1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngôn ngữ giao tiếp lịch sự của người nhật (có so sánh tiếng anh với tiếng việt)

96 36 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ MÔN NHẬT BẢN HỌC --- NGÔN NGỮ GIAO TIẾP LỊCH SỰ CỦA NGƯỜI NHẬT CÓ SO SÁNH TIẾNG ANH VỚI TIẾNG VIỆT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Chủ nhiệm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NHẬT BẢN HỌC -

NGÔN NGỮ GIAO TIẾP LỊCH SỰ CỦA NGƯỜI NHẬT (CÓ SO SÁNH TIẾNG ANH VỚI TIẾNG VIỆT)

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Chủ nhiệm đề tài: Phạm Duy Chi Quân

Tham gia: Nguyễn Thanh Thảo

Bùi Ngọc Hồng Thắm Phan Thị Đoan Trang

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3, năm 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NHẬT BẢN HỌC

-

NGÔN NGỮ GIAO TIẾP LỊCH SỰ CỦA NGƯỜI NHẬT (CÓ SO SÁNH TIẾNG ANH VỚI TIẾNG VIỆT) ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Chủ nhiệm đề tài: Phạm Duy Chi Quân 1056190070

Tham gia thực hiện:

Nguyễn Thanh Thảo 1056190078

Bùi Ngọc Hồng Thắm 1056190082

Phan Thị Đoan Trang 1056190090

Giàng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Thu Hương

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3, năm 2013

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1

CHƯƠNG 2: NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH NGÔN NGỮ TRÊN THẾ GIỚI, NGÔN NGỮ NHẬT BẢN VÀ KEIGO 12

I Nguồn gốc hình thành ngôn ngữ trên thế giới 12

II Nguồn gốc hình thành ngôn ngữ Nhật Bản 14

III Kính ngữ 敬語(Keigo) trong tiếng Nhật 25

CHƯƠNG 3: VIỆC SỬ DỤNG KÍNH NGỮ CỦA NGƯỜI NHẬT 38

I Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng kính ngữ của người Nhật 38

II Mức độ và tầm quan trọng của kính ngữ trong đời sống người Nhật 39

III Suy nghĩ của người Nhật và người Việt Nam học tiếng Nhật về việc sử dụng kính ngữ 43

CHƯƠNG 4: SO SÁNH VỀ CÁCH GIAO TIẾP LỊCH SỰ TRONG TIẾNG NHẬT, TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 53

I Văn hóa giao tiếp lịch sự trong tiếng Anh 53

II Văn hóa giao tiếp lịch sự trong tiếng Việt 58

III So sánh cách nói lịch sự trong tiếng Nhật, tiếng Anh và tiếng Việt 69

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

BẢNG KHẢO SÁT 88

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, kinh tế không còn là vai trò chính thúc đẩy sự giao lưu giữa các nước với nhau, những yếu tố khác như văn hóa, giáo dục,… dần dần trở thành những yếu tố quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay Một quốc gia muốn đạt đến sự phát triển cao cần phải đẩy mạnh sự giao lưu này với các nước khác, cùng nhau chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm trên mọi lĩnh vực Trong quá trình phát triển mối quan hệ đó, việc giao tiếp đóng vai trò hết sức quan trọng Nhưng để sử dụng chính xác ngôn ngữ của một quốc gia nào đó, chúng ta không chỉ cần phải học tiếng mà bên cạnh đó, ta cần học cả văn hóa của nước đó nữa Giống như bất kỳ ngôn ngữ nào khác trên thế giới, văn hóa có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ giao tiếp

Nhật Bản là nước có mối quan hệ hợp tác đặc biệt là quan hệ kinh tế với nhiều nước ASEAN, trong đó có Việt Nam Nhật xem Việt Nam là mục tiêu đầu tư quan trọng nhất trong khu vực Đông Nam Á Mối quan hệ Việt Nhật hữu nghị tới nay đã có lịch sử

40 năm Trong khoảng thời gian đó, Nhật Bản đã giúp đỡ Việt Nam không ít về tất cả mọi mặt, từ kinh tế, xây dựng đến giáo dục… Hiện nay, Nhật càng ngày càng chú trọng đầu tư vào Việt Nam hơn, xúc tiến chính sách ODA, xây dựng các xí nghiệp vừa và lớn, thành lập các công ty xuyên quốc gia đặt trụ sở tại Việt Nam, hỗ trợ học bổng du học dưới mọi hình thức cho các sinh viên Việt Nam… Chính vì vậy, trong những năm gần đây, nhu cầu học tiếng Nhật của người Việt tăng rõ rệt nhằm đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các nhà đầu tư Nhật Bản Giáo dục tiếng Nhật được chú trọng một cách rõ rệt thông qua việc liên tục nâng cao chất lượng giảng dạy ngôn ngữ

Việc học tiếng Nhật không phải là việc đơn giản bởi ngôn ngữ Nhật là một hệ thống ngôn ngữ nổi bật với một hệ thống các quy tắc nghiêm ngặt, đặc biệt là hệ thống kính ngữ phức tạp được hình thành nhằm thể hiện đúng bản chất xã hội thứ bậc của Nhật Bản Hơn nữa, dân tộc Nhật Bản vốn được coi là một dân tộc rất xem trọng lễ nghi, chính

Trang 5

vì thế mà trong giao tiếp cần phải có một mức độ lịch sự nhất định, nếu không sẽ bị coi là suồng sã, bất lịch sự Sở dĩ có sự phức tạp vì kính ngữ tiếng Nhật phân ra rất nhiều dạng Người nghe và người nói khi sử dụng kính ngữ đều phải tùy vào trường hợp và vị trí để

có cách nói khác nhau Người nước ngoài nói chung và người Việt Nam nói riêng học tiếng Nhật chủ yếu để làm việc ở các công ty của Nhật Bản, chính vị vậy, việc sử dụng kính ngữ đóng vai trò rất quan trọng Người Nhật đặc biệt là cấp trên trong một công ty hết sức coi trọng lời lẽ giao tiếp, cách cư xử và thái độ của một nhân viên Vì vậy, việc sử dụng kính ngữ chính xác với một thái độ chân thành sẽ được đánh giá rất cao Tuy nhiên, như đã nói, kính ngữ là một phạm trù ngữ pháp rất phức tạp và khó sử dụng ngay cả đối với người Nhật Theo điều tra của Vụ văn hóa mang tên “Điều tra về quốc ngữ” được thực hiện năm 2004 ở Nhật Bản, 81.1% số người Nhật trả lời sai sót trong sử dụng kính ngữ và 37.11% cảm thấy không tự tin trong việc sử dụng kính ngữ Vậy thì, trong giao tiếp cần một phản xạ nhanh như thế liệu một người nước ngoài có thể phân biệt và nhớ kịp thời kính ngữ nào cần được sử dụng trong tình huống giao tiếp hiện tại? Đó là điều hết sức khó khăn đối với hầu hết người nước ngoài đang học tiếng Nhật nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng Theo một nguồn tài liệu khác (Nguyễn Quốc Vượng dịch

từ Hiragana Times số 228 tháng 10 năm 2005) thì khi những người học tiếng Nhật được hỏi rằng “Bạn thường mắc những lỗi gì?” 55.2% trả lời “các từ kính ngữ, các từ khiêm tốn và lịch sự”, 51.1% trả lời “không dùng kính ngữ trong trường hợp cần thiết”

Tuy vậy, chúng ta cần phải nhớ rằng ngôn ngữ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành một mối quan hệ xã hội Để duy trì một mối quan hệ tốt đẹp cần phải có sự tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, trong đó, lời nói làm cho đối tượng giao tiếp hài lòng là một yếu tố cần thiết nhất Ta phải biết tôn trọng đối phương và khiêm nhường bản thân, đó chính là nét đẹp trong việc giao tiếp Vì vậy, trong hội thoại của người Nhật, kính ngữ đóng vai trò hết sức quan trọng Thông qua đề tài mà nhóm đang thực hiện, chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ hơn về các quy tắc trong kính ngữ tiếng Nhật, đồng thời phân tích một vài suy nghĩ của người Nhật và người Việt về vai trò của kính ngữ trong đời sống hiện nay

Trang 6

Ngoài ra, bên cạnh việc phân tích kính ngữ tiếng Nhật, chúng tôi có tiến hành so sánh với tiếng Việt và tiếng Anh nhằm thấy rõ hơn những tác động mà văn hóa ảnh hưởng đến ngôn ngữ Đồng thời qua quá trình nghiên cứu và trình bày, chúng tôi sẽ giới thiệu những đặc điểm cơ bản nhất trong việc giao tiếp lịch sự ở phương Tây và Việt Nam Đối với các nước phương Tây sử dụng tiếng Anh, họ cũng có phép lịch sự, có một vài quy tắc liên quan đến giao tiếp, nhưng điều đó có ảnh hưởng nhiều đến ngôn ngữ không

và ảnh hưởng như thế nào? Việt Nam và Nhật Bản đều là các quốc gia phương Đông, chịu ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa xa xưa, nhưng vẫn tồn tại một vài khác biệt trong các quy tắc lễ nghi khi giao tiếp Đề tài mà nhóm đang nghiên cứu sẽ làm rõ các vấn đề trên

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

A Các nghiên cứu nước ngoài:

1 Bài viết “What you can do with words: Politeness, pragmatics, and performatives” của Robin Lakoff, 1977, Center for applied linguistic Bài viết đưa ra quan niệm lịch sự là tôn trọng lẫn nhau và đưa ra 3 nguyên tắc lịch sự: không áp đặt (don’t impose), để ngỏ sự lựa chọn (give option), làm người đối thoại cảm thấy thoải mái (make a feel good)

2 Bài viết “Politeness: Some Universals in Language Usage”, P.Brown và S.Levinson, 1987, Cambridge University Press Họ là 2 tác giả nổi tiếng trong lĩnh vực lịch sự, tiếp cận lịch sự như một hành vi giữ gìn thể diện Brown và Levinson cho rằng để đạt được mục đích lịch sự, bên cạnh những quy ước chung, mỗi cộng đồng cần chọn cho mình những quy ước chuẩn mực riêng, sao cho các hành vi ngôn ngữ tự thân khi sử dụng không làm thương tổn đến thể diện âm tính (negative face) và thể diện dương tính (positive face)

3 Meaning in interaction (Ý nghĩa trong sự tương tác) của Jenny Thomas, 1998, Longmen Group Limited, Fourth impression Tác giả cho rằng kính ngữ tiếng Nhật không nằm trong phạm vi của dụng học vì nó là hiện tượng xã hội - ngôn ngữ

Trang 7

4 Công trình nghiên cứu “Politeness: Is there an East-West divide?” (Lịch sự:

Có hay không sự phân biệt Tây – Đông?) của Geoffrey Leech, 2005 Journal of Foreign Languages No 6 Tác giả trình bày luận điểm của mình rằng: “Không có sự phân chia tuyệt đối giữa lịch sự Đông và Tây cũng như là không có sự phân biệt tuyệt đối giữa kính ngữ trong tiếng Nhật và tiếng Anh”

5 Bài viết “Revisiting the conceptualisation of politeness in English and Japaneses” - “Nhìn nhận lại quá trình khái niệm hóa lịch sự trong tiếng Anh và tiếng Nhật” đăng trên Tạp chí Multilingua 23 (2004) của tác giả Michael Haugh đã cung cấp lượng thông tin đầy đủ và khá thuyết phục về bản chất lịch sự của hai ngôn ngữ là tiếng Anh và tiếng Nhật Khái niệm lịch sự đi từ nghĩa thể hiện sự tôn kính với người ở vị thế cao hơn, đến nghĩa thể hiện hành động đặt trong một xã hội bình đẳng

6 “Keigo Sainyuumon” (敬語再入門) – (Nhập môn về kính ngữ) của tác giả Kikuchi Yasuhito (菊地康人), nhà xuất bản Maruzen (丸善) năm 1996 Sách đã giới thiệu một cách khái quát bước đầu làm quen với kính ngữ trong tiếng Nhật Trong sách

có chỉ cách sử dụng một số mẫu kính ngữ dùng trong công ty, nhà hàng, nhà ga, siêu thị…

7 “Keigo hyougen” (敬語表現) – (Các biểu hiện của kính ngữ) của hai tác giả Kabatani Hiroshi(蒲谷宏) và Kawakuchigi (川口義), 2005, Tokyo Taishukan Shoten,

đã khái quát về các mối quan hệ giữa người cấp dưới với người cấp trên, giữa người nhỏ tuổi với người lớn tuổi, giữa nhân viên với khách hàng…

8 “Nihongo kyouiku shidou sankousho18 – Keigo kyouiku no kihon mondai” (日本語教育指導参考書 18-敬語教育の基本問題) thuộc quyền sở hữu của trung tâm nghiên cứu Kokuritsu Kokugo (国立国語) đã giới thiệu khái quát về cách sử dụng, trường hợp sử dụng, đối tượng sử dụng kính ngữ…

9 “Poraitonesu no Gengogaku” (ポライトネスの言語学) – (Ngôn ngữ học của

thuyết lịch sự) của tác giả Ikuta đăng trên tạp chí Ngôn ngữ (言語) năm 1997 đã nhấn

Trang 8

mạnh rằng “Lịch sự phải là hành động ngôn ngữ mang tính xã hội với ý đồ giữ gìn cho giao tiếp được thuận lợi, giữ gìn quan hệ, giữ thể diện cho các bên giao tiếp”

10 Kokusai shakai no naka no Keii hyoogen (国際社会のなかの敬意表現), Nihongogaku (日本語学) – (Ngôn ngữ lịch sự trong xã hội quốc tế) của tác giả Sachiko Ide (井出幸子), Nihongogaku (日本語学), Vol.20, No.4 Đó là cách thể hiện

sự tôn kính đối với nhân cách của một con người, và vị thế của con người trong mối quan

hệ với nhau

B Các nghiên cứu ở Việt Nam:

11 Bài viết “Văn hoá và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt”, Hữu Đạt, NXB Văn

Hóa Thông Tin, năm 2000 Đề cập đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và văn hóa giao tiếp Tác giả cho rằng ngôn ngữ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo nên bản sắc của văn hóa thông qua hai vai trò chính là: lưu trữ và bảo tồn văn hóa; sáng tạo

và phát triển văn hóa Ngoài ra, ông còn nhắc đến hình thức giao tiếp; bản chất, phạm vi của quá trình giao tiếp Tác phẩm này có liên quan đến kính ngữ cũng như việc nghiên cứu

12 Bài viết “Các biểu hiện của lịch sự chuẩn mực trong xưng hô”, TS Vũ Tiến

Dũng, 2007, Ngữ học trẻ - Diễn đàn học tập và nghiên cứu, đã chỉ ra ứng xử lịch sự của người Việt bao gồm 4 nội dung: lễ phép, đúng mực (thuộc bình diện lịch sự chuẩn mực)

và khéo léo, khiêm nhường (thuộc bình diện lịch sự chiến lược) Tuy nhiên, cách xưng hô của người Việt lại thiên về lịch sự chuẩn mực nhiều hơn Cách xưng hô lễ phép được người dưới sử dụng khi trò chuyện với người trên tạo nên tính lịch sự tôn trọng Còn cách xưng hô đúng mực được người trên sử dụng khi trò chuyện với người dưới tạo nên tính lịch sự thân thiện Chiến lược xưng hô của mỗi cá nhân cũng đã xuất hiện nhưng chưa đủ mạnh để lấn át được chuẩn mực xưng hô trong giao tiếp

13 Nghiên cứu “Lịch sự ngôn ngữ trong một số nghi thức giao tiếp tiếng Việt”,

Tạ Thị Thanh Tâm, Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn, 2004, nghiên cứu các hình thức ngôn từ lịch sự trong các nghi thức chào, mời, cám ơn Theo luận văn, trong lĩnh vực giao tiếp, lịch sự ngôn từ bị chi phối bởi vai giao tiếp và liên quan đến nó là khoảng cách xã

Trang 9

hội, mức độ thân sơ, tình huống giao tiếp… Luận văn đưa ra các chiến lược lịch sự (chiến lược lịch sự dương tính và âm tính) trong các tình huống cụ thể Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp vi phạm phương châm hội thoại nhưng lại tăng mức lịch sử, tuỳ thuộc nó chi phối hoàn cảnh giao tiếp như thế nào

14 Nghiên cứu “Lịch sự ngôn từ trong nghi thức mời tiếng Việt (có đối chiếu tiếng Anh)”, Dương Thị Thu Nhung, Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn, 2007, dựa trên

những nghiên cứu trước đó của Tạ Thị Thanh Tâm, đi sâu nghiên cứu về lịch sự ngôn từ trong các phát ngôn mời trong tiếng Việt cũng như mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá Luận văn cũng trình bày so sánh một cách cụ thể các hình thức ngôn từ lịch sự trong các phát ngôn ướm lời, mời, nhận lời, từ chối trong tiếng Việt và tiếng Anh Trong tiếng Việt, lời mời trực tiếp lịch sự hơn vì nó biểu hiện sự thật lòng, thân thiện của người mời, không tạo khoảng cách và gây mất thể diện cho người được mời; còn trong tiếng Anh, lời mời gián tiếp được xem là lịch sự hơn, người mời luôn để ngỏ sự lựa chọn để người được mời không rơi vào tình huống khó xử

15 Nghiên cứu “Hành vi chê trách trong tiếng Anh Mĩ (so sánh với tiếng Việt)”,

Huỳnh Thị Diệu Trang, Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn, 2007, đưa ra khái niệm về

“vai giao tiếp” Vai giao tiếp là một thuật ngữ dùng để biểu thị vị thế (những giá trị liên quan đến tuổi tác, giới tính và cương vị xã hội) của các nhân vật tham gia cuộc hội thoại

Có thể nói vai giao tiếp là cơ sở để các nhân vật trong cuộc hội thoại đưa vào để tổ chức

và biểu hiện vị thế xã hội của mình Việc xác định vai giao tiếp, vị thế giao tiếp và tất nhiên dưới sự tác động của tình huống giao tiếp sẽ chi phối việc quyết định chọn ngôn ngữ giao tiếp Một khía cạnh khác cũng được nhắc đến đó là tác động của văn hóa đến ngôn ngữ, ngôn ngữ không chỉ có mối quan hệ tương tác với văn hóa mà còn ảnh hưởng đến cả tư duy của cả cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ Tác giả nghiên cứu về đánh giá của Peccei, đề cập đến tuổi tác như là một phạm trù văn hóa quan trọng, và là một tác nhân tạo ra sự biến đổi ngôn ngữ trong cộng đồng nói năng Tuổi tác tạo nên sự khác biệt giữa cách nói năng của thế hệ người lớn tuổi và thế hệ người trẻ tuổi về một số phương diện, ảnh hưởng đến cách sử dụng ngôn ngữ và hành vi giao tiếp giữa các người từ các nền văn hóa khác nhau Ngoài ra, luận văn còn bàn về các vấn đề như ảnh hưởng của

Trang 10

khoảng cách xã hội đến việc lựa chọn ngôn ngữ, câu từ khi giao tiếp và nhấn mạnh phụ

nữ Phụ nữ thường có xu hướng tôn trọng quyền của người nói hơn là nam giới

16 Nghiên cứu “Bước đầu tìm hiểu nghi thức lời nói tiếng Việt”, Nguyễn Văn Lập,

luận văn tốt nghiệp hệ sau đại học khóa 12, Chuyên ngành ngôn ngữ, Trường ĐHSP I Hà Nội, 1989 Nghiên cứu đã chỉ ra việc tìm hiểu nghi thức lời nói tiếng Việt gắn liền với những vấn đề tương tác giữa ngôn ngữ và xã hội, vấn đề hoạt động của lời nói trong hành

vi giao tiếp và trong các lĩnh vực xã hội khác nhau

17 Công trình nghiên cứu “Một số chỉ tố lịch sự trong hành động ngỏ lời giúp

đỡ bằng tiếng Anh và tiếng Việt”, Hồ Thị Kiều Oanh, khoa Tiếng Anh, trường Đại học

Ngoại ngữ, in trong Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010 Nghiên cứu đã

mô tả và so sánh một số “chỉ tố lịch sự” trong hành động ngỏ lời giúp đở bằng tiếng Anh (Australia English) và tiếng Việt, đồng thời lý giải những nguyên nhân sâu xa gây nên những nét tương đồng và khác biệt về cách dùng những chỉ tố lịch sự đó dựa trên quan điểm về thể diện và lịch sự của hai nền văn hóa Úc và Việt Nam

18 Nghiên cứu “Những khó khăn của sinh viên tiếng Nhật, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng khi sử dụng kính ngữ trong văn hoá giao tiếp Nhật Bản và biện pháp khắc phục”, Dương Quỳnh Nga , Đại học Đà Nẵng, 2012 Bài nghiên cứu đã đem đến cho người đọc một cái nhìn tổng quát về kính ngữ Nhật Bản, trong đó bao gồm định nghĩa và vai trò của kính ngữ, các thành phần quan trọng trong câu kính ngữ

và mối quan hệ giữa chúng, cách phân loại và phương thức cấu tạo nên kính ngữ Hơn nữa, bài viết còn chỉ ra những khó khăn của sinh viên tiếng Nhật như trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng khi sử dụng kính ngữ tiếng Nhật trong văn hoá giao tiếp,

và nêu ra các biện pháp khắc phục

19 Nghiên cứu “Đặc trưng lịch sự - Đặc trưng văn hóa trong tiếng Nhật”, Hoàng Anh Thi, khoa Ngôn ngữ học, 2010, Tài nguyên số trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học quốc gia Hà Nội Trình bày những đặc điểm giống nhau để đi đến kết luận ngôn ngữ Nhật và Việt cùng nằm trong một hệ thống ngôn ngữ Đông Á, dựa trên các

Trang 11

học thuyết của các tác giả người nước ngoài (quan điểm của Michael Haugh về lịch sự,…) Tác giả đã nêu ra được một cách nhìn khác về hiện tượng ngôn ngữ - văn hóa

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đưa ra được các nghiên cứu

cụ thể về kính ngữ tiếng Nhật cũng như các hình thức lịch sự trong giao tiếp của tiếng Việt và tiếng Anh Nội dung các bài nghiên cứu đã gợi ý cho nhóm tìm hiểu sâu hơn về nguồn gốc ngôn ngữ nói chung và tiếng Nhật nói riêng (trong đó có kính ngữ), bên cạnh đó, so sánh trực tiếp sự giống và khác nhau giữa ngôn từ lịch sự trong giao tiếp tiếng Nhật, tiếng Việt và tiếng Anh để thấy rõ hơn ảnh hưởng của văn hóa tác động đến ngôn ngữ và người sử dụng ngôn ngữ Đồng thời, bài nghiên cứu cố gắng tìm hiểu suy nghĩ của người Nhật và Việt trong quá trình học tiếng Nhật và sử dụng kính ngữ nhằm thể hiện một cách nhìn khách quan và mới mẻ về kính ngữ tiếng Nhật hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Ngôn từ giao tiếp lịch sự trong tiếng Nhật, tiếng Việt và tiếng Anh

Phạm vi nghiên cứu:

Quy tắc sử dụng thể kính ngữ trên lý thuyết và trong một số bối cảnh cụ thể thực

tế giao tiếp của tiếng Nhật, Anh và Việt trong xã hội

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Bài nghiên cứu này sẽ giúp người đọc nắm rõ hơn về cách sử dụng, các yếu tố hình thành cũng như tầm quan trọng của kính ngữ trong tiếng Nhật

Với việc so sánh tiếng Nhật với tiếng Việt và tiếng Anh sẽ giúp làm nổi bật hơn về những điểm đặc biệt của kính ngữ trong tiếng Nhật mà hai thứ tiếng kia không có, đồng thời thấy rõ hơn văn hóa và cách suy nghĩ của người nói ảnh hưởng đến sự khác nhau giữa cách nói lịch sự trong giao tiếp tại các nước khác nhau

Góp phần vào quá trình nghiên cứu tìm hiểu văn hóa Nhật Bản- một nền văn hóa giàu bản sắc, cụ thể là mảng ngôn ngữ Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu dù là nhỏ bé nhưng sẽ là nguồn tài liệu tham khảo chung phục vụ học tập, giảng dạy, nghiên cứu cho những ai quan tâm tìm hiểu về ngôn ngữ giao tiếp lịch sự của Nhật

5 Mục tiêu

Trang 12

- Hiểu được cách sử dụng và suy nghĩ về kính ngữ của người Nhật và sinh viên Việt Nam khi học tiếng Nhật

- Tìm ra được những điểm giống và khác nhau trong văn hóa giao tiếp lịch sự qua ngôn ngữ giữa 3 thứ tiếng và phân tích nguyên nhân của sự giống, khác nhau đó cũng như sự ảnh hưởng của từng cách giao tiếp đến cuộc sống của xã hội ở từng nước

6 Nhiệm vụ

- Nắm rõ cách sử dụng kính ngữ trong tiếng Nhật và thấy được ưu điểm và khuyết

điểm trong việc sử dụng kính ngữ để giao tiếp của người Nhật cũng như người Việt

- Lý giải đầy đủ hơn những điểm tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng ngôn

ngữ giao tiếp giữa Nhật Bản đối với Việt Nam, và phương Tây thông qua việc so sánh cách sử dụng ngôn ngữ giữa các đối tượng trong nền văn hóa khác nhau của các nước

Nhật Bản, Việt Nam và Mỹ

7 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Thu thập và tổng hợp tài liệu: Được thực hiện bằng cách thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau, đó là tài liệu từ sách báo, tạp chí, các trang thông tin điện tử, các tác phẩm liên quan đến đề tài nghiên cứu khoa học bằng tiếng Việt, tiếng Nhật và tiếng Anh Sau đó dịch tài liệu, thu thập thông tin, ý kiến của các nhà nghiên cứu trước, sau đó tổng hợp, đối chiếu, phân tích những vấn đề của đề tài nghiên cứu, tìm ra các điểm khác nhau giữa các ý kiến đó và nêu đánh giá khách quan của chính mình

- Khảo sát thực tế: Được thực hiện bằng cách điều tra bảng hỏi và khảo sát tình hình sử dụng kính ngữ của sinh viên Bảng hỏi được phát theo hai hình thức: Văn bản giấy, thu thập ý kiến của người Nhật và sinh viên Việt Nam tại câu lạc bộ tiếng Nhật và khoa Nhật Bản học, khoa Việt Nam học; văn bản điện tử được thực hiện thông qua phần mềm Google Drive, thu thập ý kiến của các bạn sinh viên Nhật đang sống tại Nhật và sinh viên Việt Nam đang học tiếng Nhật tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

- Thống kê: Sau khi điều tra, tiến hành thống kê ý kiến của sinh viên về tình hình

sử dụng kính ngữ, thống kê số liệu phần trăm, đồng thời thống kê kết quả dạng câu trả lời

về ý kiến liên quan đến kính ngữ tiếng Nhật

- Phân tích: Dựa vào các kết quả thống kê thu được, cùng với các nội dung thu thập được từ tài liệu, tiến hành phân tích, so sánh giữa lý thuyết với thực tế, tìm ra những nội dung cơ bản để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp logic: Sau khi phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu của

đề tài, tiến hành chọn lọc, sắp xếp, tổng hợp và hệ thống một cách đầy đủ và khoa học các vấn đề, các nội dung đã thu thập, đồng thời cũng ghi nhận những những đóng góp ý kiến của giảng viên, các bạn sinh viên chuyên ngành Nhật Bản học, từ những người nghiên cứu trước để đề tài được hoàn thiện hơn

8 Bố cục đề tài

- Chương 1: Cơ sở lý luận Trình bày lý do chọn đề tài, lịch sử nghiên cứu liên

quan đến đề tài nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn mà nghiên cứu đem lại, trình bày về cách thực hiện bài nghiên cứu thông qua việc đưa ra các phương pháp sử dụng để hoàn thành đề tài

- Chương 2: Nguồn gốc hình thành ngôn ngữ trên thế giới và ngôn ngữ tiếng Nhật

Trình bày quá trình hình thành ngôn ngữ trên thế giới dựa trên học thuyết do nhiều nhà ngôn ngữ học lập luận Bên cạnh, đi sâu hơn trong việc tìm hiểu về nguồn gốc hình thành tiếng Nhật từ thời xa xưa Chương 2 còn đưa ra khái niệm về kính ngữ cũng như sự phân loại các hình thức kính ngữ

- Chương 3: Việc sử dụng kính ngữ của người Nhật Ở chương này, chúng tôi đã

trình bày về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng kính ngữ cũng như tầm quan trọng của kính ngữ đối với hoạt động giao tiếp và những yếu tố khác theo hai đoạn là trung đại

và hiện đại Ngoài ra, nhóm còn tổng hợp và phân tích các ý kiến, suy nghĩ của người Nhật và Việt về kính ngữ của tiếng Nhật dựa trên bản khảo sát ý kiến

- Chương 4: So sánh về cách giao tiếp lịch sự trong tiếng Nhật, tiếng Anh và tiếng Việt Trình bày các quy tắc lịch sự trong giao tiếp của từng loại ngôn ngữ Sau khi trình

Trang 14

bày tất cả các quy tắc đó, đưa ra cái nhìn tổng quát để thấy được sự giống nhau và khác nhau khi so sánh cách giao tiếp lịch sự của tiếng Việt, tiếng Anh với tiếng Nhật

- Kết luận

9 Tóm tắt đề tài

Hiện nay, ngoại ngữ trở thành một công cụ quan trọng nhất nhằm gắn kết mối quan hệ giữa các quốc gia Để có được cách sử dụng chính xác một ngoại ngữ nào đó, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu kỹ càng quá trình hình thành và tất cả các khía cạnh của ngoại ngữ mà chúng ta đang học

Đề tài này được thực hiện nhằm giúp các bạn sinh viên đang theo học tiếng Nhật nắm rõ hơn về cách giao tiếp lịch sự trong tiếng Nhật đặc biệt là về kính ngữ Đồng thời nhóm đã khảo sát cách suy nghĩ của người Nhật và người nước ngoài học tiếng Nhật về việc sử dụng kính ngữ hiện nay để thấy rõ hơn vai trò của nó trong phép giao tiếp lịch sự

Ngoài ra, bài nghiên cứu có trình bày sự so sánh tiếng Nhật với tiếng Việt và tiếng Anh để tìm ra sự giống và khác nhau trong việc sử dụng cách giao tiếp lịch sự trong ba thứ tiếng này Từ đó chỉ ra được những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến những nghi thức giao tiếp khác nhau

Bằng cách thu thập các thông tin về kính ngữ Nhật Bản trong các tài liệu sẵn có, nhóm đã tiến hành so sánh giữa kính ngữ của tiếng Nhật với tiếng Việt và tiếng Anh Bên cạnh đó, dựa vào kinh nghiệm trong giao tiếp thực tiễn cùng với các tài liệu đã tổng hợp được, nhóm đã tiến hành khảo sát về thái độ của người Nhật và sinh viên Việt Nam đang theo học tiếng Nhật về kính ngữ bằng cách phát bản khảo sát

Sau khi nghiên cứu, nhóm chúng tôi đã rút ra được quá trình hình thành tiếng Nhật nói chung và kính ngữ nói riêng, những đặc điểm giống và khác nhau giữa các hình thức giao tiếp lịch sự của tiếng Nhật, tiếng Anh và tiếng Việt Xin được trình bày

kỹ hơn trong bài nghiên cứu dưới đây

Trang 15

CHƯƠNG 2: NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH NGÔN NGỮ TRÊN THẾ GIỚI,

NGÔN NGỮ NHẬT BẢN VÀ KEIGO

I Nguồn gốc hình thành ngôn ngữ trên thế giới

1 Các học thuyết ngôn ngữ trước đây

Về nguồn gốc của ngôn ngữ, trước đây đã từng có các ý kiến như sau:

- Thuyết âm thanh (thế kỷ XVII – XIX) đã nhấn mạnh sự bắt chước của con người theo các sự vật của môi trường tự nhiên xung quanh, từ tiếng nước chảy cho đến tiếng kêu của các loài động vật khác Trong quá trình bắt chước lâu dài như vậy, ngôn ngữ riêng của loài người đã dần được hình thành

- Thuyết cảm thán (thế kỷ XVIII – XIX) đã trình bày về sự hình thành của ngôn ngữ liên quan đến cảm xúc của chính con người Khi trải qua các kiểu cảm xúc, các trạng thái vui - buồn, con người đã phát ra những âm thanh trong vô thức, và từ đó lấy những

âm thanh này bổ sung vào hệ thống ngôn ngữ của mình mà ngày nay người ta gọi đó là thán từ

- Thuyết tiếng kêu trong lao động (thế kỷ XIX) lại chỉ ra rằng, chính việc lao động trong môi trường làm việc khắc nghiệt với tiếng động cơ máy móc, tiếng thở của người lao động lúc làm việc là nguồn gốc của sự hình thành ngôn ngữ Cũng giống như trong thời đại xa xưa khi mà săn bắt và hái lượm là phương tiện kiếm ăn chính của con người, vào những lúc cần giúp đỡ hay hỗ trợ, con người buộc phải lên tiếng kêu gọi nhau, và lúc

ấy ngôn ngữ vô tình được hình thành

- Thuyết khế ước xã hội (thế kỷ XVIII) lại đưa ra nhận định rằng, ngôn ngữ được hình thành do các thỏa thuận giữa các nhóm người muốn từ bỏ lối sống tự nhiên và hình thành mô hình sống cộng đồng Và để đạt được sự thỏa hiệp này, trước hết cần có ngôn ngữ

Tất cả các thuyết về nguồn gốc ngôn ngữ trên đều có những thiếu sót chung, cơ bản sau đây:

- Tách rời ngôn ngữ khỏi tư duy, cho tư duy có trước ngôn ngữ

- Tách rời nguồn gốc ngôn ngữ khỏi nguồn gốc của con người, cho rằng con người

Trang 16

ra đời trước ngôn ngữ

- Không tính đến chức năng giao tiếp của ngôn ngữ

- Không tính đến vai trò của lao động trong quá trình hình thành con người và ngôn ngữ

2 Nguồn gốc của ngôn ngữ theo ngôn ngữ học Marx

Trong cuốn “Tác dụng của lao động trong sự chuyển biến từ vượn thành người”, Anghen viết: “Đem so sánh con người với các loài động vật, ta sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động và cùng nảy sinh với lao động, đó là cách giải thích duy nhất

đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”

Trong số các biến đổi về mặt sinh học của con người, sự tiến bộ của bộ não là quan trọng nhất Nhờ lao động và việc ăn thịt, bộ não của tổ tiên chúng ta cũng phức tạp

dần lên; những phần vỏ não trực tiếp liên quan đến tiếng nói như thuỳ trán, thuỳ thái dương và phần dưới thuỳ đỉnh đã phát triển mạnh Kết quả là bộ não con người ngày nay (tính theo tỉ lệ giữa trọng lượng của não với trọng lượng của toàn thân) lớn hơn khỉ đột

10 lần, hơn đười ươi 6 lần, hơn khỉ đen 2 lần và hơn vượn 4 lần Như vậy, chính lao động

đã tạo ra con người và tạo ra những tiền đề đầu tiên về mặt sinh học để ngôn ngữ có thể được hình thành

Lao động cũng đã tạo ra nhân tố xã hội để ngôn ngữ phát sinh Lao động đã giúp con người liên kết với nhau thành bầy đàn, thành cộng đồng và về sau thành xã hội có tổ chức Muốn cùng làm việc gì đó, người ta cần thoả thuận với nhau là sẽ làm gì, làm như thế nào… Mặt khác, những kiến thức về thế giới xung quanh, những kinh nghiệm trong lao động cũng cần phải được truyền lại từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác… Lúc này, người ta nhận thấy đã đến lúc cần phải có một phương tiện để giao tiếp với nhau Và phương tiện ấy được chúng ta gọi là ngôn ngữ Vậy thì không cái

gì khác, chính lao động đã sáng tạo ra con người và ngôn ngữ của con người

Từ khi mới hình thành, ngôn ngữ vốn là công cụ, là phương tiện để con người giao tiếp với nhau Thế nhưng, lúc đầu nó chưa phải là ngôn ngữ chúng ta đang có hôm nay; mà là thứ ngôn ngữ chưa phân thành âm tiết rõ ràng, bởi vì lưỡi, cằm, hàm dưới và

hệ dây thanh… của con người bấy giờ chưa phù hợp với việc phát tiếng nói Tuy vậy, họ

Trang 17

đã không đợi cho mọi bộ phận cấu âm phát triển thật hoàn chỉnh rồi mới nói với nhau Những tiếng nói còn lẫn lộn vào nhau, còn nghèo nàn và ú ớ đó đã được phối hợp với các

động tác, dáng vẻ của cơ thể như mặt mũi, vai, tay, chân (nhất là đôi tay) để truyền đạt

cho đối phương biết ý nghĩ, tình cảm của mình

Thoạt đầu, tiếng nói của con người chưa khác các điệu bộ bao nhiêu, nhưng dần dần, họ đã có thể sử dụng tiếng nói thành thạo hơn rất nhiều Đến đây thì ngôn ngữ đã thực sự được hình thành và không bao giờ rời xa loài người nữa

II Nguồn gốc hình thành ngôn ngữ Nhật Bản

Nhật Bản được biết đến như một đảo quốc của Đông Á, nằm biệt lập với các quốc gia khác, bốn hướng đều giáp biển Do vậy, văn hóa Nhật ít bị ảnh hưởng từ các nước bên ngoài, hay nói cách khác, những yếu tố truyền thống của Nhật Bản ít bị yếu

tố ngoại sinh tác động Thế nhưng, qua hoạt động ngoại giao với các nước láng giềng, thậm chí là các nước ở châu Mĩ và phương Tây, văn hóa Nhật Bản dần dần đã bị các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng Trong số đó, ngôn ngữ là yếu tố bị tác động nhiều nhất Giống như phần lớn các nước ở Đông Á và Đông Nam Á, hệ thống ngôn ngữ của Nhật Bản từ ngày xưa đã chịu ảnh hưởng bởi tiếng Hán Trong các triều đại ngày xưa, không chỉ ở Nhật Bản, mà ngay cả ở Hàn Quốc và Việt Nam, chữ Hán được sử dụng rất nhiều, trong thánh chỉ, giáo khoa thư, các biển lệnh, văn miếu, chùa… Thậm chí tên người cũng được đặt theo âm Hán Ở Nhật, âm Hán được sử dụng rộng rãi và phổ biến; mãi cho đến thời đại Heian, hai bộ chữ Hiragana và Katakana mới được hình thành Nhật Bản có một hệ thống phương ngữ đa dạng, các vùng thuộc các đảo miền Tây và miền Đông sử dụng phương ngữ riêng (phương ngữ Kanto và phương ngữ Kansai) Mặc dù hiện nay, phương ngữ Tokyo được chọn làm ngôn ngữ chuẩn của cả nước nhưng không phải toàn bộ người dân Nhật Bản đều sử dụng ngôn ngữ này Chẳng hạn, ở vùng Okinawa, người dân chỉ sử dụng quốc ngữ trong môi trường trường học và hành chính, còn trong hoạt động giao tiếp thì vẫn sử dụng ngôn ngữ riêng của địa phương mình Do vậy, các nhà ngôn ngữ học rất khó tìm ra câu trả lời chính xác nhất đối với nguồn gốc của tiếng Nhật

Trang 18

1 Chữ viết

Hầu hết người nước ngoài khi học tiếng Nhật lần đầu tiên (trừ người Hoa và những người đã học tiếng Hoa) đều có cùng ý kiến về vấn đề phức tạp nhất của tiếng Nhật, đó là hệ thống Kanji (Hán tự) gần 2000 chữ cơ bản, và mỗi chữ lại có những cách đọc khác nhau Với hệ thống ba bảng chữ cái : Hiragana (tiếng Nhật thuần), Katakana (phiên âm từ tiếng nước ngoài), Kanji (Hán tự), ngôn ngữ Nhật Bản được người nước ngoài nhắc đến như là một hệ thống phức tạp và thú vị nhất Nguyên nhân của việc chữ Hán xuất hiện nhiều là do trước đây Nhật Bản thông thương với Trung Quốc và Triều Tiên là chính, kể cả trong thời kì đóng cửa lâu dài vào thời Edo Mà ở Trung Quốc, hay

cụ thể hơn là Nam Trung Quốc và Triều Tiên, âm Hán được sử dụng rất nhiều Do vậy, Nhật Bản đã chủ động lấy chữ Hán làm công cụ giao tiếp chính trong ngoại thương Ngoài ra, vào khoảng thế kỷ thứ III-IV, có nhiều người từ Trung Quốc và Triều Tiên di trú đến Nhật Bản, mang theo cả chữ Hán Họ sinh sống tại Nhật Bản, nhưng sử dụng tiếng Hán để giao tiếp, hoặc làm phương tiện để sinh sống (buôn bán bằng tiếng Hán, dạy chữ Hán cho người Nhật…) Vào thời kì này, do trong số các nước Đông Á, Trung Hoa là nước có hệ thống chữ viết đầu tiên và phát triển mạnh với nền văn minh rực rỡ, nên việc những người di cư mang tiếng Hán đến Nhật giống như ngọn đèn đầu tiên hướng người Nhật học theo hệ thống chữ viết này Khi đã tiếp xúc với hệ thống chữ Hán này, người Nhật bắt đầu sử dụng rộng rãi, từ triều đình đến dân thường, cả trong văn thư, thông cáo lẫn trong các biển hiệu buôn bán Họ không quan tâm đến việc vay mượn hay không vay mượn mà chỉ cần biết có một hệ thống ngôn ngữ cho phép họ ghi chép, truyền kiến thức lại cho đời sau Cũng có ý kiến cho rằng các nhà sư từ Trung Quốc khi truyền đạo đến Nhật Bản đã mang theo các kinh thư bằng chữ Hán Khi thu nhận Phật tử, họ đã dạy chữ Hán để các Phật tử có thể đọc kinh thư dễ dàng Về cách ghi chép, ban đầu đều là âm Hán, chỉ có cách đọc có phần khác Người Nhật đã phát triển hệ thống Hán tự và cố gắng tìm cách đồng hóa với ngôn ngữ hiện tại thời đó (cách phát âm) Do vậy, mặc dù là chữ Hán nhưng cách đọc không hoàn toàn giống với người

Trang 19

Hoa Những âm nào gần giống với tiếng Hoa thì gọi là âm On (音読 - onyomi), những

âm nào được đọc theo tiếng Nhật thì gọi là âm Kun (訓読み - kunyomi) Nói cách khác, cách mà hiện nay người nước ngoài học tiếng Nhật được dạy đó là: Những chữ Hán đứng riêng lẻ một mình sẽ được phát âm theo tiếng Nhật, gọi là âm Kun; những chữ Hán đứng chung với nhau (ghép từ 2, 3, 4 chữ Hán lại) sẽ phát âm theo âm On

Ví dụ:

- Chữ “Quốc” 国:

国 khi đứng một mình sẽ đọc là くに(kuni : quốc), đọc theo kunyomi

中国(chuugoku: Trung Quốc), lúc đó 国 sẽ đọc là ごく(goku), đọc theo onyomi

Để quyết định theo cách đọc nào, người đọc khi đó cần căn cứ theo văn cảnh, ngữ nghĩa… để có cách phát âm đúng Thường những cách phát âm này ít có quy luật riêng, chỉ còn cách là sử dụng nhiều sẽ thành thói quen, và có khi trở thành phản xạ tự nhiên trong mỗi người Do vậy, đây cũng là điều khó cơ bản nhất của người nước ngoài khi học tiếng Nhật do cách đọc Hán tự quá phức tạp

Tuy nhiên, do sự du nhập của Phật giáo từ Trung Quốc sang Nhật Bản vào khoảng thế kỷ thứ V-VI, một lần nữa, hệ thống Hán tự lại nảy sinh thêm sự phức tạp Trong hệ thống Onyomi, 3 cách đọc nhỏ đã được phân chia ra, đó là “Go-on” – âm Ngô,

“Kan-on” – âm Hán và “Tou-on” – âm Đường Trong đó, âm Ngô xuất hiện đầu tiên do

Trang 20

quá trình truyền đạo của các nhà sư từ phía Nam Trung Quốc bấy giờ Vào thời kỳ này, hầu hết các tác phẩm văn học và kinh thư Phât giáo đều được đọc theo âm Ngô Một thời gian dài sau đó (khoảng thế kỷ VII-VIII), âm Hán mới được truyền vào Nhật bởi l

bộ phận người di cư và các nhà buôn từ phía Bắc Trung Quốc (bấy giờ là nhà Đường)

Do ở Trung Quốc có sự khác nhau giữa âm Hán là âm phía Bắc và âm Ngô là âm phương Nam nên khi du nhập sang Nhật Bản cũng có sự khác nhau Nhưng âm Ngô được truyền vào đầu tiên và các kinh thư Phật giáo đều được đọc theo âm Ngô, nên cho

dù người Nhật có cố gắng biến âm Hán thành cách đọc chính thức, cũng không thể thay thế được âm Ngô Còn âm Đường (Tou-on) du nhập muộn hơn so với các âm trước nên xuất hiện rất ít, chỉ xuất hiện trong vài từ tiếng Nhật đơn lẻ và không được đồng hóa với số lượng nhiều giống như âm Hán và âm Ngô

Trở lại với ví dụ về chữ Hành 行, đây là một trong các âm Hán có cách đọc nhiều nhất:

- Onyomi: Có 3 cách đọc

Âm Hán (kan-on): 修行(shugyou – tu hành), 行 đọc là ぎょう(gyou)

Âm Ngô (go-on): 旅行(ryokou – lữ hành), 行 đọc là こう(kou)

Âm Tống (to-on): 行灯(andon – hành đăng), 行 đọc là あん(an)

- Kunyomi: Có 3 cách đọc

行きます/いく(ikimasu/iku : đi), 行 đọc là い (i)

行く(yuku: đi), 行 đọc là ゆ(yu), ở đây là nghĩa bóng

行います/行う(okonaimasu/okonau: tổ chức), 行 đọc là おこな(okona)

Về sau, do nhiều yếu tố tác động như cách ghi phiên âm tên, ghi thơ… mà bộ chữ mới đã ra đời Ban đầu nó gọi là chữ Kana (tiền thân là chữ Manyogana), gồm 2 hệ thống chữ Hiragana và Katakana Thực sự, đây vẫn là bộ chữ Hán của Trung Quốc

Trang 21

nhưng dùng để ghi âm các ký tự của tiếng Nhật Theo các tư liệu, trong tiếng Nhật có khoảng 87 loại âm tiết nhưng lại có tới hơn 970 chữ Hán được sử dụng để viết chúng Rất nhiều chữ Hán được sử dụng để ghi cùng 1 âm tiết, ví dụ có tới 40 chữ Hán dùng

để ghi âm し (shi), 32 chữ Hán dùng để ghi âm か (ka) Vào thời đại Heian, các tác phẩm văn học Trung Quốc bị hạn chế truyền bá, thay vào đó, triều đình và quan lại chú trọng hơn đến việc phát triển văn hóa dân tộc Việc cần thiết bấy giờ là phải tạo ra những tác phẩm văn học bằng chính chữ viết của người Nhật Do vậy, sự phát triển chữ viết thời bấy giờ trở thành một yếu tố quyết định cho sự phát triển văn chương Chữ Manyogana được tạo ra từ hệ thống chữ Hán trước đó đã phát triển thành 2 bộ chữ Hiragana và Katakana, và được tầng lớp quý tộc nữ - đa số là những người trước đây gặp khó khăn trước sự phức tạp của những âm tự gốc Trung Quốc - sử dụng như phương tiện hiệu quả nhất cho sự biểu cảm trong văn chương Sự xuất hiện của chữ viết này đồng thời đã đánh dấu sự phát triển vượt bậc của văn học thời bấy giờ Hàng loạt các tác phẩm nổi bật kể lại những chuyện thăng trầm trong cuộc sống phồn hoa đô hội được viết bởi các nhà văn, nhà thơ nữ Các tác phẩm này rất đa dạng ở nhiều thể loại như tùy bút, tiểu thuyết, thơ… góp phần tạo nên một nền văn học Heian trữ tình và lãng mạn, như Truyện Genji, Chuyện kể người chặt trúc, Chuyện kể Ise… Hệ thống chữ Hiragana thời bấy giờ cũng chính vì vậy còn được gọi là Onnade (loại chữ chỉ dành cho phụ nữ viết), còn chữ Hán gọi là Otode (loại chữ của nam giới) Chữ Hiragana ban đầu rất phức tạp, nhưng dần dần được đơn giản hóa thành bộ chữ Hiragana 48 ký tự như hiện nay

Chữ Katakana cũng ra đời cùng thời với chữ Hiragana, tức là vào đầu thời đại Heian Bộ chữ này được tạo thành do giản lược một phần chữ Manyogana, bởi vậy nó

có tên là Kata (Phiến: một phần) Tuy nhiên loại chữ này chỉ được giới tăng lữ sử dụng vào việc ghi chép cách đọc kinh Phật, phải đến thế kỷ XII mới được sử dụng trong các tác phẩm văn học (chẳng hạn tác phẩm “Konjaku Monogatari” được viết bằng chữ Hán

và chữ Katakana) Ban đầu, nhiều chữ Katakana có thể được dùng để ghi 1 âm tiết

Trang 22

Sang thời Muromachi (1336-1603), mối liên hệ 1-1 giữa âm tiết và chữ Katakana được thiết lập Loại chữ Katakana được sử dụng ngày nay đã được chuẩn hóa vào năm 1900

Sau chiến tranh, đoàn đại biểu của nhóm các nhà giáo dục học Mỹ đã đến Nhật Khi họ thấy người Nhật sử dụng hệ thống Hán tự của Trung Hoa để diễn đạt từ vựng và

có 2 bảng phát âm thì họ kết luận rằng, hệ thống chữ viết như vậy sẽ làm chậm quá trình hiện đại hóa của Nhật Bản Họ khuyên rằng chữ cái tiếng Nhật nên được viết dựa trên bảng chữ Alphabet, giảm số lượng ký tự Hán tự và điều chỉnh hệ thống từ vựng ngữ pháp để thích hợp với cách phát âm hiện thời

Lời khuyên như vậy có 2 mặt tích cực và tiêu cực Chỉ xét về mặt tích cực, người Nhật sẽ dễ dàng khi học hơn Gần 300.000 ký tự Trung Hoa sẽ được xóa bỏ và chỉ còn gần 2000 Hán tự với sự giản lược để phù hợp với cách phát âm hơn Các nhà xuất bản báo chí có lẽ là người được lợi nhất trong việc thay đổi này Việc giảm bớt số lượng Hán tự sẽ góp phần giảm bớt đi các loại máy đánh chữ cần thiết để gõ những ký

tự khác nhau Ngoài ra, nhờ các ký tự chữ cái được viết với các nét gần giống với cách phát âm hiện đại nên trẻ em Nhật sẽ dễ dàng học viết và đọc hơn

Thế nhưng, người Mỹ đã sai khi kết luận rằng việc phân chia ra 3 bộ chữ cái là không hiệu quả Các ký tự Hán tự về cơ bản vẫn được sử dụng, phần lớn là để diễn đạt danh từ, từ gốc của động từ, tính từ và trạng từ Trong khi 1 trong 3 hệ thống bảng chữ cái được sử dụng để biểu đạt rõ hơn các thành tố biến cách, và 1 bảng khác được sử dụng cho hệ thống các từ ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài

Khi người đọc đã trở nên quen thuộc với đoạn văn bản được viết theo cách này, thì họ có thể hiểu triệt để chỉ bằng cách đơn giản là đọc lướt qua các ký tự Hán tự và các từ mượn tiếng nước ngoài Trong khoảng giai đoạn những năm 1960, vào thời của tổng thống Mỹ bấy giờ là John F Kennedy, cụm từ 速読術 (sokudokujutsu), có nghĩa

là “đọc lướt” (speed – reading), đã trở nên phổ biến tại Nhật Cụm từ này đã trở nên quen thuộc với độc giả Nhật Bản, bởi ngôn ngữ viết bằng tiếng Nhật rất thích hợp cho phương pháp đọc này

Trang 23

Một vấn đề đã gây ra trở ngại không nhỏ đối với tiếng Nhật, đó là không thể đánh máy nó một cách dễ dàng, nhưng sự phát minh ra bộ xử lý tiếng Nhật đã thay đổi tất cả Phần mềm này có thể ghi nhớ được 100.000 thậm chí 200.000 ký tự, vì thế nhà xuất bản, toà soạn báo đã không cần phải quan tâm đến việc làm giảm số lượng ký tự Hán tự Người ta có thể đánh tiếng Nhật dựa trên bộ xử lý này nhanh tương đương với tốc độ đánh tiếng Anh

2 Âm tiết

Hệ thống âm tiết tiếng Nhật rất khác với các nước khác trên thế giới Hiện nay, đa phần các nước trên khắp các châu lục, từ châu Á, châu Âu, đến châu Mỹ, châu Úc, đều sử dụng bảng chữ cái Latinh làm gốc để hình thành quốc ngữ cho riêng mình Số nước có hệ thống chữ riêng rất ít, trong đó phải kể đến Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản,… Điều đó góp phần tạo nên sự phong phú của ngôn ngữ trên thế giới Về âm tiết, nếu xét cách phiên âm theo bảng chữ Latinh thì tiếng Nhật có 5 nguyên âm: あ、い、う

、え、お (a, i, u, e, o) Về phụ âm, xét theo từng cột chữ thì có các âm: か、が、さ、ざ、た、だ、ら、は、ば、ぱ、な、ま (k, g, s, z, t, d, r, h, b, p, n, m) Ngoài ra còn có

âm mũi là ん(n) và âm ngắt là っ(q)

Xét về hệ thống từ ngữ của tiếng Nhật, có thể dễ dàng nhận ra một điều là tuy từ của tiếng Nhật được cấu tạo từ nhiều âm tiết, nhưng từng âm tiết đứng riêng đều không

có nghĩa Điều này khác với âm tiết của tiếng Việt

Tuy nhiên, nếu xét theo các từ Hán tự được phát âm theo tiếng Nhật, các từ có một

âm tiết vẫn có nghĩa như 血 (chi: máu), 目(me: mắt)…

Ngoài ra, nếu trong tiếng Anh, có 1 số động từ về mặt cấu tạo hình thức giống nhau, nhưng khi được chia thì (quá khứ, hiện tại,…) lại có cách đọc khác nhau thì ở tiếng

Trang 24

Nhật cũng xảy ra tình huống gần giống vậy Trong giao tiếp bằng tiếng Nhật, các từ có cách phát âm giống nhau nhưng nghĩa khác nhau sẽ được phân biệt bằng trọng âm, còn trong văn viết sẽ được phân biệt bằng Hán tự

Bên cạnh đó, trọng âm trong tiếng Nhật cũng được phân bố theo vùng miền và tùy theo phương ngữ Nhưng cách phát âm Kanto được chọn là cách phát âm chuẩn, cho nên hầu hết người nước ngoài khi học tiếng Nhật sẽ học theo âm chuẩn của vùng Tokyo

3 Từ vựng:

Hệ thống từ vựng tiếng Nhật có thể được xem là phong phú nhất trên thế giới hiện nay Sự phong phú về mặt từ vựng này có thể do nhiều yếu tố ảnh hưởng Một trong số nguyên nhân ảnh hưởng đó là tiếng Nhật có gốc là Hán tự, bản thân tiếng Nhật cũng có từ thuần Nhật, và quan trọng là từ ngoại lai du nhập vào Nhật Bản từ rất sớm bao gồm cả những từ được phát âm kiểu bản xứ và những từ bị Nhật hóa rồi trở thành một từ tiếng Nhật Xét về Hán tự, giống với tiếng Nhật, tiếng Việt cũng có từ mượn gốc Hán, nhưng ta chỉ mượn nghĩa, còn về chữ viết và cách phát âm vẫn là chữ Việt

Ví dụ: quốc phòng, phi hành gia…

Một số từ được mượn cả nghĩa và cách phát âm như xá xíu, xì dầu…., nhưng nếu xét theo tiếng Việt đều không có nghĩa

Tiếng Nhật mượn tiếng Hán về cách viết, nhưng có nhiều từ mượn cả cách viết lẫn cách đọc

Ví dụ:

雲 (kumo: mây) có nghĩa Hán Việt là “vân”, nhưng cách đọc là cách đọc thuần Nhật

Trang 25

万 (man: vạn, số đếm hàng chục ngàn), cũng được phát âm là “man” trong tiếng Hoa

Người Nhật rất sáng tạo trong việc vận dụng từ tiếng Hán để phát triển thêm nhiều

từ mới phù hợp với giai đoạn phát triển của đất nước Chẳng hạn, trong thời hiện đại, khi

đã có sự xuất hiện của xe buýt, xe điện , một vài từ mới được ra đời Khi đó tiếng Hán được vận dụng có ưu thế là ngắn gọn nhưng đầy ý nghĩa

Ví dụ: với từ 券(ken: phiếu, vé), có thể phát triển thêm nhiều từ như:

- 乗車券 (joushaken: vé hành khách), dịch sang tiếng Anh sẽ là: the ticket which can be used once

- 回数券 (kaisuuken: vé tập), dịch sang tiếng Anh sẽ là: A book of the ticket

- 定期券 (teikiken: vé định kỳ), dịch sang tiếng Anh là: The ticket which can be used in a certain time

Về từ mượn tiếng nước ngoài (không tính Trung Quốc), ở Việt Nam, ngoài một số

từ mượn được sử dụng thời Pháp thuộc và thời chống Mỹ, phần lớn các từ tiếng Anh hay tiếng Pháp khi du nhập vào Việt Nam đều được người Việt giữ nguyên cách phát âm sao cho giống cách phát âm của người bản xứ Tuy nhiên, có một vài từ mượn từ thế kỷ XIX như từ “frein” (thắng của xe) trong tiếng Pháp đã được người Việt mượn và biến âm thành “phanh”; hay từ “savon” của tiếng Pháp được biến âm thành “xà phòng” Đó là một vài từ khó phát âm, nên khi tiếng Việt không có từ để miêu tả và nếu phát âm từ đó theo tiếng bản xứ quá phức tạp, không phù hợp với giọng điệu tiếng Việt, nó sẽ được biến âm.Tuy nhiên, số lượng từ mượn bị biến âm trong tiếng Việt không nhiều Ngược lại, trong tiếng Nhật, số lượng từ mượn bị biến âm nhiều đến mức người nước ngoài và thậm chí người Nhật đã cho ra đời một ngôn ngữ mới gọi là “Japanese English” (giống như đã

có American English và Britain English) Nhưng ở đây, cách phát âm của người Nhật rất đặc biệt

Ví dụ:

Từ “ice cream”, phiên âm theo Katakana sẽ là: アイスクリーム (aisukurimu)

Từ “driver” sẽ đọc là ドライバー (doraibaa)

Trang 26

Do việc phát âm thêm các âm đuôi “u” hay “o”, biến âm “v” thành “b”, “er” thành

“aa” như vậy nên đôi khi chính người Anh nếu không chú ý cũng khó có thể hiểu được người Nhật đang nói gì

Phần lớn các từ mượn nước ngoài đều được ghi lại dưới hệ thống chữ Katakana, ngoài trừ các từ mượn của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha từ rất lâu như たばこ(tabako –

“thuốc lá”), là được ghi hẳn sang Hiragana

Vậy là tiếng Nhật có hệ thống từ mượn được vay từ 2 nguồn, 1 nguồn là tiếng Hán

và 1 nguồn là tiếng Âu – Mĩ (bao gồm tiếng Anh, Đức, Tây Ban Nha,….) góp phần tạo nên một hệ thống từ vựng khổng lồ Chúng ta chỉ hiểu được 60% cuộc hội thoại nếu chỉ nắm trong tay 1000 từ vựng tiếng tiếng Nhật Tuy nhiên, khi thuộc 1000 từ vựng tiếng Pháp, ta đã có thể hiểu được 83.5% cuộc nói chuyện Như vậy, để hiểu được 96% cuộc giao tiếp bằng tiếng Nhật, ta cần phải thuộc 22.000 từ vựng

4 Cấu trúc câu

Trật tự cơ bản nhất trong một câu tiếng Nhật mà ta thường bắt gặp đó là: Chủ ngữ - Bổ ngữ - Động từ Ngoài ra còn có các trợ từ để liên kết giữa các thành phần trong câu với nhau như に、を、が、は、の、へ… (ni, wo, ga, wa, no, he )

Ví dụ:

こちらは竹森さんです。

(Kochira wa Takemori-san desu)

Ở ví dụ trên, こちら (kochira) được xem là chủ đề của câu, được chỉ ra bởi trợ

từ は (wa), động từ là です(desu) Cụm từ 竹森さんです(takemori san desu) là bổ đề Câu trên dịch ra là “Đây là cô Takemori” Đây là cấu trúc câu thường gặp nhất trong tiếng Nhật, hay còn gọi là cấu trúc chủ đề - bổ đề

Ngoài ra, trong câu của tiếng Nhật, giới từ, trạng từ, các bổ từ cho động từ khác với tiếng Anh Ở tiếng Anh, trạng từ phải đứng sau động từ bổ nghĩa, nhưng trong tiếng

Trang 27

Nhật, trạng từ lại đứng trước động từ Trường hợp mệnh đề bổ nghĩa cho danh từ cũng

có sự khác nhau về vị trí

Ví dụ:

- Câu “Làm ơn nhanh rời khỏi đây!” sẽ được dịch như sau:

Tiếng Anh: Please move quickly out from here! (move là động từ, quickly là trạng từ)

Tiếng Nhật: ここを早く出てください!

(Koko wo hayaku dete kudasai)

Ta có はやく(hayaku: nhanh) là trạng từ, 出て(dete: rời khỏi) là động từ

- Hoặc đối với trường hợp mệnh đề bổ nghĩa cho danh từ:

Câu “Cô gái bạn gặp hôm qua là người yêu của tôi” sẽ được dịch như sau:

Tiếng Anh: The girl whom you met yesterday is my girlfriend Trong đó,

“whom you met yesterday” là mệnh đề bổ nghĩa cho danh từ là “the girl”

Tiếng Nhật: 昨日会った女の人は僕の恋人です。

(Kinou atta onna no hito wa boku no koibito desu) Trong đó, 昨日会った (kinou atta – “gặp hôm qua”) là mệnh đề bổ ngữ cho 女の人(onna no hito –

“cô gái”)

Tuy nhiên, cũng có trường hợp, một câu chỉ gồm 1 động từ tạo thành Ví dụ như

“やった!!” (yatta), nếu dịch sát nghĩa của từ thì có nghĩa là (ai đó) đã làm xong việc

gì Nhưng ở đây, câu này có ý muốn nhấn mạnh sự phấn khởi sau khi biết hoặc chứng

Trang 28

kiến một sự việc nào đó Và vì vậy câu này tương tự như ở tiếng Anh là “Yeah!” hoặc tiếng Việt là “Được rồi!!” hoặc “Hay quá !!”

III Kính ngữ 敬語(keigo) trong tiếng Nhật

1 Định nghĩa kính ngữ:

Trong tiếng Nhật, kính ngữ là một bộ phận quan trọng, giữ vai trò xác lập các mối quan hệ trong xã hội Nhật Bản vốn dĩ rất coi trọng thứ bậc và lễ nghi Các nhà nghiên cứu vẫn đi tìm một định nghĩa chung cho phép chúng ta hiểu sâu sắc hơn về vấn

đề này, nhưng dường như số định nghĩa về kính ngữ cũng nhiều như số người nghiên cứu Trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng tôi xin mạn phép trích dẫn lại định

nghĩa tương đối khái quát về kính ngữ của tác giả Shibatani (1994) trong The Encyclopedia of Language and Linguistics và tác giả Anna Kibort (2008) trong bài viết

Respect Grammatical Features trình bày như sau:

敬語(けいご)とは、言葉で表現する主体(書き手、話し手など)とそ

の相手(読み手、聞き手)やその話題中の人物との社会的関係(親疎、権力の大小)と態度を表す言語表現である。ポライトネスを実現する手段の一つであ

る。

Tạm dịch: Kính ngữ (keigo) là một dạng ngôn ngữ biểu hiện mối quan hệ xã hội (thân sơ hay cấp bậc quyền lực) giữa chủ thể giao tiếp (người viết, người nói) với đối tượng giao tiếp (người đọc, người nghe) cũng như thái độ giữa họ Đó là một trong những phương thức biểu đạt sự lịch sự

Nhìn chung, kính ngữ là cách diễn đạt ngôn từ được người Nhật dùng khi giao tiếp với người trên, người không có quan hệ gần gũi vớ i mì n h nh ằ m t h ể hiện

s ự l ị ch s ự, t ôn kí n h

Trang 29

Ngày nay, kính ngữ đã trở nên vô cùng phong phú, được sử dụng rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, trở thành nét đẹp trong văn hoá giao tiếp của đất nước Nhật Bản

Ví dụ:

- 田中様はゴルフをなさいます。

(Tanaka-sama wa gorufu wo nasaimasu)

(Ngài Tanaka đang chơi gôn)

- この本をお読みになりますか。

(Kono hon wo oyomi ni narimasu ka)

(Ngài đọc cuốn sách này chưa?)

- 会社をやめられたそうですね。

(Kaisha wo yamerareta soudesu ne)

(Nghe nói anh đã nghỉ làm rồi à?)

2.2 Khiêm nhường ngữ ( 謙譲語 – kenjougo)

Khiêm nhường ngữ là những từ ngữ được người viết, người nói sử dụng để tự hạ thấp hay khiêm nhường về hành động của mình, cũng nhằm biểu lộ sự kính trọng đối với người đọc, người nghe

Ví dụ:

- 私、ベトナムから参りました。

Trang 30

(Watakushi, Betonamu kara mairimashita)

(Tôi đến từ Việt Nam)

(Ashita wa oshigoto wo shimasu)

(Ngày mai tôi sẽ đi làm)

- ご飯を食べます。

(Gohan wo tabemasu)

(Tôi ăn cơm đây)

3 Các phương thức cấu tạo trong kính ngữ

Trong nghiên cứu “Những khó khăn của sinh viên tiếng Nhật, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng khi sử dụng kính ngữ trong văn hoá giao tiếp Nhật Bản và biện pháp khắc phục”, tác giả Dương Quỳnh Nga đã nêu ra các phương thức cấu tạo

trong kính ngữ bao gồm: phương thức từ vựng, phương thức thêm phụ tố và phương

Ví dụ:

Trang 31

お願い (onegai) : điều cầu xin; お好き (osuki): thích

Tuy nhiên vẫn có một số từ ngoại lệ (tiền tố お(o) kết hợp với từ gốc Hán) như: お

電話 (odenwa): điện thoại、お仕事 (oshigoto): công việc

+ Tiền tố ご(go) thường được kết hợp với các từ gốc Hán, được đọc bằng âm On:

Ví dụ:

ご家族 (gokazoku): gia đình; ご自由 (gojiyuu): sự tự do

Và cũng có một số từ ngoại lệ (tiền tố ご (go) kết hợp với từ gốc Nhật) như:ごゆっくり (goyukkuri): thong thả

Ngoài ra, trong một số trường hợp, các tiền tố này đã trở thành một phần cố định

của từ và được dùng kể cả trong lối nói thông thường như ご飯 (gohan) (cơm)

3.3 Phương thức biểu đạt động từ vị ngữ

Phương thức này được thể hiện theo bảng sau:

Dạng thức tôn kính ngữ

Dạng thức khiêm nhường ngữ お/ご (o/go)+ phần thân động từ +

になる(ni naru)

Ví dụ:

+ 書 く (kaku)  お 書 き に な る

お/ご (o/go) + phần thân động từ + する(suru)

Ví dụ:

+ 書 く (kaku)  お 書 き す る

Trang 32

(okaki ni naru): viết

Ví dụ:

- この料理は部長がお作りになりましたよ。

(Kono ryouri wa buchou ga otsukiri ni narimashita yo)

(Đồ ăn này do trưởng phòng làm đó)

- 車でお送りします。

(Kuruma de ookurishimasu)

(Tôi sẽ lái xe hơi tới tiễn anh)

* Riêng để biểu đạt ý tôn kính, ta còn có thể chia động từ như sau:

Động từ thể từ điển Động từ biểu đạt sự tôn kính Động từ nhóm I:

Chuyển đuôi động từ từ

う(u) sang あれる(areru)

会う(au) 帰る(kaeru) 返す(kaesu)

読む (yomu)

会われる (awareru): gặp 帰られる (kaerareru): trở về 返される (kaesareru): trả lại 読まれる (yomareru): đọc Động từ nhóm II :

Chuyển đuôi động từ る

(ru) sangられる(rareru)

見る(miru) 寝る(neru)

見られる (mirareru): nhìn 寝られる (nerareru): ngủ

Động từ nhóm III: Gồm

2 động từ có quy tắc

来る(kuru) する(suru)

来られる (korareru) : đến される (sareru): làm

Ví dụ:

Trang 33

山田先生はさっき出かけられました。

(Yamada-sensei wa sakki dekakeraremashita)

(Thầy Yamada vừa nãy đã ra ngoài rồi)

4 Các thành phần quan trọng trong câu sử dụng kính ngữ và mối quan hệ giữa chúng

4.1 Chủ thể của kính ngữ ( 敬語主体 - keigoshutai):

Chủ thể của kính ngữ là đối tượng tạo nên câu nói kính ngữ đó, mà cụ thể hơn là người viết hoặc người nói

4.2 Đối tượng của kính ngữ ( 敬語の相手 – keigo no aite):

Đối tượng của kính ngữ là người mà động từ kính ngữ hướng tới, tức là người đọc hoặc người nghe

4.3 Mối quan hệ giữa các thành phần trong kính ngữ:

- Mối quan hệ “bên trong” và bên ngoài”:

“Bên trong” là khái niệm để chỉ mối quan hệ giữa những người, sự việc, sự vật trong một nhóm, một phạm vi nhất định nào đó thuộc về hoặc gần với người nói Người Nhật không sử dụng kính ngữ khi nói chuyện với người cùng nhóm với mình

Ví dụ:

お兄さん、何をしてるの。

(Oniisan, nani wo shiteruno?)

(Anh ơi, đang làm gì đó? )

Ngược lại, “bên ngoài” là khái niệm dùng để chỉ những người, sự việc, sự vật nằm ngoài nhóm “bên trong” đã được nêu trên Khi giao tiếp với các đối tượng “bên ngoài”, người Nhật thường sử dụng tôn kính ngữ để biểu hiện thái độ lịch sự, và dùng khiêm nhường ngữ khi nói về nhóm mình

Ví dụ:

申し訳ございませんが、松本はただ今出かけております。

(Moushiwake gozaimasen ga, Matsumoto wa tadaima dekakete orimasu)

(Xin lỗi, bây giờ (giám đốc) Matsumoto đang ra ngoài)

Trang 34

- Quan hệ trên - dưới:

Đây chủ yếu là quan hệ về địa vị xã hội: giữa cấp trên với cấp dưới, giữa thầy giáo

và học sinh - sinh viên… Khi nói chuyện với người trên, người dưới bắt buộc phải sử dụng tôn kính ngữ để nói về người đó, và sử dụng khiêm nhường ngữ để nói về mình Nhưng ngược lại, người trên có thể dùng cách nói ngắn gọn, thân mật với người dưới

Ví dụ:

部長、この資料をお読みになりましたか?

(Buchou, kono shiryou wo oyomi ni narimashita ka)

(Trưởng phòng, ngài đã đọc tài liệu này chưa?

- Quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng:

Ở Nhật, kính ngữ rất được coi trọng trong mối quan hệ giữa người cung cấp dịch

vụ và khách hàng Khi nói chuyện với khách hàng, nhân viên buộc phải sử dụng kính ngữ

để tạo cho khách hàng cảm giác được tiếp đãi một cách niềm nở và được tôn trọng

Ví dụ:

こちらでお待ちください。

(Kochira de omachidasai)

(Xin quý khách vui lòng chờ ở đây)

4.4 Sự thống nhất về việc dùng kính ngữ trong câu:

Trong một câu, nếu đã sử dụng kính ngữ thì từ đầu cho đến cuối hội thoại phải sử dụng cùng thể kính ngữ, tránh trường hợp đang sử dụng kính ngữ lại chuyển sang thể ngắn Ngoài ra, nếu động từ của câu được dùng ở dạng kính ngữ thì cả danh từ lẫn tính từ đều phải chuyển đổi thành dạng lịch sự để hô ứng nhau

Ví dụ: Khi giới thiệu bản thân thì dùng khiêm nhường ngữ:

私はワンと申します。二年生でございます。ベトナムから参りました。よ ろしくお願いいたします。

(Watakushi wa Wan to moushimasu Ninensei degozaimasu Betonamu kara mairimashita Yoroshiku onegaiitashimasu)

Trang 35

(Tôi tên là Quân Tôi là sinh viên năm 2 Tôi đến từ Việt Nam Rất mong nhận được sự giúp đỡ tận tình)

5 Các cấp độ lời nói trong tiếng Nhật

Qua phần trình bày trên, ta có thể nhận ra các cách diễn đạt lời nói trong tiếng Nhật phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ xã hội, địa vị, tuổi tác giữa những người đối thoại với nhau Điều đó đã tạo ra một đặc điểm trong tiếng Nhật là sự phong phú về cấp

độ của lời nói Trong bài viết “Vài nét về cấp độ lời nói trong tiếng Nhật so với tiếng Việt” in trong tập san Khoa học Xã hội và Nhân văn số tháng 10/1999, tác giả Nguyễn

Thị Ngọc Hân đã nêu ra các cách diễn đạt trong tiếng Nhật khi xét đến đặc trưng của cấp độ lời nói được thể hiện qua vị ngữ, đó là: diễn đạt bằng tôn kính ngữ hoặc khiêm nhường ngữ, diễn đạt trung tính, diễn đạt bằng lời thông tục hoặc lời lịch sự Trong phần này, chúng tôi xin trình bày khái quát về các cấp độ lời nói trong tiếng Nhật cũng như mối tương quan giữa chúng như sau:

5.1 Cách diễn đạt bằng tôn kính ngữ:

Khi chủ ngữ trong câu là đối tượng (ngôi thứ 2 hoặc thứ 3) mà mình muốn đề cao

và thể hiện sự tôn kính, người ta sử dụng cách diễn đạt loại này Tóm lại, trong cách diễn đạt này, danh từ, tính từ và động từ được thể hiện như sau:

Trang 36

Tuy nhiên, đối với các động từ bất quy tắc, từng động từ hoặc nhóm động từ đều

có biến thể riêng, không phải là biến đổi phụ tố mà chuyển hẳn thành từ hoặc một tổ hợp từ khác (như đã trình bày trong phần “Phương thức từ vựng”)

5.2 Cách diễn đạt bằng khiêm nhường ngữ

Tương phản rõ rệt với cách diễn đạt bằng tôn kính ngữ là cách diễn đạt bằng khiêm nhường ngữ Người nói sẽ thể hiện sự khiêm tốn của mình cũng bằng cách dùng các dạng động từ khiêm nhường như đã trình bày ở trên

お/ご (o/go) + phần thân động từ + する(suru)

Và cũng riêng đối với trường hợp các động từ bất quy tắc, khi dùng trong câu diễn đạt bằng khiêm nhường ngữ này thì chúng được chuyển thành các từ hoặc tổ hợp

từ tương đương nhằm diễn đạt ý khiêm tốn của người nói (như trong phần “Phương thức từ vựng”)

5.3 Cách diễn đạt trung tính:

Khi giữa hai cực tôn kính và khiêm nhường vẫn có sự đối lập gay gắt, người ta

sử dụng cách diễn đạt trung tính để trung hoà bằng cách sử dụng hệ từ でござる/でございます(degozaru/degozaimasu), chứ không sử dụng các dạng khác nhau của động từ

để bày tỏ sự lịch thiệp của người nói Hệ từ này sở dĩ được gọi là trung tính bởi có thể được sử dụng trong cả câu tôn kính ngữ lẫn câu khiêm nhường ngữ Cùng dùng hệ từ でござる/でございます(degozaru/degozaimasu), nhưng nếu chủ ngữ của câu là người mình muốn bày tỏ ý tôn vinh thì đó là câu tôn kính, còn những câu mà chủ ngữ là người nói hoặc người cùng nhóm với người nói thì đó là câu khiêm nhường

Ví dụ:

チャンさんは中国人でございます。

(Chan-san wa Chuugoku jin degozaimasu)

(Cô Trần là người Trung Quốc)

Trang 37

5.4 Cách diễn đạt bằng lời lịch sự:

Đây là cách diễn đạt biểu lộ sự lịch sự tối thiểu khi giao tiếp, không đến mức quá thân mật như khi dùng cách nói thông tục, không quá đề cao người đối thoại đến mức gây cảm giác khách sáo như cách nói tôn kính, cũng không tự khiêm tốn đến mức khiến người đối thoại cảm thấy phải e ngại như khi dùng cách nói khiêm nhường Cách nói này có thể được sử dụng cho cả người trong nhóm lẫn ngoài nhóm Trong gia đình, con cái dùng cách nói này khi giao tiếp với cha mẹ Trong lớp học hoặc công ty, nó cũng được ưu tiên sử dụng khi tiếp xúc với thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp

(Ano hito wa nihonjin no kyoushi desu)

(Vị đó là giáo sư người Nhật)

Như vậy, cách nói lịch sự trong tiếng Nhật được đánh dấu bằng động từ dạng ます/ました(masu/mashita) hoặc các hệ từ です/でした(desu/deshita) So với các cách diễn đạt khác, nó được khuyến khích sử dụng cho học sinh, sinh viên trong trường học Tuy nhiên, cách diễn đạt bằng từ lịch sự này đôi khi không được tuân thủ chặt chẽ trong quá trình giao tiếp do bị chen ngang bởi cách nói thông tục Chẳng hạn như khi bị ong đốt, người nói buộc miệng kêu đau bằng lời thông tục mà chưa kịp cân nhắc xem mình đang nói chuyện với ai, người cần tôn kính hay người trong cùng nhóm Trường hợp nằm ngoài ý muốn này không diễn ra với cách diễn đạt bằng tôn kính ngữ hoặc khiêm nhường ngữ

5.5 Cách diễn đạt bằng lời thông tục:

Trang 38

Như vậy, ngược lại với cách diễn đạt bằng lời lịch sự, đây là cách diễn đạt sử dụng các động từ ở thể từ điển (động từ nguyên mẫu, không chia) Cách nói thông tục này thể hiện sự thân mật khi giao tiếp với người trong nhóm, bao gồm bạn bè, anh chị

em trong gia đình Ngoài ra, người ta cũng có thể sử dụng cách nói này với người có cương vị hoặc tuổi tác nhỏ hơn mình

Ví dụ:

- ごはんを食べに行く?

(Gohan wo tabe ni iku?)

(Đi ăn không?)

Tóm lại, để hiểu rõ hơn về các cấp độ khác nhau trong lời nói của tiếng Nhật, ta

có thể tóm tắt chúng theo các trục như sau:

Trang 39

*Tiểu kết

Hệ từ Các dạng động từ

Tôn kính ngữ お(o)+thân từ+になる(ni naru) でございます(degozaimasu) Quy chiếu

Hệ từ

Trang 40

Qua phần trình bày chương 2, chúng ta có thể thấy được sự hình thành của hệ thống ngôn ngữ trên thế giới nói chung và tại Nhật Bản nói riêng Tại Nhật Bản, hệ thống ngôn ngữ trở nên phong phú và tạo thành một nét đặc trưng của nước Nhật do có

sự chọn lọc và kết hợp từ nước ngoài như tiếng Hán (Kanji) và tiếng nước ngoài mà đặc biệt là tiếng Âu Mỹ (Katakana), tạo nên hệ thống 3 bảng chữ cái Trong đó, việc hình thành kính ngữ (keigo) như một hệ quả tất yếu của một nền văn hóa có nguồn gốc lâu đời, mà phần lớn là xuất phát từ văn hóa trong ngoại giao và xã hội, khi giữa người

và người bắt đầu có sự phân chia tầng lớp Thế nhưng, hệ thống kính ngữ đó có thật sự

là hoàn hảo và có hỗ trợ một cách tối đa trong đời sống của người Nhật? Vấn đề này, chúng tôi xin được trình bày tiếp tại chương 3

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w