi Chỉ bằng uy tín của một số nhân vật, các đảng chính trị có thể tập hợp xung quanh họ khối cư dân thống nhất Đảng Quốc Đại, với danh tiếng của một số lãnh
tụ như Nehru, Indira Gandhi, R Gandhi đã nắm quyền trong một thời gian rất dài,
và việc trở lại nắm quyền của đảng này vào năm 2004 cũng nhờ một phần vào danh tiếng của dòng họ Gandhi Tuy nhiên, tâm lý sùng bái cá nhân lãnh tụ cũng là những điều kiện dễ dàng khởi xướng các động thái khủng bố trong đấu tranh giành quyền lực chính trị ở Ấn Độ
Bảo vệ tôn giáo, bảo tồn trật tự xã hội và văn hóa truyền thống – cơ sở chính đảm bảo sự thống nhất xã hội và gìn giữ độc lập dân tộc Ấn
Ấn Độ là mảnh đất rộng lớn nhưng lại thường xuyên bị chia cắt, như Mác
đã từng nhận xét “đôi khi chỉ có lưỡi kiếm của kẻ xâm lược mới liên kết họ được với nhau thành các quốc gia” [C.Mác (1853), Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ]
Trong lịch sử hàng ngàn năm, Ấn Độ đã không được định hình và thống nhất bởi một nhà nước trung ương tập quyền nhưng nó đã được đảm bảo sự thống nhất bằng một truyền thống tôn giáo và văn hóa Tác giả cuốn Politics in India đã nhận định rằng: “Ấn Độ có lẽ là nền văn minh vĩ đại duy nhất trong lịch sử đã duy trì
Trang 32tính toàn vẹn văn hóa của nó mà không tự gắn bó chặt chẽ với một trung tâm chính trị đặc biệt” – “India is perhaps the only g reat historical civilization that has maintained its cultural integrity without identifying itself with a particular political center”, và “Tính đồng nhất thực sự của Ấn Độ không phải ở chính trị
mà ở văn hóa.” – “The essential identity of India has not been political but cultural” “[Raini Kothari, Politics in India, p 256] Mà hơn nữa, nền văn hóa này
được đặc trưng bởi những biểu tượng văn hóa tôn giáo, những giá trị thần thánh -
“the spiritual values”.
Giữ một vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần mỗi người dân, tôn giáo trở thành nội dung nổi bật nhất của văn hóa Ấn Độ Các tôn giáo ở Ấn Độ tự bản thân
nó bao hàm những hệ thống tư tưởng chi phối mọi mặt của đời sống xã hội trong
đó có lĩnh vực chính trị Nhìn vào lịch sử Ấn Độ, so sánh với lịch sử nhiều quốc gia khác, người ta không thấy xuất hiện và tồn tại ở đây những dòng tư tưởng mang tính chính trị đơn thuần – những dòng tư tưởng làm nền tảng cho một cuộc cách mạng xã hội, một nền tảng cho việc xây dựng một nhà nước trung ương tập quyền hùng mạnh Thay vào đó, lịch sử Ấn Độ chứng kiến sự nở rộ của các học thuyết triết học tôn giáo
Trong lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng Ấn Độ, mặc dù điều kiện tự nhiên tương đối biệt lập với thế giới bên ngoài, Ấn Độ vẫn liên tục hứng chịu các đợt ngoại xâm Đặc biệt là miền bắc Ấn Mỗi lần như vậy, người Ấn Độ ít khi đánh thắng kẻ thù xâm lược Tuy nhiên, ý thức bảo vệ tôn giáo, bảo tồn trật tự
xã hội cùng những nét văn hóa truyền thống đã giúp người Ấn Độ dần dần chinh phục lại kẻ thù và đồng hóa họ, biến họ thành một bộ phận của khối cư dân Ấn
Độ Trong thời trung đại, phần lớn bán đảo Ấn Độ, về mặt chính trị chịu sự thống trị bởi các vương triều Hồi giáo thì về cơ cơ sở xã hội truyền thống, người Ấn Độ
đã chinh phục ngược trở lại kẻ đi xâm lược Sang thời cận đại, trước tình trạng bị xâm lược và đô hộ bởi thực dân phương Tây, nếu người Nhật đặt vấn đề trực tiếp
là phải học tập phương Tây về các phương diện khoa học kỹ thuật, những tư tưởng tiến bộ để phát triển kinh tế, cải cách bộ máy nhà nước thoát khỏi giặc ngoại xâm thì người Ấn Độ hướng sự quan tâm của mình tới việc bảo tồn văn hóa tôn giáo
Trang 33truyền thống, khơi gợi niềm tự hào dân tộc từ những truyền thống văn hóa lâu đời làm nền tảng mở đầu cho những cuộc vận động cách mạng theo xu hướng dân chủ
tư sản Tiêu biểu cho xu hướng này là các phong trào cải cách, vận động tôn giáo được dẫn dắt bởi Rammohun Roy (1774 – 1833), Ramakrishna (1836 – 1886), Vivekanada (1836 – 1902) Ngay cả đối với những người có tư tưởng đấu tranh chính trị trực diện như Ban Gaggada Tilak (1856 – 1920), Karamchad Gandhi (1869 – 1948) cũng tập hợp lực lượng quanh mình, trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, bằng cách kêu gọi trực tiếp niềm tin tôn giáo trong nhân dân
Tinh thần khoan dung hòa giải, yêu chuộng hòa bình là nét văn hóa chính trị nổi bật, là hệ quy chiếu trong quan hệ đối ngoại của nền chính trị Ấn Độ
Trong lịch sử quan hệ quốc tế, tồn tại một thực tế là luôn có sự khát khao chinh phục các vùng đất khác Khát khao này có khi trở thành một tư tưởng lớn mạnh, trở thành một chủ nghĩa bành trướng – một đặc trưng văn hóa như chủ nghĩa bành trướng Đại Hán Ở Ấn Độ thời cổ đại, tể tướng Chanakya Kautilia của
vương triều Maurya cũng từng cho rằng: “Cách duy nhất để một vị vua tồn tại được trong thế giới là luật Matsya nyaya (cá lớn nuốt cá bé), là phải trở thành một vijigisu (quốc gia có khát khao đi chinh phục)” [Tôn Sinh Thành, Vài suy
nghĩ về tư duy đối ngoại của Ấn Độ, Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 51] Nhưng lịch sử hàng ngàn năm của Ấn Độ đã cho thấy, tư tưởng trên không tồn tại được ở vùng đất này Trong quan hệ đối ngoại, người Ấn hầu như không tiến hành các
cuộc chiến tranh xâm lược, “qua hàng thế kỷ trong lịch sử Ấn Độ, không có quân đội viễn chinh đi xâm lược theo lệnh của nhà cầm quyền”, “Người Ấn không xâm chiếm các nước khác bởi tính công bằng trong tinh thần của họ” – tinh thần yêu
chuộng hòa bình Truyền thống này được mở đầu bằng sự tiếp nhận tư tưởng không xúc phạm, không làm tổn tương, không sát sinh trong tôn chỉ của Phật giáo của hoàng đế Asoka (thế kỷ III Tr Cn) Hoàng đế Asoka đã thực hành tư tưởng
“bất bạo lực” (non – violence) hay “chung sống hòa bình” – peaceful co – existence) trong cả chính sách đối ngoại và đối nội Hoàng đế Asoka đã từ bỏ chiến tranh xâm lược Trong đường lối đối ngoại của mình, thay vì đưa những đoàn quân viễn chinh đi xâm lược, ông gửi các đoàn truyền giáo đến các nước
Trang 34xung quanh Bên cạnh đó, tư tưởng khoan hòa cũng khiến người Ấn dễ dàng chung sống hòa bình với nhiều ngoại tộc trong suốt quá trình lịch sử
Tư tưởng khoan dung hòa giải, yêu hòa bình – tư tưởng chấp nhận những luồng tư tưởng khác cùng tồn tại đã đưa người Ấn Độ tới con đường đấu tranh giải phóng dân tộc thời cận – hiện đại hoàn toàn khác với con đường của các nước phương Đông khác Người Ấn thể nghiệm con đường đấu tranh giải phóng dân tộc
mà ở đó mọi bước đi đều xoay quanh đường lối hòa bình Đường lối đấu tranh bạo động mà Ban Gaggada Tilak khởi xướng và lãnh đạo đã chỉ tồn tại một thời gian
mà không trở thành đường hướng đấu tranh chủ yếu của cách mạng Ấn Độ Cuộc đấu tranh theo đường lối bất bạo động (Ahimsa) của Mahatma Gandhi đã đạt hiệu qủa cũng do truyền thống dân tộc Ấn luôn thấm đượm tinh thần khoan dung và hòa giải Tuy nhiên cũng chính tinh thần khoan dung và hòa giải này đã làm nảy
sinh cái mà tác giả cuốn Politics of India gọi là văn hóa thỏa thuận (bargaining
culture) - cơ sở đưa tới sự chia cắt Ấn Độ ngay khi giành độc lập
Trong thời hiện đại, tinh thần khoan dung và hòa giải cũng thể hiện rõ nét trong chính sách đối ngoại của nhà nước Ấn Độ Ngay từ khi mới giành được độc
lập, chính phủ Ấn Độ đã tuyên bố chính sách đối ngoại “chung sống hòa bình” và ban hành “năm nguyên tắc cơ bản” (chủ quyền; không gây hấn; không can thiệp;
bình đẳng và chung sống hòa bình) với tất cả các nước Trong bối cảnh căng thẳng của Chiến tranh lạnh, Ấn Độ lựa chọn đường lối đối ngoại: hòa bình trung lập, không liên kết, không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào, đứng giữa hai phe và phát triển quan hệ với tất cả các nước Trong quan hệ quốc tế hiện đại, Ấn Độ trở thành ngọn cờ tiên phong của phong trào đấu tranh vì hòa bình thế giới khi khởi
xướng và góp phần thành lập phong trào Không liên kết
Tư tưởng độc đoán cá nhân, gia đình trị đã ngự trị lâu đời trong lịch sử chính trị Ấn Độ
Tư tưởng độc đoán cá nhân, gia đình trị là sản phẩm của nền văn hóa Á đông, ngự trị và tồn tại phổ biến trong thời đại của các nhà nước phong kiến Ở Ấn
Độ, tư tưởng này cho tới thời hiện đại vẫn còn chi phối đời sống chính trị Nhìn vào lịch sử chính trị Ấn Độ từ khi độc lập tới nay, quyền lực độc tôn của người
Trang 35lãnh đạo chính trị và gia đình dòng họ đã chi phối khá đậm nét Trường hợp gia tộc Nehru – Gandhi là một ví dụ điển hình Với ảnh hưởng thống trị trong Đảng Quốc Đại trong hầu hết các giai đoạn sau khi Ấn Độ giành độc lập, gia đình, dòng
họ này được xem như một triều đại đầy quyền lực Ba thành viên của gia đình Nehru (Jawaharlal Nehru, con gái Indira Gandhi, và cháu ngoại Rajiv Gandhi) đã thành lãnh đạo Ấn Độ trên cương vị thủ tướng Một thành viên khác của gia đình này hiện nay đang là chủ tịch quốc hội Ấn Độ là bà Sonia Gandhi Các thế hệ thứ năm của gia đình này hiện nay vẫn đang tiếp tục chí hướng của cha ông, tham gia vào các hoạt động chính trị và giữ những chức vụ cao
Bên cạnh đó, trong đời sống chính trị Ấn Độ hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều các gia đình giàu có và thế lực Gia đình ông Mullayam Singh Jadav – lãnh đạo đảng Samajwadi ở bang Uttar Pradesh – bang đông dân nhất Ấn Độ là một ví
dụ Với tiềm lực kinh tế và sức mạnh chính trị, các đại gia đình này đã gián tiếp hay trực tiếp tác động, chi phối đến giới quan liêu chính trị trong việc ra và thực hiện những đường lối chính sách có lợi cho họ
Như vậy, văn hóa chính trị truyền thống Ấn Độ là những nét văn hóa tự sinh ra trong quá trình lịch sử hàng ngàn năm của đất nước này, nó góp phần làm nên những nét độc đáo riêng có của văn hóa Ấn Độ Ngày nay, chính phủ và người dân Ấn Độ đang cố gắng phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
1.2 Văn hóa chính trị hiện đại Ấn Độ
Hiện đại là những cái đối lập với truyền thống Văn hóa chính trị hiện đại,
theo nhiều học giả, “gồm có văn hóa chính trị tư sản (dân chủ tư sản) và văn hóa chính trị vô sản (dân chủ vô sản)” [Hoàng Văn Việt (2009), tr 73] Trong lịch sử,
văn hóa chính trị tư sản hay văn hóa chính trị vô sản đều bắt nguồn từ các xã hội phương Tây và dần dần lan truyền, bén rễ và phổ biến sang các nước phương Đông Ở Ấn Độ, vào thời cận đại, sự khát khao về một xã hội công bằng dân chủ vốn bị đè nén bởi quan hệ phong kiến và chế độ đẳng cấp qua hàng ngàn năm, dưới tác động về mặt khách quan của thời đại chủ nghĩa thực dân đã có dịp bùng
nổ khi các trí thức của đất nước này tiếp cận với các giá trị dân chủ tự do của
Trang 36phương Tây Do nhiều nhân tố chủ quan và khách quan, người Ấn Độ trong thời cận hiện đại đã chủ động tiếp nhận các giá trị văn hóa chính trị dân chủ tư sản, lấy
tư tưởng tiến bộ của các cuộc cách mạng tư sản phương Tây làm nền tảng tư tưởng dẫn dắt phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Ấn Độ từng bước đi tới thắng lợi
Ngay từ thời điểm người phương Tây bước chân lên bán đảo, các giá trị dân chủ tư sản đã theo gót những nhà truyền giáo và kẻ đi xâm lược du nhập vào Ấn
Độ Vào đầu thế kỷ XIX, thời điểm mà thực dân Anh đã xác lập ảnh hưởng của mình và ngày càng gia tăng hoạt động bóc lột Ấn Độ cũng là lúc phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ chống thực dân theo hệ tư tưởng phong kiến lần lượt thất bại Thay vào đó, một tầng lớp trí thức mới người bản xứ đã xuất hiện, họ tiếp thu những trào lưu tư tưởng tiến bộ theo khuynh hướng dân chủ tư sản Âu – Mĩ và
sử dụng nó như một thứ vũ khí chống lại giai cấp thống trị Những trào lưu tư tưởng mới và những cuộc vận động cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản
đã xuất hiện sớm nhất ở vùng Bengal – nơi chủ nghĩa tư bản xâm nhập vào từ sớm, là trung tâm chính trị - văn hóa của bọn thực dân vào đầu thế kỉ XIX, người khởi xướng và đi tiên phong của phong trào là Rammohun Roy (1774 – 1833) Nửa sau thế kỷ XIX, công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Anh làm chuyển biến sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội Ấn, sự phát triển ngày càng đông đảo của tầng lớp trí thức tiểu tư sản bên cạnh sự ra đời của hai giai cấp cơ bản của xã hội là giai cấp tư sản và vô sản đã tạo mảnh đất màu mỡ cho các giá trị dân chủ phương Tây bén rễ và nảy nở Chính trên nền tảng những tư tưởng tiến bộ ấy, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Ấn Độ cuối thế kỷ XIX – đầu XX đã từng bước phát triển Sự thức tỉnh của ý thức dân tộc dân chủ của nhân dân Ấn Độ được biểu hiện đầu tiên dưới hình thức tôn giáo Sau đó, những chuyển biến sâu sắc của
xã hội thuộc địa Ấn Độ cũng đã chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của một tổ chức chính trị - sự ra đời của Đảng Quốc Đại tháng 12 năm 1885 Sự ra đời của Đảng Quốc Đại thực sự là một “sự cấu trúc hóa” các tư tưởng phương Tây được
du nhập vào Ấn Độ trong suốt thời kỳ trước Kể từ đó, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Ấn Độ được dẫn đắt bởi Đảng Quốc Đại và đi theo con đường của một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ tư sản - là một minh chứng cho việc các giá trị dân chủ tư sản đã bén rễ chắc chắn ở mảnh đất này
Trang 37Từ sau khi giành độc lập thực sự vào năm 1949, nhà nước và nhân dân Ấn
Độ đã xây dựng và phát triển đất nước theo con đưởng tư bản chủ nghĩa Dấu ấn quan trọng của quá trình dân chủ hóa và xác lập các nguyên tắc tiêu chuẩn của chế
độ dân chủ tư sản ở Ấn Độ là sự ra đời của Hiến pháp ngày 20 – 11 – 1949 Theo Hiến pháp này, Ấn Độ là nước Cộng hòa có chủ quyền Trên đất Ấn Độ, các chủ quyền dân chủ và công lí thuộc mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, tự do tư tưởng, tín ngưỡng được đảm bảo Chế độ đẳng cấp và các đặc quyền bị bãi bỏ; nhân phẩm và sự đoàn kết dân tộc được pháp luật bảo vệ Một bộ máy nhà nước theo mô hình một nhà nước dân chủ tư sản được thành lập Ở đó, quyền lập pháp thuộc về Tổng thống và Quốc hội gồm hai viện: Viện nhân dân (Hạ viện Lok sabha) và Viện dân tộc (Thượng viện Rajya sabha) Cơ quan lập pháp các bang là Hội nghị lập pháp, cứ 5 năm bầu lại một lần như bầu với quốc hội Tổng thống được bầu bởi một Hội đồng cử tri do Quốc hội và các bang cử ra Tổng thống thi hành quyền lực của mình thông qua các cơ quan Chính phủ, trên cơ sở pháp luật được Quốc hội phê chuẩn Hiến pháp cũng đưa ra các nguyên tắc phân chia quyền nghiêm ngặt giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Chính phủ trung ương (do Thủ tướng đứng đầu) và chính phủ các bang (do Thủ hiến đứng đầu) chịu trách nhiệm trước Quốc hội Ấn Độ và Hội nghị lập pháp các bang
Hiến pháp mới của Ấn Độ năm 1949 đã là cơ sở pháp lí vững chắc cho việc
Ấn Độ đã xác lập thành công nền dân chủ ngay sau khi cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi Hiến pháp mới có hiệu lực từ ngày 26 – 1 – 1950 mở đầu cho nền Cộng hòa Ấn Độ cho tới ngày nay
Văn hóa chính trị hiện đại Ấn Độ, cũng như nhiều nước phương Đông khác, là kết quả của quá trình tiếp xúc với phương Tây Do nhiều điều kiện chủ quan và khách quan, ở Ấn Độ không xuất hiện những tư tưởng canh tân đất nước theo mô hình dân chủ tư sản như Trung Quốc hay Việt Nam, mà những luồng tư tưởng dân chủ tư sản này đã được người trí thức Ấn Độ tiếp thu và sử dụng như một công cụ đòi độc lập, để rồi từ đó, nó tiếp tục bám rễ vào mảnh đất này, trở thành nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một nhà nước theo mô hình dân chủ tư sản từ khi giành được độc lập
Trang 382 Cơ sở hình thành Văn hóa chính trị Ấn Độ
2.1 Cơ sở hình thành Văn hóa chính trị truyền thống Ấn Độ
Văn hóa chính trị Ấn Độ mang những nội dung độc đáo riêng biệt xuất phát sâu xa từ tổng hòa các cơ sở về điều kiện tự nhiên, quá trình tộc người và các điều kiện về tôn giáo xã hội
Điều kiện tự nhiên
Ấn Độ là đất nước rộng lớn với diện tích lãnh thổ hiện nay gồm 3.3tr km2 [Hà Thúc Minh (2002), tr 7], và nếu tính cả lãnh thổ Pakistan và Nepal như trước thời cận đại, vào khoảng 5 triệu km2 [Will Durant (2003), tr 6] Về cơ bản có thể chia Ấn Độ ra thành ba phức hợp địa hình bao gồm:
Vùng núi Hymalaya và vùng phụ cận phía bắc: Dãy núi Hymalaya là một
hệ thống núi với nhiều đỉnh núi cao hơn 7000 m, là biên giới tự nhiên gần như ngăn cách Ấn Độ với lục địa Á – Âu Biên giới tự nhiên này đã khiến bán đảo Ấn
Độ, dù không ít khác biệt về tự nhiên và thành phần dân cư, đã có một “cảm quan thống nhất về văn hóa” Hơn thế nữa, vị trí tách biệt cũng ảnh hưởng một cách tự
nhiên tới mối bận tâm hay thờ ơ của khối cư dân Ấn Độ với nhiều vấn đề khác nhau trong đó có thái độ của họ với các vấn đề chính trị và ngoại giao Về điều này
Nguyễn Tấn Đắc trong cuốn Văn hóa Ấn Độ cũng đã có nhận xét: “Trong qúa khứ, các chính quyền ở Ấn Độ không hề quan tâm đến cái mà ngày nay chúng ta gọi là
“quan hệ quốc tế”, “đường lối ngoại giao”, “chính sách ngoại giao” Phần nào
có tâm lý ỷ lại vào sự che chở của núi và biển, người Ấn Độ ít lo việc tự vệ chống ngoại xâm” [Nguyễn Tấn Đắc (2000), tr 37]
Đồng bằng Ấn – Hằng ở miền trung với đất đai màu mỡ và thời tiết thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đã khiến hình thành trong cộng đồng cư dân khu vực này những đặc trưng văn hóa của cư dân nông nghiệp, đó là: tính cộng đồng, hướng nội, các tục lệ địa phương phát triển và chi phối con người nhiều hơn pháp luật nhà nước Các làng xã hội nông nghiệp, tự cung tự cấp có sự kết hợp với thủ công nghiệp được duy trì lâu đời trong lịch sử đã tạo thành nền tảng xã hội cố định
khép kín và bảo thủ, đúng như nhận định của Mác “dù những thay đổi về chính trị trong quá khứ của Ấn Độ có lớn lao đến như thế nào chăng nữa thì những điều
Trang 39kiện xã hội của Ấn Độ vẫn không hề thay đổi từ thời cổ đại xa xôi cho đến mười năm đầu của thế kỷ XIX” [C.Mác, Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ, tr 174] Từ tính
bảo thủ kép kín và trì trệ đó, sự coi trọng đời sống gia đình và tính gia trưởng lên ngôi Cũng từ đó, người Ấn cam chịu trói mình trong sự phân biệt đẳng cấp cùng
sự thụ động tới mù quáng trong các mối quan hệ xã hội
Toàn bộ phía nam bán đảo là cao nguyên Deccan bị ngăn cách với phía bắc bởi dãy núi Vindhya chắn ngang từ tây sang đông Với địa thế như tách biệt này, cao nguyên Deccan đã trở thành nơi che chở và gìn giữ văn hóa thuần nhất Ấn Độ tồn tại và phát triển liên tục
Đi kèm với các kiểu phức hợp địa hình như trên, Ấn Độ có khí hậu hết sức
đa dạng, vừa ưu đãi vừa khắc nghiệt Từ trong điều kiện tự nhiên như thế, văn hóa
Ấn Độ đã hình thành nên những nét đặc trưng của mình Trước núi non hùng vĩ phương bắc hay trước dòng chảy cuồn cuộn của các con sông, con người trở nên nhỏ bé, từ đó nảy sinh ở con người thái độ cung kính trước thiên nhiên, mong muốn được hòa mình vào thiên nhiên, hòa nhập linh hồn cá thể hữu hạn (Attman) vào với linh hồn vũ trụ vô cùng vô tận (Brahman) Cũng xuất phát từ quang cảnh thiên nhiên hùng vĩ, con người Ấn Độ luôn đắm chìm mình vào những suy tư triết học và tôn giáo, ước ao giải thoát con người khỏi những đau khổ trần tục Ở nền văn hóa Ấn, người ta thấy tồn tại một tinh thần tôn giáo bao trùm mọi khía cạnh của đời sống xã hội, khó có thể tìm thấy một luồng tư tưởng đơn thuần mang tính cách mạng xã hội hay nghệ thuật quyền bính như trong xã hội phương Tây hoặc Trung Hoa Người Ấn Độ cũng vì thế ưa nhìn vào nội tâm hơn suy ngẫm những vấn đề xã hội, trong đó bao gồm chính trị
Trang 40trồng trọt và chăn nuôi ở một trình độ thấp Càng về sau, những đợt di cư của nhiều ngoại tộc cùng những điều kiện chủ quan như sinh suất thấp và hôn nhân cận huyết kéo dài đã khiến khối người này dần dần mất đi trên bán đảo
Khối cư dân thứ hai làm chủ bán đảo trong một thời gian dài là người Dravidian Họ là những cư dân nông nghiệp sống định cư với một trình độ sản xuất tương đối cao Nhiều sản phẩm văn hóa của họ xưa kia đã tạo những nền tảng quan trọng cho sự phát triển các hình thức tín ngưỡng và tôn giáo sau này, như kiểu tư duy hướng nội đặc trưng của người làm nông nghiệp, việc tôn thờ các vị thần (Siva, Visnu,…) và phương pháp tập Yoga độc đáo Ban đầu, những người Dravidian sinh sống khắp bán đảo, tập trung đông đúc ở những vùng có điều kiện
tự nhiên thuận lợi như lưu vực sông Ấn, Hằng Nhưng càng về sau, quá trình di cư tới Ấn Độ của nhiều tộc người, đặc biệt người Aryan, đã khiến người Dravidian bị xuống phía nam Ngày này, người Dravidian vẫn dự phần lớn trong bức tranh dân
cư Ấn Độ
Bên cạnh những khối cư dân được cho là bản địa trên, người Aryan – những cư dân có nguồn gốc Châu Âu từ Iran tràn vào Ấn Độ theo nhiều đợt, bắt đầu từ khoảng 1500 năm trước công nguyên Khi tiến vào đất Ấn, họ là những bộ lạc du mục có một nền văn minh khá cao, nhưng dần dần họ chuyển sang nghề trồng trọt và sống định cư Từ một vài bộ lạc sống ở thượng lưu sông Indus, người Aryan dần dần lan tỏa ra khắp miền bắc Ấn Người Aryan dần trở thành khối cư dân đông đúc nhất trên bán đảo Ấn Độ Nhiều sản phẩm văn hóa của họ đã đóng góp phần chủ yếu hình thành nên văn hóa Ấn Độ như chữ Phạn, xã hội phân chia đẳng cấp và đạo Bà la môn
Vào thế kỷ 10 TCN, người Mongoloid thuộc chủng da vàng tiến vào Ấn
Độ, sinh sống chủ yếu ở vùng đông bắc và trên những sườn phía nam của dãy Hymalaya Họ là những người tiếp nhận văn hóa Ấn Độ và truyền lại cho cư dân phía Đông
Ngoài những tộc người trên, từ sau công nguyên, tiểu lục địa Ấn Độ còn chịu nhiều cuộc xâm lăng của người Hồi giáo từ Afganistan, người Hy lạp, người Mông cổ Những cuộc xâm lăng này không chỉ góp phần làm đa dạng hóa nguồn