Chương 2, chúng tôi tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển của Âm Dương Đạo qua các thời kì, từ khi các nguyên lý Âm Dương, Ngũ Hành được truyền vào Nhật Bản cho đến hình thái
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRỊ NHẬT BẢN QUA CÁC THỜI KỲ
Sinh viên thực hiện
Chủ nhiệm: Cao Đan Thy, Lớp Nhật Bản 1-10, khóa 2010 – 2014
Thành viên: Cao Thụy Vy, Lớp Nhật Bản 1-10, khóa 2010 – 2014
Nguyễn Ngọc Thanh Trúc, Lớp Nhật Bản 1-10, khóa 2010 –2014
Giáo viên hướng dẫn
Phó Giáo sư - Tiến sĩNguyễn Tiến Lực, Trưởng bộ môn Nhật Bản học, trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 3- 2013
Trang 2Mục lục
Tóm tắt đề tài 1
PHẦN I – MỞ ĐẦU 3
1.1 Về đề tài nghiên cứu: 3
1.2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 4
1.3 Mục đích, giới hạn và nhiệm vụ nghiên cứu 7
1.4 Phương pháp nghin cứu: 8
PHẦN II – NỘI DUNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 10
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VỀ ÂM DƯƠNG ĐẠO 10 1.1 Về khái niệm “Âm Dương Đạo” 10
1.2 Về bản chất của Âm Dương Đạo 10
1.3 Bước đầu định nghĩa Âm Dương Đạo 11
1.4 Một số nội dung của Âm Dương Đạo 14
CHƯƠNG 2 – SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA ÂM DƯƠNG ĐẠO 29 2.1 Từ khởi thủy cho đến sự du nhập vào Nhật Bản 29
2.2 Quá trình hình thành và phát triển tại Nhật Bản 32
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ VAI TRÒ CỦA ÂM DƯƠNG ĐẠO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI NHẬT BẢN : 89
3.1 Về tư tưởng 89
3.2 Về chính trị 89
3.3 Về khoa học cơ bản 90
3.4 Về tôn giáo 91
3.5 Về văn hóa 92
PHẦN III: KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………… 96
Trang 3Tóm tắt đề tài
Đề tài nghiên cứu của nhóm chúng tôi có tên là “Onmyodo – một hướng phát triển đặc biệt của triết lý Âm Dương Ngũ Hành ở Nhật Bản Sự hình thành, phát triển và vài trò trong đời sống văn hóa – xã hội chính trị Nhật Bản qua các thời kỳ” Qua tìm hiểu tư liệu và tìm hiểu thực tế, những tài liệu và hiểu biết về Onmyodo (Âm Dương Đạo) trong bộ môn chúng tôi chưa nhiều, vì vậy, chúng tôi tiến hành tìm hiểu về Âm Dương Đạo với mong muốn đóng góp nghiên cứu của mình cho các nghiên cứu sau này
Nội dung của bài nghiên cứu được chia làm ba chương lớn
Chương 1 chú trọng vào việc khái quát một số khái niệm và lý thuyết về Âm Dương Đạo dựa trên lý thuyết về Âm Dương Ngũ Hành và sự hỗn dung giữa lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành với các tôn giáo, tín ngưỡng dân gian khác
Chương 2, chúng tôi tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển của Âm Dương Đạo qua các thời kì, từ khi các nguyên lý Âm Dương, Ngũ Hành được truyền vào Nhật Bản cho đến hình thái tồn tại của Âm Dương Đạo trong thời hiện đại Cụ thể, hình thái Âm Dương Đạo trong tiến trình lịch sử được thể hiện
ở 3 hình thức như sau:
- Giai đoạn khởi thủy và tiến trình tiếp nhận các nguyên lý Âm Dương, Ngũ Hành và các mặt kỹ thuật Thiên văn, Lịch pháp, Chiêm bốc từ Đại Lục song song với các tôn giáo, tín ngưỡng khác
- Giai đoạn hình thành phát triển : tồn tại chủ yếu ở 3 dạng: Âm Dương Đạo Luật Lệnh (thời Asuka đến hết Nara), Âm Dương Đạo Cung Đình (thời Heian) và Âm Dương Đạo Cách Tân thời Hiện đại
Chương 3 dựa trên tiến trình hình thành phát triển này, chúng tôi rút ra một số đánh giá về vai trò của Âm Dương Đạo cả về mặt chính trị, văn hóa, xã hội v.v
Trang 4Với những nội dung trên, chúng tôi hi vọng đã phần nào khái quát và hệ thống hóa được quá trình hình thành phát triển cũng như một số vai trò, ảnh hưởng của Âm Dương Đạo qua các thời kỳ Chúng tôi hi vọng từ sự hình thành phát triển và ảnh hưởng này chúng ta sẽ có cái nhìn khách quan cũng như căn cứ cụ thể để đánh giá chính xác hơn vị trí của Âm Dương Đạo trong nền văn hóa Nhật Bản
Trang 5PHẦN I – MỞ ĐẦU
1.1 Về đề tài nghiên cứu:
Lịch sử Nhật Bản thế kỷ 5, 6 mở đầu với quá trình giao lưu, tiếp nhận nền văn hóa, văn minh từ Đại Lục Nhiều triết lý, tư tưởng mới lạ được truyền vào Nhật Bản như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo v v Những triết lý, tư tưởng này đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng, mở rộng và làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Nhật Bản bấy giờ còn rất sơ khai
Trong quá trình giao lưu, tiếp nhận văn hóa này, tư tưởng, triết lý về Âm Dương, Ngũ Hành cũng được truyền vào Nhật Bản Nền tảng Âm Dương, Ngũ Hành này qua một quá trình tiếp xúc, dung hòa nào đó với văn hóa bản địa cũng như các văn hóa ngoại lai được truyền bá song song cùng thời đã hình thành nên một hình thái tín ngưỡng gọi là Onmyodo (陰陽道), âm Hán Việt là
Âm Dương Đạo Qua các thời kỳ trong lịch sử Nhật Bản, hình thái Âm Dương Đạo này đã có nhiều ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần và xã hội Nhật Bản,
cụ thể là ở các mặt chính trị, tín ngưỡng, văn hóa Đặc biệt là trong thời Nara (奈良 時 代 710-794 SCN) và thời Heian (平安 時代 794-1185 SCN), khi nghiên cứu về văn hóa, xã hội Nhật Bản trong những thời kỳ này, ngoài Thần đạo, Nho giáo, Phật giáo v.v người ta không thể không nhắc đến Âm Dương Đạo với những đóng góp và ảnh hưởng trên nhiều mặt của nó
Có thể nói, Âm Dương Đạo là một hình thái tồn tại và phát triển khá đặc biệt của tư tưởng, triết lý về Âm Dương Ngũ Hành ở Nhật Bản Việc tìm hiểu về
Âm Dương Đạo cũng là góp phần hiểu rõ hơn sự đa dạng trong bản sắc văn hóa Nhật Bản, và là một vấn đề đáng được quan tâm, nghiên cứu Tuy vậy, tại Việt Nam, về cơ bản thì Âm Dương Đạo là gì, hình thành phát triển ra sao, có vai trò, tác động thế nào đến đời sống văn hóa Nhật Bản thì vẫn còn rất mơ hồ và
sơ sài Các tài liệu, nghiên cứu liên quan đến Âm Dương Đạo thì còn hạn chế, rời rạc, thiếu sự tổng quát, đánh giá đúng mức.Trong các tài liệu, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, Âm Dương Đạo vẫn còn hiện lên như một loại
Trang 6hình tín ngưỡng bí ẩn, kỳ lạ và khó hiểu, đôi khi còn bị đánh đồng với mê tín dị đoan và bị phủ nhận sự đóng góp, ảnh hưởng của nó trong văn hóa
Nhận thấy được sự cần thiết của việc làm rõ phần nào những mơ hồ, bí ẩn xung quanh Âm Dương Đạo, cũng như góp phần tạo ra một cái nhìn khách quan hơn
về vai trò, vị trí của Âm Dương Đạo trong đời sống, văn hóa Nhật Bản, để từ
đó có thể đánh giá một cách chính xác hơn về Âm Dương Đạo, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài này với tiêu đề là “Onmyodo – Một hướng phát triển đặc biệt của triết lý Âm Dương Ngũ Hành ở Nhật Bản”, trong đó cố gắng làm nổi bật sự hình thành phát triển của Âm Dương Đạo và qua đó thấy được vai trò của hình thái văn hóa tín ngưỡng này qua các thời kỳ phát triển đó Hi vọng công trình của chúng tôi sẽ có thể đóng góp phần nào vào việc nghiên cứu sâu hơn nền văn hóa đa dạng của Nhật Bản
1.2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về Âm Dương Đạo ít nhiều đã được tiến hành trong và ngoài nước Trong khả năng tìm kiếm và thời gian cho phép, chúng tôi đã có tham khảo một
số công trình, cụ thể như sau:
+ Về phía trong nước thì chúng tôi nhận thấy còn ít các công trình nghiên cứu trực tiếp về Âm Dương Đạo, chủ yếu là chỉ liên quan đến một vài phần về văn hóa.Cụ thể, chúng tôi tham khảo công trình “Thần đạo và ảnh hưởng của Thần đạo trong văn hóa Nhật Bản” của Nguyễn Võ Kiều Trinh – Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Châu Á Học – 2010 Trong công trình nghiên cứu về Thần đạo này, chúng tôi tham khảo một phần mối liên hệ của Âm Dương Đạo với kết cấu xây dựng Thần Xã (nơi thờ tự Thần đạo) và những nghi lễ của Thần đạo Về quá trình truyền bá Âm Dương Đạo và việc học tập Âm Dương Đạo ở Nhật Bản, chúng tôi tham khảo phần bài giảng “Lịch sử Tư tưởng Nhật Bản” của Tiến sĩ Đoàn Lê Giang biên soạn-2004 Các truyền thuyết dân gian liên quan đến Âm Dương Sư (tên gọi người thực hành Âm Dương Đạo) nổi tiếng Abe no Seimei (安倍晴明) thì tham khảo ở quyển “Truyện cổ nước Nhật và bản sắc dân tộc Nhật Bản” của Đoàn Nhật Chấn – Nhà xuất bản Văn học -1996
Trang 7+ Về nghiên cứu ở nước ngoài thì chúng tôi tham khảo thông qua một số công trình tiếng Nhật, tiếng Anh, cũng như một số sách đã dịch qua tiếng Việt Các tài liệu, công trình này có nội dung từ khái quát cơ bản cho đến tập trung chi tiết ở nhiều khía cạnh khác nhau trong nhiều thời kỳ, và từ những tư liệu khá phong phú này chúng tôi có thể trình bày một cách cụ thể, tổng quát và hệ thống hơn quá trình hình thành phát triển và vai trò của Âm Dương Đạo
Về tài liệu tiếng Nhật thì chúng tôi tham khảo chính ở quyển “日本宗教事典” (Từ điển tôn giáo Nhật Bản) –Nhà xuất bản Koubundou - 1994 về sự hình thành phát triển và một số ảnh hưởng của Âm Dương Đạo trong đời sống văn hóa xã hội Nhật Bản Với quyển “陰陽道とは何か-日本史を呪縛する神秘の原理” (tạm dịch: “Âm Dương Đạo là gì? – Một số nguyên lý chú thuật huyền
bí trong lịch sử Nhật Bản ”) của tác giả Toya Manabu (戸失学) - Nhà xuất bản PHP 新書-2006 thì trong đó đề cập đến nhiều khía cạnh của Âm Dương Đạo như lịch sử hình thành phát triển, mối liên hệ với chính trị, các Âm Dương Sư tiêu biểu, một số nguyên lý chủ yếu v.v Về phương diện Âm Dương Đạo ở thời hiện đại thì tham khảo quyển “現代・陰陽師入門、プロが教える陰陽道” (tạm dịch: “Nhập môn Âm Dương Sư hiện đại – Âm Dương Đạo chuyên môn”) của Takahashi Keiya (高橋圭也)- Nhà xuất bản Asahi Sonorama (朝日ソノラマ) – 2000
Về tài liệu tiếng Anh thì có “Sources of Japanese Tradition” tập 1 (tạm dịch: Nguồn gốc các truyền thống văn hóa Nhật Bản) của Ryusaku Tsunoda, Wm T.Bary, Donald Keone – Columbia University Press New York, trong đó trình bày rõ quá trình xâm nhập và ảnh hưởng của thuyết Âm Dương Ngũ Hành nói chung và hình thái Âm Dương Đạo nói riêng trong thời Heian Chúng tôi cũng tham khảo 2 công trình “Japanese Demon Lore- Oni from Ancient Times to the Present” (tạm dịch: “Nghiên cứu về hình tượng Quỷ Nhật Bản từ xưa đến nay” của Noriko T.Reider – luận văn của USU Press – Utah State University -2010 cho vấn đề phù chú, trừ tà của Âm Dương Đạo, hình tượng các Âm Dương Sư trong văn hóa dân gian như truyện cổ, kịch Noh và trong các tiểu thuyết thời
Trang 8đại, và “Extremely Makeover for a Heian-era Wizard” (tạm dịch: “Nghiên cứu
về sự thay đổi hình tượng của một pháp sư thời Heian”) của Tiến sĩ Laura Miller – bài giảng khoa Văn hóa Nhật của Loyola University of Chicago –
2008 cho vấn đề hình ảnh Âm Dương Đạo trong văn hóa đại chúng dưới sự ảnh hưởng của ngành công nghiệp giải trí (truyền hình, truyện tranh v.v )
Về tài liệu đã chuyển ngữ sang tiếng Việt thì chúng tôi tham khảo chính ở 4 công trình sau đây: thứ nhất là “Tôn giáo Nhật Bản” (Nihon no Shuukyou) của Murakami Shigeyoshi – Nhà xuất bản Iwanami Shoten-1981- Bản dịch tiếng Việt của TS Trần Văn Thình - Nhà xuất bản Tôn giáo-2005, trong đó khái quát hóa sự truyền bá Đạo giáo, Nho giáo và các nền tảng Âm Dương Ngũ Hành, về sau phát triển thành Âm Dương Đạo ở Nhật Bản, sự phát triển Âm Dương Đạo cung đình thời Heian v.v Thứ hai là “Lịch sử tôn giáo Nhật Bản” (Nihon Shukyoushi) của Fumihiko Sueki - Nhà xuất bản Iwanami Shoten-2006- Bản dịch tiếng Việt của TS Phạm Thu Giang- Nhà xuất bản Thế giới-2011 với sự khái quát rõ nét của Âm Dương Đạo đặt trong quan hệ mật thiết với các tôn giáo, tín ngưỡng khác như Phật, Thần đạo v.v cũng như đánh giá về vai trò
“lợi ích trần thế” của Âm Dương Đạo Thứ ba là “Nhật Bản Tư tưởng Sử” (Nihon Shisoshi) của Ishida Ichiro -Tập 1: Tư tưởng Cổ thời đại và Trung cổ thời đại- bản dịch tiếng Việt của Chân Vũ Nguyễn Văn Tần- Tủ sách Kim văn-
1963 nhìn nhận Âm Dương Đạo như một tín ngưỡng lệch lạc, mê tín, phát triển trên giáo lý Sấm Vĩ, chiêm tinh bùa phép v v , ngoài ra cũng thể hiện rõ sự truyền bá và học tập Âm Dương Đạo ở Nhật Thứ tư là ““Lịch sử Nhật Bản- Tập 1:Từ Thượng cổ đến năm 1334” (A History of Japan to 1334) của George Sansom- bản tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội- 1994 thì phân tích cụ thể những ảnh hưởng mạnh mẽ của Âm Dương Đạo đối với đời sống tinh thần Nhật Bản, đặc biệt là tầng lớp quý tộc cung đình thời Heian Ngoài ra chúng tôi cũng cố gắng tìm các trích đoạn hoặc nguyên bản các tài liệu này để đối chiếu lại thông tin cho chính xác hơn
Trang 91.3 Mục đích, giới hạn và nhiệm vụ nghiên cứu
Với một chủ thể còn khá xa lạ và mơ hồ như Âm Dương Đạo thì thiết nghĩ việc tìm hiểu về lịch sử hay nói cách khác, là diễn tiến, là sự khái quát về quá trình hình thành và phát triển là việc thiết yếu cần làm đầu tiên, để qua đó có thể trả lời cho câu hỏi về bản chất (“nó là gì?”) và đánh giá (“nó có ảnh hưởng, vai trò thế nào?”) một cách khách quan, chính xác nhất Cho nên khi chọn đề tài này, chúng tôi đặt mục tiêu chính và trọng tâm là hệ thống hóa lại một cách cụ thể, chi tiết sự hình thành và phát triển của Âm Dương Đạo qua các giai đoạn, thời
kỳ của lịch sử Nhật Bản Qua quá trình lịch sử đó, chúng tôi có thể phần nào rút
ra được một số những ảnh hưởng, vai trò chủ yếu của Âm Dương Đạo trong đời sống và văn hóa Nhật Bản
Do đó, đề tài của nhóm chúng tôi chỉ giới hạn trong khuôn khổ:
Bám sát lịch sử hình thành và phát triển của Âm Dương Đạo qua các giai đoạn
từ khi được truyền vào Nhật Bản cho đến tình hình/xu hướng Âm Dương Đạo trong thời hiện đại ngày nay
+ Không gian:
Không gian chính trị, văn hóa và đời sống của Nhật Bản chịu ảnh hưởng và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của Âm Dương Đạo
Để thực hiện mục tiêu đề ra ở trên, chúng tôi tiến hành theo một số nhiệm vụ
cơ bản như sau:
Trang 10+ Bước đầu tìm hiểu những nguyên lý cơ bản của Âm Dương Đạo trên cơ sở nền tảng là Âm Dương Ngũ Hành và xét trong một hệ thống văn hóa chung có
sự tác động ảnh hưởng qua lại với các tư tưởng, triết lý khác
+ Tìm hiểu về tiến trình truyền bá văn hóa từ Đại Lục vào Nhật Bản, trong đó
có tư tưởng, triết lý xung quanh Âm Dương, Ngũ Hành, sự tiếp nhận của Nhật Bản trước các văn hóa ngoại lai đó
+ Hệ thống hóa quá trình hình thành phát triển của Âm Dương Đạo trong tiến trình lịch sử Nhật Bản
+ Đúc kết lại những vai trò, ảnh hưởng tiêu biểu của Âm Dương Đạo
+ Đúc kết ý nghĩa thực tiễn của đề tài đối với việc nghiên cứu văn hóa Nhật Bản
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Để bài nghiên cứu đạt hiệu quả, chúng tôi tiến hành với một số phương pháp nghiên cứu như sau:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thu thập, tích hợp các nguồn tài liệu khác nhau để tăng tính khách quan và làm phong phú nội dung Các tài liệu được chọn lọc và đối chiếu để tìm ra thông tin cần thiết và có độ chính xác cao nhất.Sau là nghiên cứu, phân tích các tài liệu để tìm ra được những luận cứ có giá trị cho việc nghiên cứu
+ Phương pháp liên ngành : kết hợp tìm hiểu về lịch sử đi kèm với tìm hiểu về tôn giáo-tín ngưỡng, chính trị, phong tục tập quán để có được cái nhìn khái quát hơn về từng giai đoạn phát triển cũng như vai trò của Âm Dương Đạo trong từng thời kỳ
+ Phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic: nhằm hệ thống hóa được tiến trình hình thành phát triển của Âm Dương Đạo Trong đó cũng có dùng phương pháp đối chiếu đồng đại giữa lịch sử Nhật Bản song song với lịch sử
Trang 11Trung Quốc và Triều Tiên để tìm ra được tổng thể tình hình chung và tác động ngoại giao, văn hóa giữa các nước với nhau trong từng thời điểm xác định
Trang 12PHẦN II – NỘI DUNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VỀ ÂM DƯƠNG ĐẠO
1.1 Về khái niệm “Âm Dương Đạo”
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi xoay quanh đối tượng chính là một hình thái
có tên gọi là Onmyodo (陰陽道),phiên âm Hán Việt là Âm Dương Đạo Chữ
“Đạo” (道) trong “Âm Dương Đạo” có thể hiểu theo nhiều nghĩa : để chỉ về một tông phái,một tôn giáo như người ta hay gọi Đạo Phật, Đạo giáo, Đạo Cơ Đốc v v , hoặc đơn giản hơn là chỉ về một “con đường”, một hướng đi mà nhiều người theo đuổi Thường thì trong một khái niệm hay một tên gọi thường hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu xa hơn là chỉ đơn thuần về mặt hình thức của ngôn
từ, trong trường hợp này thìkhái niệm Onmyodo có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau.Tuy nhiên sau quá trình nghiên cứu nội dung cũng như sự phát triển của Onmyodo trong lịch sử, chúng tôi nhận thấy khái niệm này có thể hiểu một cách khái quát là “con đường thiên về Âm Dương”, hay tiếng Anh là “The way
of Yin and Yang” Cho nên, để để thuận tiện cho việc nghiên cứu và theo dõi, trong suốt quá trình trình bày nội dung chúng tôi sẽ gọi hình thái nàytheo đúng bản chất cũng như âm Hán Việt là“Âm Dương Đạo”
1.2 Về bản chất của Âm Dương Đạo
Sau khi tiến hành nghiên cứu về bản chất thông qua các cấu trúc hoạt động, lễ nghi, hình thái thể hiện của Âm Dương Đạo, chúng tôi nhận thấy Âm Dương Đạo thiên về phạm trù tín ngưỡng hơn cả
Nói vềphạm trù “tín ngưỡng” thìtrong Từ điển tiếng Việt1có định nghĩa về tín ngưỡngnhư sau:“ làlòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo” Còn theoĐào Duy Anh2 thì tín ngưỡng là: “lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” Nói chung, khi xem xét một sự vật, hiện tượng có thuộc về phạm trù tín ngưỡng hay không thì thường xét nó trên vai trò về tôn giáo với một hệ
Trang 13thống niềm tin nào đó mà con người tin tưởng cũng như dựa vào đó để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân, cộng đồng.Dựa trên những nguyên tắc này thì có thể thấy Âm Dương Đạomang hình thái tâm linh, yếu tố tôn giáo rõ nét.Tuy vậy, theo nhóm chúng tôi, Âm Dương Đạo chưa thể được xem là một tôn giáo rõ ràng như Phật giáo, Cơ đốc giáo Trên thực tế, nghiên cứu về Âm Dương Đạo cho thấy là Âm Dương Đạo không mang những đặc trưng cần có của một tôn giáo như không có một người sáng lập cụ thể, không tôn thờ giáo chủ, không có giáo đoàn, giáo hội, thánh đường và nhất là không có một lý thuyết, giáo lý, kinh điển rõ ràng như Phật giáo, Cơ đốc giáo, Hồi giáo Âm Dương Đạo có mang những yếu tố tôn giáo, tâm linh như thờ thần, cúng bái, tế lễ nhưng mặc khác lại thiên về tính dân gian hơn với các huyền thoại, truyện kể, truyền thuyết
Cho nên, xét trên nhiều yếu tố, thì Âm Dương Đạo phù hợp với phạm trù “tín ngưỡng” hơn là “tôn giáo” Vậy nên, trong đề tài, chúng tôi xem xét, nghiên cứu Âm Dương Đạo dưới góc độ là một tín ngưỡng của Nhật Bản
1.3 Bước đầu định nghĩa Âm Dương Đạo
Về định nghĩa thế nào là Âm Dương Đạo thì các nhà nghiên cứu trên thế giới
có nhiều quan điểm khác nhau
Từ điển Tôn giáo Nhật Bản3cho rằng Âm Dương Đạo “là tín ngưỡng từ thời cổ đại Trung Quốc dựa trên tư tưởng Âm Dương Ngũ Hành Thực tế tư tưởng Âm Dương Ngũ Hành có nhiều yếu tố thần bí, trong đó có nhiều yếu tố cấu thành từĐạo giáo nhưng sau quá trình truyền bá vào Nhật Bản đã có nhiều sự phát triển khác Đúng là Âm Dương Đạo có gốc rễ từ Trung Quốc cổ đại nhưng nó chỉ là nền tảng Âm Dương Đạo của thờiCổ đại Trung Quốc không phải là Âm Dương Đạo được truyền vào Nhật Bản Từ trước đến nay hình thái của Âm Dương Đạo luôn được giải thích là truyền bá từ Trung Quốc, nhưng hiện nay
sự kiến giải này đã bị phủ nhận Cho nên Trung Quốc cổ đại chỉ là cái nôi, Âm Dương Đạo được hình thành và triển khai một cách tự thân ở Nhật Bản” Nói
3
Xem : “日本宗教事典”
Trang 14ngắn gọn thì quan niệm này cho rằng Âm Dương Đạo là một tín ngưỡng hình thành phát triển ở Nhật Bản sau khi du nhập các tư tưởng Âm Dương, Ngũ Hành từ cái nôi là Trung Quốc
Trong khi đó, trong cuốn “Nhật Bản Tư Tưởng Sử” của mình,Ishida Ichiro4 lại cho rằng “Âm Dương Đạo là môn học về những lý tương hỗ giữa 2 khí Âm Dương với Ngũ Hành (Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy) và những tương liên tương
hỗ này ứng hiện như thế nào vào khoa thiên văn cùng những hiện tượng trong
vũ trụ Nói một cách thích trung thì Âm Dương Đạo là một khoa học về thiên nhiên nhưng phi khoa học tính bởi những lý luận chất phác và thô sơ đưa ra để giải thích về vũ trụ thế gian”
Đồng ý kiến với Ishida Ichiro, trong bài giảng “Nhật Bản Tư Tưởng Sử” của mình, Đoàn Lê Giang5 đã mở rộng ra thêm với Âm Dương Đạo là “khoa học thô sơ giải thích các hiện tượng của tự nhiên và thiên văn bằng 2 khí Âm Dương và bằng quan hệ tương hỗ của Ngũ Hành (Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy), trên cơ sở thuyết Âm Dương Ngũ Hành này, Âm Dương Đạo chú trọng vào việc bói Dịch ( sử dụng Kinh Dịch để bói), vào thuyết Sấm Vĩ (giải thích lại lời của kinh sách theo kiểu tiên tri), vào thuyết Thiên nhân tương cảm (quan niệm việc người cảm) Ở Nhật Bản người ta dùng Âm Dương Đạo làm một phương thuật để sắp xếp lịch và thiên văn học (2 ngành này phát triển rất mạnh ở Trung Quốc), việc tiếp thu ngành này một cách có hệ thống là vào thế kỉ 6”
Tuy vậy, cũng có một số ý kiến trái ngược Một số cho rằng nó có nền tảng từĐạo giáo, xem Âm Dương Đạo như là một nhánh của Đạo giáo Trong đó, có Joseph M Kitagawa6 Ông cho rằng “Âm Dương Đạo là ma thuật Âm Dương
Trang 15Đồng ý kiến với ông còn có tác giả Toya Manabu7 Theo đó, ông xem Âm Dương Đạo là "nguyên lý tạo ra bởi Thiên hoàng Tenmu bằng cách kết hợp Đạo giáo và Cổ Thần đạo”
Trái ngược vớiJoseph M Kitagawa và Toya Manabu thì có Takahashi Keiya8 Ông phủ nhận Âm Dương Đạo đến từ Đạo giáo mà cho rằng “Âm Dương Đạo
là hình thức bói toán sử dụng triết lý Âm Dương Ngũ Hành để biết được sự biến đổi của tự nhiên và vận mạng con người Âm Dương đạo không phải là Đạo giáo và bản thân nó không là một tôn giáo Trong khi Đạo giáo có những triết lý dạy người như tư tưởng Vô vi của Lão Trang thì Âm Dương Đạo hoàn toàn không có những triết lý như thế Nó giống một hệ thống kỹ thuật hơn là một tôn giáo”
Nói chung, có nhiều cách nhìn và quan điểm khác nhau về Âm Dương Đạo Về phía nhóm nghiên cứu thì dựa trên quá trình nghiên cứu của mình, chúng tôi cũng đã rút ra được một định nghĩa riêng về Âm Dương Đạo Để đưa ra định nghĩa này, chúng tôi đã tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn, phân tích và
so sánh những nét chung và riêng giữa Âm Dương Đạo với những học thuyết, tín ngưỡng và tôn giáo có nét tương đồng với nó như Đạo giáo Thần tiên, phái
Âm Dương Gia Trung Quốc9… , tìm hiểu về cơ sở lý luận của Âm Dương Đạo
là Âm dương Ngũ hành cũng như sự hỗn dung, kết hợp của nó với những yếu
tố của các tôn giáo khác như Thần đạo, Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo v v Mặc dù định nghĩa này có thể chưa thật chính xác nhất nhưng chúng tôi nghĩ đây là định nghĩa gần sát với bản chất thật của Âm Dương Đạo nhất Chúng tôi định nghĩa về Âm Dương Đạo như sau:
Âm Dương Đạo là một tín ngưỡng hỗn dung của Nhật
Bản,trong đó chú trọng vào việc thực hành Thiên văn,Lịch
Âm Dương gia là trường phái tư tưởng hưng khởi vào cuối thời Chiến Quốc (475TCN-221TCN) Họ
đã xã hội hóa tư tưởng ngũ hành Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ cho rằng diễn biến của XH cũng giống như
sự thay đổi của ngũ hành tuần hoàn xung quanh “Đạo” Nhân vật tiêu biểu nhất của Âm Dương gia chính là phương sĩ nước Tề: Trâu Diễn, người có ảnh hưởng rất lớn tới tư tưởng XH vào cuối thời Tần- Hán
Trang 16pháp, bùa chú, Dịch học…để tiên đoán vận mệnh,điềm tốt
xấu trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, được
hình thành trên cơ sở lý thuyết Âm Dương Ngũ hành kết
hợp với một số yếu tố khác của các tôn giáo, tín ngưỡng
bản địa (Thần đạo, Shaman giáo,…) và ngoại lai (Nho
giáo, Phật giáo, Đạo giáo)
Qua phần định nghĩa này, chúng tôi cho rằng Âm Dương Đạo ra đời là kết quả của sự hỗn dung giữa các triết lý, tư tưởng xoay quanh sự vận động Âm Dương, Ngũ Hành với các kỹ thuật khoa học như Thiên văn, Lịch pháp, Dịch học các yếu tố huyền bí như chú thuật, bùa phép, và đồng thời chịu ảnh hưởng từ các tôn giáo, tín ngưỡng bản địa cũng như ngoại lai du nhập vào Nhật Bản Qua đó,
Âm Dương Đạo là sản phẩm tinh thần của Nhật Bản,mang những nét thuần Nhật và có những ảnh hưởng nhất định đến văn hóa, xã hội Nhật Bản
1.4 Một số nội dung của Âm Dương Đạo
Để hiểu rõ thêm về Âm Dương Đạo thì cũng cần tìm hiểu những triết lý, tư tưởng và các yếu tố bên trong Âm Dương Đạo như sau:
1.4.1 Triết lý Âm Dương - Ngũ Hành
Theo chúng tôi nghiên cứu được, cơ sở hình thành của Âm Dương Đạo là thuyết Âm Dương Ngũ Hành từ Trung Quốc truyền sang Đây là học thuyết cốt yếu trong nội dung của Âm Dương Đạo nên cũng cần được nghiên cứu qua
a Nguồn gốc
Học thuyết Âm Dương đã có từ ngàn xưa nhưng cội nguồn của lý thuyết này đến nay vẫn mang tính thần bí, chủ yếu dựa vào những truyền thuyết, thần thoại mà người xưa kể lại.Theo Kinh Dịch, tương truyền vua Phục Hy (2852 TCN) trong một lần tình cờ nhìn thấy xoáy trên lưng một con long mã ở sông Hoàng Hà mà nghĩ ra Ngũ Hành Tương Sinh và Hà đồ, từ Hà đồ mà làm ra Thiên tiên Bát quái và 64 quẻ đầu tiên Ông dùng những nét để thể hiện Hà Đồ,
Trang 17một nét liền (-) tức “vạch lề” tượng trưng cho Dương, một nét đứt ( ) tức
“vạch chẵn” tượng trưng cho Âm.Đây là những ký hiệu xưa nhất của người
Trung Quốc về Âm Dương Ngũ Hành, và người ta quan niệm “nó bao trùm
mọi nguyên lý của vũ trụ, không vật gì không được tạo thành bởi âm dương,
1000 năm sau đó, khoảng thời Hoàng Đế(3000 năm TCN), cuốn Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn ra đời Cuốn sách này được cho là do Hoàng Đế cùng các đại thần của ngài viết nên Đây là một cuốn sách viết về việc ứng dụng Âm Dương Ngũ Hành trong y khoa
2000 năm sau vua Phục Hy (tức cách đây 4000 năm – thời nhà Hạ), vua Đại Vũ trong một lần trị thủy trên sông Lạc mà nhìn thấy con rùa trên mai, đầu và chân
có những dấu chấm mà nghĩ ra Lạc Thư nói về Ngũ hành Tương Khắc, viết nên Hồng Phạm Cửu Trù Từ Hồng Phạm Cửu Trù này, khái niệm Ngũ Hành lần đầu được nhắc đến
1000 năm sau đó, thời Chu 1200 năm TCN, khi vua Văn Vương bị nhốt trong ngục Dữu Lý 7 năm, ông đã dựa vào Lạc Thư và Tiên thiên Bát quái để viết thành Hậu thiên Bát quái, cấu trúc nên 64 quẻ Hậu Thiên Sau đó, ông cùng con trai Chu Công Đán viết Soán Tử, Hào Tử để giải thích cho 64 quẻ
500 năm sau, thời Xuân Thu – Chiến Quốc 551- 479 TCN, lúc về già, Khổng
Tử viết nênThập Dực (để giải thích Kinh Dịch), Hệ Từ Thương, Hạ Truyện và Thuyết Quái Truyện, hoàn thành Chu Dịch trong đó có nhắc đến Âm Dương, Thái Cực và Lưỡng Nghi
200 năm sau, phái Âm Dương Gia xuất hiện, phát triển học thuyết về Âm Dương Ngũ Hành.Cũng trong giai đoạn này (từ Chiến quốc 350 TCN đến Thời Hán 179 – 104 TCN), học thuyết về Âm Dương Ngũ Hành dần dần hoàn thiện Tuy nhiên, nguồn gốc hình thành trên của Âm Dương Ngũ Hành vẫn chưa thuyết phục được nhiều nhà nghiên cứu vì chúng chỉ được nhắc đến qua các
10
Xem: Trần Thị Huyền, “Học thuyết Âm dương Ngũ hành trong tư tưởng cổ đại Trung
Quốc”(http://phanhoaivy.wordpress.com/2009/)
Trang 18truyền thuyết, không có cơ sở rõ ràng Những đồ hình như Hà Đồ, Lạc Thiên, Tiên thiên Bát quái và Hậu thiên Bát quái cũng chưa được xác định rõ là có thực sự xuất hiện vào những giai đoạn này hay không vì đến tận thời Tống (1000 năm SCN), mới được công bố
1000 năm SCN, vào thời Tống, xuất hiện Trần Đoàn Lão Tổ với sự ra đời của môn Tử vi; Triệu Khang Tiết với Mai Hoa Dịch số Trong suốt hơn 2000 năm, mỗi triều đại của Trung Quốc đều có nhiều triết gia nổi tiếng về Âm Dương Ngũ Hành như thời Hán có Mao Diên Thọ, Kinh Phòng, Mạnh Hỷ,… ; thời Tống có Trần Đoàn Lão Tổ, Triệu Khang Tiết,… và nổi tiếng nhất là Chu Hy với thuyết Vô cực
b Lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành – cơ sở của Âm Dương Đạo
Vì thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ Hành là hai tư tưởng triết học luôn đi cùng với nhau và là nền tảng chính của Âm Dương Đạo nên chúng tôi cũng xin giải thích rõ về thuyết Âm Dương Ngũ Hành này như sau:
- Thuyết Âm Dương là những nguyên lý giải thích sự sinh tử của vạn vật bằng
sự hòa hợp, tuần hoàn của hai nguyên khí xung khắc là Âm và Dương
- Thuyết Ngũ Hành là những nguyên lý giải thích sự thống nhất trong trật tự thay đổi và tính đa dạng của sự vật; giải thích sự thay đổi, sinh tử trong vũ trụ dựa trên 5 nguyên khí Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ
+ Về Thuyết Âm Dương
Âm Dương bắt nguồn từ “Dịch” được xem là một loại thuyết khai sinh vũ trụ Hai yếu tố trái ngược nhau: “Dương” năng động, phát triển và “Âm” thụ động, trầm tĩnh là nguyên nhân cho sự biến đổi sinh, diệt của vạn vật dựa trên sự hòa hợp và tuần hoàn của chúng Tuy nhiên, sự khác biệt của hai yếu tố này không mang tính chất tuyệt đối mà chỉ là sự thay đổi tương đối của vạn vật
Trung Quốc thời cổ đại, người ta cho rằng khởi nguyên của vũ trụ là thiên địa, khi đó, Âm Dương chưa tách rời, vẫn còn ở trạng thái hòa lẫn vào nhau (hay
Trang 19còn gọi là Thái Cực) Sách Kinh Dịch cho rằng “ Trong Dịch có Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái”
Từ trạng thái hợp nhất, Thái Cực chia tách ra thành hai trạng thái trái ngược là
Âm và Dương (Lưỡng Nghi).Người ta dựa vào vòng tuần hoàn của hai nguyên khí này để lý giải vạn vật và đặc biệt dùng để dự báo tương lai
Nếu hai nguyên khí Âm Dương này thay đổi thì tất nhiên hoạt động của con người, xu hướng xã hội cũng bị ảnh hưởng Từ Thái Cực đồ, người xưa cũng
đã đưa ra lý thuyết “trong Âm có Dương, trong Dương có Âm” để giải thích các sự vật, hiện tượng và con người.Nhiều lý thuyết về Âm Dương của người xưa vẫn đúng đến ngày nay
+ Về Thuyết Ngũ Hành
Năm nguyên tố Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy được cho là những nguyên lý giải thích sự hình thành và biến đổi của vũ trụ cũng như các hiện tượng trong giới
tự nhiên và xã hội con người Những “nguyên tố” này có thể được hiểu: “Mộc”
ở đây không có nghĩa là cây mà là từ dùng để chỉ khả năng sinh trưởng và phát triển tự nhiên của cây Khả năng đó được gọi là “Khí”.Các yếu tố khác có thể được hiểu tương tự.Nhờ vào sự tuần hoàn của 5 yếu tố này mà vũ trụ hình thành và phát triển.Chữ “Hành” trong Ngũ Hành hàm ý “vận động tuần hoàn” -Hành Mộc: mang những đặc trưng và tính chất của loài cây như tính dẻo dai (hình dáng thẳng và cong của những loài cây) Là đại diện của mùa xuân
-Hành Hỏa mang những đặc trưng và tính chất của lửa như sự sáng sủa và lòng nhiệt tình Là đại diện của mùa hạ
Trang 20-Hành Thổ mang những đặc trưng và tính chất của đất trong ngành trồng trọt,
sự thông suốt, tính kiên định.Là đại diện của những thời khắc chuyển mùa -Hành Kim mang những tính chất và đặc trưng của kim loại như sự lạnh lùng
và cứng rắn Là đại diện của mùa thu
-Hành Thủy mang những tính chất và đặc điểm của nước như những dòng nước lạnh và ẩm ướt.Là đại diện của mùa đông
Ngũ Hành vận động tuần hoàn với nhau theo 3 trật tự: tương sinh, tương khắc
và tỷ hòa (các hành trong Ngũ Hành có 3 mối liên hệ với nhau…) Trong đó, Tương Sinh và Tương Khắc là đặc biệt hơn cả nên sẽ được giải thích kỹ sau -Tương Sinh là mối quan hệ thích nghi lẫn nhau Có thể nói từ này có nghĩa là mối quan hệ “hợp tác tốt”
-Tương Khắc là mối quan hệ khắc chế lẫn nhau Có thể nói từ này có nghĩa là mối quan hệ “hợp tác xấu”
-Tỷ hòa là mối quan hệ tác động qua lại giữa những hành giống nhau khiến chúng phát triển theo hướng tăng tiến, nếu tốt sẽ càng tốt, nếu xấu sẽ càng xấu
Về Ngũ hành Tương Sinh:
Ngũ hành Tương Sinh là thuyết nhấn mạnh sự tuần hoàn hòa hợp giữa các Hành hay nói cách khác là “cùng nhau ổn định”.Thuyết này dựa vào các ngành khoa học tự nhiên cơ bản Sự tuần hoàn giữa các hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ được thể hiện như sau: Hành Mộc sinh ra Hành Hỏa, Hành Hỏa sinh ra Hành Thổ, Hành Thổ sinh ra Hành Kim, Hành Kim sinh ra Hành Thủy, Hành Thủy sinh ra Hành Mộc Trật tự đó lần lượt được gọi là “Mộc sinh Hỏa”, “Hỏa sinh Thổ”, “Thổ sinh Kim”, “Kim sinh Thủy”, “Thủy sinh Mộc”
Trang 21Để giải thích cho sự hình thành của lý thuyết này, người xưa dựa vào những điều mà họ quan sát được trong tự nhiên để lý giải:
-Mộc sinh Hỏa là do đốt củi (Mộc) thì từ củi sẽ sinh ra lửa
-Hỏa sinh Thổ là do lửa cháy thì sinh ra tro (Thổ)
-Thổ sinh Kim là do từ những ngọn núi san sát nhau do đất hình thành, đá hình thành Kim loại ở trong đá nên đất sinh kim loại Trong lòng đất cũng có những kim loại quý sáng lấp lánh là vàng (Kim)
-Kim sinh Thủy là do trên núi có rất nhiều mây và mưa Từ núi, đá hình thành
và trong đá có kim loại nên nước (Thủy) sinh ra từ kim loại Khi độ ẩm cao, trên bề mặt kim loại có nước nên có thể nói nước sinh ra từ kim loại
-Thủy sinh Mộc là do nhờ vào độ ẩm của nước mà cây mới phát triển được nên cây (Mộc) sinh ra từ nước
Người ta cho rằng sự tác động lần lượt, xoay vòng MộcHỏaThổKimThủy có tác động đến mọi sự vật
Về Ngũ hành Tương Khắc
Ngũ Hành Tương Khắc là thuyết nhấn mạnh sự tuần hoàn đấu tranh giữa các Hành nói cách khác là “đấu tranh lẫn nhau” Sự tuần hoàn đó được thể hiện như sau: Hành Mộc xung khắc với Hành Thổ, Hành Thổ xung khắc với Hành Thủy, Hành Thủy xung khắc với Hành Hỏa, Hành Hỏa xung khắc với Hành Kim, Hành Kim xung khắc với Hành Mộc Trật tự đó lần lượt được gọi là “Mộc khắc Thổ”, “Thổ khắc Thủy”, “Thủy khắc Hỏa”, “Hỏa khắc Kim”, “Kim khắc Mộc”
Hình 1.2 : Ngũ Hành Tương Sinh Đồ: nhấn mạnh mối quan hệ “cùng nhau ổn định” của nhóm Ngũ Hành “Tương Sinh” có nghĩa là một trạng thái được sinh ra lần lượt từ một trạng thái trước đó Nguồn: http://homepage1.nifty.com/haruakira/onmyoudou/
Trang 22Thuyết này cũng dựa vào các ngành khoa học tự nhiên cơ bản, dựa vào các quan sát tự nhiên của người xưa mà hình thành
-Mộc khắc Thổ là do rễ cây đâm sâu trong đất để hút chất dinh dưỡng nên làm hại đến đất
-Thổ khắc Thủy là do đất hút nước và ngăn chặn dòng chảy của nước
-Thủy khắc Hỏa là do nước dập tắt lửa
-Thủy khắc Kim là do tuy kim loại rất rắn chắc nhưng vẫn bị nấu chảy do lửa -Kim khắc Mộc là do những cái cây lớn thường bị chặt do rìu và cưa (làm từ kim loại)
Mối quan hệ giữa Ngũ hành Tương Sinh và Ngũ Hành Tương Khắc:
Nếu nói riêng thì Ngũ Hành Tương Sinh và Ngũ Hành Tương Khắc không thật
sự sâu sắc về nội dung Ví dụ như, Ngũ Hành Tương Sinh cho rằng nước sinh cây Nhưng trên thực tế, nếu lượng nước quá mức (quá ít hoặc quá nhiều) thì sẽ cho tác động ngược lại, cây sẽ héo hoặc úng Có thể nói, trong Ngũ Hành Tương Sinh đã bao gồm Ngũ Hành Tương Khắc và ngược lại, trong Ngũ Hành Tương Khắc cũng bao gồm cả Ngũ Hành Tương Sinh Tuy nhiên, mức độ liên quan thì không thể được khảo sát đầy đủ
Bảng phân chia Ngũ hành:
Hình 1.3 : Ngũ Hành Tương Khắc Đồ: nhấn mạnh mối quan hệ “đấu tranh lẫn nhau” của Ngũ Hành
“Tương Khắc” có nghĩa là một bên đối kháng áp đảo
hơn hẳn đối phương.Nguồn:
http://homepage1.nifty.com/haruakira/onmyoudou/
Trang 23Người ta quan niện phân chia mọi sự vật ra thành năm nhóm theo Ngũ Hành Bảng sau đây là bảng phân chia theo các nhóm đó Sự phân chia này là kết quả
từ những kinh nghiệm ngày thường của người xưa
Ngũ hành Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy Năm hành tinh Sao Mộc Sao Hỏa Sao Thổ Sao Kim Sao Thủy Năm màu Xanh Đỏ Vàng Trắng Đen Năm phương Đông Tây Trung tâm Nam Bắc Năm mùa Xuân Hạ Chuyển mùa Thu Đông
Tháng
(theo âm lịch)
Tháng giêng Tháng hai Tháng ba
Tháng tư Tháng năm Tháng sáu
Tháng ba Tháng sáu Tháng chin Tháng mười hai
Tháng tám Tháng bảy Tháng chín
Tháng mười Thángmười một Tháng mười hai
Ngũ vị Chua Đắng Ngọt Cay Mặn Năm loại cây Cây gai Lúa mạch Lúa nước Hạt kê Đậu tương
Ngũ âm Giốc (La) Chủy (Đô) Cung (Fa) Thương
(Sol) Vũ (Rê) Ngũ giác Mắt Tai Mũi Miệng Da
Ngũ tạng
Gan
Lá lách
Tim Phổi
Lá lách Tim
Phổi Gan
Thận Thận Ngũ thường Nhân Nghĩa Tín Lễ Trí
Mười Can
Giáp
Ất
Bính Đinh
Mậu
Kỷ
Canh Tân
Quý Nhâm
Mười hai con giáp
Dần Mão
Tỵ Ngọ
Mùi Tuất Thìn Sửu
Thân Dậu
Tý Hợi
Trang 24Khi đọc bảng theo chiều dọc, ta có thể thấy mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa những sự vật trong cùng một Hành Ví dụ như theo cột hàng dọc của Hành Mộc, hành tinh thì có sao Mộc, màu thì có màu xanh, phương thì có phương Bắc, mùa thì có mùa xuân Hơn nữa, tượng trưng cho màu xanh là mùa xuân và phương Bắc, nơi và lúc mọi vạn sinh sôi và phát triển.Ngũ sắc này đặc biệt coi trọng sự xuất hiện của vạn vật trong không gian và thời gian
Thuyết Âm Dương Ngũ Hành là tên gọi chung chỉ thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ Hành ở Trung Quốc thời Cổ đại Nguyên lý Vũ trụ sinh thành phát triển cũng bao gồm cả đạo đức của con người
Ban đầu, thuyết Âm Dương Ngũ Hành được dùng để giải thích sự thay đổi của
4 mùa Khởi nguyên, thế giới ở trong tình trạng hỗn mang không phân biệt được bất cứ thứ gì (Thái Cực), trong lúc hồn mang đó, một nguyên khí nhẹ, trong sạch và ấm áp đã bay lên thành “Thiên” gọi là “Dương khí” và một khí nặng, đục và lạnh đã lắng xuống thành “Địa” gọi là “Âm khí” Hai nguyên khí này xuất hiện lần lượt theo chu kỳ trong năm, từ đó mà Ngũ Hành được sinh ra gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, từ đó mà xuất hiện 4 mùa
Âm Dương Đạo dựa vào sự vận động của hai nguyên khí Âm Dương này để giải thích sự tồn tại của vũ trụ và dựa vào Ngũ Hành để đưa ra những suy nghĩ, phán đoán để hành động
Trang 25+ Về Lạc Thư
Tương truyền vào thời nhà Hạ, trong một lần trị thủy giúp dân, vua Đại Vũ đã nhìn thấy hoa văn trên lưng con Rùa thần xuất hiện ở sông Hoàng Hà Từ những hoa văn này mà ông viết nên Lạc Thư
Chúng ta có thể hiểu Lạc thư một cách đơn giản qua những con số như sau:
Ngoài Âm Dương, Ngũ Hành, Hà Đồ, Lạc Thư, Âm Dương Đạo còn áp dụng nhiều lý thuyết khác về Can, Chi, Tam Tài trong thực hành Thiên văn, Lịch
Số 1 và 9 là đại diện cho Thủy và Hỏa, đứng
ở vị trí Bắc và Nam; số 3 và 7 là đại diện cho Mộc và Kim, đứng ở vị trí Đông và Tây Còn 4 số 2, 4, 6, 8 lần lượt là đại diện cho Thổ, Mộc, Kim, Thổ, trụ tại 4 góc Tây Nam, Đông Nam, Tây Bắc, Đông Bắc Như vậy, theo Lạc Thư, 4 phương là các số Dương và 4
góc là các số Âm Nguồn:
http://homepage1.nifty.com/haruakira/onmyoudou/
Trang 26pháp và bùa chú Tuy nhiên các lý thuyết về Âm Dương – Ngũ Hành, Hà Đồ, Lạc Thư là điển hình hơn cả nên chúng tôi chỉ nêu lên lý thuyết của chúng
1.4.2 Các yếu tốhỗn dung với các tôn giáo khác
Theo nhóm chúng tôi ngoài các tư tưởng, triết lý xoay quanh sự vận động của
Âm Dương – Ngũ Hành nói chung thì Âm Dương Đạo còn chứa đựng các yếu
tố hỗn dung với với các tôn giáo khác Sự hỗn dung đó được thể hiện qua nhiều yếu tố như các học thuyết về thế giới quan, các kỹ thuật bùa chú, các vị Thần được thờ trong Âm Dương Đạo
+Lý thuyết về vũ trụ
Bên cạnh những lý thuyết về vũ trụ từ Âm Dương – Ngũ Hành, Âm Dương Đạo còn tiếp nhận cả triết lý Thiên Viên Địa Phương (天円地方) từ Đạo giáo Đây là triết lý xuất phát từ Đạo giáo cổ đại, dùng để phản ánh địa lý phong thủy, được Âm Dương Đạo tiếp nhận như vũ trụ quan của mình
Thuyết này cho rằng Trời (天) hình tròn (円), thể hiện sự vận động; còn Đất (地) hình vuông (方), thể hiện sự bất động DoTrời chuyển động còn Đất thì đứng yên nên khi đứng từ mặt đất, ta có thể quan sát được những chuyển dịch, đổi thay của các hành tinh và vũ trụ, từ đó tìm ra quy luật chuyển động của các hành tinh Thuyết này còn có tên gọi khác là Thiên Động Thuyết (天動説)
Trang 27Thần đạo ngày nay như bùa chú, đèn lồng, cổng đền đặc biệt là trên các thẻ cầu ước nguyện
Bên cạnh “Seiman” còn có “Doman”, hay còn được biết đến với cái tên Cửu
Tự (九字) Đây là một đồ hình được tạo nên bởi 5 hàng ngang và 4 hàng dọc,
có nguồn gốc từ Tiên Đạo Thư (仙道書) của Trung Quốc với 9 chữ : Lâm, Binh, Đấu, Giả, Giai, Trận, Liệt, Tiền, Hành Nhưng khi sang đến Nhật Bản, được Âm Dương Đạo tiếp nhận lại biến thể thành: Lâm, Binh, Đấu, Giả, Giai, Trận, Liệt, Tại, Tiền Có nhiều giáo phái ứng dụng “Doman” như Shugendo11(修験道) hay Mật giáo12 (密教), nhiều nhẫn thuật của các Nhẫn giả (忍者) cũng áp dụng “Doman” này
Hình 1.6: Đồ hình Doman (Trái) và Seiman (Phải) Nguồn: http://success403.blogspot.com/2009/12/blog-post_17.html
+ Chú thuật Henbai (反閇)
Đây là một nghi lễ vừa đi hai bên một đường thẳng vừa niệm chú của Đạo giáo, tên thường được biết đến với tên Uha (禹歩), nhằm để cầu cho chuyến hành trình bình an và tránh được ma quỷ, thú dữ
Khi vào đến Nhật Bản, Âm Dương đạo tiếp nhận thì được gọi là Henbai và có vài cải biên khác biệt so với của Đạo giáo Ý nghĩa của nghi lễ này trong Âm Dương Đạo là nhằm tránh các hành tinh được bảo hộ bởi các vị thần tà phái (Ác Tinh - 悪星), được hình thành dựa trên tín ngưỡng tôn thờ các tinh tú của
Âm Dương Đạo
Trang 28+Tín ngưỡng Quỷ môn (鬼門)
Tín ngưỡng Quỷ môn là một tín ngưỡng độc đáo thuần Âm Dương Đạo Nhật Bản (tức chỉ ở Nhật Bản mới có, không có ở Trung Quốc) về những hướng kị - được cho là hướng đi lại của ma quỷ, cần kiên quyết tránh để khỏi gặp tai họa Tín ngưỡng này là sự kết hợp của các lý thuyết về Âm Dương với sự kiêng kị của người Nhật về các phương hướng mà thành.Điển hình của hướng Quỷ môn
là hướng Đông Bắc, Tây Nam Dần dần, tín ngưỡng này phát triển thành những điều mê tín như :
- Nếu xây bồn tắm ở hướng Quỷ Môn, nhà đó sẽ luôn gặp bất hạnh
- Nếu xây nhà vệ sinh ở hướng Quỷ Môn, chủ nhân ngôi nhà sẽ mắc tử bệnh
- Nếu chặt cây ở hướng Quỷ Môn, người chặt cây sẽ chết
- Nếu cầu hôn ở hướng Quỷ Môn, sẽ chết
Để tránh những phương hướng xấu này, những thủ thuật gọi là Kimon Yoke (鬼門除け) được tạo ra.Một thủ thuật điển hình là trong các đền chùa, lâu đài,
người ta thường đặt những tượng Onigawara (鬼瓦) trên ngói
+ Các vị Thần trong Âm Dương Đạo
Các vị thần trong Âm Dương Đạo thường có ít nhiều quan hệ với các vị thần ở các tôn giáo khác (theo thuyết Thần- Phật Tập Hợp) Những vị thần này là kết quả của việc chấp nối, kết hợp các tri thức Thiên văn, Lịch pháp, Âm Dương v v với các vị Thần của Shinto và Phật của Phật giáo, và thờ cúng các vị thần này Sau đây là một số vị thần điển hình của Âm Dương Đạo:
-Phương vị thần Hoijin(方位神) : vị thần sinh ra từ Cửu tinh (9 ngôi sao trong
Huyền Không Học) Tùy vào vị trí của Thần mà khi đi đường sẽ gặp điềm lành hay dữ Cho nên trước khi đi phải bói hướng Hiện nay vẫn được thờ cúng ở các Chùa hoặc Jinja
Trang 29-Tuế đức thần Toshitokujin/Tondosan(歳徳神): vị nữ thần nắm tài lộc, phúc
đức của năm Theo quan niệm thì trên tờ lịch đầu tiên của năm phải có hình vị
nữ thần này Có nhiều truyền thuyết liên quan đến vị nữ thần này, trong đó có một thuyết là sự tập hợp giữa quan niệm thiên văn của Onmyoudou với nữ thần Kushi Inada Hime, vợ của thần Susanoo trongThần đạo
-Thiên nhất thần Tenichijin/Tenitsujin(天一神) : là một vị thần phương hướng,
đứng đầu Thập nhị thiên tướng (十二天将), là thần phân cách giữa Trời và Đât, qui định 4 phương hướng Ai xâm phạm vào phương mà thần ngự sẽ bị nguyền rủa Nguồn gốc của thần có nhiều giả thuyết: 1 cận thần của thần Taishakuten trong Phật giáo, 1 hiện thân của Sao Bắc Đẩu v…v…
-Kim thần Konjin (金神) : là 1 trong các Phương vị thần Cùng với Tenichijin
và Taihakujin, Konjin là vị thần mà nếu đi phải hướng mà thần đang ngự thì sẽ
bị nguyền rủa và gặp điềm dữ nhất, nên đi đường, xây nhà v…v phải bói hướng để tránh
-Bát tướng thần Hasshojin (八将神) : là tên gọi chung của 8 vị thần nắm giữ
Cát/ Hung (việc lành/dữ) trong 8 hướng Lần lượt là: Thái tuế thần (Taisaishin), Đại tướng quân (Taishogun), Thái âm thần (Taionjin), Tuế hình thần (Taigyoshin), Tuế phá thần (Saihashin), Tuế sát thần (Saisetsushin), Hoàng phiên thần (Ohanjin), Báo vĩ thần (Hyobishin)
-Thập nhị thiên tướng Junitensho (十二天将) : là những vị thần nằm ở trung
tâm Bắc Đẩu, được sắp xếp và đặt trong hệ thống bói toán theo Âm Dương Ngũ Hành Những vị thần này cũng chịu ảnh hưởng Thập nhị thần tướng của đạo Phật
-Thổ công thần Dokushin/ Dokoushin (土公神) : vị thần quản lý đất đai, mùa
màng, cũng được xem là Kiên lao địa thần hoặc Phổ hiền bồ tát trong Phật giáo Qua quá trình phân tích khái niệm, khái quát hóa nội dung, nhóm chúng tôi đã đưa ra một định nghĩavề Âm Dương Đạo như trên Đây có thể không phải là
Trang 30định nghĩa chính xác nhất nhưng trong quá trình nghiên cứu của mình, chúng tôi nhận thấy đây là một định nghĩa gần sát với bản chất thật sự của Âm Dương Đạo Việc định nghĩa được Âm Dương Đạo đưa ra cái nhìn rõ nét hơn về bản chất của Âm Dương Đạo dựa trên những đặc trưng của nó như “chú trọng thực hành bùa chú, ma thuật dựa trên các nguyên lí về Âm Dương – Ngũ Hành”, “có
sự dung hòa với các tín ngưỡng, tôn giáo khác” Những đặc trưng này là những
sự khác biệt, giúp chúng tôi phân biệt Âm Dương Đạo với các tín ngưỡng, tôn giáo tương tự cùng thời, từ đó, có cái nhìn rõ ràng hơn về sự định hình và phát triển của Âm Dương Đạo
Trang 31CHƯƠNG 2 – SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA ÂM DƯƠNG ĐẠO
2.1 Từ khởi thủy cho đến sự du nhập vào Nhật Bản
Trước hết phải khẳng định một điều là trong giai đoạn khởi thủy, người Nhật Bản vốn không có khái niệm hay lý thuyết gì về Âm Dương, Ngũ Hành Theo Joseph M.Kitagawa13, trước khi văn minh thế giới xâm nhập vào Nhật trong các giai đoạn giữa và cuối thời kỳ Yayoi, “thế giới quan của người Nhật nhìn chung là một thế giới đơn nghĩa (monistic world of meaning), trong đó, họ mặc nhiên thừa nhận thế giới tự nhiên là thế giới đầu tiên, và không có ý định tìm kiếm một lớp nghĩa hay một trật tự nào khác đằng sau thế giới tự nhiên đó, ít nhất là cho đến khi chịu ảnh hưởng từ văn hóa Hán-Triều và Phật giáo” Và cấu trúc thế giới đơn nghĩa đó được thể hiện trong ý nghĩa của từ “kami” cũng như việc sùng bái tự nhiên (qua các hình thức Shaman giáo) Nói cách khác, người Nhật thời nguyên thủy với nền kinh tế săn bắt, hái lượm có một cách nhìn đơn giản về thế giới, họ không tạo ra các khái niệm hay hệ thống vũ trụ phức tạp nào.Trong khi đó ở Đại Lục, những hệ thống tư tưởng, thế giới quan phức tạp
đã hình thành phát triển từ sớm Đặc biệt, từ khoảng thời thời Ân (còn gọi là Thương – TK12 TCN) cho đến thời Chu (TK10 TCN) thì những khái niệm, triết lý về Âm Dương, Ngũ Hành cơ bản đã được hoàn thiện khá đầy đủ và gắn liền với các hoạt động của các ngành Thiên văn, Lịch học, Dịch học, chế tạo đồng hồ v v
Thời kì Yayoi (khoảng 400 TCN – 250 SCN) sau đó chứng kiến sự xâm nhập của văn minh thế giới vào Nhật Bản, điển hình là từ Trung Quốc, Triều Tiên, Đông Nam Á v v , và đã tạo ra sự thúc đẩy lớn đối với sự phát triển của văn hóa - xã hội, chủ yếu là phát triển việc trồng lúa, các phương pháp canh tác mới,
và sự hình thành xã hội có giai cấp.Thời kỳ Kofun (khoảng 250 – 538 SCN) tiếp tục tiếp thu mạnh mẽ những ảnh hưởng từ Trung Quốc, Triều Tiên, cũng như dần hình thành một vương triều phong kiến tên là Yamato mà đến thời Asuka (khoảng 592 – 710 SCN) thì tương đối hoàn chỉnh và thống trị toàn
13
Xem: Joseph M.Kitagawa, “On Understanding Japanese Religions”, tr 274
Trang 32Nhật Bản Với một xã hội có một chính thể nhà nước tương đối ổn định như trên, từ thời kỳ này trở đi, Nhật Bản mới bắt đầu có điều kiện để tiếp thu các triết lý, tư tưởng phức tạp hơn từ Đại Lục Bên cạnh Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo , triết lý, tư tưởng về Âm Dương, Ngũ Hành lần đầu tiên được truyền vào Nhật Bản, đặt cơ sở cho việc hình thành Âm Dương Đạo sau này
Có nhiều sử liệu ghi chép về quá trình truyền bá này thông qua con đường từ Trung Hoa (nhà Đông Tấn, Tề) và từ Bán đảo Triều Tiên (Goguryeo / Cao Câu
Ly, Baekje / Bách Tế) Nhưng có lẽ chính các nhà sư, học giả Triều Tiên, cụ thể là từ Bách Tế là những người trực tiếp đưa những lý thuyết, môn học về
Âm Dương, Ngũ Hành sang Nhật Theo Ishida Ichiro14, trong Chu Thư (周書) của Trung Quốc chép rằng trong giai đoạn này, Bách Tế có giao thiệp rộng với Nam Triều15 nên tiếp thu được nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật Trung Quốc Theo yêu cầu của Bách Tế, trong giai đoạn đầu, Nam Triều phái nhiều học giả tinh thông các thuyết Âm Dương, Ngũ Hành, bói toán, chiêm tinh v v sang làm việc và giảng dạy với triều đình Bách Tế, giai đoạn sau phái các học giả Nho giáo, cụ thể là các học giả Ngũ Kinh, Dịch Lý sang, tạo cho Bách Tế phong trào học hỏi rộng các môn học này, và từ đó, Nho giáo và các ngành thiên văn, bói toán, Dịch Lý v v chiếm được vị trí lớn trong xã hội Bách Tế Mặc khác, Bách Tế cũng có quan hệ mật thiết với triều đình Yamato của Nhật Bản Theo giao ước, Bách Tế cống nạp theo kỳ hạn các học giả gọi là “Ngũ Kinh Tiến Sĩ”16 (五経博士), “Dịch Tiến Sĩ”17 (易博士), Tăng sư cùng các sách
vở về bói toán, lịch pháp và các loại thuốc v v cho triều đình Nhật Bản Và chính các học giả này là những người đầu tiên đã truyền bá những tư tưởng Âm Dương, Ngũ Hành cùng những nền tảng khác của Âm Dương Đạo vào Nhật Tuy vậy, điều đáng nói ở đây là những vị học giả này tuy được xem là những
Trang 33nhà Nho gia nghiên cứu Kinh Dịch, nhưng thực chất chỉ là những nhà bói toán theo khoa Sấm Vĩ18 Chính điều này đã gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của Âm Dương Đạo sau này
Tuy không thể biết chính xác sự du nhập tư tưởng Âm Dương Ngũ Hành này lần đầu tiên là vào lúc nào, nhưng dựa trên các tư liệu cổ còn lại, các nhà nghiên cứu đã dự đoán ít nhất là khoảng thế kỷ thứ 7 Theo Nihon Shoki19(Nhật Bản Thư Kỷ 日本書紀) ghi chép thì khoảng năm thứ 7 thời Thiên Hoàng Keitai20 (năm 512), năm thứ 15 thời Thiên Hoàng Kinmei (năm 554) có những người Ngũ kinh Tiến Sĩ và Dịch Tiến Sĩ, chủ yếu là nhóm học giả do Vương Đạo Lương (王道良), Ngũ Kinh Tiến Sĩ Đoàn Dương Nhĩ(段陽爾, âm Nhật: Danyouni) dẫn đầu được Bách Tế cống nạp cho Nhật Họ đem đến cho người Nhật những tri thức mới chưa từng có trước đây trên quần đảo Nhật Bản Tuy vậy, việc truyền bá lúc đầu gặp rất nhiều khó khăn, phần lớn là do thứ nhất, những môn học này quá mới mẻ, lại chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc, thứ hai, do bất đồng ngôn ngữ giữa người dạy và người học, cho nên hệ quả là đối với những tri thức Âm Dương, Ngũ Hành, Dịch lý v v như thế này rất ít người nắm bắt được, cũng như việc tiếp thu còn nhiều thiếu sót, quan niệm có phần lệch lạc, mê tín Mãi đến khoảng năm thứ 10 thời Thiên Hoàng Suiko (năm 602), 1 cao tăng từ Bách Tế tên là Gwalleuk (âm Hán: Quan Lặc, âm Nhật: Kanroku 觀勒) cùng nhiều sách lịch pháp, thiên văn địa lý, độn giáp phương thuật v v đến Nhật, việc học tập mới được chỉnh đốn lại Theo Nihon Shoki, ông cho gọi khoảng 3, 4 môn sinh từ con em quí tộc, quan lại trong triều để dạy học, đầu tiên là dạy về các tư tưởng căn bản của Nho giáo, sau đó mới chia ra nhiều môn như Tamafuru ( 玉 陳 ) là về Lịch pháp,
18
Một loại hình tôn giáo mê tín phát triển từ thời Hán ở Trung Quốc, chủ trương chiêm bốc, dự báo những điều tốt/xấu để từ đó tuân theo mệnh Trời Sau được một số phương sĩ Nho giáo phụ họa làm tăng tính huyền hoặc
Trang 34Ootomonosugurikousou( 大 友 村 主 高 聡 ) là về Thiên văn Độn giáp21, Yamashironoomihitate (山背臣日立) là về Phương thuật22 v v Điều đặc biệt là ông giảng dạy theo sở trường của từng người, người giỏi môn nào thì sẽ học chuyên sâu về môn đấy Cho nên từ đấy Nhật Bản có được những chuyên gia ở nhiều lĩnh vực khác nhau như Thiên văn Địa lý, Chiêm tinh, Lịch pháp v v Những ứng dụng về Lịch pháp, Thiên văn v v được áp dụng ngay vào cuộc sống, ví dụ như Lịch pháp Quốc gia đầu tiên được chính thức sử dụng
là vào tháng 11 năm thứ 4 thời Thiên Hoàng Jito23 (năm 690), gồm 2 loại lịch24
là âm dương lịch Genkareki (Nguyên Gia Lịch 元嘉暦) và âm dương lịch Gihoureki (Nghi Phụng Lịch 儀鳳暦)
2.2 Quá trình hình thành và phát triển tại Nhật Bản
Quá trình hình thành - phát triển của Âm Dương Đạo là một quá trình lâu dài
và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau.Trong quá trình này, các thể chế chính trị xuất hiện ở Nhật Bản ít nhiều có mối liên hệ mật thiết và tác động sâu sắc tới
Âm Dương Đạo Cho nên để tiện theo dõi, xin được chia quá trình hình thành phát triển này thành các giai đoạn theo dòng thời gian và gắn liền với nền chính trị như sau:
- Âm Dương Đạo thời Cổ đại :
Từ thời Asuka đến hết thời Heian (592 – 1185).Trong đó nổi bật là 2 giai đoạn Thời Luật Lệnh và Thời Nhiếp Quan
+ Trước cải cách Taika (năm 645)
21
Độn giáp (遁甲) là một môn dự đoán tính toán từ Dịch Học, trong đó căn cứ vào sự thay đổi của Âm Dương để quyết đoán sự diễn tiến Cát/ Hung (tốt/xấu) của sự vật.Ngoài ra còn dựa theo vị trí thời gian của Can Chi để dự đoán quá trình phát sinh, phát triển và kết quả của sự vật, hiện tượng, con người
24
Lý do tại sao lại sử dụng cả 2 loại lịch này thì vẫn còn gây tranh cãi
Trang 35+ Thời Luật Lệnh : sau cải cách Taika năm 645 với sự ra đời của Chế độ Luật lệnh tồn tại cho đến cuối thời Nara năm 794
+ Thời Nhiếp Quan và Thời Viện Chính : từ thời Heian với chế độ Nhiếp Chính – Quan Bạch (Sessho 摂政 và Kampaku 関白), sau là chế độ Viện Chính (院政) cho đến hết chiến tranh Genpei (Genpei Kassen 源平合戦) năm 1185
- Âm Dương Đạo trong thời Trung đại:
Từ sự thành lập Mạc phủ Kamakura năm 1185 đến hết thời Edo năm 1868 + Các giai đoạn trước thời Edo: thời Kamakura (1185 – 1333), thời Muromachi (1336 – 1573), thời Azuchi – Momoyama (1568 – 1603) hay còn gọi là thời Chiến quốc (戦国時代)
+ Thời Edo (1603 – 1868)
- Âm Dương Đạo trong thời Cận – Hiện đại ngày nay:
Từ Minh Trị Duy Tân năm 1868 đến những năm gần đây
+ Từ Minh Trị Duy Tân năm 1868 đến hết Thế chiến thứ 2 năm 1945
+ Âm Dương Đạo trong thời Hiện đại: sau Thế chiến thứ 2 năm 1945 đến nay
2.2.1 Âm Dương Đạo trong thời Cổ đại
a Trước cải cách Taika
Như đã nói trên, từ thời Asuka (592 – 710 SCN) trở đi, với một chính thể Yamato là thế lực lớn nhất chi phối Nhật Bản, xã hội Nhật Bản dần định hình
và bắt đầu tiếp thu các triết lý, tư tưởng từ Đại Lục Các tư tưởng Âm Dương, Ngũ Hành cùng các ngành Dịch lý, Thiên văn, Lịch pháp v v được truyền vào Nhật Bản Điểm đặc biệt ở đây là những tư tưởng và ngành học này lại được các học giả Nho giáo và nhà sư Phật giáo mang đến, và giảng dạy như là một phần của việc giảng dạy Nho giáo Cho nên, Âm Dương Đạo được hình thành chủ yếu là qua con đường truyền bá Nho giáo vào Nhật Bản Theo
Trang 36George Sansom25, nếu người Nhật không tiếp thu các tư tưởng thông qua quan điểm triết học của Nho giáo như thế này thì sẽ vô cùng khó khăn Nói về Nho giáo của thời Hán du nhập sang Nhật vào thế kỷ 6 – 7 thì đây không chỉ là học thuyết về luân lý đơn giản nữa mà đã phát triển hoàn chỉnh thành một ý thức hệ chính trị của các triều đại Trong đó, sau bao năm xung đột và điều hòa với các trường phái khác như phái Âm Dương Gia, Đạo giáo Thần tiên lẫn các tín ngưỡng mê tín như Sấm Vĩ , chiêm thuật v v , Nho giáo đã trở thành một chỉnh thể thần học hóa26, trong đó bao gồm cả cơ sở lý luận là Âm Dương, Ngũ Hành, Thiên – Nhân cảm ứng và kết hợp với các tri thức về thiên văn, lịch pháp, địa lý Trước khi sư Gwalleuk đến Nhật, các môn học do các học giả Bách Tế đến dạy được tổ chức hết sức rời rạc nên rất khó tiếp thu Sau khi cải tổ việc giảng dạy, những con em quí tộc thời Asuka được dạy một cách bài bản hơn,
đó là trước hết là phải học nền tảng tư tưởng Nho giáo, sau đó mới chia theo học từng ngành riêng biệt như Thiên văn, Lịch pháp, Chiêm bốc v v Chính việc tiếp thu trong hệ thống dựa trên nền tảng Nho giáo như thế này đã giúp người Nhật học tập dễ dàng hơn rất nhiều
Một điểm cần lưu ý nữa là mối quan hệ của việc tiếp nhận các tư tưởng Âm Dương, Ngũ Hành này song song với các tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo cũng như bản thân tín ngưỡng bản địa Cổ Thần đạo (Koshinto 古神道) có sẵn trên quần đảo Cụ thể có 2 vấn đề chính : một là mối quan hệ giữa các tư tưởng, tín ngưỡng ngoại lai (cụ thể: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo) với nhau, hai là giữa các tư tưởng, tín ngưỡng ngoại lai với tư tưởng, tín ngưỡng bản địa
Trước hết là mối liên hệ của các tư tưởng ngoại lai đại diện là Nho, Phật, Đạo hay còn gọi là Tam Giáo Ở Trung Quốc, Việt Nam Trong suốt quá trình hình thành và phát triển ở Trung Quốc, 3 loại hình tôn giáo này đa phần có nhiều mâu thuẫn, xung đột với nhau, từ tư tưởng đến hình thức.Tuy vậy việc truyền
bá của 3 tôn giáo này đến Nhật lại diễn ra khá hòa bình Lý giải cho việc này,
25
Xem: George Sansom, “Lịch sử Nhật Bản Tập 1- Từ thượng cổ đến năm 1334”, tr 110,111,112
26
Loại hình Hán Nho này chủ yếu do Đổng Trọng Thư (董仲舒) – một nhà triết học duy tâm thời Hán
đề xướng, và được Hán Vũ Đế áp dụng, nâng lên thành quốc giáo Trung tâm tư tưởng là học thuyết Nho giáo, có pha lẫn với thuyết Âm Dương Ngũ Hành, xây dựng nên hệ thống thần học phong kiến, trong đó thần quyền, quân quyền, phụ quyền, phu quyền liên kết chặt chẽ với nhau
Trang 37theo Joseph M.Kitagawa, cơ sở nằm ở việc chấp nhận mở rộng thế giới quan của người Nhật Như đã nói trên, trước khi ảnh hưởng của văn hóa Đại Lục bành trướng sang Nhật, người Nhật vẫn giữ một cái nhìn đơn giản về thế giới,
và tín ngưỡng chủ yếu của họ là sùng bái tự nhiên, chủ yếu thờ cúng các lực lượng siêu nhiên vô hình, được gọi là Kami (tạm dịch là thần linh), chẳng hạn như mặt trăng, mặt trời, cỏ cây, sông núi v v bên cạnh các hình thức Shaman giáo27 Cho nên, khi văn minh Hán-Triều mang đến nhiều quan niệm, lý thuyết
vũ trụ đa tầng đa nghĩa chưa hề được biết đến và đối lập với thế giới quan đơn nghĩa của mình, người Nhật đã giải quyết bằng cách chấp nhận cùng lúc tất cả những lý thuyết đó, và lấy việc học hỏi văn hóa làm ưu tiên hàng đầu Họ lấy Nho giáo làm nền tảng xây dựng nhà nước và nền chính trị, đồng thời cố gắng dung hòa 2 nguyên lý phổ quát là Đạo (Tao 道) và Pháp (Dhrarma, tiếng Phạn:
ध म)
Mặc khác, trong mối quan hệ giữa những tư tưởng ngoại lai với tư tưởng bản địa thì dưới tác động của Nho giáo và Phật giáo, người Nhật cũng phải tự hệ thống hóa các tư tưởng bản địa còn sơ khai của mình lại, bằng cách chấp nhận dùng chữ Hán “Shin” (Thần 神) và “Do” (Đạo 道) thành Shinto (Thần đạo 神道) để chỉ truyền thống tín ngưỡng của mình (sau được nâng lên thành một tôn giáo chính thống của Nhật Bản) và đặt Shinto trong mối quan hệ hòa hợp với Nho, Đạo, Phật Đặc biệt trong thời của Thái tử Shotoku28 (Shotoku Taishi 聖徳太子), ông cố gắng “ khẳng định cùng lúc cả Thần – Phật – Nho” và “canh giữ sự quân bình giữa chúng”29
Cho nên, có thể thấy những tư tưởng, tín ngưỡng văn hóa ngoại lai như Nho, Phật, Đạo thâm nhập vào đời sống Nhật Bản ít gặp sự cản trở nào từ phía văn
27
Là hình thức lên đồng,nhập hồn, trong đó thông qua các thầy shaman (thầy đồng - người được xem là
có phép thuật kì lạ hoặc được thần linh chọn), người ta có thể giao tiếp với thần linh trong tự nhiên hoặc linh hồn người đã khuất, nhằm tìm lời khuyên bảo, tìm sự che chở, chữa bệnh v v
28
Thánh Đức Thái Tử (572-622) một nhà chính trị, nhà cải cách và là nhà văn hóa nổi tiếng, người được xem là có công truyền bá Phật giáo ở Nhật Bản và góp phần xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền vững mạnh qua việc ban hành “Chế độ quan vị 12 bậc” và “Hiến pháp 17 điều”
29
Xem: Sakaiya Taichi, “12 người làm nên nước Nhật”, chương 1 – “Thái tử Shoutoku: người khởi xướng tư tưởng gộp đạo Thần-Phật-Nho”
Trang 38hóa bản địa, và giữa chúng cũng ít đối lập nhau Chúng lại có sự dung hòa, bổ sung cho nhau và hòa hợp với tín ngưỡng văn hóa bản địa, mà về sau đã góp phần phát triển của một thuyết gọi là “Thần – Phật tập hợp” (Shinbutsu Shugo神仏習合) bên cạnh một nhà nước thần quyền theo thể chế Nho giáo
Theo xu hướng ôn hòa và hòa hợp như trên, tư tưởng Âm Dương, Ngũ Hành qua con đường Nho giáo được du nhập song song với các tư tưởng tín ngưỡng khác cũng có sự dung hợp lẫn nhau, đặc biệt là với Đạo giáo, Phật giáo và Thần đạo Đặc biệt, việc truyền bá, phổ biến tư tưởng này sang Nhật phần lớn lại là nhờ công của giới tăng lữ Phật giáo, đơn giản vì họ là những người thông thạo việc đọc viết Hán văn và là sứ giả truyền bá văn hóa chủ yếu Trên cơ sở đó,
Âm Dương Đạo hình thành trên nền tảng Âm Dương, Ngũ Hành trong quá trình phát triển ở các thời kỳ sau (rõ nét nhất là ở thời Heian) cũng chịu ảnh hưởng lớn từ thuyết Thần – Phật tập hợp nêu trên
Sau khi truyền sang Nhật Bản, việc học tập Âm Dương, Ngũ Hành cùng các môn học về Thiên văn, Địa lý, Chiêm tinh, Lịch pháp v v trở nên sôi động
Cụ thể, theo Ishida Ichiro, ngoài giảng dạy trong nước, triều đình Yamato còn
cử người sang Trung Quốc lưu học từ 2 – 4 năm học thêm về Chu Dịch, Thiên văn v v , và sau khi về nước thì sẽ được trao nhiệm vụ giảng dạy các môn học
đó Tuy vậy, có thể thấy mặc dù được giảng dạy trên tinh thần tiếp thu Nho giáo, nhưng việc học tập này lại có vẻ chủ yếu thiên về kỹ thuật hơn là học về tri thức Nói cách khác, thay vì học sâu về những tư tưởng đạo đức, xây dựng,
tổ chức xã hội v v của Nho gia, người Nhật lại có xu hướng đầu tư nghiên cứu về các ngành học Dịch lý, chiêm tinh, bói toán mang tính huyền hoặc Lý giải vấn đề này, một phần có thể là do chịu ảnh hưởng của trào lưu học tập từ Bách Tế, một phần có thể do những môn học này thông dụng và dễ hiểu hơn, nếu xét đến trình độ phát triển xã hội còn non trẻ của Nhật Bản lúc này
Trong triều đình, các quan niệm về Cát / Hung (tốt / xấu), điềm lành / dữ xoay quanh sự vận động của Âm Dương, Ngũ Hành, các chòm sao v v cũng như các ứng dụng về Thiên văn, Lịch pháp càng trở nên phổ biến hơn Một số
Trang 39ví dụ có thể thấy là học trò của một nhà sư tên Min (được cử đi lưu học ở Trung Quốc 24 năm, sau khi về nước được nhờ giảng dạy Chu Dịch và các môn Thiên văn, Chiêm bốc ) chủ yếu từ các gia tộc lớn địa vị cao như Nakatomi (sau này là Fujiwara), Soga v v Ngoài ra, khi các hiện tượng thiên văn như sao chổi, sao băng hay điều kì lạ nào đó xuất hiện đều gây chú ý và người ta tìm kiếm những lời giải thích, điềm báo tốt / xấu ẩn sau những sự kiện đó Đặc biệt hơn là, trong việc dung hòa giữa Đạo và Pháp, sự quân bình của Thần – Phật – Nho của Thái tử Shotoku cũng có chịu ảnh hưởng của nguyên tắc cân bằng Âm Dương, Ngũ Hành Cụ thể là tiếp thu quan điểm chính trị của Nho giáo, Thái tử Shoutoku với tư cách là Nhiếp chính (Sesshou 摂政) thời Thiên Hoàng Suiko đã cho ban hành 2 chế định, đó là “Chế độ quan vị 12 bậc” (Kanijunikai 冠 位 十 二 階 ) vào năm 603, và “Hiến pháp 17 điều” (Jushichijo Kenpo 十七条憲法) vào năm 604 Trong đó, Chế độ quan vị 12 bậc qui định bậc của quan lại dựa trên 6 đức tính cần có, lần lượt là Đức (徳), Nhân (仁), Lễ (礼), Tín (信), Nghĩa (義), Trí (智), trong mỗi đức tính lại phân chia cao – thấp ( Đại 大 và Tiểu 小), tổng cộng 12 bậc Tuy nhiên, thứ tự của 6 đức tính trên lại không theo Ngũ Thường “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín” của Nho giáo,
mà lại được sắp xếp tương ứng theo qui luật Ngũ Hành, cụ thể là Nhân, Lễ, Tín, Nghĩa, Trí tương ứng với thứ tự Mộc – Hỏa – Thổ – Kim – Thủy (木-火-土-金-水) và theo qui tắc Ngũ hành Tương Sinh : Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy Riêng về Đức thì theo Shotoku Taishi Denryaku30(聖徳太子伝暦), thời đó người ta cho rằng Đức là phẩm chất cao quý nhất, nếu đem Đức hợp với 5 đức tính còn lại sẽ đem lại sự tối thượng Một giả thuyết khác của Fukunaga Mitsuji thì cho rằng sở dĩ có thêm Đức mục vào là do chịu ảnh hưởng của bộ kinh điển “Thái Tiêu Lang Thư” (太霄琅書) của Đạo giáo
có từ thế kỷ thứ 5, trong đó đã sắp xếp theo thứ tự Đức, Nhân, Lễ, Tín, Nghĩa, Trí như vậy Bên cạnh đó, màu sắc quan phục cũng được chú ý sắp xếp theo Ngũ Sắc tương ứng là Xanh (Mộc) – Đỏ (Hỏa) – Vàng (Thổ) – Trắng (Kim) – Đen (Thủy), riêng Đức là màu Tím Mặc khác, Hiến pháp 17 điều cũng là một
30
Biên niên sử chép về Thái tử Shoutoku, có lẽ được viết khoảng năm Engi thứ 17 (năm 917)
Trang 40sự kết hợp Âm – Dương với số lượng 17 điều mục cũng là sự kết hợp của Số Cực Âm31 (陰の殛数) là số 8 với Số Cực Dương32 ((陽の殛数) là số 9
Tiểu kết: Qua đó, có thể thấy sau khi được truyền bá vào Nhật Bản, Âm Dương, Ngũ Hành cùng các môn học về Thiên văn địa lý, Lịch pháp, Chiêm bốc v.v lẫn các quan niệm Cát / Hung, lành / dữ càng lúc càng có nhiều ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị và xã hội triều đình Yamato Với những nhu cầu, đòi hỏi về tâm linh ngày càng phổ biến cũng như những động cơ chính trị của giới cầm quyền, một nền giáo dục được tổ chức có sự chuyên môn hóa và mang tính thế tập33đã tạo ra những chuyên gia chuyên về những kỹ nghệ riêng biệt như Thiên văn, Lịch pháp, Chiêm bốc v v , và trên cơ sở tư tưởng Âm Dương, Ngũ Hành kết hợp với các kỹ nghệ trên mà Âm Dương Đạo dần được định hình,
và ở giai đoạn sau được khuôn đúc theo một hệ thống quan chế khá chặt chẽ sau cải cách Taika và khi chế độ Luật lệnh được ban hành
b Thời Luật Lệnh
Cải cách Taika (Taika no Kaishin 大化の改新) được tiến hành thời Thiên Hoàng Kotoku vào năm 645 đã đặt nền móng cho một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền vững mạnh phỏng theo chế độ phong kiến nhà Đường34của Trung Quốc Cải cách Taika cũng là bước mở đầu cho quá trình hình thành nên chế độ Luật Lệnh (Ritsuryo 律令) với hệ thống quan chức, đơn vị hành chính khá chặt chẽ học tập theo Trung Quốc và nhà nước cai trị bằng pháp luật Chế độ Luật Lệnh này tồn tại đến khoảng cuối thời Nara, cho nên từ sau cải cách Taika năm 645 cho đến cuối thời Nara năm 794 được gọi là thời Luật Lệnh
3120
Giống như tất cả mọi vật trong thiên nhiên, con số có tính âm và tính dương khác nhau Những số
lẻ (1, 3, 5, 7, 9) được coi là những con số dương và những con số chẵn (2, 4, 6, 8) lại được coi là những
số âm Số 9 đứng cuối số dương trong các số từ 1– 9 nên gọi là Số Cực Dương, ngược lại số 8 gọi là