Công trình gồm 3 phần, phần đầu bàn về Tạp chí Bách Khoa; phần tiếp theo trình bày những bài viết liên quan đến Pháp, được chia theo từng lĩnh vực chủ chốt: Kinh tế - Chính trị, Văn hóa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHẢO SÁT CÁC BÀI VIẾT VỀ NƯỚC PHÁP
TRÊN TẠP CHÍ BÁCH KHOA Ở SÀI GÒN
NGUYỄN THỊ THANH THẢO 4B-2009-2013 Cộng tác viên : TRẦN LÂM THẢO 4B-2009-2013
Người hướng dẫn: TS PHẠM VĂN QUANG, NGÀNH VĂN HỌC, KHOA NGỮ VĂN PHÁP
Trang 2KHẢO SÁT CÁC BÀI VIẾT VỀ NƯỚC PHÁP
TRÊN TẠP CHÍ BÁCH KHOA Ở SÀI GÒN
NGUYỄN THỊ THANH THẢO 4B-2009-2013 Cộng tác viên: TRẦN LÂM THẢO 4B-2009-2013
Người hướng dẫn: TS PHẠM VĂN QUANG, NGÀNH VĂN HỌC, KHOA NGỮ VĂN PHÁP
Trang 3MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 9
GIỚI THIỆU VỀ TẠP CHÍ BÁCH KHOA 9
1.1 Sự hình thành của Tạp chí Bách Khoa 9
1.2 Quá trình phát triển của Tạp chí Bách Khoa 10
1.3 Cơ cấu điều hành của Tạp chí Bách Khoa 11
1.4 Xu hướng của Tạp chí Bách Khoa 13
CHƯƠNG 2 17
LĨNH VỰC CÁC BÀI VIẾTVỀ NƯỚC PHÁP TRÊN 17
TẠP CHÍ BÁCH KHOA 17
2.1 Các bài viết về Kinh tế - Chính trị 18
2.2 Các bài viết về Văn hóa – Xã hội 21
2.3 Các bài viết về Văn học – Triết học 26
CHƯƠNG 3 45
GIỚI THIỆU VỀ CÁC TÁC GIẢ VIẾT BÀI VỀ NƯỚC PHÁP TRÊN TẠP CHÍ BÁCH KHOA 45
3.1 Các tác giả viết về Kinh tế - Chính trị 47
3.2 Các tác giả viết về Văn hóa – Xã hội 52
3.3 Các tác giả viết về Văn học – Triết học 57
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 71
Trang 4TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Mục đích của nghiên cứu này là sưu tầm và khảo sát các bài viết trên Tạp chí Bách
khoa về con người, tư tưởng, đất nước Pháp Những phân tích về các bài viết và tác
giả sẽ phần nào cho thấy quá trình giao lưu văn hóa Pháp-Việt lên một bộ phận trí thức Việt Nam vào giai đoạn hậu thuộc địa, đặc biệt là ở miền Nam
Công trình gồm 3 phần, phần đầu bàn về Tạp chí Bách Khoa; phần tiếp theo trình
bày những bài viết liên quan đến Pháp, được chia theo từng lĩnh vực chủ chốt: Kinh tế
- Chính trị, Văn hóa - Xã hội, Văn học - Triết học, chúng tôi không đi sâu vào đánh giá nội dung bài viết mà chúng tôi chỉ truyền tải nội dung môt cách ngắn gọn và nêu
vai trò của những bài viết này đối vối Tạp chí Bách khoa; phần cuối, nói về các tác giả
viết những bài viết trên Dựa trên những bài viết đã phân lĩnh vực nên chúng tôi cũng tiếp tục trình bày các tác giả theo từng lĩnh vực họ viết nhiều nhất Và chúng tôi chỉ trình bày những tác giả có bài viết nhiều, tiêu biểu Chúng tôi tập trung vào nguồn gốc tiếp nhận tư tưởng, tri thức của các tác giả nhằm tìm hiểu sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp lên chính các tác giả này Qua đó cho thấy sự ảnh hưởng của các tác giả đã gián tiếp được truyền tải đến người đọc thông qua những bài viết trên
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của đời sống tri thức ngày càng được các nhà khoa học quan tâm Cơ cấu thiết chế của đời sống tri thức là một địa hạt rộng lớn cần được khai thác dưới nhiều hình thức nghiên cứu cũng như những cách tiếp cận và phương pháp luận khác nhau Báo chí và hoạt động báo chí trở thành một phạm vi góp phần vào tiến trình xây dựng nền tri thức và văn hóa trong đời sống xã
hội Tạp chí Bách Khoa, một tạp chí chuyên biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội và
nhân văn, đã là đối tượng của nhiều đề tài nghiên cứu quan trọng Nó không đơn thuần chỉ là nơi lưu trữ những nguồn tư liệu di sản tri thức, mà còn khơi gợi cho độc giả chuyên nghiệp những vấn đề quan tâm ngày nay Ra đời ngay khi Việt Nam thoát khỏi
chủ nghĩa thực dân (1954), Bách Khoa chứng tỏ sự trưởng thành và độc lập của các trí thức Việt Nam đương thời Tuy nhiên, ở một góc độ khác, Bách Khoa là dòng hợp lưu
của những ý tưởng khác nhau, và không loại trừ hiện tượng tiếp nhận và phổ biên những tư tưởng văn hóa Tây Âu Hơn nữa, xét trên bình diện tâm thế tác giả, phần lớn
họ là những người chịu tác động hoặc được thừa hưởng sâu sắc nền giáo dục phương Tây Vì thế, chúng tôi nhận thấy cần thiết phải có những đề tài nghiên cứu có hệ thống
về vấn đề tiếp biến và giao lưu văn hoá, đặc biệt giữa văn hoá Việt Nam và văn hóa Pháp Với ý thức về tầm quan trọng này, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu khảo sát
và sưu tầm về các bài viết và nghiên cứu của các trí thức Việt Nam trong Tạp chí
Bách Khoa
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ các tài liệu mà chúng tôi tiếp cận được, chúng tôi nhận thấy đã
có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử báo chí Việt Nam nói chung và Báo chí Sài Gòn từ những năm 1954
Trong Luận án Tiến sĩ đề tài Báo chí Sài Gòn từ năm 1953-1964 (Dương Kiều
Linh, Đại học KH XH và NV TP HCM, 1999), tác giả đề cập một cách tổng quát về bối cảnh xã hội, tình hình địa lý chính trị, cách thức và mức độ các yếu tố tác động lên đời sống tinh thần của người Sài Gòn Sau khi phân tích tình hình xã hội-chính trị, tác giả cho rằng nền báo chí Sài Gòn trong giai đoạn này bị ràng buộc từ thiết chế xã hội
Trang 6mà giai cấp thống trị áp dụng Tác giả cũng đề cập đến sự phân hóa tiêu chí hoạt động của các tòa báo cũng như đội ngũ những người làm báo, bao gồm: người làm báo chuyên nghiệp thường làm cho các tòa báo tư nhân và làm kí giả cho nhiều tòa báo cùng lúc, sống đơn thuần bằng nghề viết báo, và người làm báo là chính khách hoặc đại diện chính quyền: lấy báo chí như diễn đàn tuyên truyền tư tưởng của đảng phái chính trị cầm quyền, những cá nhân này chi phối khuynh hướng chính trị và sự tồn tại
của một tờ báo (từ trang 23 đến trang 46, phần 2: Văn hóa thực dân mới và chính sách
báo chí của chế độ Ngô Đình Diệm; phần 3: Vài nét về báo giới Sài Gòn)
Trong số các dòng báo tiêu biểu mà tác giả phân loại, tác giả có xếp loại Báo chí chuyên biệt, là thể loại chỉ phục vụ cho độc giả ở một số ngành do đòi hỏi có vốn kiến
thức đặc thù Đặc biệt, trong luận án, tác giả đánh giá rằng Tạp chí Bách Khoa do
cung cấp được nhiều thông tin phong phú đa dạng, mang nhiều cách tân trong lối viết báo hiện đại, bài viết tạo ra những phản ánh đa dạng và có giá trị dữ liệu cao và là
diễn đàn của các nhà khoa học Cho nên khác với những báo cùng thời, Tạp chí Bách
Khoa có tác dụng định hướng dư luận cao, một số bài viết Tạp chí Bách Khoa không
phản ánh hoặc né tránh phản ánh sự thật đã tác động trực tiếp lên đời sống văn hóa tư
tưởng của giai cấp trí thức đương thời (trang 102, Diện mạo và tính cách báo chí Sài
Gòn, Loại báo chí chuyên biệt)
Tài liệu khác là Lịch sử Báo chí Việt Nam (Hồng Chương, NXB Hà Nội, 1985);
Lịch sử Báo chí Việt Nam 100 năm phát triển (Hồng Chương, NXB Hà Nội, 1985);
120 năm Báo chí Việt Nam (Hồng Chương, NXB Hà Nội, 1985), tác giả đề cập đến sự
hình thành báo chí Việt Nam từ những bước đầu của Gia Định báo, tờ báo chữ quốc
ngữ đầu tiên, đến báo chí hiện đại ngày nay, bao gồm 3 thời kì:
* 1925-1945: báo chí ở giai đoạn bị trị, phải đấu tranh để tồn tại;
* 1945 (CMT8) - 4/1975: báo chí Cách mạng trở thành báo chí chính thống ở Việt Nam;
* 1975- nay: Báo chí Xã hội chủ nghĩa thống trị Báo chí trong nước
Điểm chung của các tác phẩm là tập trung trình bày các tờ báo chính trong từng thời
kì và đường hướng tư tưởng, kim chỉ nam hoạt động, khuynh hướng chủ bút và
khuynh hướng các bài báo được đăng, ví dụ như Gia Định báo với Trương Vĩnh Ký
và Ernest Potteau, Nông Cổ Mín Đàm (1901) với Canavanggio và Lương Khắc Nhu…
Trang 7Mặt khác, tác giả nêu lên bối cảnh xã hội, chính trị trong và ngoài nước và sự ảnh hưởng của chúng lên những chính sách, nghị định liên quan đến sự thay đổi và phát triển của báo chí Mỗi dòng báo đại diện, cổ súy và phục vụ cho một luồng tư tưởng nhất định Tuy nhiên tác phẩm đã bỏ qua mảng báo chí phục vụ đơn thuần cho nhu
cầu giải trí, khảo luận khoa học kĩ thuật, xã hội nhân văn, trong đó có Tạp chí Bách
Khoa, nghĩa là những tạp chí chuyên biệt ít được quan tâm trong những loại hình
nghiên cứu này
Nhìn chung, các tác giả trên đã có cái nhìn tổng quan về báo chí Việt Nam theo chiều rộng, toàn bộ quá trình phát triển, hay chiều sâu, nghiên cứu theo từng giai
đoạn, nhưng vẫn chưa đặt Tạp chí Bách Khoa ở vị trí trung tâm trong đề tài mặc dù,
tạp chí này đã thu hút nhiều trí thức lớn như Vương Hồng Sển, Bùi Giáng, Nguyễn Hiến Lê…
Trong bài viết Buổi đầu tiên của báo chí Việt Nam của tác giả Đỗ Quang Hưng (tạp chí Xưa và Nay, số 64b, 6/1999, trang 5), tác giả trình bày quan điểm rằng: tuy
những tờ báo chính thức xuất hiện từ những năm 60 thế kỉ 20 nhưng thật ra mầm mống báo chí ở Việt Nam đã có từ lâu thông qua những câu vè, ca dao tục ngữ, những buổi “giảng tập điều” ở đình làng mỗi khi có lệnh vua ban hay các cơ sở thu nhận thông tin có từ thời Lê Thánh Tông như Quảng Văn Đình hay từ thời Gia Long là Quảng Minh Đình Tuy nhiên những tờ báo thật sự với hệ thống phát hành, bộ máy
biên tập in ấn chỉ xuất hiện khi Thực dân Pháp nhúng tay vào Gia Định báo chỉ là tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên còn tờ báo đầu tiên là Le Bulletin officiel de l’Expédition
de Cochinchine (1862) sau đó do bối cảnh xã hội, địa chính trị thay đổi mà nó đổi tên
nhiều lần, cuối cùng nó tồn tại dưới cái tên Le Bulletin Administratif (1902) Nhưng tờ
công báo này hoàn toàn viết bằng tiếng Pháp nên chỉ gói gọn đối tượng độc giả là những sĩ quan, viên chức người Pháp nên năm 1863 Thực dân Pháp đã cho phát hành
1 tờ báo tiếng Hán để lưu hành trong thuộc địa vừa chiếm được tên là Le Bulletin des
Communes nhưng tờ báo bằng chữ Hán này chỉ là công cụ nhất thời, ngay khi Gia Định báo ra đời, nó lập tức bị đình bản Sau đó tờ báo thuộc thể loại Journal officiel ra
nhiều số hơn bao gồm những tin tức ngắn gọn, có tính chất thời sự, và nội dung được
mở rộng hơn, tiêu biểu là tờ Les Courses de Saigon (1864) Về các tạp chí khảo cứu khoa học, tác giả chỉ ghi nhận Bulletin de Comité agricol et industriel de la
Trang 8Cochinchine (1869-1881) và Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises do Hội
nghiên cứu Đông Dương phát hành
Năm 2011, tác giả Nguyễn Vy Khanh có một bài về Tạp chí Bách Khoa và Văn
học Miền Nam1 Đối với chúng tôi, đây là công trình gần gủi nhất và chúng tôi có thể
kế thừa để tiếp tục mở rộng Tác giả đã cung cấp một nguồn thông tin phong phú và khách quan về các tác giả và văn phẩm, đặc biệt là văn học Việt Nam đăng trong tạp chí này Dựa theo khuynh hướng nghiên cứu của tác giả Nguyễn Vy Khanh, chúng tôi
sẽ khai triển bộ phận các bài viết của các tác giả Việt Nam về nước Pháp đăng trên tạp chí này
Các luận án, bài viết trên đã đề cập từ tổng thể đến cụ thể đến nhiều khía cạnh và diện mạo báo chí miền Nam Việt Nam với nhiều thông tin hữu ích, giá trị khoa học xã hội cao, là những nguồn tài liệu tham khảo quý giá Tuy nhiên, nét mới của đề tài là
đề cập tới một bộ phận tri thức Việt Nam có những bài viết, những khảo sát, hoặc bài
cảm nhận về nước Pháp, con người và tư tưởng của Pháp trên Tạp chí Bách Khoa Sài
Gòn từ 1957-1975 Do đó đề tài này sẽ góp phần vào việc nghiên cứu sự giao lưu văn hóa Pháp –Việt trong giai đoạn được khảo sát
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Đề tài nghiên cứu này không nằm ngoài định hướng chung của Trường ĐH KHXH&NV, đó là giảng dạy theo định hướng nghiên cứu Như vậy, đề tài có mục đích giúp chúng tôi làm quen với môi trường học thuật cũng như khả năng tự chủ trong học tập và nghiên cứu
Bên cạnh đó, lý do chính nhất của việc thực hiện đề tài này là tìm lại, duy trì và phổ biến những nghiên cứu, bài viết có giá trị của các trí thức Việt liên quan đến đời
sống văn hóa, ngôn ngữ, văn học Pháp trên Tạp chí Bách Khoa Sài Gòn Từ đó chúng
tôi sẽ xem xét về sự giao lưu của hai nền văn hóa Pháp – Việt, đặc biệt là ảnh hưởng của văn hóa, tư tưởng Pháp đến văn hóa Việt nói chung và đời sống các trí thức Việt nói riêng trong giai đoạn hậu thuộc địa
1
Tham khảo: “Tạp chí Bách Khoa và văn học miền Nam” của Nguyễn Vy Khanh trên trang
Trang 94 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Đề tài sẽ được khai triển dựa trên lý thuyết Xã hội học báo chí Lợi ích của việc ứng dụng lý thuyết này đã được chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu về truyền thông đại chúng, đặc biệt từ giữa thế kỷ XX, khi xã hội học phát triển mạnh mẽ
và góp phần vào việc phân tích các hiện tượng của đời sống xã hội Trong phạm vi văn hoá, xã hội học báo chí giúp chúng tôi xác định những tác nhân hình thành đời sống nội tại của đời sống báo chí: toà soạn, chủ bút, nhà báo, công chúng độc giả, lưu hành và phổ biến Đây là những nhân tố cơ bản của báo chí Mặt khác, dựa trên Xã hội học báo chí sẽ cho thấy tác động của các thiết chế xã hội, chính trị khác trên sự phát triển của báo chí, và ngược lại, tác động của báo chí trên các thiết chế khác Khảo sát
và sưu tầm các bài viết và nghiên cứu về con người, đất nước và tư tưởng Pháp nhất thiết phải khởi đi từ lý thuyết này Chẳng hạn trong nội dung của đề tài, chúng tôi sẽ bàn về khái niệm tác giả (nhà báo) Lý thuyết Xã hội học sẽ soi sáng cho chúng tôi về các tiêu chí phân loại nhà báo (chuyên nghiệp hay nghiệp dư), vị trí và tầm ảnh hưởng của nhà báo trong xã hội, nhà báo với tư cách là nơi chuyển tiếp văn hóa tri thức (vừa
là người tiếp nhận vừa là người phổ biến), tương quan giữa tác giả và độc giả, v.v Tất nhiên chúng tôi sẽ giới hạn những phân tích này đối với trường hợp những tác giả
chính và một vài cộng tác của Tạp chí Bách Khoa
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nhiên cứu, để dễ dàng cho việc phân tích, ban đầu chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp điều tra số liệu, cứ liệu, phương pháp tổ hợp và phương pháp thống kê – phân loại để thu thập tất cả bài nghiên cứu, bài viết về các lĩnh vực trên
Tạp chí Bách Khoa có liên quan đến nước Pháp
Phương pháp miêu tả và phân tích sẽ trở thành phương tiện ưu tiên đối với chúng tôi trong giai đoạn tiếp theo của đề tài, nhằm phân loại có hệ thống các bài viết theo từng lĩnh vực
Trong khi sử dụng phương pháp phân tích, chúng tôi kết hợp vận dụng phương pháp lịch sử Phương pháp này sẽ cho phép chúng tôi tìm hiểu về vai trò và chức năng
xã hội-văn hóa của báo chí, cũng như những hoạt động của giới trí thức Miền Nam
liên quan đến Tạp chí Bách Khoa
Trang 105 Giới hạn của đề tài
Những khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài liên quan đặc biệt đến giai đoạn sưu tầm tư liệu và thời gian nghiên cứu Một mặt, vì đề tài tập hợp một lượng bài khá lớn, trong khi đó ở hai thư viện trường ĐHKHXH&NV-TPHCM và Thư viện Khoa học Tổng hợp không có số liệu đầy đủ, chúng tôi đã mất nhiều thời gian để trích lục các bài viết Bên cạnh đó, để có được các bài viết này chúng tôi gặp khó khăn về vấn
đề kinh phí nhằm có thể thực hiện một cách trọn vẹn mong muốn của nhóm Ngoài ra, thời gian đọc số tài liệu này cũng là một khó khăn vì hầu hết các bài đều mang một nguồn tri thức nhất định mà đối với chúng tôi là khá mới mẻ để tiếp cận Khó khăn khác nữa liên quan đến nguồn tài liệu tham khảo để phục vụ cho việc viết báo cáo khiến chúng tôi gặp không ít trở ngại trong việc định hình cấu trúc nghiên cứu và cơ
sở lý thuyết Dù vậy, những gì chúng tôi thực hiện được cũng là những kết quả phần nào làm chúng tôi thỏa mãn và hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc phát triển nghiên cứu khoa học sinh viên
6 Đóng góp mới của đề tài
Tạp chí Bách Khoa Sài Gòn là một trong những tạp chí quan trọng trong giới trí
thức Việt Nam giai đoạn 1954-1975 tại miền Nam Do đó đã có nhiều bài nghiên cứu, bài viết của các tác giả trong nước về tạp chí này Đặc biệt có nhiều đề tài đã khai thác tạp chí này như một nguồn dữ liệu qúy giá Tuy nhiên, trong lĩnh vực các bài viết vế nước Pháp trên tài liệu này, thì chưa có công trình nghiên cứu nào quan tâm một cách nghiêm túc và có hệ thống Trong khi đó, không thể phủ nhận những đóng góp của các bài viết này như là một di sản văn hóa và tri thức trong đời sống khoa học tại Việt Nam Điều quan trọng hơn nữa chúng ta không thể không đề cập đến, đó là tìm hiểu diện mạo của giới tác giả như một đối tượng đặc thù Họ chính là cầu nối cho công cuộc cách tân xã hội và giao lưu văn hóa Đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ cố gắng phác thảo khía cạnh này và như là điểm khởi đầu cho những nghiên cứu sâu hơn sau này Đóng góp chủ yếu của đề tài là tạo ra ý thức thừa nhận quá trình hình thành và phát triển của đời sống tri thức
Trang 117 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Đề tài góp phần chứng minh sự tồn tại của văn hóa Pháp trong đời sống tri thức Việt cũng như sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp và sự giao thoa văn hóa Pháp-Việt lên một bộ phận tri thức Việt Nam trong giai đoạn được khảo sát Ngoài ra, đề tài còn có
ý nghĩa ứng dụng là làm tài liệu tham khảo dành cho sinh viên khoa Ngữ văn Pháp, khoa Văn hóa học và các đối tượng muốn tìm hiểu, nghiên cứu về Pháp hoặc bộ phận
tri thức Việt từ 1954-1975 tại miền Nam
Trang 12CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VỀ TẠP CHÍ BÁCH KHOA
Sau khi tìm kiếm và khảo sát, nhóm nghiên
cứu chúng tôi trình bày khái quát về tạp chí dựa
trên những tài liệu có liên quan cụ thể như: bài
tiểu luận Tạp chí Bách Khoa và Văn học Miền
Nam (2011) của Nguyễn Vy Khanh, Hồi ký
Nguyễn Hiến Lê của Nguyễn Hiến Lê, Từ Huỳnh
Văn Lang đến Lê Ngộ Châu đến các tác giả viết
cho Bách Khoa của Nguyễn Thụy Hinh (Xem
phần tài liệu tham khảo)…Trong các tư liệu này,
Tạp chí Bách Khoa được đề cập đến một cách rất
chi tiết về lịch sử hình thành, phát triển cũng như cơ cấu hoạt động tổ chức của tòa soạn tạp chí này Điều này sẽ góp phần làm rõ hơn về mục đích cũng như tâm thế của
các tác giả có bài đăng trên Tạp chí Bách Khoa cũng như tầm ảnh hưởng của nền tri
thức,văn hóa Pháp đến trí thức Việt Nam thời đó thông qua các bài được đăng trên tạp
chí này
1.1 Sự hình thành của Tạp chí Bách Khoa
Theo những tư liệu trên và qua khảo sát của chúng tôi, Bách Khoa là một bán
nguyệt san, mỗi tháng phát hành 02 số vào ngày 1 và ngày 15 hàng tháng Địa chỉ tòa soạn tại số 160 Phan Đình Phùng, Sài Gòn (bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiểu,
HCM) Tạp chí Bách Khoa có nguồn gốc từ hội Văn hóa bình dân Cụ thể hơn là sau
chiến thắng Điện Biên Phủ, từ năm 1956, miền Nam tạm ổn định, một số trí thức trẻ
du học từ nước ngoài về muốn đem những kiến thức đã học góp phần xây dựng quê
Trang 13hương, hàn gắn vết thương chiến tranh; và trong đó ông Huỳnh Văn Lang, một du học sinh từ Hoa Kỳ, là một trong những người có công đi đầu phong trào này Huỳnh Văn Lang, ban đầu, cùng một số du học sinh, trí thức khác lập thành một nhóm nhỏ cùng nhau bàn luận, góp ý, phê bình… về các lĩnh vực kinh tế, tài chính, xã hội Về sau, do nhu cầu muốn mở rộng phạm vi góp ý, phê bình nên nhóm của ông Huỳnh Văn Lang xin ra một tờ báo Mặc dù chính quyền Ngô Đình Nhiệm (1955-1963) lúc bấy giờ hạn chế việc ra báo nhưng nhờ sự gợi ý của Bộ trưởng Thông tin Trần Chánh Thành thời
đó, cộng thêm những mối quan hệ rộng của mình mà ông Huỳnh Văn Lang đã đề nghị với Hội trưởng hội Văn hóa bình dân xin nhượng lại tên báo (manchette) của một tờ báo đã chết Lúc bấy giờ, hội này có tập san tên Bách Khoa bình dân ra 2 số rồi đình bản Nhóm ông Huỳnh Văn Lang đã xin giấy phép ra báo tiếp dưới tên đó mà bỏ 2
chữ “bình dân” đi.Vậy là tạp chí mang tên Bách Khoa ra đời từ đó.2
1.2 Quá trình phát triển của Tạp chí Bách Khoa
Tạp chí Bách Khoa số 1 ra mắt ngày 15/1/1957 và số cuối 426 ra ngày 20/4/1975
Tờ báo đã tồn tại 18 năm3, đó là thời gian khá dài so với một số tờ báo lúc bấy giờ
Từ 1957 đến 1958, dưới sự điều hành của chủ nhiệm kiêm chủ bút Huỳnh Văn Lang cùng với sự cộng tác của một số cây bút có kinh nghiệm như Hoàng Minh Tuynh, Phạm Ngọc Thảo…, tòa soạn đã cho ra những số báo đầu tiên, nội dung đa số thiên về chính trị, kinh tế và công giáo Năm 1958, Lê Ngộ Châu điều hành tòa soạn khi ông Huỳnh Văn Lang đi tu nghiệp ở Mỹ nhưng tờ báo vẫn đứng tên ông Huỳnh Văn Lang Nói chung, vào những năm đầu, những bài viết không mấy đặc sắc, nặng nề về kinh tế
và công giáo nhưng Tạp chí Bách Khoa vẫn được sự tài trợ và ủng hộ đặt quảng cáo
từ các công ty lớn, một số các cơ quan, được sự hỗ trợ của các viên chức cao cấp nhờ vào uy tín và mối quan hệ ngoại giao của chủ nhiệm Huỳnh Văn Lang lúc đó
Đến năm 1959, tờ báo có những bước tiến triển hơn là do có khuynh hướng đường lối rõ ràng: không theo một đảng phái nào và một phần nhờ công của ông Lê Ngộ Châu điều hành tòa soạn nên tờ báo được sự ủng hộ của đông đảo độc giả ở Sài - Gòn
Trang 14Nhà văn,nhà báo,nhà nghiên cứu Huỳnh Văn Lang
và miền Trung như học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) đã nhận xét4 Cho đến tháng
2 năm 1965 dù sau đảo chánh 1963, ông Lang bị bắt về tội Cần Lao Bởi vì sự việc
này mà tờ báo đứng trước nguy cơ bị tước giấy phép ra báo Để cứu vãn tình thế, Bách
Khoa từ tháng 2 năm 1965 đổi tên thành Bách Khoa thời đại, tháng 1 năm 1970 lấy lại
tên Bách Khoa và ông Lê Ngộ Châu chính thức làm chủ nhiệm từ tháng 2 năm 1965
cho đến khi tờ báo đình bản
Vào gần những năm cuối, số lượng độc giả giảm đồng thời do giấy in và nhân
công, vật giá gia tăng nên Bách Khoa phải giảm số in (thời 1959-1963) mỗi số bán
được từ 4500 đến 5000 trong đó 1000 độc giả mua dài hạn 100 ở ngoài nước, sau1968 xuống còn phân nửa và đến cuối tháng 4 năm 1975 thì bị đình bản5 Đây là thời điểm
cao trào cách mạng, giải phóng đất nước không riêng gì Bách Khoa các tờ bào khác
cũng vậy
1.3 Cơ cấu điều hành của Tạp chí Bách Khoa
Có thể nói, Tạp chí Bách Khoa quy tụ giới trí thức,
các cây bút có kinh nghiệm thời đó Vào giai đoạn đầu có
sự góp mặt các chuyên viên cấp cao của chính quyền và
đảng Cần Lao Đó là: ông Huỳnh Văn Lang và Hoàng
Minh Tuynh Huỳnh Văn Lang, nguyên Tổng Giám đốc
viện Hối Đoái là chủ điều khiển tờ báo này và viết nhiều
bài về kinh tế, vừa là chủ nhiệm kiêm chủ bút của Bách
Khoa Ông Hoàng Minh Tuynh, nguyên Phó Tổng
Giám đốc viện Hối Đoái, là trợ thủ đắc lực của ông Lang chuyên viết bài về chính trị
xã hội, tôn giáo Tuy nhiên về sau, hai ông này rút ra khỏi chính quyền nhưng vẫn tiếp tục có những cống hiến cho tờ báo trong một vài năm sau đó Ngoài ra, tòa soạn ban đầu có sự góp mặt của những người đã tham gia kháng chiến chống Pháp trở về, không hoạt động cho kháng chiến nữa Cây bút Phạm Ngọc Thảo đóng góp những
4
“Trong lịch sử báo chí của nước nhà, tờ Bách Khoa có một vị trí đặc biệt Không nhận trợ cấp của chính quyền, không ủng
hộ chính quyền mà sống được 18 năm từ 1957 đến năm 1975 bằng tờ Nam Phong, có uy tín tập hợp được nhiều cây bút giá trị như tờ Nam Phong, trước sau các cộng tác viên được khoảng 100 người” (Hồi ký, tr 145), trích trong bài: “Tạp chí Bách Khoa và văn hoc miền Nam” của Nguyễn Vy Khanh trên
5
Tham khảo: “Tạp chí Bách Khoa và văn học miền Nam” của Nguyễn Vy Khanh
Trang 15năm đầu 20 bài báo về chiến lược, binh pháp tôn tử, quân sự, cuộc chiến tranh văn hóa với ảnh hưởng của Pháp…; về sau có sự góp mặt của ông Lê Ngộ Châu lúc đó nguyên chức hiệu trưởng một trường tư thục ở Hà Nội (1951-1954) và một số cây bút nòng cốt khác như: Võ Phiến và Nguyễn Hiến Lê, các vị khác, có người có mặt vào giai đoạn đầu, về sau thưa dần như: Nguiễn Ngu Í, Cô Liêu, Vũ Hạnh; có những người mới lần lượt đến vào giai đoạn sau: Lê Tất Điều, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Thị Hoàng, Hoàng Ngọc Tuấn, Trùng Dương, Y Uyên, Vô Ưu, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Mộng…
Phải khẳng định rằng sự hiện diện của Tạp chí Bách Khoa luôn gắn liền với tên
tuổi của hai nhân vật quan trọng, đó là: ông Huỳnh Văn Lang và ông Lê Ngộ Châu
Nếu không có hai nhân vật này thì sẽ không có Bách Khoa
Đầu tiên là ông Huỳnh Văn Lang, Tổng Giám đốc viện Hối Đoái của chính quyền
lúc bấy giờ Ông là người có công sáng lập ra tờ bán nguyệt san Bách Khoa, và cũng
là chủ nhiệm kiêm chủ bút trong những năm đầu của tờ báo này (từ năm 1957 đến
năm 1965) Những năm đầu Bách Khoa ra đời là những năm khó khăn về tài chính
cũng như nguồn nhân lực cho sự tồn tại của tờ báo, và chính ông Huỳnh Văn Lang là người mua lại tên báo, góp vốn xây dựng tờ báo, cũng là người xin tài trợ từ các cơ quan, và là người viết bài kim duyệt bài từ các cộng sự Không chỉ thế, nhờ mối quan
hệ ngoại giao rộng rãi của ông, dựa vào uy tín của ông Lang mà Tạp chí Bách Khoa
luôn nhận được nhiều đơn hàng đặt quảng cáo từ các công khi lớn ngay cả sau này khi ông đi tu nghiệp ở nước ngoài Cũng chính nhờ những quảng cáo, sự tài trợ này mà tờ báo có thể sống qua những năm đầu Có thể nói, ông Huỳnh Văn Lang đã dồn rất nhiều tâm huyết vào tờ báo này
Người thứ hai cũng quan trọng không kém, đó là ông Lê Ngộ Châu Lê Ngộ Châu
được xem là linh hồn của Tạp chí Bách Khoa Các cộng sự làm việc với ông thường
gọi ông là Lê Châu Ông sinh năm 1922 và mất ngày 24/9/2006 tại Sài Gòn Trong lúc ông Huỳnh Văn Lang đi tu nghiệp, ở giai đoạn đầu, Lê Ngộ Châu đã quản lý tòa soạn cùng với sự trợ giúp rất đắc lực của ông Huỳnh Minh Tuynh (người thay mặt ông Huỳnh Văn Lang để làm việc với ông Châu) và bà Phạm Ngọc Thảo hay Phạm thị Nhiệm (em gái của giáo sư Phạm Thiều, trường Pétrus Ký, Sài Gòn) người đầu tiên
giữ chức vụ thư ký tòa soạn và giới thiệu cho Bách Khoa những nhà văn Nguyễn Hiến
Trang 16Lê, BS Nguyễn văn Ba, BS Dương Quỳnh Hoa và nhất là anh Nguyễn Hữu Ngư (Nguyễn Ngu Í) (em nuôi của GS Phạm
Thiều) người đã giới thiệu thêm Bùi Giáng,
Nguyễn Thị Hoàng v.v…Về sau, mọi công việc
của tờ báo đều do ông Lê Ngộ Châu một mình
quyết đoán và điều hành Ông Lê Ngộ Châu có
kiến thức sâu rộng, có mối quan hệ rộng với các
viên chức, với các nhà văn hóa lớn Theo ông
Nguyễn Hiến Lê, bắt đầu từ năm 1960 khi Tạp
chí Bách Khoa dần dần được tin cậy, ông Châu
đã tập hợp được nhiều cây bút trẻ có tài được đánh giá cao qua các bài viết đăng trên tạp chí này.Và cũng nhờ vậy mà những cây bút đó được nhiều người biết đến và được
sự mến mộ của độc giả như: Vũ Hạnh, Lê Tất Điều, Cô Liêu, Phạm Việt Châu, Đoàn Thêm, Phan Văn Tạo, Trùng Dương, Túy Hồng, Thụy Vũ… Không những thế, nhiều tác giả đang sinh sống ở nước ngoài vào thời đó cũng hay gửi bài về tòa báo cộng tác với ông Châu
1.4 Xu hướng của Tạp chí Bách Khoa
Có lẽ Tạp chí Bách Khoa là tạp chí duy nhất của miền Nam thời đó có các số đầu
phải in lại theo yêu cầu của độc giả6 Sở dĩ Tạp chí Bách Khoa thu hút được sự quan
tâm nhiều nhà trí thức và độc giả là bởi đó là tạp chí có lẽ khá đặc biệt ở thời đó
Trong Tạp chí Bách Khoa số ra mắt đầu tiên cũng đã xác định tạp chí này là: “diễn
đàn chung của mọi người thiết tha đến các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…”; số ra ngày 15 tháng 1 năm 1957 cũng có bài viết xác định mục tiêu của tạp chí
này7 Thật vậy, Bách Khoa là một tờ báo văn học lâu đời nhất nhưng cũng tập hợp
nhiều cây bút có khuynh hướng chính trị trái ngược nhau Tuy nhiên, việc đó lại
không ảnh hưởng gì đến việc các nhà văn cộng tác cùng nhau với Bách Khoa như ông
6
Tham khảo :bài tiểu luận “Tạp chí Bách Khoa và văn học miền Nam” của Nguyễn Vy Khanh trên trang
7
“quy tụ mọi người không cần cùng một tôn giáo, một quan điểm chính trị, một tổ chức chính trị chặt chẽ mới có thể trở thành bạn đường trong lúc tìm kiếm bất chấp đến dĩ vãng nếu hiện thời đi cùng một con đường” trích trong bài viết “Tạp chí Bách Khoa và văn học Miền nam” của Nguyễn Vy Khanh trên trang
Nhà báo Lê Ngộ Châu (1922-2006)
Trang 17Nguyễn Hiến Lê đã nhận xét8 Thêm vào đó, tờ Tạp chí Bách Khoa là một tờ báo độc
lập, không hề nhận sự hậu thuẫn nào từ chính quyền lúc bấy giờ hay nhận sự trợ giúp của bất kỳ tổ chức chính trị nào, không làm báo với mục đích vụ lợi hay làm giàu cho bất cứ cá nhân nào; cho nên tạp chí có thể được xem như “miền đất hứa”, một môi trường thoải mái để các tác giả, các nhà trí thức, giáo sư hay văn nghệ sĩ… cùng nhau bàn luận, góp ý, phê bình… về tất cả các lĩnh vực trong xã hội nhằm đưa ra chánh kiến hay chỉ là suy nghĩ cá nhân.Và mục tiêu của các nhà văn, các thành viên của tòa
soạn Bách Khoa9 đã được đăng trên Tạp chí Bách Khoa số đầu tiên vào ngày 15 tháng
1 năm 1957 Hơn nữa, Tạp chí Bách Khoa được sự ưu ái của độc giả, nhất là giới trí
thức là một phần bởi vì tạp chí rất biết quan tâm và tiếp thu ý kiến, sự góp ý của độc
giả để cải tiến tờ báo được tốt hơn Thật vậy, có thể rằng rằng Tạp chí Bách Khoa như
chiếc cầu nối giữa những thành phần trí thức, những nhà cầm bút chân chính đúng
như câu nói của Phan Du được đăng trong số Bách Khoa 361- 362: “bất luận là già
trẻ, là mới cũ, là duy vật duy tâm, là Phật giáo hay Công giáo, khuynh hướng chính trị văn chương như thế nào, đều được đón nhận với sự cảm thông và được chung dựng trong cái thế hòa đồng cởi mở”
Tuy nhiên, cái cốt lõi vẫn là các bài viết trên Tạp chí Bách Khoa có nội dung rất đa
dạng và phong phú, hay nói cách khác là đủ các thể loại Chúng đề cập đến các khía cạnh khác nhau của nhiều mảng, nhiều lĩnh vực trong cuộc sống xã hội như: kinh tế, chính trị, tôn giáo, triết học, văn học, các hoạt động văn nghệ, ngữ học… Vì theo quan
niệm của Bách Khoa, không nhất thiết “chỉ nói về một tôn giáo, vì đạo đức của Phật
giáo cũng đáng để ta tôn trọng như lòng nhân ái của Chúa Jesus”10 Điều này cũng
như nhà văn Nguiễn Ngu Í phát biểu: “ đã mang cái nghiệp…bách khoa” Các bài viết trong tờ Bách Khoa được phần thành 2 phần chính yếu: Phần Biên khảo, Nghị luận
8
“Tư tưởng chính trị của những cây bút nồng cốt của Bách Khoa có khi trái ngược nhau:Vũ Hạnh thiên cộng, sau theo cộng.Võ Phiến chống cộng.Đoàn Thêm, Phan Văn Tạo, không ưa cộng nhưng cũng không đả; không thích Mỹ nhưng cũng không nói ra(…)Tôi, có lẽ cả Nguyễn Ngu Í và Lê Ngộ Châu có cảm tình với kháng chiến (…) Mặc dầu vậy, các an hem trong tòa soạn vẫn giữ tình hòa hảo với nhau Xu hướng phản nhau như Vũ Hạnh và Võ Phiến mà vẫn trọng tự tưởng của nhau, ít nhất trong 10 năm đầu Đó là điểm tôi quý nhất:(trích Đời viết văn của tôi của Nguyễn Hiến Lê, nxb Văn Nghệ, Cali
1986, trang 143).
9
“Xây dựng nước nhà về toàn diện là nhiệm chung của mọi người, trong đó có việc góp phần sáng kiến cá nhân, dù trúng,
dù sai đều có ích lợi, miễn là tư tưởng ấy xuất phát từ ý muốn tốt và thành thực Một quốc gia nếu chỉ có nền kinh tế vững chắc chưa đủ Thêm một trình độ chính trị cao cũng chưa hoàn toàn Một quốc gia cần phải là tổ hợp tất cả: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa xã hội xây dựng nước Việt Nam hẳn là xây dựng đủ các ngành, các khoa, các phương tiện”
10
Trích trong bài tiểu luận “Tạp chí Bách Khoa và văn học miền Nam” của Nguyễn Vy Khanh trên trang
Trang 18gồm những đề tài như Chính trị, Dân tộc học, Giáo dục, Khoa học, Nghệ thuật, Ngôn ngữ học, Sử - Địa, Tiểu sử Danh nhân, Tôn giáo, Văn học &Văn hóa v.v Phần Văn nghệ gồm: Đàm thọai phỏng vấn, Tùy bút, Hồi ký, Bút ký, Truyện ngắn, Thơ, Truyện dài Tạp chí này có những bài viết cô đọng và súc tích, tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc, về các vấn đề liên quan đến văn học cổ xưa của nước nhà, đồng thời cũng có những bài viết giới thiệu, bình luận về các trào lưu tư tưởng phương Tây mới xuất
hiện lúc bấy giờ: tiểu thuyết mới, hiện tượng học, cơ cấu luận… Mà cụ thể hơn, Bách
Khoa giúp độc giả có cơ hội tiếp cận với những khám phá mới, sự phát triển của nhân
loại qua các bài viết của nhà văn Nguyễn Văn Trung (biệt hiệu: Phan Mai, Hoàng Thái Linh) về: chủ nghĩa hiện sinh, giới thiệu các triết gia, triết thuyết…; các bài của giáo sư Trần Thái Đỉnh (biệt hiệu: Trần Hương Tử) về chủ nghĩa hiện sinh (từ tháng 10/1961 đến tháng 9/1962), về các đề tài triết học với chủ thuyết của K.Jaspers, Jean-Paul Sartre, F.Nietzsche, Huserl… hay nhà văn Trần Quý Thành, Nguyễn Anh Linh viết bài về tư tưởng của Ludwig Feuerbach, Marleau - Ponty…; nhắc đến tình hình chính trị, nhất là về các chính sách cũng như thể chế của nước Pháp, các diễn biến quan hệ, tranh chấp giữa một số nước và thuộc địa trên thế giới thì phải nhắc tên nhà văn Huỳnh Minh Tuynh với các biên khảo của ông Nói về trào lưu văn học như kịch, tiểu thuyết mới, Nguyễn Văn Trung tiêu biểu viết về kịch Bertolt Brecht, tiểu thuyết Nathalie Sarraute, Michel Butor… và những bài đề cập đến vai trò và sứ mạng của nhà văn Về mảng Ngữ học Việt Nam, đề tài cải tổ nền giáo dục và chương trình giáo dục được nhà văn Nguyễn Hiến Lê nhắc đến, Trần Ngọc Ninh thì có bài viết về tư tưởng Việt Nam, cơ cấu Việt ngữ… Các tổng kết cuối năm về chủ đề sinh hoạt văn nghệ và xuất bản gắn liền tên tuổi của các nhà văn như: Nguyễn Hiến Lê, Vũ Hạnh (biệt hiệu: Cô Phương Thảo), Ngu Í, Võ Phiến (biệt hiệu:Thu Thủy)…và các bài điểm sách của Đặng Tiến, Cô Liêu, Thế Nhân,Vũ Hạnh, Nguyễn Hiếu Lê… Văn chương
phản kháng và phản chiến chiếm một phần quan trọng trong Bách Khoa ở những năm
đầu cùng với những tên tuổi như: Kim Dương Vương (Tai Ương), Thế Uyên, Trần Hoài Thu, Hồ Minh Dũng… Từ các bài nghiên cứu về sử học của giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu, Linh mục Nguyễn Phương đến các bài về âm nhạc của giáo sư Trần Văn
Khê; hát nói của cụ Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề Không chỉ thế, Bách Khoa còn
có một số bài rất có giá trị về đạo Lão và Y học Đông phương của bác sĩ Trần Văn
Trang 19Tích, v.v… Ngoài những cây bút tiêu biểu được nêu trên, còn nhiều cộng sự khác
cũng có những đóng góp quan trọng để làm nên tên tuổi của tờ Bách Khoa Đồng thời,
các bài viết trên tạp chí có lối viết đơn giản giúp độc giả dễ hiểu bởi các các thành
viên của tòa soạn quan niệm “không cứ phải cao siêu, vì trải nghiệm của người lao
động cũng quan trọng như lý thuyết của học giả” Về mặt nội dung là vậy, còn về hình
thức: vẽ bìa, tranh biếm họa…là do họa sĩ Phạm Tăng phụ trách những năm đầu, về
sau là họa sĩ Văn Thanh chịu trách nhiệm Bởi bản chất của Bách Khoa là tờ tạp chí
khoa học nghiên cứu có thể rất kén người đọc nên hầu hết độc giả nằm trong giới trí thức trong đó số người đứng tuổi chiếm đa số Cũng như nhà văn Nguyễn Hiến Lê nhận xét:
“"Từ trước tới sau, Bách Khoa giữ được trọn tình cảm của hạng độc giả đứng tuổi; còn giới
trẻ thì chê là khô khan, nặng về biên khảo mà nhẹ về sáng tác (thơ, tiểu thuyết) Lẽ đó dễ hiểu."
(trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê, chương XXVII) 11 .”
11
Tham khảo theo trang web: http://maxreading.com/sach-hay/hoi-ky-nguyen-hien-le/chuong-xxvii-35947.html, tham khảo ngày 20/01/2013.
Trang 20CHƯƠNG 2 LĨNH VỰC CÁC BÀI VIẾTVỀ NƯỚC PHÁP TRÊN
TẠP CHÍ BÁCH KHOA
Theo thống kê của chúng tôi, Tạp chí Bách Khoa có 426 số, gần 6400 bài viết trên
nhiều lĩnh vực khác nhau như: văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế, văn học, các chuyên mục về bình luận, biên khảo, sinh hoạt văn nghệ, thời sự… Trong đó số bài viết liên quan đến nước Pháp có 265 bài / 6400 bài, chiếm tỉ lệ gần 1/30 trải đều trên tất cả các
số Chúng tôi thống kê được 35 bài viết về tư tưởng triết học, về truyện dịch và giới thiệu sách mới là 34 bài, cuối cùng là mục bình luận văn học chiếm 33 bài Nếu như lĩnh vực Văn hóa - Xã hội tỏ ra là một địa hạt được quan tâm nhiều, với 123 bài, thì vấn đề Kinh tế - Chính trị lại có vẻ ít được lưu tâm hơn, nhưng cũng chiếm 40 bài trên tổng số
Các bài viết hầu như đáp ứng được tính chất thời sự và theo kịp xu hướng, trào lưu của nước Pháp, hay nói chính xác hơn là cập nhật kịp thời không chỉ là các tin tức về thời sự kinh tế chính trị mà trên lĩnh vực Văn học - Triết học cũng bàn về những tư tưởng mới, những tác phẩm mới ngay tại thời điểm đó Lẽ dĩ nhiên tất cả đều được các tác giả biên khảo có chọn lọc, nhắm đến nhu cầu của độc giả tại Việt Nam đương thời,
và đặc biệt phù hợp với văn hóa Việt Nam Do đó chúng tôi có thể khẳng định những
bài viết về đất nước, tư tưởng, con người Pháp trên Tạp chí Bách Khoa đáp ứng được
nhu cầu của độc giả, chỉ có một vấn đề là những bài đề cập về triết, về tư tưởng về bình luận văn học khá khó, đòi hỏi người đọc phải có một trình độ nhất định mới có
thể hiểu được Nhưng theo chúng tôi, đây là đặc điểm của Bách Khoa, nghĩa là tạp chí
không nhất thiết phải vươn tới một số lượng độc giả đại trà, mà dành cho công chúng
là trí thức Số lượng thống kê của chúng tôi cho thấy, từ 1957-1968 tỷ lệ bài xuất hiện đều đặn và dày hơn so với giai đoạn sau 1969-1975 Một phần là do một số tác giả có kiến thức và am hiểu về tư tưởng, con người, đất nước Pháp vì một số lý do cá nhân
mà ngưng viết cho Bách Khoa Mặt khác, là do có sự thay đổi, chuyển biến của xã hôi nên Tạp chí Bách Khoa cũng có sự thay đổi về nội dung để thích ứng với nhu cầu của
Trang 21đôc giả Tuy nhiên, với số bài này, chúng tôi có thể khẳng định rằng những bài viết
liên quan đến Pháp có một vị trí nhất định trong tờ Tạp chí Bách Khoa Có thể nói,
những bài viết này như là cầu nối văn hóa giữa phương Đông và phương Tây, giữa độc giả Việt Nam với thế giới, với tri thức nhân loại mà trên hết là với nước Pháp Như đã nói ở trên, những bài viết này không xoay quanh một lĩnh vực nhất định mà
nó viết về nhiều mảng khác nhau như: triết học, kinh tế, chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật… Điều này cũng chứng tỏ rằng những bài viết có liên quan đến Pháp nói
riêng, hay những bài khác trên Bách Khoa có chức năng cung cấp tri thức Chúng góp
phần mở rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết của độc giả Hơn thế nữa, những bài viết về mảng văn học nghệ thuật như: truyện dịch, thơ… là món ăn tinh thần cho độc giả và là nguồn cảm hứng sáng tạo của những nhà văn nhà thơ
2.1 Các bài viết về Kinh tế - Chính trị
Mảng đề tài Kinh tế - Chính trị là mảng không thể thiếu trong Tạp chí Bách Khoa
Tuy số bài viết về đề tài này không nhiều nhưng góp phần làm phong phú về nội dung
của Tạp chí Bách Khoa
Những bài viết đăng trên Tạp chí Bách Khoa liên quan đến kinh tế chính trị có 40
bài Có một số bài được đăng thành nhiều kỳ, nhiều số liên tiếp nhau, hay có một số là biên khảo, một số bài là quan điểm, bình luận của tác giả Qua các bài viết này, chúng
tôi nhận thấy rằng, Tạp chí Bách Khoa có chức năng thời sự thông tin rất cao mà
đáng chú ý nhất đó là những bài viết về kinh tế - chính trị Thật vậy, tuy là một tờ tạp
chí trong nước nhưng Bách Khoa lại cập nhật rất kịp thời và nhanh chóng các tin tức
thế giới, đặc biệt là tình hình chính trị xã hội nước Pháp lúc bấy giờ Tạp chí giúp cho độc giả có thể theo dõi, nắm bắt kịp thời tình hình hoạt động của giới chính khách
Pháp, chẳng hạn bài De Gaulle và những chuyến công du (Từ Trì), Nước Pháp và giải
pháp De Gaulle (Tiểu Dân), hay các vấn đề chính trị sôi động như tình hình thuộc địa
của Pháp qua bài 7 năm chính sách Pháp tai Algérie ( Hoàng Minh Tuynh)…Độc giả
có thể theo dõi tình hình nước Pháp một cách liền mạch từ thời tướng De Gaulle đến tổng thống Pompidou rồi đến Valéry Giscard d’Esteing qua các bài viết tin tức thời sự
được đăng trên tạp chí này Hay qua những bài viết như: Vài nhận xét về Hiến pháp
mới của nước Pháp (Đoàn Thêm), Những bất biến của chính sách đối ngoại Pháp hay
Trang 22Những khuynh hướng đời sống chính trị Pháp (Từ Trì); tác giả đã đưa ra những quan
điểm, nhận định của mình về tình hình nước Pháp cũng như những chính sách của nó
“ Nếu nhìn vào đời sống chính trị của Pháp, người nào cũng đều lấy làm ngạc nhiên vì những
sự chia rẻ sâu xa với những cuộc bàn cãi hết sức aây go Nước Pháp lại có nhiều Đảng, mỗi Đảng có một lập trường riêng Khi một vấn đề chính trị được đặt ra, dân chúng đều bình luận sôi nổi, mỗi người một ý kiến, mỗi Đảng một đường lối, người thì suy luận theo lịch sử,
kẻ thị dựa vào quan niệm triết lý Vì vậy nước Pháp có tiếng là khó cai trị (ingouvernable) Tướng De Gaulle đã nói rằng: “ làm sao mà tôi có thể cai trị nổi nước Pháp, khi mà dân Pháp sản xuất tới 60 loại pho-mát”
…Vì những sự khác biệt trên cũng như vì sự mâu thuẫn trên, nên nước Pháp thường áp dụng
một chính sách trung độ giữa tả phái và hữu phái Vì vậy mà các đảng thuộc trung phái luôn luôn được giữ quyền lãnh đạo chính trị tại Pháp Ngoài ra quốc dân Pháp có khuynh hướng nghi kỵ những đảng cuồng tín nên vai trò của trung phái lại càng quan trọng trong đời sống chính trị của Pháp…
(trích trong bài viết: Những khuynh hướng của đời sống chính trị Pháp - Từ Trì)
“Nền ngoại giao của Pháp luôn luôn bị chi phối bởi những bất biến (constantes) mà chính lịch sử Pháp đã tạo nên Từ những bất biến này, những nguyên tắc ngoại giao căn bản được tạo lập Do đó chính sách đối ngoại của Pháp, từ các vua François đệ nhất, Henri đệ tứ, qua các Thủ tướng Richelieu, Magarin tới ngày nay đều được đặt trong khuôn khổ của những nguyên tắc cơ bản này…
(trích trong bài viết: Những bất biến của chính sách đối ngoại Pháp – Từ Trì)
Điều này rất đúng với định hướng ban đầu của Tạp chí Bách Khoa đưa ra, đó là “
diễn đàn chung của mọi người thiết tha đến các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…” Đồng thời, những bình luận đó sẽ giúp độc giả có cái nhìn tổng quát và sâu
sắc hơn về tình hình chính trị nước Pháp lúc bấy giờ Hơn nữa, những bài viết mang tính thời sự như thế như là cầu nối văn hóa, tư tưởng giữa độc giả với thế giới, mà cụ thể đó là gắn kết giới trí thức Việt Nam thời bấy giờ với những đất nước xa xôi như nước Pháp
Thêm vào đó, trên Bách Khoa, chúng tôi thấy được sự phong phú những luồng tin
khác nhau về chính trị kinh tế Ví dụ như, muốn tìm hiểu về con người cũng như sự
nghiệp của tướng De Gaulle của Pháp, ta có thể đọc qua hai bài viết: một là bài Cuộc
Trang 23đời hào hùng của tướng De Gaulle 12 của Tử Trì và bài còn lại là Một vài giai thoại về
tướng De Gaulle 13 của tác giả Phan Đức - Lê Khuê
Với bài của Tử trì viết về sự kiện ngày 9-11-1970, tướng De Gaulle đột ngột từ trần vì chứng bệnh đau tim Từ 30 năm qua tướng De Gaulle đã đi vào lịch sử không chỉ của nước Pháp mà còn của cả thế giới Tuy đã Tám mươi tuổi nhưng việc ông từ trần làm cả thế giới bàng hoàng thương tiếc Tám mươi năm tuổi đời, De Gaulle đã phục vụ cho nước Pháp trên sáu mươi năm kể từ khi ông bước chân vào đường binh nghiệp Là một quân nhân phi thường ông luôn có những tư tưởng sáng tạo và lúc nào cũng khao khát cải thiện quân đội Là một nhà giải phóng quốc gia, ông đã thành công khi đưa nước Pháp thoát khỏi vòng ô nhục của một quốc gia chiến bại Là một lãnh tụ cương nghị, sáng suốt ông đã cứu nước Pháp thoát khỏi một cuộc nội chiến, khỏi cảnh hỗn loạn lấy lại được uy quyền quốc tế của mình Hơn ba mươi năm phục vụ trong quân đội, bốn mươi năm lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Đức, mười hai năm lưu đày
và mười năm nắm lại chính quyền đã khiến cho cuộc đời ông có tính cách siêu việt, xuất chúng, ít lãnh tụ nào có thể sánh nổi Không dừng bước trước các trở ngại, không nản lòng trước khó khăn, tướng De Gaulle đã hiến cả cuộc đời mình cho nước Pháp, dồn mọi nỗ lực tài trí để tạo lập một nước Pháp theo quan niệm đặc biệt của ông Ông
là cả một con người phức tạp vì cùng lúc là một lý thuyết gia quân sự một nhà giải phóng quốc gia đầy uy tín và là một nhà lãnh đạo quốc gia sắt đá khi đòi quyền lợi tối cao đòi hỏi, nhưng đồng thời cũng là một người Pháp cổ lỗ, đầy tình cảm
Phan Đức - Lê Khuê thì thuật lại vài câu chuyện về cuộc đời tướng De Gaulle, thời còn trẻ ông là một sinh viên có khả năng, nhưng khá kiêu ngạo, vì ông cho rằng những tướng Pháp đều là những kẻ bất tài, bỏ đi, thiếu sáng tạo Tuy nhiên, không ai phủ nhận được tài năng, và công lao của ông dành cho nước Pháp Nhiều người cho rằng ông là kẻ độc tài, lãnh đạo nước Pháp theo ý của mình và không coi ai ra gì, tất cả phải theo lệnh ông, và không hề quan tâm đến những người dưới trướng mình Tuy nhiên, ông cũng là một con người gần gũi, người cha yêu thương con cái, gia đình, hòa đồng với nhân dân Khi ông qua đời, ông muốn được an tang giản dị tại quê nhà,
và sự ra đi của ông để lại tiếc thương cho đất nước Pháp, 50000 người, 80 quốc
12
Trích trong số 334 báo Bách Khoa
13 Trích trong số 335 báo Bách Khoa.
Trang 24vương, quốc trưởng từ khắp nơi đã đến tiễn đưa ông Đủ cho thấy sức ảnh hưởng, và niềm yêu mến của mọi người ở khắp nơi dành cho một vị tướng tài ba của nước Pháp Chúng ta có thể thấy rằng hai bài viết này của hai tác giả khác nhau nhưng có nội dung gần giống nhau, đều viết về tướng De Gaulle Điều này cũng chứng minh rằng,
Bách Khoa luôn đón nhận nhiều bài viết, nhiều tư tưởng khác nhau hay của các tác
giả khác nhau để giúp độc giả có cái nhìn khách quan hơn về nhân vật, sự kiện, hay
kiến thức mà họ được tiếp nhận Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là Bách Khoa
không có sự chọn lựa những sự kiện để đăng tải các bài viết Kinh tế - Chính trị
Chúng tôi nhận thấy, Bách Khoa luôn có sự chọn lựa khi nêu lên những sự kiện lớn
Hầu hết các bài viết về Kinh tế - Chính trị được đăng đều phản ánh những sự kiện thời
sự nổi cộm trong giai đoạn đó như những cuộc bầu cử tổng thống ở Pháp hay những chính sách ở thuộc địa Algérie của Pháp Và những bài viết thuộc mảng này hầu như luôn có mặt ở các số của tạp chí bởi đời sống thông tin thời sự là một phần tất yếu của độc giả, nhất là trong giới trí thức
Tóm lại, các bài viết về Kinh tế - Chính trị chiếm số lượng ít trong tờ Tạp chí Bách
Khoa nhưng góp phần quan trọng vào nguồn thông tin của tờ tạp chí
2.2 Các bài viết về Văn hóa – Xã hội
Cùng với khía cạnh Kinh tế - Chính trị, Tạp chí Bách Khoa hội tụ những bài viết
và phân tích sâu sắc các vấn đề trong lĩnh vực Văn hóa - Xã hội Nhắc đến mảng này, chúng tôi chú ý đặc biệt đến tính chất thời sự của nó Những bài viết trong mảng này đem đến những thông tin mang tính chất thời sự nhanh nhạy, cung cấp nhiều tin tức về văn hóa, xã hội, những trào lưu, những thay đổi, biến chuyển trên thế giới Thí dụ như
loạt bài “So sánh ngành xuất bản ở Pháp và ở Việt Nam hiện nay” được đăng 4 kì (từ
số 100-104) của Nguyễn Hiến Lê đã có sự so sánh về ngành xuất bản sách ở hai nước trong cùng một giai đoạn, với rất nhiều điểm tương đồng
Trong phần thời sự văn nghệ thường được viết bởi tác giả Tràng Thiên và Thu Thủy, độc giả có thể tiếp cận với nhiều tin tức văn nghệ thế giới về các giải thưởng văn học, hay sự kiện văn nghệ vừa diễn ra ở phương Tây Tương tự, ở phần thời sự Thế giới được viết chủ yếu bởi hai tác giả Tràng Thiên và Từ Trì cũng luôn cung cấp nhanh nhạy những biến động xã hội trên thế giới
Trang 25Một điểm khác nổi bật trong phần Văn hoá – Xã hội, đó là những bài giới thiệu các danh nhân văn hóa và những tư tưởng, đóng góp ảnh hưởng đến thế hệ đương thời Số lượng các bài viết về danh nhân văn hóa chiếm tỷ lệ khá lớn trong trong phần này Ngoài ra, còn các thông tin về y tế, sinh học, những phát minh mới về khoa học, kiến trúc đặc biệt, về sự thay đổi tư tưởng, lối sống của thanh niên thế giới cũng được nhắc
tới, và nó cũng ảnh hưởng một phần tới thế hệ lúc bấy giờ Ta có thế nhắc đến Thế hệ
J 3 ở Pháp và Anh (số 45-47) Đây là một bài viết về thế hệ mới ở Châu Âu, nói về sự
thay đổi tư tưởng của họ Có thể nói rằng, trong Tạp Chí Bách Khoa, đây là mảng đa
dạng về thông tin, và tiếp thu nhanh tin tức thế giới, các bài viết cũng dễ đọc nhất so với những phần chuyên biệt khác, vì chủ yếu là truyền tải thông tin khá đơn giản, độc giả có thể dễ dàng tiếp nhận thông tin thời sự mà không đòi hỏi một phải có kiến thức chuyên môn Do chủ yếu cung cấp tin tức thời sự, nên số lượng bài viết của mảng này cũng khá nhiều Trong tổng số 265 bài được khảo sát như đã nêu trên, riêng mảng Văn hóa - Xã hội có 123 bài tính thêm mảng thời sự văn nghệ thường kì với các tin vắn ngắn gọn, nên các bài viết của mảng này chiếm khoảng gần 50% số lượng bài viết về
Pháp trên Tạp Chí Bách Khoa
Về mặt đề tài hay chủ đề, những bài viết trong phần Văn hóa - Xã hội rất phong
phú và tinh tế Chúng tôi xin nhắc tới một số bài đề chính : Ông bà Curie một gia đình
tối cao kỷ lục về giải Nobel (số 60), Champollion- người làm cho đá biết nói (số
76-77), So sánh ngành xuất bản ở Pháp và ở Việt Nam hiện nay (số 100-104), Ông bà La
Fayette (1757-1834 & 1759-1807) (số 246-248), Thư ngỏ gửi một thanh niên về cách dẫn đạo sống (số 256-258), Lời đáp của thanh niên (số 257-268), Vấn đề kí duyệt (số
306), Hôn nhân và nghề cầm viết (số 338-339), Bertrand Russel (số 346), Văn chương
hạ giới rẻ như bèo (số 313), Jules Verne đã sống lại (số 234-235), các bài này được
viết và dịch bởi tác giả Nguyễn Hiến Lê, ông là người có đóng góp nhiều nhất cho
Tạp Chí Bách Khoa nói chung, cũng như mảng Văn hóa - Xã hội nói riêng, và chúng tôi sẽ đề cập cụ thể hơn đến ông ở Phần II của nghiên cứu này Thanh niên Pháp (số 79), Những phương thuốc trường sinh của người xưa (Dr Le'on binet - Chủ tịch Viện Hàn lâm Y học Pháp, số 88-89), Danh nhân Claude Bernard (số 143), Sinh vật học có
thể đảo lộn những quan niệm về sinh tử (số 151), Thế hệ J 3 ở Pháp và Anh (số
45-47), Những lo ngại của một nhà sinh vật học (số 49) Những bài viết này được viết bởi
Trang 26tác giả Cô Liêu, một trong những dịch giả có vai trò quan trọng nhất ở mảng truyện
dịch của Tạp Chí Bách Khoa, cũng sẽ được chúng tôi đề cập ở Phần II Daniel – Rops (số 206), Toán số với càn khôn: Gauss, một thần đồng toán học (số 312), Toán số với
càn khôn (số 316) (Cung Giũ Nguyên viết), Cuộc Cách mạng ngập ngừng tại Ethiopie, lật đổ ngai vàng xưa nhất thế giới (số 461), Những việc đáng ghi nhớ trong năm 1974 (số 421), Vài nhận xét về loại truyện dị thường của Tây phương & Việt Nam (số 322-323, Dương Đình Khuê), Jean Dupuis một thương nhân Pháp đã làm mưa gió ở Bắc Kỳ (số190-191, Nguyễn Phương), Nhận xét về một vài cuốn sách do người Tây phương viết về Yoga (số 325-326, Xuân Quang), Protein thảo mộc (số
328), Bà Marie Curie (số 260), Nguồn gốc vũ trụ (số 408, Võ Quang Yến), Nghệ
thuật và thời đại của chúng ta (số 413), Chương-trình Pháp hay chương-trình Việt (số
214, Đỗ Trọng Huề), Một năm chuẩn bị tương lai (số 313), Cái chết của Francois
Mauriac (số 330 Từ Trì), Xã giao và nghi lễ (số 301, Phan Trọng Nhân), Ý thức tôn giáo và ý thức dân tộc (số 304, Lý Chánh Trung), Kỹ thuật kiến trúc mới lạ (số 315,
Chu Minh Thụy), Nghĩ về phong trào sinh viên: sinh viên về tôn giáo,sinh viên và
cách mạng (số 323, Nguyễn Văn Trung), Dạy con từ trong lòng mẹ (số 324, Nguyễn
Thị Ngọc Thắm), Phan Châu Trinh với thuyết "Ỷ Pháp cầu tiến bộ" hay "Việt Pháp
đề huề" (số 406, Nguyễn Văn Xuân), Jules Roux, người bạn thiết nghĩa của nhà Cách Mạng Phan Châu Trinh (số 406, Nguyễn Thiếu Dũng), Lá thư nước ngoài (số 408-
413, Minh Đức Hoài Trinh), Giải thưởng dịch thuật (số 409, Thế Nhân), Sự góp ý về
một số đặc khảo của Phan Chu Trinh (số 409, Ngô Thế Côn), Thuyết Pháp-Việt đề huề với nhóm La Cloche fêlée (số 410, Long Điền), Đời sống du học sinh tại Pháp (số
203, Vũ Bảo), Bẩy nguyên tắc Hợp tác xã Rochdale (số 11, Phan Văn Trí), 20 phút
với M.Francis Trebinjac, trưởng ban tổ chức cuộc triển lãm sách Pháp (Đi coi triển lãm sách, Nguyễn Ngu Í), Nghề xuất bản với loạt sách cho thanh thiếu nhi bên Pháp
(số 91, H.Đ), Các giải thưởng văn chương ở Pháp năm 1960 (số 96, Nhân Thế), Giải
thưởng văn chương ở Formentor (số 131), Mùa giải thưởng văn chương ở Pháp năm
1962 (số 145),… Thời sự văn nghệ (số 306, 315, 317, 320, 322, 323, 328, 330, 379,
409, 410, 411) viết bởi Tràng Thiên, Thu Thủy, đây thực chất là hai bút danh của tác giả Võ Phiến
Trang 27Những bài viết của mảng này cung cấp một lượng thông tin vô cùng lớn cho bạn đọc đương thời, đặc biệt những nguồn thông tin này có ảnh hưởng khá lớn từ nước Pháp Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày một số bài viết nổi bật ở mảng này, những bài
viết khá cụ thể về tình hình chung thời kỳ đó Tìm một giải pháp cho ngành xuất bản
Việt Nam (So sánh ngành xuất bản ở Pháp và ở Việt Nam hiện nay, số 100-104) của
tác giả Nguyễn Hiến Lê Trong bài báo này, có sự so sánh những nét tương đồng về ngành xuất bản sách ở Pháp và Việt Nam, hai nước khác nhau, mà sự khó khăn trong ngành xuất bản lại giống nhau kỳ lạ, điều này cho chúng ta thấy rằng, cùng một ngành trong quá trình phát triển sẽ vấp phải những khó khăn giống nhau Tác giả Nguyễn Hiến Lê đã đưa ra những khó khăn chung cụ thể ở hai nước như nhau: Điểm chung giữa ngành xuất bản ở Pháp và Việt Nam: người dân lười đọc sách, lượng sách xuất bản hàng năm sụt giảm, ngành xuất bản lâm nguy; xuất bản lộn xộn: một ngành mật ít ruồi nhiều Các nhà xuất bản chen lấn nhau, đổ dồn về khu vực đã dư sách và bỏ trống những khu vực khác Một sự phát hành còn lộn xộn hơn: chính phủ hiểu nhầm về quyền lợi giả, chỉ bảo vệ quyền lợi vật chất mà không nâng cao tinh thần của quần chúng, văn hóa dân tộc Cạnh tranh ráo riết, thiếu tổ chức quản lý, thiếu tôn trọng quy chế bán sách Đưa ra một kế hoạch giải quyết: trách nhiệm của các nhà sáng tác; trách nhiệm của các nhà sản xuất; trách nhiệm của các nhà phát hành; trách nhiệm của chính phủ; trách nhiệm của chính quyền: làm cho sách tìm đến dân trong mọi giới chứ không phải bắt dân đi tìm sách Còn riêng ở nước ta ngành xuất bản sách gặp hai khó khăn sau : xin kiểm duyệt và vấn đề giấy in Đây là một bài báo cung cấp thông tin vô cùng thiết thực, cụ thể, nêu rõ được những khó khăn gặp phải giữa ngành xuất bản giữa hai nước, dù Pháp phát triển hơn chúng ta rất nhiều năm, nhưng vài giai đoạn khủng hoảng thì những khó khăn giữa ngành xuất bản hai nước gặp phải là giống nhau
Và tiếp đây, chúng tôi xin dẫn thêm một bài viết với nhan đề Thế hệ J3 ở Pháp và
Anh của tác giả Cô Liêu Đây là một bài viết khá sâu sắc, đề cập đến những trăn trở
của một thế hệ, và vai trò của họ trong sáng tác nghệ thuật Hiện tượng J3 xuất hiện ở Anh, Pháp là lớp thanh niên trưởng thành trong chiến tranh, được rèn đúc bởi 2 nguồn kích thích: một bên là đói khát, tủi nhục và một bên là dũng cảm, hy vọng Sớm trưởng thành về trí tuệ và tâm tình, họ có đời sống văn nghệ sôi nổi, thành công và
Trang 28đều chưa quá 30 tuổi Cô Liêu đã có sự so sánh về 2 thế hệ này ở 2 nước Anh và Pháp, cùng mở ra hiện tượng mới trong văn học, nhưng luồng tư tưởng họ truyền thụ vào nghệ thuật có nhiều khác biệt Thế hệ J3 ở Pháp: họ tạo ra những tác phẩm với một thái độ thành kiến về xã hội, khước từ nề nếp của cha anh, từ bỏ trách nhiệm xã hội để quay về với nội tâm để kiếm sự giải thoát Thế hệ J3 ở Pháp tỏ ra khá thông minh, khác thường, dày dặn kĩ năng Nhưng sự nghiệp của họ với văn hóa mới có tính phá hủy, xây đắp không tưởng Trốn tránh thực tại, phô bày những khía cạnh đớn hèn, sa đọa của con người Mối quan tâm của họ là ái tình và danh vọng Một số tên tuổi nổi bật như: họa sĩ Bernard Buffet, điện ảnh với cặp Vandim-Bardot, văn chương với
François Sagan, âm nhạc với Michel Legrand
Thế hệ J3 ở Anh cảm nghĩ của họ khác với thế hệ J3 ở Pháp, họ quan tâm đến các vấn đề chính trị, xã hội Họ không thừa nhận trật tự hiện hữu và khai chiến với tôn giáo, với giai cấp chỉ đạo, với Hoàng gia Họ nhìn thẳng vào xã hội thực tại để nhận định những vấn đề khẩn trương, và dốc toàn nguồn sinh lực dồi dào vào cuộc đấu tranh bằng phương tiện văn nghệ cho sự thắng thế của lý tưởng dân tộc theo quan niệm của riêng họ Một số tên tuổi lớn: Doris Lessing, Colin Wilson, John Osborne, John Wain, Kenneth Tynan
Thế hệ J3 này cũng có ảnh hưởng khá lớn tới đời sống văn học Việt Nam thời kỳ
đó Tác giả của bài viết này là Cô Liêu, cũng là một dịch giả dịch khá nhiều tác phẩm
của nữ văn sĩ François Sagan, một nhân vật nổi bật của hiện tượng J3 ở Pháp Và cụ
thể ở mảng Văn học, chúng ta sẽ được hiểu thêm về những tác phẩm của văn sĩ này với những tư tưởng phá cách, đổi mới và một tinh thần nữ quyền, những điều này thể
hiện sâu sắc trong tác phẩm của bà, và chúng ta có thể tìm đọc trên Tạp Chí Bách
Khoa
Trong mảng Văn hóa - Xã hội, còn rất nhiều bài viết vô cùng thú vị, nhưng trong giới hạn bài viết này chúng tôi chưa thể nhắc đến Tuy nhiên những bài viết này đã
góp phần tạo nên một mảng Văn hóa – Xã hội của Tạp Chí Bách Khoa vô cùng thiết
thực, với những thông tin thời sự, cập nhật nhanh chóng tin tức, biến chuyển của Thế Giới đến với bạn đọc, đáp ứng những nhu cầu thông tin về văn hóa, xã hội, trào lưu, tư tưởng mới…tạo ra một môi trường tri thức cho độc giả đương thời Những bài viết
này đã góp phần xây dựng và duy trì sự phát triển trong 18 năm của tờ Tạp Chí Bách
Trang 29Khoa, luôn cố gắng đáp ứng tốt nhất cho độc giả, dù tồn tại trong giai đoạn biến động
của đất nước
2.3 Các bài viết về Văn học – Triết học
2.3.1 Truyện dịch và giới thiệu sách
Trong quá trình nghiên cứu trên số lượng bài báo đăng trên Tạp chí Bách Khoa, chúng tôi nhận thấy, Bách Khoa không những chỉ có những bài khảo cứu mang tính hàn lâm, bình luận chính trị, trình bày quan điểm về mô hình kinh tế mà Bách Khoa
thật sự là nơi mà các tác phẩm văn học nảy chồi và phát triển, kể cả mảng văn học dịch và phần giới thiệu tác phẩm
Trong Tạp chí Bách Khoa số 403 (số tân niên), tác giả Đào Trường Phúc có đề cập
đôi nét về tình hình và vị trí sách dịch thuật trong văn đàn miền Nam Việt Nam thời bấy giờ Cho đến năm 1972, sách dịch thuật xuất hiện đều đặn song song với sách sáng tác nhưng với số lượng ít hơn Cụ thể, từ 1965 đến 1972, sách dịch thuật nghiêng
về lĩnh vực giáo khoa, nghiên cứu chuyên môn, hơn là lĩnh vực văn nghệ, cho nên thành phần độc giả rất hạn chế Từ 1971đến 1972, thị trường sách dịch thuật bùng nổ với làn sóng tiểu thuyết Quỳnh Dao, tỉ lệ sách dịch thuật tăng lên 60% - 65% trên tổng sản lượng ấn loát phẩm tung ra thị trường Đến 1973, làn sóng tiểu thuyết Đài Loan lắng xuống nhường chỗ cho những tác phẩm đa dạng hơn, từ phổ thông đến hàn lâm,
từ cổ điển đến hiện đại, như các tác phẩm của các tác giả như: Balzac, Tolstoi, Gorki…với tỉ lệ chiếm lĩnh hơn 80% thị trường Không có một quy luật nào có thể được áp dụng trong việc đầu tư cho sách dịch thuật, không phải cứ tác giả lớn, hoặc tác phẩm ăn khách ở nước khác cũng sẽ thành công ở Việt Nam Việc lựa chọn, ấn loát sách dịch thuật ở Việt Nam thời bấy giờ là tùy thuộc vào sự may rủi
Tác giả cũng nêu lên nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, thứ nhất, do trình độ ngoại ngữ của phần lớn độc giả Việt Nam còn hạn chế nên độc giả không thể tiếp cận tác phẩm theo nguyên tác Thứ hai, sự sáng tác chậm của các nhà văn không đáp ứng được nhu cầu văn hóa của độc giả nên người ta buộc phải tìm đến các tác phẩm dịch thuật Tuy nhiên thị trường sách dịch thuật tuy sôi động nhưng phần lớn là tác phẩm nước ngoài dịch ra tiếng Việt, hầu như không thấy tác phẩm tiếng Việt nào dịch ra tiếng nước ngoài
Trang 30Tuy nhiên, đó chỉ là những nét khái quát thị trường sách dịch thuật, và những nét khái quát này chưa thể phản ánh hết được sự phong phú về thể loại, hình thức, nội
dung và trường phái của các tác phẩm dịch thuật được đăng trên Tạp chí Bách Khoa
Với số lượng 34 bài trên tổng số 265 thì phần văn học dịch và giới thiệu tác phẩm
(chủ yếu là các tác phẩm dịch, giới thiệu tác phẩm rất ít, gồm Cô đơn (Giới thiệu
truyện dài "Adrienne Mesurat" của Julien Green) trên số 163 và Đọc "những kẻ trầm luân ở trần gian" của Frantz Fanon (số 138) tuy không thể nói là phần quan trọng
nhất hay nhiều nhất trong số các bài viết về Pháp trên Bách Khoa nhưng thật sự không thể thiếu để tạo nên một Tạp chí Bách Khoa hoàn chỉnh
Các tác phẩm dịch cũng đa dạng về thể loại Thuộc dạng tiểu thuyết tình cảm - tâm
lý - xã hội với nét chung về đời sống của một người hay của một nhóm người lạc vào vòng xoay các mối quan hệ, mâu thuẫn xã hội gay gắt, có thể kể đến các tác phẩm như:
Clem (Henry Muller-Cô Liêu dịch);
Luật làm chủ (Roger Vaillant, Cô Liêu dịch) ;
Cô đơn-Adrienne Mesurat (Julien Green-Cô Liêu dịch) ;
Hứa hẹn bình minh-La promesse de l’aube (Romain Gary-Cô Liêu dịch) ;
Tội người trong sạch (Paul Tillard- Cô Liêu dịch);
Tình thu (Anatole France-Trinh Nguyên dịch)
Mang đôi chút hơi hướng của những câu chuyện cổ tích là bản dịch Tiếng hát của
Hà Lệ Uyển (A de Lauwereyns de Roosendaele-Trinh Nguyên dịch) Hay đề cập đến
những khía cạnh tốt đẹp khác nhau của cuộc sống, những góc khuất, những điểm nhấn
nhẹ nhàng mà nếu không tinh tế, con người hoàn toàn có thể bỏ qua như trong Người
quét đường (J Rousselot-Việt Tử trích dịch) hoặc mang nhiều triết lý nhân sinh hơn là Tình người (Saint Exupery - Hoàng Thái Linh dịch)
Một nét nhấn nhá tạo nên một màu sắc khác cho văn học dịch trên Tạp chí Bách
Khoa là sự trào phúng, châm biếm nhẹ nhàng trong Khi con bọ hung bay vào lớp học (Robert Escarpit-Hà Hữu Nguyên dịch) và Chú tôi treo tranh (Jérôme K Jérôme-
Vân Trang dịch)
Trang 31Một số tác phẩm thuộc loại văn học triết học không thể không đề cập đến :
Ngộ nhân-Malentendu (Albert Camus-Bùi Giáng dịch) (bản dịch nhiều kì) ;
Những kẻ câm lặng ( Albert Camus-Thanh Ngạn dịch);
Con quỷ trong hầm (André Maurois- Lương Ngọc dịch);
Ba người tử tù-le Mur (Jean P Satre -A.T dịch)
Từ đó cho thấy, các tác phẩm dịch hầu như hưởng ứng nhịp điệu nhanh hơn, kịp thời hơn so với giai đoạn trước Dịch giả Việt Nam phải tiếp cận được, hiểu được tư tưởng của các tác gia thời đại rồi mới tiến hành chuyển thể sang tiếng Việt, từ đó, độc giả Việt Nam có cơ hội tiến gần hơn với nền văn học mới nổi của thế giới Hay nói
cách khác, các bài dịch và giới thiệu tác phẩm đăng trên Tạp chí Bách Khoa có sức ảnh hưởng nhất định đến công chúng, tuy rằng, công chúng của Tạp chí Bách Khoa có tính chất nặc danh, nhưng chưa đủ quảng đại Như đã nói, bởi vì Tạp chí Bách Khoa
là một tạp chí khoa học nghiên cứu bao gồm các bài viết về chuyên môn, khoa học nên không phải ai cũng quan tâm đến và đủ trình độ tri thức để quan tâm đến Công
chúng của Bách khoa phần lớn là giới trí thức và những bạn bè của họ Hình như, số công chúng của Tạp chí Bách khoa có đông đảo hay không là phụ thuộc và trình độ tri thức của người đọc Điều đó cũng có nghĩa là, công chúng của Tạp chí Bách khoa có
sự đồng nhất nào đó tuy chỉ là tương đối Thêm vào đó, phong cách chung của Tạp chí
Bách Khoa là sự khách quan, dù là trong văn học dịch hay giới thiệu tác phẩm vẫn
mang tính khách quan này Đơn cử là trường hợp bản dịch Ngộ nhận của Albert Camus và Ba người tử tù của Jean P Satre khi mà trên văn đàn thế giới đang nổ ra sự
phản biện sôi nổi giữa hai trường phái này và theo chân các bản dịch và các bài giới thiệu tác phẩm, trường hợp phân hóa tư tưởng « thân Satre » hay « thân Camus » cũng xuất hiện ở Việt Nam hay sự chấp thuận cho đăng những bài như bài giới thiệu của
Nguyễn Văn Trung về tác phẩm Những kẻ trầm luân ở trần gian của Frantz Fanon,
vì những tư tưởng chính trị nhạy cảm so với thời cuộc lúc bấy giờ được đề cập trong tác phẩm
2.3.2 Bình luận văn học
Trang 32Trong mảng viết về văn học thì bình luận văn học có số bài khá khiêm tốn, có lẽ
do đặc tính của loại hình lối viết; vì để viết một bài phê bình hay bình luận không hề đơn giản, đặc biệt là phê bình văn học Chính bản thân tác giả phải có sự đầu tư trang
bị kỹ lưỡng về tài liệu và hơn hết là phải thật sự có chuyên môn và kiến thức sâu rộng Bởi vậy chúng tôi quan sát thấy, những tác giả viết cho mục này đều là những học giả
có tầm và sự cầm cân nảy mực của họ là có giá trị như : Hoàng Thái Linh (Nguyễn Văn Trung), Trần Thái Đỉnh, Bùi Hữu Sủng, Nguyễn Hiến Lê và Đoàn Thêm
Đầu tiên chúng tôi xin đề cập đến loạt bài gồm 4 kỳ (số 111-114 năm 1961) Tìm
hiểu những lối xây dựng mới về tiểu thuyết của Hoàng Thái Linh (tức Nguyễn Văn
Trung) Ngay tại thời điểm này cụm từ « Nouveau roman » hay « tiểu thuyết mới »
được sự quan tâm của giới văn đàn Pháp và đó cũng giải thích vì sao Tạp chí Bách
Khoa lại dành đến 4 kỳ để bàn về vấn đề này Chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh bài viết
về Nathalie Sarraute và Michel Butor và quan điểm về « Tiểu thuyết mới » -
« Nouveau Roman » Tuy quan điểm này phát triển mạnh mẽ ở các nước Âu-Mỹ cùng với các tên tuổi lớn như Marguerite Duras, Nathalie Sarautte, Samuel Beckett, Michel Butor, Claude Simon, Robert Pinget, Claude Ollier và Jean Ricardou với mục đích là đưa lại một đường hướng mới cho sáng tác tiểu thuyết, và chống lại tiểu thuyết truyền thống Ở Pháp, chủ trương này có vẻ mới lạ, cho nên ban đầu được nhiều người theo dõi nhưng về sau độc giả chán nản vì khó hiểu, và khó cảm Còn trí thức Việt Nam tiếp cận tư tưởng về Tiểu thuyết mới thông qua đọc các tác phẩm của Marguerite Duras, Nathalie Sarautte, Samuel Beckett, Michel Butor…và tiếp nhận tư tưởng này gần như ngay khi nó lan tỏa ở Pháp nhưng với thái độ rất e dè, 1956, tác phẩm điển
hình L’emploi du temps của Michel Butor ra đời, thì khoảng 1959, Hoàng Ngọc Biên
đã bắt đầu nghiên cứu về Tiểu Thuyết mới Đến 1960, Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn dẫn đầu, kéo theo Hoàng Ngọc Biên, Phùng Ngọc Anh, Nguyễn Quốc Trụ, Đặng Phùng Quân đi theo Tiểu thuyêt mới đồng thời ứng dụng kỹ thuật Tiểu Thuyết mới
vào tác phẩm như Giờ giới nghiêm (Mai Thảo), Một ngày để tùy nghi (Phù Thế), Con
Sâu (Dương Nghiễm Mậu)…còn về bài giới thiệu của Hoàng Thái Linh đăng trên số
113 (năm 1961) cho thấy sự nhanh nhạy trong trong việc cập nhật và hướng dẫn dư
luận của Tạp chí Bách Khoa nhờ vào vai trò của hướng dẫn dư luận, ví dụ trong
Trang 33trường hợp của Hoàng Ngọc Biên và làn sóng các nhà văn ứng dụng Tiểu thuyết mới sau này.
Tiếp đến là bài về Thuyết cơ cấu và phê bình văn học gồm 3 kỳ (số 289-291 năm
1969) của Trần Thái Đỉnh, có thể nói đây là loạt bài khó hiểu nhất trong mảng này Trong bài này, Trần Thài Đỉnh bước đầu giới thiệu đến độc giả thuyết cơ cấu trong phê bình văn học của Roland Barthes Thuyết này còn được gọi là « thuyết phê bình
cơ cấu » hay « phê bình mới »14 Tuy chúng tôi xếp vào mục phê bình văn học nhưng
thực chất đây là bài dịch từ « Structuralisme et critique littéraire » của Gérard Genette
đăng trong tạp chí l’ARC, số 26, năm 1967 Trước khi đi vào phần dịch chính nói về thuyết phê bình cơ cấu, tác giả trình bày môt cách đơn giản và dễ hiểu hơn về thuyết này đó là phương pháp phê bình này không đi vào giải thích ý nghĩa tức nội dung của tác phẩm như các cách phê bình truyền thống mà nhắm đến nghiên cứu về « ngữ thái » của tác phẩm tức là vấn đề ngôn ngữ, nghiên cứu về hệ thống những chữ đã làm
nên ý nghĩa của tác phẩm Và do đó, theo Barthes, phê bình văn học là « « văn viết về
văn » (discours sur un discours) chứ không phải viết về nội dung tác phẩm hoặc về tâm lý tác giả» 15 Đi sâu hơn vào bài dịch, tác giả trình bày về khái niệm và chức năng
của phê bình trong đó có chức năng văn học của phê bình và đề cấp đến quan điểm
« bricolage » tạm dịch theo tác giả là « vá víu » của Claude Lévi-Strausse Chắc chắn độc giả khi đọc tới đây sẽ thắc mắc vì sao lại đề cập đến « vá víu » và « vá víu » là gì,
có liên quan gì đến thuyết phê bình cơ cấu ? Tác giả của bài này không trả lời những câu hỏi trên của độc giả mà thông qua các định nghĩa, phân tích của mình khiến cho đôc giả phải tự tìm câu trả lời bằng cách đọc nhiều lần và suy ngẫm, liên kết các phần các đoạn lại để có câu trả lời Nhưng cái hay của tác giả là ngay từ đầu cho độc giả khái niệm về thuyết phê bình co cấu là gì để rồi dẫn dụ độc giả vào nội dung chính sâu
xa hơn Và chúng tôi cũng đã phải đọc rất nhiều lần để có thể hiểu hết được nội dung bài, tới đây chúng tôi xin đưa ý kiến của mình về « vá víu » mà tác giả đề cập Như đã biết thuyết phê bình cơ cấu không đi vào nghiên cứu nội dung tác phẩm và đi tìm hiểu
hệ thống ngôn ngữ của tác phẩm và để có một hệ thống chúng ta cần có những bộ phận, những cơ quan rời rạc, sau khi có được những vật liệu trên rồi thì chúng ta cần
14
« Thuyết cơ cấu và phê bình văn học », số 289, năm 1969, Trần Thái Đỉnh
15 « Thuyết cơ cấu và phê bình văn học », số 289, năm 1969, Trần Thái Đỉnh.
Trang 34lắp vá chúng lại để thành bản hoàn chỉnh và « vá víu » ở đây theo chúng tôi hiểu là lắp ghép lại, liên kết lại từng bộ phận riêng rẻ của hệ thống ngôn ngữ mà nhà văn đã sử dụng để làm nên tác phẩm của mình Và thông qua đây, ta có thể phần nào hiểu hơn thế nào là cơ cấu trong phê bình văn học Trong bài này tác giả khẳng định thêm rằng bản chất của thuyết cơ cấu chính là « một phương pháp ngữ học »16 và nó đi sâu vào tìm hiểu ngôn ngữ văn học Đến cuối loạt bài tác giả cho rằng thuyết này thực sự có triển vọng và mang đến nhiều kết quả hứa hẹn
Ngoài hai bài đáng chú ý trên, trong phần này có khá nhiều bài viết về nhà văn
André Maurois như Nhà văn Andre Maurois tự phê bình (số 97-99 năm 1961), André
Maurois người hiền của thế kỷ hai mươi (số 205, năm 1965), André Maurois nửa thế
kỷ để xây dựng Kim tự tháp (số 260-261, năm 1967) André Maurois là văn hào lớn
của nước Pháp, có hơn 40 tác phẩm thuộc đủ loại: tiếu thuyết, truyện ngắn, tiểu sử, sử, luận thuyết, đối thoại, hồi ký, sách cho nhi đồng, phê bình văn học André Maurois học thức uyên bác, thông thạo vê cổ ngữ Hy Lạp, La-tinh và Anh văn Sức sáng tạo của ông rất phong phú và xuất sắc về đủ loại trừ thơ và kịch Ông áp dụng cách viết tiểu sử mà ông viết về các danh nhân để viết tiểu sử của chính mình và tự phê bình
trong cuốn Portrait d’un ami qui s’apelait moi Nội dung cuốn này đã được Bùi Hữu Sủng trình bày đầy đủ qua bài Nhà văn André Maurois tự phê bình Sự nghiệp của ông
được ươm mầm từ thuở bé, ông thường nghe mẹ đọc thơ của V.Hugo và cũng nhờ thế ông sớm biết làm văn và ham đọc sách Vào khoảng 10 hoặc 12 tuổi ông đã soạn một
vở kịch 5 màn Lúc theo học trường trung học Elbeuf, thầy ông đã tặng ông một tập truyện của các nhà văn Nga Tolstoi, Tourgneniev, các nhà văn ấy đã ảnh hưởng nhiều tới tiểu thuyết sau này của ông Biến cố quyết định đời tinh thần của ông là việc thụ giáo triết gia Alain Giáo sư còn khuyên ông đọc Platon, St.Simon, Stendhal và xa lánh văn chương thời thượng nhất là trào lưu tư tưởng của A.Gide Nghe theo giáo sư Alain, ông về nhà máy dạ, học đủ nghề, tối đến đọc Chateau - Briand, Stev Beuve, Darwin, Stendhal, và ghi chép cẩn thận Ông còn có dịp giao dịch với các thương gia,
đi du lịch tại Anh, Ý, Tây Ban Nha Có lúc ông thấy mình bề bộn trong doanh nghiệp
và tuyệt vọng về sự nghiệp văn chương Năm 1914 chiến tranh bùng nổ, Ông làm
thông ngôn trong đoàn quân người Anh Ông viết cuốn sách Les silences du colonel
16
« Thuyết cơ cấu và phê bình văn học », số 290, năm 1969, Trần Thái Đỉnh.
Trang 35bramble và ký với bút hiệu André Maurois Kết quả bất ngờ sách bán chạy, và còn
được dịch ra nhiều thứ tiếng, các phê bình gia nhiệt liệt khen ngợi Ông tiếp tục sự nghiệp viết văn từ đó và dần làm quen với các tác giả nội tiếng đương thời Khi qua nước Anh, ông đặc biệt chú ý tới kỹ thuật viết tiểu sử Ông trình bày phương pháp
trong tập Aspects de la biographie và viết tiểu sử về Byron Năm 1936 ông được bầu
vào Hàn lâm viện Pháp Thế chiến thứ 2, ông sang Anh, sang Mỹ Sau khi về Pháp ông viết tiểu sử về M.Proust, V.Hugo, G.Sand, Dumas và tiểu thuyết Les roses de Septembre Với hơn 40 tác phẩm, tác giả tự đánh giá là tạp nham thiếu sự đồng nhất Khó có thể xếp ông vào văn phái vào: hiện sinh, tả chân, hay lãng mạn? Trong khi đi tìm tinh thần duy nhất trong các tác phẩm của mình ông tự nhận thấy phụ nữ và ái tình chiếm một địa vị ưu đãi trong các tiểu thuyết, nhưng ái tình của ông là ái tình tình cảm, khác với tình dục Bên cạnh tính chất lãng mạn, ông thích ca ngợi sự hoạt động Một tính chất hằng cữu nữa trong văn phẩm của ông là sự có mặt của một nhà đạo đức, khuyên nhủ người đời giữ lấy mỹ tục, cư xử cao cả Tác phẩm của ông gợi can đảm cho mọi người hoạt động, đầu tranh để sống Ông bi quan về lý trí và lạc quan về tâm tình Sự tình cờ đóng vai trò quan trọng trong sự thai nghén tác phẩm của ông, nhất là các tiểu thuyết đều do ngẫu nhiên mà ra đời Về cách hành văn ông chịu ảnh hưởng của thầy Alain Mỗi khi lý luận ông thường dung “mais” hoặc “car” nhưng nhờ thầy Alain ông bỏ được những từ ấy đi, lý luận càng chặt chẽ hơn Ông còn chịu ảnh hưởng của âm nhạc, vì ông cho bài văn cũng phải bố cục như một bản nhạc Theo ông, văn là phải rõ ràng, minh bạch, ít sử dụng những từ khó hiểu, hoặc mang tính
triết học Ông thích viết văn đối thoại vì có óc tính phản biện cao Trong cuốn Portrait
d’un ami qui s’apelait moi ông đính chính những ý kiến cuả các nhà phê bình đó là:
Thứ nhất, đời sống nhà văn không gắn liền với văn phẩm mà xưa nay ta vẫn hay đi tìm chi tiết đời sống tác giả để giải thích văn chương hay tư tưởng của tác giả Đối với ông các sáng tác đều là do tình cờ xảy ra trong việc giao du, giáo dục và chiến tranh chỉ ảnh hưởng tới văn của ông chứ không phải là nguyên nhân quyết định Thứ hai, đừng quan trọng hóa mấy danh từ văn phái vì không có một văn phái nào chặt chẽ dựng lên một hệ thống văn nghệ, văn phái chỉ là những khuyng hướng gặp được hoàn cảnh thuận lợi mà trội hẳn lên Ngoài ra, Ông đã can đảm giữ vững tinh thần dân tộc Pháp trong giai đoạn rối ren tức là trong khi văn học Pháp đi tìm những cái đen tối, tả
Trang 36những cái sa ngã, thám cứu những uẩn khúc trong tiềm thức thì với ông văn phải sáng,
ý phải giản dị, đạo đức phải được tôn trọng: minh bạch, mực thước, tính cách nhân bản và thiên về tâm lý, bảo vệ đạo đức và gia đình Ông ít tả tới những đời sống của giai cấp cần lao, ít nói tới cuộc cách mạng hay những vụ xung đột xã hội, những thắc mắc về vận mệnh con người Ông dám đi ngược thời thượng và giữ vững lập trường của mình trong khi sáng tác cũng như trong khi phê bình Đóng góp lớn của ông cho nền văn nghệ Pháp có lẽ là các tác phẩm viết về tiểu sử, thể loại tiểu sử này ông mượn của người Anh Ông viết tốt loại này vì ông có các điểm sau đây: có tính tò mò sâu rộng, gặp được người vợ cộng tác, ông có biệt tài tìm thấy những động cơ tâm lý của danh nhân trong đống tài liệu từ tứ phương gộp lại, hơn nữa, ông có thiên tài biến cuốn tiểu sử thành một nghệ phẩm
Cuối cùng, chúng tôi xin trình bày về Lập trường văn nghệ của Albert Camus (Albert-Camus và triết lý chống đối) của Cô Liêu trên Bách khoa số 76-78 Camus lấy
văn nghệ làm phương tiện diễn đạt tư tưởng triết lý Đối với ông, nghệ sĩ phải phủ nhận đời vô lý đồng thời lãnh lấy trách nhiệm nâng đời sống lên một trình độ cao hơn Hai đợt sáng tác của ông phản ánh hai khía cạnh của chủ trương văn nghệ Đợt đầu
mô tả đời vô lý, thể hiện đời vô lý mà Camus gọi là sáng tác vô lý Đợt sau thể hiện tinh thần tạo tác xây dựng của người nghệ sĩ chống đối Quan niệm sáng tác vô lý tạo
ra những nhân vật khô héo tàn lụi vì sống giữa đời sống máy móc ho đến khi ý thức được sự vô lý đó, tìm được tự do quý giá thì nổi dậy chống đối cuộc đời Ông khai thác những trò hề của thói đời đen bạc nên ông thông cảm với phái hiện sinh hay yếm thế nhưng Camus đổi giọng và cũng bước sang con đường chống văn hiện sinh
Camus cố gắng sửa chữa đời sống trong các tác phẩm La peste, L’état de siège, Les
Justes nhưng cũng chỉ là sự cố gắng Sự nghiệp văn chương của Camus bỏ dở giữa
lúc sự việc hầu như báo trước một cố gắng cụ thể hóa những giá trị mới mẻ thoát thai
từ cuộc sống chống đối giữa tâm và đời Những nguyên tắc kỹ thuật của hai đợt sáng tác: sự thể hiện đời vô lý tức là nghệ sĩ trình bày một cách nào để cho sự vật tiếp diễn theo dòng tự nhiên của nó mà không giải quyết vấn đề gì, dùng lý trí để xếp đặt những hình ảnh đời sống cho hợp chỗ, hợp lúc mà ta không để lộ sự xếp đặt ấy ra; tinh thần tác tạo của nhà văn chống đối nghĩa là nghệ thuật phải có đời thực tế và tâm, phải diễn
tả những xúc động của tâm khi đụng chạm đời vô lý nhưng phải biết chừng mực trong
Trang 37sự miêu tả đó, tìm thế quân bình giữa tình cảm và thực tế Nghệ thuật chân chính phải phản chiếu cái tinh thần tạo tác của nghệ sĩ để hứng cuộc đời về một lý tưởng thuần nhất và trong cái thuần nhất văn nghệ phải là những sáng tác để sữa chữa đời sống Nghệ sĩ phải vừa khước từ cuộc đời vừa lãnh trách nhiệm với đời
Trên đây là những bài đáng chú ý nhất trong mục này, ngoài ra còn có bài Văn
học nước Pháp trong năm 1960 (số 104-106 năm 1961) của Bùi Hữu Sủng bình luận
về tình hình văn học Pháp trong năm 1960, và theo tác giả thì không có gì nổi bật nhất
là mảng tiểu thuyết hầu như chỉ là những tác phẩm đáp ứng thị hiếu của độc giả chứ chưa có tác phẩm nào mang tầm và đó cũng là vấn đế chính trong bài của Thu Thủy
với tựa Tiểu thuyết Pháp đi về đâu Trong bài này tác giả nhận định sự xuống dốc của
tiểu thuyết Pháp trong năm qua nhà văn không có sự đột phá trong cách sáng tác và tìm tòi nội dung mới mà chạy theo lợi nhuận và thị hiếu của đôc giả để cho ra đời các tiểu thuyết « ăn liền » Qua đó, tác giả đưa ra sự lo lắng cho tiểu thuyết Pháp nếu như tình hình trên không sớm thay đổi và cũng đưa ra một chút hy vọng khi nhắc đến một
số nhà văn trẻ có tiềm năng, dám nghĩ dám làm Nguyễn Hiến Lê thì có hai loạt bài về Honoré de Balzac (số 310-312, năm) và André Maurois (số 260-261, năm 1967) Cô Liêu còn viết về Francois Sagan (số 30, năm 1958)… Riêng Đoàn Thêm, có hai bài đó
là Sắc thái của văn nghệ sĩ Pháp theo nhỡn quan một độc giả Việt Nam, Người đàn bà
và văn nghệ sỹ Pháp, Người trong tác phẩm Saint Exupéry của Phan Mai… và một số
bài đáng chú ý khác của các tác giả Thu Thủy hay Tràng Thiên,…
2.3.3 Tư tưởng – Triết học
Bàn về phần này, theo chúng tôi đây là phần tuy khó nhưng cũng là phần để cho các tác giả thể hiện đầy đủ tài năng và học vấn của mình nhất Vì sao lại nói vậy ? Chúng tôi cho rằng để viết về tư tưởng của một người cần mất nhiều thơi gian và công sức, đòi hỏi người viết phải có trình độ nhất định và bỏ công nghiên cứu chứ không thể cầm bút viết suông, viết bừa Bản thân tác giả phải là người am tường và có kiến thức sâu thâm về vấn đề này thì mới có thể truyền tải đến người đọc, người nghe được
và cách truyền tải thông qua ngôn ngữ so với sự hiểu bên trong chính tác giả cũng là một khó khăn để có thể giúp cho người tiếp nhận hiểu thấu đáo vấn đề đang bàn đến Trong phần này chúng tôi thấy các tác giả cố gắng cập nhật đến độc giả Việt Nam lúc
Trang 38bấy giờ những trào lưu tư tưởng mới và qua đó thấy được chức năng thời sự của Tạp
chí Bách Khoa
Giáo sư Trần Thài Đỉnh cũng góp mặt anh tài trong mảng này với 6 kỳ (số
278-283 năm 1968) với bài Khoa nhân - học cơ - cấu của Claude Lévi – Strausse Hoàng Minh Tuynh cũng có hai bài nhiều kỳ đó là Rút xô với bộ dân ước luận (số 10-12, năm 1957), Chế độ dân chủ Mác Xít: nguồn gốc lý tưởng dân chủ Mác xít từ Rút xô đến
Mác (số 34-35, năm 1958)
Xin kể đến triết học hiện sinh với loạt bài chủ nghĩa hiện sinh của Trần Hương Tử trên 10 kỳ trong đó chúng tôi chỉ quan tâm đến hiện sinh của Marcel và Sartre (7 kỳ
129-135 năm 1962) Bên cạnh bàn về hiện sinh ông còn trình bày về Triết-lý bi đát
của Clement Rosset (số 141-142, năm 1962) Ngoài Trần Hương Tử còn có Nguyễn
Văn Trung cũng viết về Sartre nhưng dưới một góc độ khác, với nhiều tựa khác nhau
Đọc ''Vũ-trụ chữ nghĩa" của J.P Sartre (số 178, năm 1964) SARTRE trong đời tôi (số
265 – 266 và 266-267, năm 1968)
Trong loạt bài kéo dài trên 10 kỳ giới thiệu về những luồng tư tưởng mới của Trần Hương Tử, như đã nhắc ở trên, chúng tôi sẽ chỉ trình bày về tư tưởng của Marcel và
Sartre Trước hết Trần Hương Tử bàn về Marcel với tựa Marcel, hiện sinh và huyền
nhiệm (số 129-131), ông cho rằng G.Marcel đã góp phần khai sinh cho phong trào
hiện sinh ở Pháp nhưng ông cũng nhấn mạnh rằng bản thân Marcel không tự nhận triết của mình là triết Hiện sinh mà là “Tân phái Socrate” (Néo-Socratisme) Để có nhận định rõ ràng hơn về quan điểm trên chúng tôi xin so sánh với loạt bài viết về hiện sinh
của Sartre với tựa Sartre và Hiện sinh phi lý Đối chiếu triết của Marcel và Sartre ta
có thể thấy hai ông đều đưa ra những khái niệm tương đương nhau nhưng lại giải thích theo hướng khác nhau Trọng tâm trong triết của Marcel chính là “Huyền
nhiệm” mà theo Marcel thì tất cả những gì « không thể xác định và không thể khách
thể hóa được » 17 và khái niệm về Être (Hiện hữu) và Avoir (Chiếm hữu-Sở hữu) Có thể nói Chiếm hữu là trung tâm tư tưởng triết học của ông vì giữa Hiện hữu và Chiếm hữu không có sự khác biệt tuyệt đối, đúng hơn Chiếm hữu là hình thức suy đồi của Hiện hữu Nói rõ hơn Chiếm hữu là thái độ của ta trước sự vật còn Hiện hữu là thái độ của “nhân vị” (của ta đối với ta hay của ta đối với người khác và ngược lại) Tác giả
17
« Marcel, Hiện sinh và huyền nhiệm », số 130, Trần Hương Tử
Trang 39cũng bàn qua phương pháp phân tích “ những gần gũi cụ thể” của Marcel tức là để tiến gần đến chân lý phải tiến từng bước một và không được dừng ở một bước nào hết, mỗi bước được xem như là nấc tiến Một điểm quan trọng đáng bàn trong triết của Marcel nữa đó là quan niệm về “thân xác chủ thể” (le corps sujet), đây cũng chính là điểm sáng trong triết Marcel và sự khám phá này đã góp phần chấm dứt những mâu thuẫn của hai thuyết Duy tâm và Duy nghiệm Vì theo Marcel “tôi là thân xác của tôi” tức là tôi có xác đồng thời tôi cũng là xác Qua những bàn luận về Chiếm hữu tác giả dẫn độc giả đến quan niệm về Hiện hữu và trong phần này tác giả giải thích Hiện sinh chính là hiện hữu, đối lập với Chiếm hữu và do đó hiện sinh không phải là con người
sự vật (homme-chose) mà là con người chủ thể có tự do và định mệnh Bàn tiếp về nhân vị, tha nhân, thượng đế những vấn đề then chốt của triết học, khác với quan điểm triết học Hiện sinh vô thần của Sartre, ông không tin vào thượng đế và không công nhận có thượng đế cho nên ông lập luận rằng dự phóng của con người chính là muốn làm thượng đế, muốn có tất cả Ở đây trong triết học của Marcel tuy không ca ngợi
hay truyền bá cho Công giáo nhưng triết học của ông “tránh sở hữu, tránh sa lầy,
tránh phù phiếm Một tư tưởng như thế không thể không đạt tới Cùng đích là Thượng đế.”18 Để hiểu được nhận định trên trước hết phải hiểu thế nào nhân vị và tha nhân của Marcel Nhân vị của Marcel dựa trên tự do nhưng tự do ở đây không phải muốn làm gì thì làm, có thể nói với triết của Sartre là như thế còn với Marcel tự do đích thực
là “hành vi sáng tạo của con người Hiện sinh” 19 tức là tìm cho mình con đường đạo
lý mà đi sau khi đã suy nghĩ và nhận xét kỹ càng « Con người sẽ tìm thấy tự do đích
thực và cách sống toàn thiện khi con người cộng tác với Ý Trời để phát triển đầy đủ các khả năng của mình, hòng thể hiện cuộc hiện sinh của mình một cách tuyệt mỹ » 20
Về tha nhân, Marcel công nhận và coi trọng tha nhân, có lòng yêu thương đối với tha nhân không như Sartre ông có cái nhìn tiêu cực và coi tha nhân như vật cản, làm nguy hại đến chủ thể là “tôi” (Je) Theo Marcel thì con người ta phải gặp gỡ nhau mà
sự gặp gỡ ở đây không thể hiểu theo cách thông thường mà phải hiểu là có sự tôn trọng, mỗi bên phải coi tha nhân là người như mình, có sự cảm thông và chia sẻ Gặp
gỡ chính là cơ sở để tiến đến yêu mến, và chính cầu khẩn, tức là mong chờ ở người
Trang 40mình yêu sự đồng thuận và sự cầu khẩn giữa hai bên càng tương đồng thì càng tiến đến tình yêu chân chính Và cũng theo Marcel tình yêu (nói chung) chính là hình thức tinh thần cao quý nhất, là phần tinh hoa nhất của con người vì nó liên kết với tha nhân Khác hẳn với tình yêu theo triết Satre, dù dẫn dụ và lập luận thế nào thì tình yêu cũng
là bế tắc và không lối thoát bởi vì trong quan điểm của Satre không có sự cảm thông giữa tha nhân với tha nhân Điều này ta sẽ bàn sâu hơn ở phần dưới đây
Khác hẳn với Marcel, trong triết của Sartre, ông cho rằng sự vật tự nó không có nghĩa gì hết, chỉ là ta gán cho nó cái nghĩa mà ta muôn nó có Còn con người hơn con vật ở chỗ có ý thức tự quy và biết trách nhiệm hành vi của mình; khi con người chỉ sống cuộc đời sinh lý của mình bất kể ý nghĩa của cuộc đời nhân linh thì con người chẳng khác nào con vật hết Cái nhìn của ông về vũ trụ vạn vật được gói gọn trong hai chữ « thừa » và « phi lý » Cho nên người ta nói triết lý của ông là triết lý phi lý, triết
lý chán đời, triết lý thất vọng của những kẻ vì sướng quá mà chán đời, chán đời kiểu trưởng giả hạng nặng, của những kẻ không biết dùng đời làm chi hết vì họ không phải
lo ăn lo mặc, không sợ chiến tranh, không sợ cạnh tranh và không tin có trời Tóm lại, Sartre đưa ra cái nhìn chán nản, bi quan, tiêu cực Đối với ông, vạn vật đều phi lý hết Phần nhân sinh quan của Sartre, tất cả phân tích tâm lý và nhận định siêu hình học của ông đều quy về việc thiết lập một nhân sinh quan mới Theo ông, thứ nhất con người khác sự vật ở chỗ có ý thức ; thứ hai, bản tính của ý thức là dự phóng Ông chỉ coi con người là ý thức, một ý thức có dự tính tiến đến vô cùng và vì không thể đạt được cái
vô cùng đó cho nên ý thức đó tự nhận mình có bản tính phi lý Ý thức thì luôn luôn phóng mình ra phía trước để đón nhận các đối tượng Các đối tượng thì luôn luôn thay đổi, ý thức con người cũng theo đó mà thay đổi, hơn nữa tâm trí con người thường chỉ nhìn về cái sắp tới ngay, hoặc sắp tới ngày mai Do đó, Sartre muốn dẫn chúng ta vào con đường hiện sinh hư vô và phi lý Vì Sartre không tin có định mệnh, không nhận có cuộc đời sau, không nhận có tội phúc và thưởng phạt nào hết Và trong quan điểm triết học của Satre, ta không thể không bàn đến là dự phóng thông cảm với tha nhân Theo ông, đây cũng là môt dự phóng bất khả và phi lý Ông định nghĩa, hữu thể tha quy (Le pour autrui) là chủ thể tự nhận mình bị tha nhân nhìn ngó « Autrui » là tha nhân,
« pour autrui » là bị tha nhân nhìn, nghĩa là tôi chỉ là vật cho tha nhân nhìn Tuy nhiên tha nhân cũng có thể trở thành đối tượng bị nhìn Tha nhân là môt cái gì ta thấy trước