CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ HỌC SINH SINH VIÊN
M ỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU
1.1.1 Các khái ni ệm liên quan đế n BHYT Để thống nhất cách hiểu, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các khái niệm BHYT được trích theo Luật BHYT, đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008 Luật số: 25/2008/QH12 a BHYT:
BHYT, hay bảo hiểm y tế, là một hình thức bảo hiểm không vì mục đích lợi nhuận, được tổ chức và thực hiện bởi Nhà nước, nhằm đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho người dân Các đối tượng tham gia BHYT phải tuân thủ theo quy định của Luật này.
Thẻ bảo hiểm y tế được cấp cho người tham gia, là căn cứ để hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế theo quy định của Luật Cơ sở khám bệnh và chữa bệnh bảo hiểm y tế là nơi thực hiện các quyền lợi này.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế là cơ sở y tế có ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh với tổ chức BHYT
Cơ sở khám bệnh và chữa bệnh bảo hiểm y tế bao gồm các loại hình như trạm y tế xã, nhà hộ sinh, phòng khám đa khoa, chuyên khoa, và bệnh viện đa khoa, chuyên khoa Những cơ sở này đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ y tế ban đầu cho người dân.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đầu tiên
Điều 2, chương I của Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua vào ngày 14 tháng 11 năm 2008, với số hiệu Luật 25/2008/QH12.
2 Trích điều 3, chương I, Luật BHYT
Theo Điều 24, Chương V của Luật Bảo hiểm y tế, người tham gia bảo hiểm y tế sẽ được ghi thông tin trên thẻ bảo hiểm Sinh viên sống tại làng Đại học Quốc gia Thủ Đức cần lưu ý rằng cơ sở khám chữa bệnh ban đầu của họ là trạm y tế trường học hoặc trạm y tế tại KTX ĐHQG TP HCM Việc đăng ký khám bệnh và chữa bệnh bảo hiểm y tế là rất quan trọng để đảm bảo quyền lợi của sinh viên.
Người tham gia bảo hiểm y tế có quyền đăng ký khám bệnh ban đầu tại cơ sở y tế tuyến xã, huyện hoặc tương đương, trừ trường hợp được phép đăng ký tại tuyến tỉnh hoặc trung ương theo quy định của Bộ Y tế Điều này nhằm đảm bảo lộ trình toàn dân tham gia BHYT vào năm 2014 Học sinh - sinh viên có thể chọn cơ sở y tế tư nhân để đăng ký khám chữa bệnh ban đầu, nhưng sẽ phải trả khoản chênh lệch nếu có Nếu đăng ký tại hệ thống y tế công lập, họ có quyền khám chữa bệnh tại cơ sở y tế ở quận/huyện khác và có thể khám vượt tuyến Khi vượt tuyến từ bệnh viện quận/huyện lên tuyến trên, người bệnh sẽ phải đóng 70% tổng chi phí khám chữa bệnh, trong khi chuyển giữa các bệnh viện quận/huyện sẽ được BHYT chi trả 70%.
Trong trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn kỹ thuật, cơ sở khám bệnh và chữa bệnh bảo hiểm y tế cần chuyển người bệnh kịp thời đến cơ sở khám bệnh và chữa bệnh bảo hiểm y tế khác, theo quy định về chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật.
BHYT trước hết là một bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, là một
1Trích điều 2, chương I, Luật BHYT
2 Trích điều 26, Chương V, LuậT BHYT
3 Xem http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID218&ChannelID=5
2 Trích điều 27, Chương V, LuậT BHYT chính sách xã hội, BHYT vừa mang tính chất xã hội, vừa mang bản chất kinh tế
V ề b ả n ch ấ t xã h ộ i BHYT là loại hình bảo hiểm vì mục tiêu an sinh xã hội Bản chất xã hội của BHYT được thể hiện trên các khía cạnh sau:
Sự bảo trợ của Nhà nước về chăm sóc y tế cho các thành viên tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) là một phần quan trọng trong chính sách xã hội của mỗi quốc gia, nhằm đảm bảo quyền được chăm sóc y tế của con người Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe không chỉ là trách nhiệm của cá nhân mà còn là trách nhiệm chung của cộng đồng Mặc dù mỗi cá nhân cần chủ động trong việc bảo vệ sức khỏe của mình, nhưng vẫn cần sự hỗ trợ từ Nhà nước, nơi đóng vai trò tổ chức, quản lý và bảo trợ.
Sự liên kết và chia sẻ trong cộng đồng là yếu tố quan trọng trong bảo hiểm y tế (BHYT) Ngoài sự hỗ trợ từ Nhà nước, BHYT thể hiện tính chất xã hội qua việc các thành viên đóng góp một phần thu nhập vào quỹ chung Quỹ này không chỉ chăm sóc sức khỏe cho bản thân mà còn cho những người khác trong xã hội Nhờ vào quỹ chung, những người khỏe mạnh có thể hỗ trợ cho những người ốm yếu, từ đó tạo ra sự công bằng và đoàn kết trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Bảo hiểm y tế (BHYT) thể hiện tính xã hội và sự đoàn kết trong chăm sóc y tế, không phân biệt mức đóng góp hay thành phần xã hội Những người nghèo và có thu nhập thấp thường gặp khó khăn về sức khỏe và tài chính, khiến họ cần nhiều hỗ trợ hơn trong việc chữa bệnh BHYT là giải pháp thiết thực giúp họ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giảm bớt gánh nặng tài chính khi ốm đau.
Bản chất xã hội của bảo hiểm y tế (BHYT) thể hiện sự hỗ trợ từ Nhà nước và sự tương trợ trong cộng đồng, cho thấy tính nhân đạo và trình độ văn minh của xã hội phát triển.
Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách xã hội phi lợi nhuận, nhằm hỗ trợ cộng đồng và mang tính chất kinh tế trong lĩnh vực y tế Việc thực hiện BHYT hiệu quả là một bài toán kinh tế y tế, với chức năng phân phối lại thu nhập Điều này thể hiện rõ qua sự tương trợ xã hội, bao gồm hai hình thức phân phối: trực tiếp và gián tiếp Phân phối trực tiếp diễn ra khi thu nhập từ người khỏe mạnh được chuyển sang người ốm, từ bệnh nhân nhẹ sang bệnh nhân nặng, và từ người trẻ sang người già yếu, thông qua việc đóng góp vào quỹ BHYT.
Bảo hiểm y tế (BHYT) ra đời vào cuối thế kỷ XIX, là một trong những giải pháp hiệu quả nhất để hỗ trợ người dân khi gặp rủi ro về sức khỏe BHYT giúp chi trả một phần chi phí khám chữa bệnh, từ đó ổn định đời sống và góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Ngày nay, bảo hiểm y tế (BHYT) đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết khi chi phí y tế và nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng gia tăng Những tiến bộ trong ngành y học đã mang lại hy vọng mới cho con người, với nhiều bệnh hiểm nghèo đã có thuốc phòng và chữa trị Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng tiếp cận những thành tựu này, đặc biệt là những người nghèo Phần lớn người dân không đủ tài chính để khám chữa bệnh, trong khi những người khá giả cũng có thể rơi vào tình trạng khó khăn bất cứ lúc nào Do đó, BHYT càng khẳng định vai trò thiết yếu của mình trong cuộc sống con người.
L Ý THUYẾT ÁP DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Lý thuyết hành vi lựa chọn
Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng lý thuyết hành vi lựa chọn của George Homans, phát triển từ lý thuyết lựa chọn duy lý Lý thuyết này cho rằng con người hành động có chủ đích và suy nghĩ để tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực, nhằm đạt được kết quả tốt nhất với chi phí thấp nhất Thuật ngữ “lựa chọn” nhấn mạnh quá trình cân nhắc và tính toán để quyết định phương tiện hay cách thức tối ưu trong bối cảnh khan hiếm nguồn lực.
Homans cho rằng con người sẽ chọn hành động dù giá trị thấp nếu tính khả thi cao Ông nhấn mạnh rằng sự lựa chọn hợp lý dựa vào đánh giá các yếu tố điều kiện khách quan và góc độ chủ quan của người ra quyết định, thay vì chỉ dựa vào tính toán chính xác.
Homans nhấn mạnh rằng con người rất chú trọng đến việc phần thưởng nhận được có tương xứng với sự đầu tư và đóng góp của họ hay không.
Khi áp dụng lý luận vào việc tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) và sử dụng thẻ BHYT trong khám chữa bệnh (KCB) của sinh viên ở trọ, việc lựa chọn tham gia BHYT trở thành một quyết định quan trọng Sinh viên có quyền quyết định tham gia hoặc không tham gia BHYT, và sự lựa chọn này được xem là hợp lý sau khi đã cân nhắc kỹ lưỡng Quyết định này không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu cá nhân mà còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên ngoài.
1 Còn có tên gọi là thuyết lựa chọn hợp lý
2 Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Lê Ngọc Hùng, NXB Khoa học xã hội, tr.354
3 Lịch sử và Lý thuyết xã hội học, Lê Ngọc Hùng, NXB khoa học xã hội, tr.366
4 Lịch sử và Lý thuyết xã hội học, Lê Ngọc Hùng, NXB khoa học xã hội, tr.366
5 Lịch sử và Lý thuyết xã hội học, Lê Ngọc Hùng, NXB khoa học xã hội, tr.367 vẫn là từ phía bản thân của sinh viên
Sinh viên rất chú trọng đến việc liệu phần thưởng từ việc tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) có tương xứng với chi phí mà họ đã đầu tư và đóng góp hay không.
Tính hợp lý trong việc tham gia hoặc không tham gia, cũng như quyết định sử dụng thẻ BHYT trong việc khám chữa bệnh của sinh viên ở trọ hiện nay, phụ thuộc vào nhiều yếu tố quan trọng.
1.2.2 Lý thuy ế t c ấ u trúc-ch ức năng
Lý thuyết chức năng-cấu trúc, được phát triển bởi các nhà xã hội học nổi bật như Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim và Talcott Parson, nhấn mạnh sự liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận cấu thành của một chỉnh thể Mỗi bộ phận trong lý thuyết này đều đảm nhận một chức năng nhất định, góp phần vào sự tồn tại và ổn định của chỉnh thể đó, tạo nên một cấu trúc bền vững.
Comte là người tiên phong trong nghiên cứu tĩnh học xã hội, tập trung vào các quy luật duy trì sự ổn định và trật tự của cấu trúc xã hội Ông nhận định rằng sự thiếu phối hợp giữa các bộ phận trong xã hội dẫn đến rối loạn và bất thường xã hội Trong khi đó, Spencer áp dụng các khái niệm sinh vật học như tiến hóa, phân hóa chức năng và đặc biệt là khái niệm cấu trúc và chức năng để lý giải các hiện tượng trong cơ thể xã hội Ông chỉ ra rằng sự biến đổi chức năng của các bộ phận sẽ kéo theo sự thay đổi cấu trúc của các chính thể xã hội.
Phương pháp luận thuyết chức năng tập trung vào việc giải quyết các vấn đề cốt lõi của cấu trúc xã hội và những hệ quả của nó Những người theo hướng chức năng phân tích các thành phần cấu thành sự kiện xã hội, đồng thời xem xét mối liên hệ giữa chúng Đặc biệt, họ chú trọng đến quan hệ của các thành phần này đối với nhu cầu chung trong việc tồn tại và phát triển các sự kiện, hiện tượng xã hội.
Thuyết cấu trúc – chức năng nhấn mạnh sự cân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của các bộ phận trong xã hội Theo thuyết này, sự tồn tại và phát triển của xã hội phụ thuộc vào sự hoạt động nhịp nhàng giữa các thành phần, đảm bảo sự cân bằng chung Mọi thay đổi ở một thành phần đều dẫn đến sự điều chỉnh ở các thành phần khác, và sự biến đổi của cấu trúc diễn ra theo qui luật tiến hóa, thích nghi với môi trường sống.
Trong đề tài nghiên cứu của mình chúng tôi tiếp cận vấn đề theo 2 hướng:
Bảo hiểm y tế (BHYT) đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần duy trì và phát triển an sinh xã hội BHYT ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của mỗi cá nhân, trở thành yếu tố thiết yếu trong việc hình thành và duy trì sự ổn định của xã hội.
Bảo hiểm y tế (BHYT) trong học đường đóng vai trò quan trọng đối với sinh viên, một nhóm có thu nhập không ổn định và phụ thuộc vào gia đình Nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc bảo vệ sức khỏe, dễ bị rủi ro trong cuộc sống BHYT giúp sinh viên vượt qua bệnh tật và rủi ro, đồng thời bảo đảm lợi ích kinh tế và sức khỏe cho họ Điều này không chỉ tạo điều kiện cho sinh viên có thể học tập và làm việc hiệu quả mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của họ Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết chức năng-cấu trúc ở cấp độ vi mô để nhấn mạnh tầm quan trọng của BHYT trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe sinh viên hiện nay.
K HUNG PHÂN TÍCH
Chế tài xử lý khi SV không tham gia BHYT
Thủ tục hành chính trong KCB bằng BHYT
Thực trạng tham gia BHYT của SV ở trọ
Thực trạng sử dụng thẻ BHYT trong KCB của SV ở trọ
Sinh viên ở trọ Các yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đ ẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này tập trung vào thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) của sinh viên tại bốn trường đại học ở làng ĐH Thủ Đức Mẫu nghiên cứu bao gồm sinh viên từ các trường này nhằm phân tích các yếu tố tác động đến quyết định tham gia BHYT của họ.
Tp HCM Đó là trường ĐHKHXH&NV, trường ĐHCNTT, trường KHTN, trường ĐH Kinh tế- Luật Mẫu nghiên cứu có những đặc điểm cơ bản như sau:
Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ giới tính giữa nam và nữ không có sự chênh lệch đáng kể, với 52% nam (104 trường hợp) và 48% nữ (96 trường hợp) trong tổng số mẫu được nghiên cứu.
Bảng 2.1: Giới tính của bạn
Kết quả khảo sát cho thấy số lượng sinh viên tại khu vực làng đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh được khảo sát, bao gồm các bạn đang theo học tại nhiều trường khác nhau.
Bảng 2.2: Tỉ lệ sinh viên của các trường
Sinh viên trườ ng N T ỉ l ệ % ĐHKHXH&NV 50 25% ĐHKHTN 50 25% ĐH CNTT 50 25% ĐH Kinh tế- Luật 50 25%
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Theo khảo sát, mẫu nghiên cứu được phân bổ đồng đều cho tất cả các trường, mỗi trường chiếm 25% tỉ lệ sinh viên trong mẫu Điều này giúp làm rõ mục đích nghiên cứu và thuận tiện cho việc so sánh giữa sinh viên các trường Do mỗi trường có đặc điểm và nội quy khác nhau, việc so sánh sự khác biệt giữa các trường trở nên dễ dàng hơn.
Trong nghiên cứu, tỉ lệ sinh viên giữa các năm học không có sự chênh lệch lớn Sinh viên năm ba chiếm tỉ lệ cao nhất với 29.5%, tiếp theo là sinh viên năm thứ tư với 26% Trong khi đó, sinh viên năm nhất và năm hai có tỉ lệ tương đương nhau, lần lượt là 22% và 22.5% trong tổng số mẫu nghiên cứu.
Bảng2.3: Sinh viên các năm học
N HẬN THỨC VỀ BHYT CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
Dựa trên kết quả từ các câu trả lời, chúng tôi đã xác định được quan điểm, thái độ và ý thức của người tham gia đối với vấn đề Các dữ liệu thu thập được cho thấy những phản hồi cụ thể và rõ ràng liên quan đến chủ đề nghiên cứu.
Nghiên cứu về hiểu biết quyền lợi khi tham gia BHYT của 200 sinh viên cho thấy, quyền lợi cao nhất mà sinh viên nhận thức được là quyền được thanh toán chi phí y tế theo chế độ BHYT, với 69.5% (139 sinh viên) đồng ý Tiếp theo là quyền được cấp thẻ BHYT (63% - 126 sinh viên) và quyền lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh (47.5% - 95 sinh viên) Tuy nhiên, chỉ có 20% (40 sinh viên) cho rằng họ có quyền KCB vượt tuyến, và 20.5% (41 sinh viên) biết đến quyền yêu cầu thông tin về chế độ BHYT Đáng chú ý, chỉ có 18.5% sinh viên nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình khi tham gia BHYT, cho thấy mức độ hiểu biết vẫn còn thấp.
Bảng:2.4 Hiểu biết về quyền lợi khi tham gia BHYT
Khi tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), người tham gia có quyền lợi quan trọng như được cấp phiếu BHYT (63%), có quyền chọn nơi khám chữa bệnh (47,5%), và được BHYT thanh toán chi phí khám chữa bệnh (69,5%) Ngoài ra, người tham gia còn được phép khám chữa bệnh vượt tuyến (20%) và yêu cầu giải thích, cung cấp thông tin liên quan đến BHYT.
Theo kết quả khảo sát, trong số 200 sinh viên được nghiên cứu, có 130 sinh viên (65%) cho biết họ được thanh toán chi phí khi khám chữa bệnh (KCB) vượt tuyến Tuy nhiên, vẫn có 70 sinh viên (35%) cho rằng họ không được thanh toán chi phí này, cho thấy tỷ lệ sinh viên chưa được đảm bảo quyền lợi khi KCB vượt tuyến vẫn còn cao.
Bảng 2.5: Khả năng được thanh toán chi phí KCB khi SV vượt tuyến
Thanh toán chi phí KCB khi SV vượt tuyến N T ỉ l ệ %
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Ba là, về tỉ lệ phần trăm mức phí KCB mà sinh viên nhận lại được khi tham gia
Trong số 130 sinh viên, có nhiều người tin rằng họ sẽ được hoàn trả chi phí KCB vượt tuyến Các mức tỷ lệ thanh toán khác nhau đã được đưa ra, và chúng tôi đã thu thập được kết quả chi tiết về vấn đề này.
Bảng 2.6: Tỉ lệ phần trăm mức phí được thanh toán lại khi KCB vượt tuyến
Các m ức đượ c thanh toán N T ỉ l ệ %
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Theo bảng trên, tỷ lệ lựa chọn cao nhất của sinh viên là "khoảng 20-30%", với 50 sinh viên chiếm 38,5%.
Khoảng 50% sinh viên lựa chọn mức chi trả “khoảng 50%”, trong khi chỉ 26,2% chọn “khoảng 70-80%” Việc này cho thấy nhận thức của sinh viên về khả năng chi trả khi KCB vượt tuyến còn hạn chế, vì mức chi trả phụ thuộc vào xếp hạng bệnh viện Cụ thể, sinh viên KCB tại bệnh viện loại 3, 4 hoặc chưa xếp hạng được thanh toán 70%, loại 2 là 50%, và loại 1 là 30% Chỉ 5.4% sinh viên nhận thức đúng về mức chi trả khi chọn đáp án “còn tùy bệnh viện vượt tuyến loại nào”, cho thấy sự hiểu biết về BHYT của sinh viên còn rất thấp Số liệu từ bảng hỏi cho thấy chỉ 18.5% sinh viên có kiến thức về BHYT, và qua các cuộc phỏng vấn sâu, nhiều sinh viên không nắm rõ về chế độ đóng BHYT và quyền lợi của mình Thông tin về quy định này chủ yếu được biết qua cán bộ lớp hoặc phòng y tế, trong khi quyền lợi khi tham gia bảo hiểm lại rất mập mờ và không rõ ràng.
Nghiên cứu cho thấy, mặc dù Việt Nam có chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) tốt, nhưng thiếu sự đảm bảo cho thành công của chương trình này, đặc biệt là trong công tác tuyên truyền về luật và quyền lợi của người dân Kể từ năm 2010, việc đóng BHYT trở thành bắt buộc đối với sinh viên tại các trường đại học, và sau hai năm, luật đã được áp dụng hiệu quả trong hệ thống Đại học quốc gia Tuy nhiên, mặc dù số lượng sinh viên tham gia BHYT tăng lên, nhận thức của họ về BHYT vẫn còn mơ hồ Công tác tuyên truyền về luật và quyền lợi BHYT tại các trường đại học chưa đạt hiệu quả, dẫn đến việc sinh viên có kiến thức kém về BHYT và sử dụng bảo hiểm còn hạn chế Điều này gây khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ BHYT, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của sinh viên.
T HỰC TRẠNG SV THAM GIA BHYT
Nhiều trường học hiện nay gặp khó khăn trong việc tuyên truyền và vận động sinh viên tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), thường nhận được phản hồi như “không có” hoặc “không rõ” Qua quá trình phỏng vấn và quan sát, chúng tôi nhận thấy sinh viên mặc dù đã tham gia BHYT theo quy định, nhưng ít chủ động tìm hiểu về quyền lợi và cách sử dụng Điều này dẫn đến sự bất tiện trong việc sử dụng BHYT, cùng với các thiếu sót trong công tác quản lý Kể từ ngày 1-1-2010, BHYT tự nguyện đã trở thành BHYT bắt buộc, yêu cầu tất cả học sinh, sinh viên tham gia như cán bộ, nhân viên nhà nước, nhằm bảo vệ sức khỏe cá nhân và cộng đồng trước những rủi ro và dịch bệnh ngày càng phức tạp Việc này không chỉ nâng cao độ bao phủ BHYT trong nhóm học sinh, sinh viên mà còn tạo ra sự khác biệt trong cách tham gia và sử dụng BHYT, đặc biệt là đối với sinh viên ở trọ.
2.3.1 Th ự c tr ạ ng tham gia BHYT trong sinh viên ở tr ọ hi ệ n nay
Bắt đầu từ ngày 1-1-2010, bảo hiểm y tế (BHYT) tự nguyện đã chuyển thành BHYT bắt buộc, yêu cầu tất cả học sinh sinh viên (HS-SV) tham gia Tuy nhiên, sau gần hai năm thực hiện, chỉ có 67% sinh viên biết đến thông tin này, trong khi con số lý tưởng là 100% Điều này cho thấy vẫn còn một bộ phận sinh viên chưa tiếp cận được thông tin về BHYT, hoặc không quan tâm đến vấn đề này, dẫn đến việc họ không chủ động tìm hiểu và có thể đã nghe qua nhưng không thấy liên quan đến bản thân Kết quả là nhiều sinh viên vẫn chưa nắm rõ thông tin cần thiết về BHYT.
Nghiên cứu cho thấy sinh viên hiện nay tiếp cận thông tin về bảo hiểm y tế (BHYT) chủ yếu thông qua các loại hình thông tin khác nhau Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu cách thức và nguồn thông tin mà sinh viên sử dụng để nắm bắt kiến thức về BHYT.
Bảng2.7: Nguồn tiếp cận thông tin về BHYT của SV ở trọ hiện nay
Bảng tin khoa, đoàn, trường 66 33%
Cán bộ lớp thông báo 116 58%
Trực tiếp từ cơ quan
BHYT, cán bộ y tế trường 15 7.5%
Các phương tiện truyền thông 47 23.5%
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Sinh viên ở trọ chủ yếu tiếp cận thông tin về Bảo hiểm y tế (BHYT) qua hai nguồn chính: cán bộ lớp (58%) và bản tin khoa, đoàn trường (33%) Mặc dù có các nguồn thông tin khác, như từ cơ quan BHYT và nhân viên y tế nhà trường (7.5%), nhưng tỷ lệ này rất thấp Điều này cho thấy rằng vai trò của nhân viên y tế trong việc truyền đạt thông tin về BHYT đến sinh viên tại các trường đại học vẫn còn hạn chế.
Một bộ phận nhỏ sinh viên, chiếm 6%, cho rằng họ không có cơ hội tiếp cận thông tin về bảo hiểm y tế (BHYT), điều này ảnh hưởng đến tỷ lệ tham gia BHYT trong cộng đồng sinh viên hiện nay.
Trong hai năm qua, thực trạng tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) của sinh viên ở trọ cho thấy tỉ lệ tham gia đạt 86%, trong khi tỉ lệ không tham gia là 14% đối với tất cả sinh viên thuộc các năm học.
Biểu đồ 2.1: Thực trạng tham gia BHYT trong 2 năm học 2010-2012
Trong hai năm học, có 56% sinh viên tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) đầy đủ, bên cạnh đó còn tồn tại hai nhóm sinh viên: nhóm tham gia BHYT chỉ trong năm 2010-2011 và nhóm tham gia BHYT chỉ trong năm 2011-2012.
Năm 2012, chúng tôi nhận thấy một điều bất ngờ khi so sánh tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) của sinh viên, đó là tỷ lệ này trong năm học sau thấp hơn năm học trước Cụ thể, trong năm học 2010-2011, chỉ có 44 sinh viên tham gia BHYT, chiếm 22% trong tổng số mẫu nghiên cứu.
Trong năm học 2011-2012, chỉ có 16 sinh viên tham gia, chiếm 8% mẫu nghiên cứu, giảm 14% so với năm trước, điều này trái ngược với kỳ vọng Hơn nữa, tỷ lệ sinh viên không tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) trong hai năm học qua vẫn đáng chú ý, chiếm 14% mẫu nghiên cứu.
Bảng 2.8: Tỉ lệ sinh viên tham gia BHYT
Tham gia BHYT vào năm họ c N T ỉ l ệ %
Cả hai năm học trên 112 56%
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Trong năm học 2010-2011, tổng số sinh viên tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) là 156 trên 200 sinh viên, đạt tỷ lệ 78% Tuy nhiên, trong năm học 2011-2012, số sinh viên tham gia BHYT giảm xuống còn 128, chiếm 64%, thấp hơn 12% so với năm trước Đáng chú ý, tỷ lệ sinh viên không tham gia BHYT trong cả hai năm học này là 14%.
Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ sinh viên tham gia BHYT qua các năm học
Khi phân tích các thông tin cá nhân đối với việc tham gia BHYT trong sinh viên ở trọ hiện nay, kết quả cho thấy:
Trong hai năm qua, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) giữa sinh viên nữ và nam có sự chênh lệch rõ rệt Cụ thể, tỷ lệ sinh viên nữ tham gia BHYT đạt 60.4%, cao hơn so với 51.9% của sinh viên nam Ngoài ra, tỷ lệ sinh viên nam chỉ tham gia BHYT trong một trong hai năm cũng như tỷ lệ không tham gia trong cả hai năm đều cao hơn so với sinh viên nữ Cụ thể, trong năm học 2010-2011, tỷ lệ nam tham gia BHYT chỉ là 22.1%, trong khi nữ là 21.9% Tương tự, trong năm 2011-2012, tỷ lệ nam tham gia giảm xuống còn 9.6%, trong khi tỷ lệ nữ là 6.3% Cuối cùng, tỷ lệ nam không tham gia BHYT trong cả hai năm là 16.3%, cao hơn 2.3% so với tỷ lệ nữ không tham gia là 14%.
Bảng 2.9: Tham gia BHYT và giới tính của sinh viên
Năm họ c Gi ớ i tính T ổ ng
Cả hai năm học trên 54 51,5% 58 60,4% 112 56%
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Từ các phân tích, có thể thấy rằng giới tính ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) của sinh viên, với tỷ lệ tham gia của sinh viên nữ cao hơn so với sinh viên nam Điều này được xác nhận qua kiểm định Chi-Square giữa việc tham gia BHYT qua các năm học và giới tính.
Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ rõ ràng giữa việc tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) và thứ tự năm học của sinh viên Tỉ lệ tham gia BHYT cao nhất thuộc về sinh viên năm nhất với 95.5%, nhưng tỉ lệ này giảm dần ở các năm học tiếp theo, cụ thể là 86.7% ở năm hai, 86.4% ở năm ba và chỉ còn 76.9% ở năm tư.
Biểu đồ 2.3: Thực trạng tham gia BHYT của sinh viên các năm
Đối với sinh viên năm nhất, việc đóng tất cả các khoản phí, bao gồm bảo hiểm y tế (BHYT), là bắt buộc mỗi đầu năm học Năm học này, BHYT đã trở thành yêu cầu bắt buộc, khiến cho sinh viên năm nhất không có nhiều cơ hội để không tham gia Tuy nhiên, vẫn có một tỷ lệ nhỏ sinh viên năm nhất không tham gia BHYT, với tỷ lệ 4.5% trong mẫu nghiên cứu này.
Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy sự khác biệt so với nghiên cứu một năm trước về tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) của sinh viên Cụ thể, vào tháng 5 năm 2010, tỷ lệ tham gia BHYT của sinh viên năm tư cao hơn so với sinh viên năm hai và ba Nguyên nhân được cho là sinh viên năm tư, do lo ngại về việc không tham gia BHYT có thể ảnh hưởng đến khả năng tốt nghiệp, đã chủ động tham gia Tuy nhiên, sau gần hai năm thực hiện BHYT bắt buộc, chưa có trường hợp nào bị cấm tốt nghiệp vì không tham gia BHYT, điều này có thể lý giải cho sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu giữa hai thời điểm.
SV VỚI VIỆC SỬ DỤNG THẺ BHYT TRONG KCB
Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) của sinh viên cho thấy một phần nguyên nhân không tham gia là do chất lượng khám chữa bệnh (KCB) bằng thẻ BHYT còn thấp và thủ tục thanh toán chi phí BHYT phức tạp Đối với nhóm sinh viên đã tham gia BHYT, cần tìm hiểu cơ sở lựa chọn KCB bằng BHYT, đánh giá chất lượng KCB và thực trạng sử dụng thẻ BHYT trong KCB của sinh viên hiện nay.
2.4.1 Cơ sở c ủ a vi ệ c l ự a ch ọ n KCB b ằ ng BHYT c ủ a sinh viên ở tr ọ hi ệ n nay
Nghiên cứu về tình trạng sức khỏe của sinh viên trong hai năm qua cho thấy 81% sinh viên đã trải qua tình trạng ốm đau, trong khi chỉ có 19% chưa từng bị ốm Đặc biệt, 38.5% sinh viên có số lần ốm từ 3 lần trở lên, với tỷ lệ sinh viên bị ốm hai lần (16.5%) cao hơn so với ba lần (14.5%) Tỷ lệ sinh viên chỉ bị ốm một lần là 7.2%, nhưng đáng chú ý là 42.5% sinh viên đã ốm hơn 3 lần trong hai năm qua, cho thấy nhu cầu chăm sóc sức khỏe thường xuyên cho một bộ phận sinh viên hiện nay.
Bảng 2.15: Số lần ốm trong 2 năm trở lại đây
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Nghiên cứu về tình trạng sức khỏe của 162 sinh viên cho thấy hầu hết mắc bệnh nhẹ, chiếm 97.5%, không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe Trong khi đó, bệnh nặng nhưng không nguy hiểm đến tính mạng chiếm 25.2% Tỉ lệ sinh viên gặp phải bệnh rất nặng và nguy hiểm đến tính mạng chỉ là 6.7%.
Bảng 2.16: Tính chất bệnh của sinh viên
Bệnh nhẹ, không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe 159 97.5%
Bệnh nặng nhưng không nguy hiểm tới tính mạng 41 25.2%
Bệnh rất nặng, nguy hiểm tới tính mạng 11 6.7%
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Kết quả này phần nào phản ánh đặc điểm thể trạng của sinh viên, những người đang trong độ tuổi trưởng thành với sức khỏe tốt Mặc dù số lần ốm của sinh viên có thể cao, nhưng mức độ bệnh tật không đáng lo ngại Hiểu rõ điều này giúp giải thích sự lựa chọn dịch vụ y tế của sinh viên đang sống tại các khu trọ hiện nay.
Biểu đồ 2.6: Lựa chọn loại hình dịch vụ y tế của sinh viên ở trọ hiện nay
Theo số liệu từ nghiên cứu, sinh viên chủ yếu lựa chọn tự mua thuốc tại các quầy thuốc tư nhân, chiếm đến 50%, trong khi chỉ 36.6% sử dụng thẻ BHYT để khám chữa bệnh Đáng lưu ý, có 13.8% sinh viên vẫn chủ quan với sức khỏe của mình, chọn cách để bệnh tự khỏi, điều này tiềm ẩn nhiều nguy cơ Việc không chữa trị kịp thời có thể dẫn đến bệnh trở thành mãn tính, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe của sinh viên.
2.4.2 Th ự c tr ạ ng s ử d ụ ng th ẻ BHYT trong KCB c ủ a sinh viên ở tr ọ hi ệ n nay
Nghiên cứu thực trạng sử dụng thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) trong khám chữa bệnh (KCB) của sinh viên dựa trên các thông tin cá nhân như giới tính, hiểu biết về chính sách BHYT và loại bệnh mắc phải Kết quả cho thấy sự khác biệt trong tỷ lệ sử dụng thẻ BHYT giữa các trường đại học.
Thứ nhất, có mối liên hệ giữa việc sử dụng BHYT trong KCB của sinh viên ở trọ với các đặc điểm cá nhân của sinh viên
Nghiên cứu cho thấy, sinh viên nam thường có xu hướng để bệnh tự khỏi trước khi tìm đến thuốc hoặc khám tại cơ sở tư nhân, và chỉ sử dụng thẻ BHYT khi bệnh trở nặng Ngược lại, sinh viên nữ lại ưu tiên sử dụng thẻ BHYT để khám chữa bệnh trước, sau đó mới mua thuốc hoặc khám tại cơ sở tư nhân, và cuối cùng mới để bệnh tự khỏi.
Bảng 2.17: Giới tính của sinh viên với việc lựa chọnviệc chăm sóc sức khỏe khi mắc bệnh
N % N % N % Để mặc bệnh tự hết 12 52,2 11 47,8 23 13,4
Mua thuốc hoặc KCB tư nhân 44 51,2 42 48,8 86 50
Kết quả khảo sát cho thấy sinh viên nữ sử dụng thẻ BHYT trong việc khám chữa bệnh cao hơn sinh viên nam, với tỷ lệ lần lượt là 50.8% và 49.2% Mặc dù sự chênh lệch không lớn, nhưng điều này cho thấy sinh viên nữ có sự quan tâm hơn đến sức khỏe bản thân Tâm lý chung của nam giới thường tự tin vào sức khỏe của mình hơn, dẫn đến việc họ có phần chủ quan hơn so với nữ giới, mặc dù sự chủ quan này cũng tồn tại ở sinh viên nữ nhưng ở mức độ thấp hơn.
Sự hiểu biết về bảo hiểm y tế (BHYT) đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng thẻ trong khám chữa bệnh (KCB) Trong số 63 sinh viên đã sử dụng thẻ BHYT, có đến 74.6% (47 sinh viên) tin rằng họ sẽ được thanh toán chi phí nếu chuyển tuyến lên bệnh viện tuyến trên, trong khi 25.4% (16 sinh viên) không nắm rõ thông tin này Điều này cho thấy nhận thức về quyền lợi BHYT ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng dịch vụ y tế của sinh viên.
Bảng 2.18: Nhận thức về khả năng được thanh toán khi KCB vượt tuyến với
Kh ả năng đượ c thanh toán chí phí khi
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Dựa trên thông tin và kết quả ban đầu, chúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn về tình hình sử dụng thẻ trong khám chữa bệnh của sinh viên hiện nay.
Nghiên cứu về lựa chọn dịch vụ y tế của sinh viên cho thấy có mối liên hệ giữa tình trạng sức khỏe tổng quát và hình thức dịch vụ y tế mà họ chọn khi ốm.
Biểu đồ 2.7: Tính chất bệnh mắc phải với sự lựa chọn của sinh viên
Theo từng mức độ sức khỏe khi ốm, tỷ lệ sinh viên sử dụng dịch vụ y tế KCB bằng thẻ BHYT xuất hiện ở cả ba trường hợp Đặc biệt, nhóm sinh viên đánh giá tình trạng sức khỏe của họ là bệnh rất nặng, nguy hiểm đến tính mạng, có tỷ lệ KCB bằng thẻ cao nhất, chiếm 55.6%.
Tỉ lệ sinh viên cho rằng mình mắc bệnh nhẹ và không ảnh hưởng đến sức khỏe so với tỉ lệ sinh viên mắc bệnh nặng nhưng không nguy hiểm đến tính mạng chọn KCB bằng thẻ không có sự chênh lệch lớn, lần lượt là 34.1% và 33.3% Tuy nhiên, việc tỉ lệ sinh viên sử dụng thẻ BHYT trong KCB của nhóm mắc bệnh nhẹ cao hơn so với nhóm mắc bệnh nặng là điều đáng chú ý Điều này có thể cho thấy rằng sinh viên ở trọ hiện nay đang dần chú ý hơn đến việc chăm sóc sức khỏe của bản thân.
Khác với việc lựa chọn khám chữa bệnh (KCB) bằng thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) chủ yếu của sinh viên mắc bệnh nặng nguy hiểm đến tính mạng, việc tự mua thuốc hoặc khám tại các cơ sở tư nhân tập trung vào nhóm sinh viên mắc bệnh nặng nhưng không nguy hiểm và các bệnh nhẹ Tỷ lệ sinh viên cho rằng mình mắc bệnh nặng không ảnh hưởng đến tính mạng chiếm 61.1%, trong khi tỷ lệ mắc bệnh nhẹ là 54.3% Mặc dù tỷ lệ sinh viên chọn khám tại cơ sở tư nhân thấp hơn so với KCB bằng thẻ BHYT, nhưng vẫn đạt 44.4%, cho thấy nhiều sinh viên vẫn lựa chọn phương án này Điều này chứng tỏ rằng, mặc dù chi phí khám chữa bệnh tại cơ sở tư nhân cao hơn, nhưng các cơ sở này vẫn có những lợi thế riêng thu hút sinh viên.
Một tỷ lệ sinh viên không chọn dịch vụ y tế nào, tức là để bệnh tự khỏi, chủ yếu do họ cho rằng mình chỉ mắc các bệnh nhẹ và không ảnh hưởng đến sức khỏe Tâm lý sức khỏe tốt của nhóm sinh viên này cũng góp phần giải thích cho kết quả trên.
C ÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THAM GIA BHYT
Sinh viên, là thế hệ trẻ năng động, thường sống xa gia đình và chủ yếu đến từ các tỉnh thành, có thể hưởng nhiều lợi ích từ Bảo hiểm y tế (BHYT) Tuy nhiên, có 5 yếu tố chính ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên.
Sinh viên thường không có thu nhập ổn định và phụ thuộc vào gia đình, dẫn đến nhiều bạn phải làm thêm để tự trang trải chi phí sinh hoạt Ngay từ đầu năm học, sinh viên phải chi trả nhiều khoản như học phí, tiền thuê nhà, dụng cụ học tập và các đồ dùng cá nhân, khiến việc đóng bảo hiểm y tế (BHYT) ngay đầu năm trở thành một gánh nặng tài chính cho nhiều sinh viên, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn.
Với mức đóng là 185.000 đối với năm học 2010-2011, nhưng đến năm học 2011-
Mức phí bảo hiểm y tế (BHYT) đã tăng lên đến 210.000 đồng vào năm 2012, điều này có thể ảnh hưởng đến tâm lý và sự tham gia của sinh viên Đối với một số sinh viên, khoản phí này không phải là nhỏ và có thể gây khó khăn trong việc quyết định tham gia BHYT.
Theo khảo sát, có 21 sinh viên không tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) trong hai năm học liên tiếp, với 32,1% cho rằng mức đóng phí cao là nguyên nhân chính, đứng thứ ba sau thủ tục hành chính phức tạp và chất lượng khám chữa bệnh chưa đảm bảo Điều này cho thấy mức đóng BHYT có ảnh hưởng quan trọng đến sự tham gia của sinh viên, mặc dù tỷ lệ chưa cao nhưng phản ánh một phần nguyên nhân khiến sinh viên chưa tích cực tham gia BHYT hiện nay.
Nhiều sinh viên cho rằng mức đóng BHYT bắt buộc 200.000 đồng không quá cao, nhưng nguyên nhân khiến họ chưa tham gia đầy đủ là do khó khăn về kinh tế, đặc biệt vào đầu năm học khi phải chi trả nhiều khoản cùng lúc Với mức 210.000 đồng, nhiều gia đình có con cái đi học đông gặp không ít khó khăn trong việc đóng BHYT.
Một sinh viên cho biết rằng mức đóng hiện tại là hợp lý, không quá cao so với năm ngoái, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát và đồng tiền mất giá Cụ thể, mức tăng từ 180,000đ lên hơn 200,000đ là vừa phải Sinh viên này cũng nhấn mạnh rằng nếu chất lượng phục vụ được nâng cao, thì việc tăng mức đóng là hoàn toàn chấp nhận được.
Kết quả phỏng vấn cho thấy, đa số người tham gia đều cho rằng mức đóng BHYT hiện tại là hợp lý và không quá cao, đặc biệt trong bối cảnh viện phí và chi phí sinh hoạt ngày càng tăng Họ nhận định rằng lợi ích mà BHYT mang lại hoàn toàn xứng đáng với mức đóng Tuy nhiên, một số sinh viên cho rằng những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là những gia đình đông con, gặp khó khăn trong việc tham gia BHYT, khiến cho việc đóng góp trở thành gánh nặng tài chính.
Mức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những nguyên nhân khiến một số sinh viên không tham gia, đặc biệt là những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn Tuy nhiên, phần lớn sinh viên xem việc đóng BHYT là điều bình thường và phù hợp với khả năng tài chính cũng như lợi ích thiết thực mà nó mang lại Mặc dù đây là yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia đóng BHYT, nhưng nó không phải là yếu tố quyết định trong việc tham gia của sinh viên hiện nay.
2.5.2 Nh ậ n th ứ c v ề quy ề n l ợ i khi tham gia BHYT Đối với người sử dụng BHYT, họ phải được biết về các thông tin về sản phẩm cũng như lợi ích mà họ được hưởng hay những quy định, phạm vi, quyền hạn…sử dụng thì mới có thể chủ động tham gia một cách tích cực Sinh viên là nhóm đối tượng rất năng động, tiếp xúc thường xuyên với truyền thông đại chúng, cũng như các câu lạc bộ tuyên truyền…Tuy nhiên, đối với lĩnh vực về BHYT thì có ít sinh viên được biết đến BHYT từ các thông tin đại chúng hay cơ sở y tế…nào
Sinh viên chủ yếu nhận thông tin về bảo hiểm y tế (BHYT) từ ban cán bộ và bảng tin của trường, trong khi thông tin từ cơ quan BHYT và nhân viên y tế lại chiếm tỷ lệ rất thấp Mặc dù cơ quan BHYT là nơi ban hành và tuyên truyền quyền lợi của sinh viên, nhưng thực tế cho thấy sinh viên ít khi tiếp cận thông tin qua các nguồn này, chủ yếu dựa vào Internet và phương tiện truyền thông đại chúng.
BHYT đã trở thành bắt buộc từ năm 2010, nhưng nhiều sinh viên vẫn chưa nắm rõ thông tin này Họ chỉ nghe nói mơ hồ và không có kiến thức đầy đủ về BHYT và các quyền lợi liên quan Một sinh viên chia sẻ: “Em chỉ biết thông tin BHYT trở thành bắt buộc qua bạn lớp trưởng.” Họ cũng cho biết rằng mặc dù đã tham gia BHYT một thời gian, nhưng không rõ quyền lợi cụ thể vì chưa bao giờ sử dụng dịch vụ Điều này cho thấy sự thiếu sót trong việc truyền đạt thông tin về BHYT đến sinh viên.
Mình không rõ lắm về quyền lợi bảo hiểm y tế, chỉ biết rằng khi ở nhà, ba mẹ yêu cầu nộp thì mình nộp thôi Mặc dù mình không tham gia khám chữa bệnh (KCB), nhưng theo mình, có thể tham gia KCB vượt tuyến ở một số nơi Mình biết là được cấp thẻ bảo hiểm và tư vấn về thẻ, nhưng không rõ KCB có hoàn toàn miễn phí hay không, hoặc chỉ miễn phí một phần nào đó.
Nhiều sinh viên không nhận được thông tin chính thức về việc nộp học phí đầu năm, chỉ biết qua thông báo mà không thấy trên bảng tin Họ cũng không biết liệu cán bộ y tế hay phòng công tác sinh viên có thực hiện tuyên truyền nào không.
Nhiều sinh viên bày tỏ sự bức xúc về việc đóng bảo hiểm y tế (BHYT) mà không hiểu rõ mục đích và lợi ích của nó Một sinh viên cho biết thông tin về BHYT chỉ được thông báo qua cán bộ lớp khi nộp học phí đầu năm, khiến họ cảm thấy mơ hồ Họ thậm chí không biết tại sao mình phải đóng và nhiều bạn còn không sử dụng dịch vụ này sau khi đã đóng tiền.
KCB vượt tuyến là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia, nhưng không phải sinh viên nào cũng nắm rõ thông tin về quy định này và mức thanh toán chi phí liên quan Một sinh viên chia sẻ: “Em biết về quy định KCB vượt tuyến, hình như là không được trả tiền”, cho thấy sự thiếu hiểu biết chung về vấn đề này.