1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghề thủ công mỹ nghệ mây tre lá thị xã ninh hòa tỉnh khánh hòa (liên hệ với nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan huyện damyang – tỉnh jeollanam – hàn quốc)

55 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghề Thủ Công Mỹ Nghệ Mây Tre Lá Thị Xã Ninh Hòa – Tỉnh Khánh Hòa (Liên Hệ Với Nghề Thủ Công Mỹ Nghệ Mây Tre Đan Huyện Damyang – Tỉnh Jeollanam – Hàn Quốc)
Tác giả Kim Kwang Jun, Ahn Woo Jin, Jung Seok Bae, Lee Hyun Seok, Heo Soo Jung, Lim Hyo Sun
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Mai Nhân
Trường học Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Việt Nam Học
Thể loại Công Trình Nghiên Cứu Khoa Học Sinh Viên
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 5,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA: VIỆT NAM HỌC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP KHOA NĂM 2013 NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ MÂY TRE LÁ THỊ XÃ NINH HÒA –

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA: VIỆT NAM HỌC

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP KHOA NĂM 2013

NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ MÂY TRE LÁ THỊ XÃ NINH HÒA –TỈNH KHÁNH HÒA (Liên hệ với nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan Huyện Damyang – Tỉnh Jeollanam – Hàn Quốc)

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Kim Kwang Jun

Thành viên: Ahn Woo Jin

Jung Seok Bae Lee Hyun Seok Heo Soo Jung Lim Hyo Sun

Người hướng dẫn: TS Trần Thị Mai Nhân, Khoa Việt Nam học

TP Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2013

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU………1

CHƯƠNG 1 NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ MÂY TRE LÁ Ở THỊ XÃ NINH HOÀ- TỈNH KHÁNH HOÀ 7

1.1 Khái quát về Thị xã Ninh Hoà và Hợp tác xã Thủ công mỹ nghệ Mây tre lá Vĩnh Phước 7

1.2 Nguyên liệu sản xuất chính 11

1.3 Qui trình sản xuất và thị trường tiêu thụ 12

1.4 Những sản phẩm mây tre lá tiêu biểu ở Hợp tác xã Vĩnh Phước 14

CHƯƠNG 2 NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ ĐAN TRE Ở HUYỆN DAM YANG - TỈNH JEONLLANAM (HÀN QUỐC)……… 17

2.1 Vài nét Huyện Damyang ………… 17

2.2 Nghề thủ công mỹ nghệ tre đan ở Damyang 19

2.3 Những hoạt động nhằm bảo tồn cây tre và nghề thủ công mỹ nghệ tre đan ở Damyang ……… ………… 23

CHƯƠNG 3 VÀI SO SÁNH GIỮA NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ MÂY TRE LÁ Ở NINH HOÀ VỚI NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ ĐAN TRE Ở DAM YANG ….……….…… ………27

3.1 Về nguồn nguyên liệu sản xuất 27

3.2 Về kỹ thuật sản xuất 28

3.3 Về sản phẩm và thị trường tiêu thụ………… 28

3.4 Về những khó khăn chung……… ……….…… 29

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ … 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO………33

PHỤ LỤC … 34

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghề thủ công mây tre đan là một trong những nghề thủ công truyền thống xuất hiện khá sớm, khoảng thế kỷ XVI, XVII ở Việt Nam và gắn liền với lịch sử của dân tộc Nghề đã tồn tại và lưu truyền tại nhiều địa phương, có những đóng góp trong việc ổn định cuộc sống kinh tế, thậm chí làm giàu cho chính người thợ Nghề mây tre đan đã có những bước thăng trầm trong lịch sử phát triển của mình, có những giai đoạn “hoàng kim”, nhà nhà người người sáng đèn cả đêm tập trung sản xuất nhưng cũng có lúc nhà xưởng trống vắng, thợ nghề không có việc làm Sự “nóng lạnh” của thị trường, tâm lý người tiêu dùng đã gây những áp lực không nhỏ cho chính miếng cơm manh áo của người dân làng nghề Và hiện tại, tình hình nghề mây tre đan cũng không được khả quan

Trước thực trạng một nghề truyền thống ở Việt Nam có nguy cơ bị mai một, chúng tôi thấy cần thiết phải thực hiện một đề tài nghiên cứu để thể hiện những hiểu biết thực tế về nghề Mặt khác, chúng tôi muốn thực hiện một so sánh nhỏ với nghề truyền thống của chính quốc gia mình (Hàn Quốc), đóng góp những nhận xét, những ý kiến chủ quan đồng thời truyền tải những thông điệp, nguyện vọng của người làng nghề đến mọi người Qua đó, chúng tôi hy vọng Nhà nước cùng xã hội nhận thức được tầm quan trọng của nghề thủ công

mỹ nghệ mây tre lá cũng như quan tâm hơn nữa đến việc ổn định và phát triển ngành nghề này Đó cũng chính là động thái tích cực và cần thiết để bảo toàn một ngành nghề mang lại cả giá trị vật chất lẫn văn hóa tinh thần cho dân tộc Chúng tôi cũng hy vọng ngày càng có nhiều đề tài và công trình nghiên cứu có giá trị mang tính cấp thiết hơn đối với vấn đề này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề nghiên cứu về làng nghề truyền thống trong đó có nghề thủ công mỹ nghệ mây tre lá là một vấn đề không còn mới mẻ đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Gần Việt Nam nhất có thể kể đến các quốc gia

Trang 4

như Trung Quốc, Nhật Bản, đã sớm nhận thức được tầm quan trọng và hoạch định các chính sách, mô hình, nhằm củng cố, phát triển các ngành nghề truyền thống của mình

Tại Việt Nam, vào từng thời kỳ, từng giai đoạn khác nhau, vấn đề làng nghề thủ công truyền thống nói chung và nghề mây tre lá lại được đề cập, nghiên cứu trên nhiều khía cạnh và hướng khác nhau Tính đến hiện tại, một số

công trình nghiên cứu mang tính tiêu biểu có giá trị có thể kể đến như: “Ngành

nghề truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề” (Trần Quốc Vượng), “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” (Bùi Văn Vượng-1998), “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa”

(Dương Bá Phượng - 2001), “Làng nghề truyền thống Việt Nam” (Phạm Côn Sơn), “Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong thời kỳ

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Trần Minh Yến – 2003), “Nghiên cứu về quy hoạch phát triển làng nghề thủ công theo hướng Công nghiệp hoá nông thôn ở nước CHXHCN Việt Nam” của Bộ NN & PTNT hợp tác cùng với tổ chức JICA

của Nhật (năm 2002); “Làng nghề Việt Nam và môi trường” của Đặng Kim Chi (2005) Ngoài ra còn có các công trình gắn làng nghề với du lịch như: “Du lịch

và kinh doanh du lịch” (Trần Nhạn)

Bên cạnh các công trình mang tính lý luận, phân tích trên, ở Việt Nam

đã có những động thái thực tiễn, tác động trực tiếp đến ngành nghề này Chẳng

hạn, năm 2005, có sự kiện Hiệp Hội Làng nghề Việt Nam được thành lập và sự kiện Hiệp Hội Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam (VIETCRAFT) phối hợp với Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ phát triển các làng nghề thủ công

truyền thống Việt Nam (HRPC) ra mắt Mạng lưới Mây Việt Nam (Vietnam

Rattan Network), thành viên của Mạng lưới Mây toàn cầu (Global Rattan

Network) tại Hà Nội, là một động thái tích cực đánh dấu bước tiến dài trong các hoạt động thiết thực, nhằm chủ động được nguồn nguyên liệu sản xuất, nhận được ưu đãi về mặt chính sách, tiếp cận nguồn vốn, kinh nghiệm quản lý, phát triển thị trường, liên kết liên doanh tạo sức cạnh tranh thương hiệu, … tạo điều kiện cho các làng nghề phát triển

Trang 5

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Sinh viên khoa Việt Nam học không chỉ đơn thuần học tiếng Việt như một ngoại ngữ mà còn đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu về Văn hóa, Lịch sử, phong tục tập quán… của đất nước Việt Nam một cách toàn diện Với phương châm “Học đi đôi với thực tế”, chúng tôi muốn cọ xát với thực tế để có những trải nghiệm Điều đó sẽ giúp chúng tôi hiểu sâu hơn, cụ thể hơn các bài giảng được tiếp thu trên lớp Vì vậy, chuyến đi thực tế ở Ninh Hòa là một cơ hội tốt

để chúng tôi có thể tiếp cận, quan sát đời sống thực tế của người dân Việt Nam

Vì vậy, nhóm chúng tôi đã chọn đề tài: “Nghề thủ công mỹ nghệ mây tre lá ở

Ninh Hòa”

Hàn Quốc cũng có nhiều làng nghề thủ công mỹ nghệ đan tre, trong đó

nổi tiếng nhất là thành phố Damyang Mỗi năm một lần, ở đây đã tổ chức Lễ

hội Tre (Damyang Bamboo Festival) để giới thiệu những sản phẩm về tre của

mình Từ cây tre, người ta có thể làm ra nhiều sản phẩm trên các lĩnh vực như

ẩm thực, công nghệ, và than v.v Hơn nữa, những sản phẩm đó không những

Hàn Quốc đã biến thành hàng hóa để xuất khẩu

Ở Việt Nam, sản phẩm mây tre lá cũng được dùng gia đình, trong cuộc sống đại chúng của người Việt Nam từ xưa đến nay Mây tre lá đã gắn liền với đời sống của người dân Việt Nam Chính vì vậy, sản phẩm mây tre lá đã trở nên quen thuộc đối với đời sống, sinh hoạt của người Việt Nam

Việt Nam có nhiều làng nghề cũng như thương hiệu mây tre lá nổi tiếng Vì vậy, nhóm chúng tôi muốn biết về nghệ thuật sản xuất sản phẩm mây tre lá và tìm hiểu vai trò của làng nghề thủ công mây tre lá đối với đời sống

4 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

Trang 6

a Phương pháp quan sát tham dự:

Chúng tôi đã đến Hợp tác xã (HTX) Mây tre lá Vĩnh Phước ở thị xã Ninh Hòa để quan sát các công đoạn đan của các công nhân và nghệ nhân Chúng tôi cũng đã đến tìm hiểu một số cơ sở sản xuất nhỏ phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa Ngoài ra, mỗi thành viên trong nhóm chúng tôi còn tham gia đan thử sản phẩm dưới sự hướng dẫn của các chị công nhân

b phương pháp phỏng vấn :

Nhóm chúng tôi sử dụng phương pháp này để phỏng vấn các công nhân làm việc ở hợp tác xã mây tre lá Vĩnh Phước, thị xã Ninh Hòa Mỗi đối tượng cho chúng tôi một thông tin quan trọng về sự phát triển nghề, qui trình sản xuất, khó khăn thuận lợi, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm ở địa phương

c Phương pháp so sánh:

Phương pháp này giúp chúng tôi so sánh nghề đan mây tre lá ở thị xã Ninh Hòa- tỉnh Khánh Hòa với nghề đan mây tre lá Damyang (Hàn Quốc), từ

đó tìm ra nét đặc sắc của sản phẩm mây tre lá ở hai quốc gia này

5 Giới hạn của đề tài

Vì thời gian và điều kiện có hạn nên nhóm chúng tôi chỉ tiến hành đi sâu tìm hiểu đặc điểm, kỹ thuật đan các sản phẩm mây tre lá ở thị xã Ninh Hòa- tỉnh Khánh Hòa, những khó khăn và thuận lợi của nghề ở địa phương này; cũng như hướng bảo tồn, duy trì và phát triển nghề của chính quyền địa phương Đồng thời, nhóm chúng tôi cũng so sánh với nghề thủ công mây tre truyền thống ở huyện Damyang của Hàn Quốc

6 Đóng góp mới của đề tài

Mặc dù chưa có điều kiện về thời gian, nhóm chúng tôi chưa có dịp đi khảo sát cụ thể tất cả các làng nghề liên quan ở thị xã Ninh Hòa- tỉnh Khánh Hòa và ở Damyang nhưng hy vọng những nỗ lực và tinh thần ham học hỏi; cũng như những ý kiến đánh giá qua lăng kính của nhóm thực tập sinh người nước ngoài chúng tôi, sẽ mang đến cho mọi người một cái nhìn khách quan và những khơi gợi mới về vấn đề nghiên cứu

Đề tài là một cách để chúng tôi giới thiệu một nét văn hóa đặc trưng về nghề mây tre đan, về cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người dân làng nghề

Trang 7

Chúng tôi nghĩ, kết quả nghiên cứu nhỏ này của mình sẽ góp phần kêu gọi sự quan tâm của xã hội nói chung và chính quyền nói riêng nhằm bảo tồn và phát triển các giá trị kinh tế, văn hóa, giúp nghề mây tre đan này có một chỗ đứng vững trong dòng chảy hiện đại hóa, toàn cầu hóa của nhân loại

Do có sự so sánh với nghề đan tre của Damyang (Hàn Quốc), có sự mở rộng về phạm vi nghiên cứu nên đề tài có tính tổng thể, đa đạng hơn Đề tài góp phần tạo sự thông hiểu hơn về kỹ thuật sản xuất,về sản phẩm cũng như đời sống sinh hoạt của người làng nghề của hai nước

Đề tài cũng thể hiện cái nhìn khách quan của người nước ngoài đối với nghề mây tre đan Việt Nam và có những đề xuất phù hợp như kết hợp sản xuất với du lịch làng nghề, làm kinh tế xanh v.v

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

- Ý nghĩa lý luận của đề tài là giới thiệu được những nét văn hóa đặc

trưng, những thông tin về nguyên liệu, kỹ thuật tạo nên sản phẩm, đời sống sinh hoạt của người dân làng nghề v.v… , qua đó chỉ ra vì sao chúng ta phải đi sâu nghiên cứu, quan tâm hơn để bảo tồn nét văn hóa này? Bằng cách nào người làng nghề có thể duy trì sản xuất, ổn định trụ vững được với nghề? Dự đoán hướng phát triển bền vững cho nghề này

- Ý nghĩa thực tiễn đó là hy vọng nghiên cứu nhỏ này có thể góp phần

giúp mọi người hiểu hơn một cách cụ thể về nghề mây tre đan truyền thống của Việt Nam và Hàn Quốc, để thêm trân trọng, yêu chuộng và dùng sản phẩm mây tre đan do chính nước mình tạo ra Đề tài cũng góp tiếng nói kêu gọi chính quyền có những hỗ trợ kịp thời nhằm vực dậy và ổn định đời sống kinh tế người dân làng nghề Với sinh viên các khoa Việt Nam học, Đông Phương học, Hàn Quốc học, đề tài cũng là tư liệu bổ ích để tìm hiểu đời sống, văn hoá của hai dân tộc

8 Kết cấu của đề tài

Báo cáo của gồm thành 3 phần:

Mở đầu: Gồm các vấn đề chung (Tính cấp thiết của đề tài, Tình hình

nghiên cứu, Mục đích nghiên cứu đề tài, Phương pháp nghiên cứu, Giới hạn của đề tài,Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn, Kết cấu của đề tài)

Trang 8

Nội dung chính: Gồm có 3 chương:

Chương 1: Nghề đan mây tre lá ở thị xã Ninh Hòa- tỉnh Khánh Hòa (Việt Nam) Chương 2 : Nghề đan tre ở Huyện Damyang – Tỉnh Jeolla Nam (Hàn Quốc) Chương 3: V ài so sánh nghề đan mây tre lá ở thị xã Ninh Hòa với nghề đan tre

ở Damyang (Hàn Quốc)

Kết luận và Kiến nghị

Ngoài ra, báo cáo còn có phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục (Giới

thiệu các Biên bản phỏng vấn, Nhật ký điền dã và những hình ảnh liên quan

đến đề tài)

Trang 9

CHƯƠNG 1 NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ MÂY TRE LÁ THỊ XÃ NINH HÒA – TỈNH KHÁNH HÒA

1.1 KHÁI QUÁT VỀ THỊ XÃ NINH HOÀ VÀ HỢP TÁC XÃ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ MÂY TRE LÁ VĨNH PHƯỚC

1.1.1 Khái quát về thị xã Ninh Hòa

có nhiều địa danh nổi

tiếng như chiến khu

Trang 10

1.1.2 Hợp tác xã Mây tre lá Vĩnh Phước

Hiện nay, huyện Ninh Hòa có 8 doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá Nghề thủ công mỹ nghệ mây tre lá ở Ninh Hòa mới phát triển mạnh khoảng 5 năm gần đầy, các doanh nghiệp trên địa bàn huyện đã giải quyết việc làm cho khoảng 700 lao động thường xuyên và hơn 7000 lao động nông nhàn với thu nhập bình quân 700- 800 ngàn đồng một người/ một tháng

Nghề thủ công mỹ nghệ mây tre lá không cần doanh nghiệp có quy mô nhà xưởng lớn Bởi lẽ phần lớn doanh nghiệp sử dụng lao động nông nhàn Người lao động có thể mang vật liệu về làm tại gia đình Khi sản phẩm hoàn thành, các doanh nghiệp sẽ tập hợp lại để giao cho đối tác

Hợp tác xã Vĩnh Phước thành lập được 35 năm Tiền thân của HTX Sản

xu ất kinh doanh hàng Thủ công mỹ ngh ệ Vĩnh Phư ớc là sự khởi đầu của Tổ hợp

Nguyên Lập, được thành lập và ra đời vào năm 1978 Mục tiêu khởi nghiệp của

Tổ hợp Nguyên Lập lúc bấy giờ chủ yếu là sử dụng công lao động nông nhàn

và nguyên liệu bằng lá buông sẵn có tại địa phương Tổ hợp Nguyên Lập do

nhà một thành viên của Tổ hợp tại xã Ninh Đa, để mở rộng sản xuất và phù hợp

Hòa để làm nhà kho, nơi sản xuất và văn phòng giao dịch

đến năm 1990, HTX hoạt động trong cơ chế bao cấp, mọi công việc từ sản xuất

Trang 11

sản xuất trong giai đoạn này còn nhiều thô thiển, đơn điệu, mẫu mã không có gì thay đổi qua nhiều năm sản xuất Bộ máy nhân sự và hành chính hoạt động hoàn toàn phụ thuộc vào các chỉ tiêu phân bổ từ cấp trên nên thiếu sự năng động

mua hàng của Đông Âu sụp đổ, các đơn hàng truyền thống mất hoàn toàn Lúc

cuộc họp để thảo luận và xây dựng quyết tâm, toàn thể cán bộ và xã viên của HTX đều đồng tâm nhất trí đổi mới phương thức sản xuất, đầu tư công nghệ, tổ

mới đầy cạnh tranh khóc liệt

Để phù hợp và huy động thêm vốn, năm 1991 HTX quyết định đánh giá lại toàn bộ vốn liếng để giải quyết cho một số xã viên không còn phù hợp với môi trường mới của HTX nên xin rút ra và rút vốn cổ phần Đây được coi như

là một quyết định táo bạo vì trong giai đoạn này chưa có Luật quy định một cổ đông được mua nhiều cổ phần Với mệnh giá ban đầu là 200.000đ/1 cổ phần và với một số vốn ít ỏi ban đầu này, HTX đã xây dựng được mục tiêu chiến lược

rõ ràng và minh bạch, cộng với lòng quyết tâm cao độ của toàn thể Cán bộ xã viên của HTX Trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, những năm qua, HTX

đã thu được những thành công to lớn, doanh thu hàng năm tăng bình quân từ 30 – 50%, lợi nhuận chia theo vốn góp được nhân lên gấp nhiều lần, nộp ngân sách năm sau hơn năm trước Lương của người lao động ngày càng được thỏa mãn, giải quyết được nhiều lao động chưa có việc làm tại địa phương Hỗ trợ các phong trào phúc lợi của địa phương

Năm 1997, Luật HTX mới ra đời Việc ra đời của Luật HTX mới như tiếp thêm sức mạnh và cơ chế để HTX mạnh dạn tăng vốn và tăng mệnh giá cổ phần Đến năm 2003, mệnh giá đã lên đến 4.000.000đ/1 cổ phần Từ giai đoạn này trở về sau, HTX Vĩnh Phước đã được biết đến như một thương hiệu nổi

Trang 12

tiếng trong ngành TCMN Các mẫu mã mới liên tục được đưa ra thị trường Sản phẩn của HTX lần lượt được xuất đi các nước trên thế giới như: Nhật, Đức, Pháp, Ý, Thuy Điển, Hà Lan, Úc, NewZeland v.v… Từ khi chuyển đổi hình thức hoạt động theo luật HTX Với cơ chế thông thoáng, HTX đã đầu tư tương đối hệ thống trang thiết bị, máy móc và công cụ; cũng như đào tạo công nhân

để khép kín quy trình sản xuất, tạo ra những sản phẩm khá đa dạng về mẫu mã

và phong phú về chủng loại hàng hóa HTX đã chủ động khai thác các nguồn nguyên vật liệu, sáng tác mẫu mã mới đồng thời tìm kiếm các đối tác thông qua các công ty thương mại và các công ty nước ngoài để giải quyết đầu ra cho sản phẩm của mình Sản phẩm của HTX hiện nay đã có mặt trên 30 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Đồng thời cũng đang từng bước thâm nhập vào thị trường Mỹ đầy khó khăn nhưng cũng đầy hiệu quả

Trải qua một thời kỳ đầy chông gai thử thách, giờ đây HTX đã thật sự lớn mạnh Từ 50 người với số tiền đóng góp nhỏ nhoi để thành lập tổ hợp, đến nay HTX Vĩnh Phước đã ổn định về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, với 141 xã viên, 677 cổ phần

Hiện nay đơn vị mở ra 4 chi nhánh và 20 vệ tinh nằm ở các xã trong huyện và huyện bạn nhằm cung cấp, đáp ứng kịp thời cho các đơn hàng lớn, đảm bảo số lượng, chất lượng sản phẩm, uy tín của đơn vị với các đối tác trong

và ngoài nước HTX Vĩnh Phước không ngừng nghiên cứu và thay đổi qui tình sản xuất, thiết bị công nghệ hiện đại, luôn mở các lớp đào tạo huấn luyện nghiệp vụ chuyên môn cho công nhân viên Đơn vị không ngừng phát huy năng lực đã góp phần vào việc phát triển nền kinh tế của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung HTX Vĩnh Phước đã trở thành đơn vị điển hình tiêu biểu trong phong trào xây dựng kinh tế tập thể của tỉnh Khánh Hòa

Nhờ đạt được những thành quả lao động đó nên vào ngày 17/4/2003 HTX được cấp giấy chứng nhận của UBND tỉnh Khánh Hòa, là một tổ chức luôn đi đầu và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác sản xuất kinh doanh, chấp hành tốt chính sách pháp luật nhà nước Năm 2004, HTX được phong tặng Huân chương Lao động hạng Ba Đặc biệt năm 2005, được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu: “Anh hùng Lao động”

Trang 13

1.2 nguyên liệu sản xuất chính

Nguyên liệu sản xuất chính của HTX là lá buông, cỏ voi, mây, tre, lục bình,… Trong những năm đầu hoạt động, thường thu mua ở các xã trong huyện

và huyện bạn như Ninh Sim, Ninh Trang, Khánh Vĩnh… Qua thời gian vùng nguyên liệu không đáp ứng nhu cầu sản xuất nên mở rộng thu mua tại các tỉnh Phú Yên, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Thuận, Long An, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long và nước bạn Campuchia

LÁ BUÔNG: Là nguyên liệu phổ

biến trên thị trường, với độ phối màu cao,

được tìm thấy ở rừng Khánh Hòa, Thuận Hải

(Tỉnh Bình Thuận) Lá buông còn tìm được từ

biên giới Việt Nam như: Lào, Campuchia, Thái Lan… Những sản phẩm làm từ

lá buông vừa mang tính nghệ thuật, vừa mang tính thời trang cao

BẸ CHUỐI: Là nguyên liệu có nhiều

màu sắc khác nhau mang bản chất tự nhiên, rất

thích hợp cho các loại sản phẩm nội thất như:

bàn, ghế, tủ, khay, hộp… Những sản phẩm được

làm ra từ lá chuối rất được ưa chuộng trên thị

trường Việt Nam cũng như quốc tế vì bản chất

mang tính vừa cổ kính vừa hiện đại

LỤC BÌNH: Lục bình còn gọi là bèo tây,

người ta tìm thấy ở ao, hồ, sông… Sản phẩm làm từ

lục bình cũng như lá chuối nhưng dễ nhận ra vì nó

gần như đồng nhất màu sắc, có độ mượt và trơn cao

CỎ VOI: Là một trong những thực vật

có lá và rễ chằng chịt Những sản phẩm làm bằng

cói có thể kết hợp được lá buông se như: giỏ,

chiếu, mành… Về mặt hàng giỏ thì cỏ voi bọc

bên trong, lá buông bên ngoài tạo sự vững chắc

và có độ chịu đựng tốt

Trang 14

MÂY: Là nguyên liệu cứng và đa dạng chủng loại, có hàng trăm loại

khác nhau, mây càng lớn thì càng không bị gãy

Mây được trồng và lớn lên theo từng loại, mây

cũng giống như tre nhưng ruột đặc chứ không rỗng

như tre Những sản phẩm trang trí nội thất được

- Dạy nghề cho người lao động

4 Sản xuất - xử lý hàng hoàn thiện

Kết hợp với nguyên vật liệu phụ: keo, hóa chất, vải, giấy v.v để ra hàng chính hay xử lý độ ẩm (phòng bảo ôn, sấy, )

5 Đóng gói bao bì, dán nhãn, đóng thùng… (theo yêu cầu của đối tác)

6 Kiểm soát chất lượng

7 Xuất hàng (xuất khẩu)

8 Lập hồ sơ xuất khẩu (hồ sơ hải quan)

1.3.2 Qui trình sản xuất một số sản phẩm:

cơ bản, một sản phẩm thường trải qua các khâu sau:

- Đan: Có rất nhiều kiểu đan (đan trực tiếp tạo thành hình dáng sản phẩm, tạo khung sắt, gỗ; đan theo kích thước, hình dáng quy định…)

- Vệ sinh, cắt tỉa, khò (dùng lửa – bình ga)

- Làm màu: Có 2 cách làm màu hàng đan

+ Nhuộm

Trang 15

+ Hoặc sơn

- Nhúng keo: để sản phẩm chắc chắn, cứng

- Phơi khô: phơi nắng hoặc lò sấy

- Chọn lựa, nắn chỉnh hàng (khi hàng hoá chưa khô hẳn)

- Vệ sinh, cắt tỉa lần cuối

- Đóng gói

- Chống mối, mọt cho hàng đan:

+ Tránh mọt:

Luộc dầu (mây)

Ngâm vào nước vôi trong (tre)

Xông lưu huỳnh (mây, tre)

Sử dụng thuốc chống mối mọt

Gỗ: sấy áp lực chân không để hút hết nước đường, không khí trong tế

bào gỗ và cho hoá chất thẩm thấu bên trong

Trang 16

1.4 Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ mây tre lá ở Ninh Hòa

Sản phẩm mây tre lá ở thị xã Ninh Hòa có nhiều loại: sản phẩm bằng mây tre đan, lá buông , lá chuối, cói, lục bình v.v… Những sản phẩm đó chủ

yếu được sản xuất ở HTX Mây tre lá Vĩnh Phước

1.4.1 Thùng tròn

- Nguyên liệu: Lá buông

1.4.2 Rổ vuông:

- Nguyên liệu: Lá buông

1.4.3 Tạp chí cánh én:

Trang 17

Giỏ các loại

Trang 18

Đế ly, tựa lưng ghế Thùng hộp

Trang 19

CHƯƠNG 2 NGHỀ ĐAN TRE Ở HUYỆN DAMYANG

2.1 Vài nét về Huyện Damyang – Tỉnh Jun La Nam

2.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Damyang nằm phía Bắc của

tỉnh Jun La Nam, phía Đông Bắc huyện

Damyang giáp với huyện Sun Chang, phía

Đông giáp với huyện Gok Sung, huyện

Hwa Soon, phía Nam giáp với thành phố

Qwang Ju, phía Tây giáp với huyện Jang

Sung Còn phía bắc có dãy núi NoRyung,

phía Tây có núi ByungPung, núi BulDae,

phía Đông Nam có núi MuDung Như vậy,

huyện Damyang là một trong những thung

lũng đẹp Phía Tây Nam của huyện Damyang

giáp với cánh đồng JeollaNam

Tên của Damyang được gọi từ thời đại

Bản đồ Huyện Damyang

Cao Ly Khu vực hành chính của huyện Damyang được cấu tạo gồm 1 thị trấn (Damyang), 11xã: BongSan, GoSeo, Nam, ChangPyoung, Daeduk, MuJung, KutôiSung, Yong, WeolSan, SuBuk, DaeJeon Khu vực hành chính Huyện Damyang được hình thành rõ rệt vào năm 1914 (thời thực dân Nhật)

Diện tích của huyện Damyang là 455km2 và dân số là 20,431 hộ 47,886 người (dân số theo tiêu chuẩn thống kê tháng 12 năm 2009), trong đó, dân số chủ yếu tập trung ở thị trấn Damyang (14,234 người)

Dân số của Huyện Damyang có sự thay đổi qua các giai đoạn như sau :

Trang 20

(Nguồn : Uỷ ban Nhân dân Huyện Damyang)

2.1.2 Tình hình kinh tế - văn hóa:

Huyện Damyang thuộc vùng ôn đới nam bộ, nằm tại khu có nhiều núi

rừng, nhiệt độ bình quân là 12.5℃, lượng mưa bình quân là 1.300mm/năm, nằm ở vĩ độ 35.07 độ ~ 35.27 độ Bắc , 127.04 độ ~ 126.51 độ kinh đông, được bao bọc xung quanh bởi dãy núi cao thấp như một tấm bình phong che gió Sông Youngsan chảy xuyên qua đồng bằng Damyang nên thổ nhưỡng màu

mỡ, điều kiện môi trường rất thích hợp để trồng tre, trúc Đặc biệt, từ giữa tháng 3 đến cuối tháng 5, lượng mưa khoảng 300mm và nhiệt độ thời điểm này rất thích hợp cho tre sinh trưởng và phát triển ở Damyang

Nghề nghiệp chủ yếu của huyện Damyang là nông nghiệp, giống như các huyện khác Đặc biệt, huyện Damyang nổi tiếng về sản phẩm thủ công mỹ nghệ tre đan Sản phẩm thủ công mỹ nghệ tre đan của Huyện Damyang không những được đánh giá cao trong nước mà còn có giá trị xuất khẩu ra nước ngoài Đập (đê) Damyang cung cấp nước (nước tưới tiêu) cho nông nghiệp Diện tích đất trồng trọt là 122.9 km2, tỉ lệ đồng lúa (đất ruộng) và đồn điền (đất điền) là 74 : 26 Nông sản chủ yếu là gạo, lúa mạch đen, đậu, bông chưa tinh chế, kén tằm, tơ lụa, vải vóc bằng sợi gai dầu…

Huyện Damyang có Quốc lộ, có thể đi qua đi lại cả hai hướng (Nam và Bắc ), ở đây có nhiều đường địa phương tập trung vào huyện Damyang Ngoài

Trang 21

ra, sau khi đường cao tốc Olympic 88 khai thông, giao thông huyện Damyang trở nên rất thuận lợi, góp phần giúp cho hoạt động kinh tế huyện Damyang có những biến chuyển lớn

2.2 Nghề thủ công mỹ nghệ tre đan ở Damyang

2.2.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển

Nghề thủ công đan tre trúc dự đoán được bắt đầu từ thời đại Triều Tiên

(Chosun) Sách Chusungji ghi rằng có đôi vợ chồng già họ Kim, từ vùng Junju

chuyển đến Damyang, và lúc nông nhàn họ tranh thủ làm lược tre chải tóc Ngoài ra, cùng thời gian đó, nón tre và chiếu tre cũng được làm ra tại Damyang Vào thời thực dân Nhật cai trị, việc sản phẩm đan tre đã xuất khẩu sang Mông

Cổ và các nước khác là căn cứ chứng minh cho câu chuyện trên

Sản xuất thủ công mỹ nghệ đan tre bắt đầu đi vào hệ thống, có tổ chức

thể hiện rõ qua việc thành lập Tổ hợp sản xuất Lược tre (1919), Liên hiệp tổ

hợp Công nghiệp (1926) Thời kỳ đánh dấu sản xuất hóa là sau những năm

1930 bởi vì hầu hết các công cụ dùng sản xuất các sản phẩm tre đan đều được chế tạo vào thời kỳ này, và nhờ vậy mới có thể sản xuất sản phẩm tre đan với qui mô lớn, hàng loạt

Từ năm 1960, chính phủ có chính sách hỗ trợ về Công nghiệp đặc thù của địa

phương và Trung tâm thủ công Mỹ nghệ đan tre

ra đời Rồi từ giữa thập niên 70 cho đến năm

1980, chính phủ vạch ra kế hoạch thực hiện 10

năm xúc tiến Thủ công mỹ nghệ đan tre

Damyang Nhằm mở rộng nghề thủ công này,

các cuộc thi liên quan đến thủ công mỹ nghệ tre

đan được tổ chức, đánh dấu thời kỳ phát triển

đan tre Damyang tại Hàn Quốc

vào năm 1961

Trang 22

Hình chợ bán sản phẩm đan Tre ĐamYang tại

Hàn QuốcVào năm 1970

Qua quá trình phát triển, sản phẩm thủ công mỹ nghệ tre đan ở Damyang có nhiều thay đổi

* Thế kỷ 15 : Khung cửi tre được nhồi bông vào để rút chỉ Có nhiều

khung cửi làm bằng gỗ Khi làm, người ta dựa vào tính chất đàn hồi của nan tre cho uốn dẻo vào bên trong Về mặt nguyên lý khoa học và chức năng thì khung cửi ở trình độ cao có hình tròn và hình thẳng hài hòa rất đẹp Ngày xưa, trong bài hát khung cửi có đầy đủ “hỷ nộ ái ố” của nhân sinh

Khung cửi tre - Bảo tàng tre Hàn Quốc

* Thế kỷ 7 : Xuất hiện hộp kim chỉ, lò, cổng, v.v

- Hộp kim chỉ: Bên ngoài sử dụng giấy mỏng

truyền thống Hàn Quốc đính vào, để trang trí nội

thất tạo phong cách riêng

Hộp kim chỉ – Jin Sung công nghệ

Trang 23

Vườn tre sau Bảo tàng tre ở amYang

- Lò : Thùng bỏ than vào, thổi lửa nên không có hoa văn, màu sắc gì cả

* Thế kỷ 18: Sản xuất túi đựng thơ, hộp đũa muỗng, hộp đựng trái cây,

gói thuốc lá, lượt tre, bình hoa tre, hộp cơm, hộp khoai lang, nón, giường, đôi đũa to…

* Hiện nay: Sản phẩm đa dạng hơn: Ly,đũa muỗng, vật liệu cao cấp,

bình trà…

Hình - Bảo tàng tre Hàn Quốc

2.2.2 Nguyên liệu chính và kỹ thuật sản xuất

Nguyên liệu chính của sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Damyang hầu hết là tre Có một

vài loại nguyên liệu khác như

mây mã đề, rơm nhưng mây mã

đề thì rất hiếm và rơm thì chất

Vườn tre sau Bảo tàng tre ở amYang

Trang 24

lượng không bằng tre nên nguyên liệu chủ yếu của sản phẩm thủ công mỹ nghệ vẫn là tre

Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ đan mây mã đềề và rơm

(Jin Sung công nghệ )

Kỹ thuật đan tre truyền thống của Hàn Quốc cũng đa dạng như sau :

Trang 25

2.2.3 Sự đa dạng sản phẩm mây tre đan

Hiện nay, ở Damyang sản xuất khoảng 300 loại sản phẩm thủ công mỹ

nghệ tre đan Trong đó, những loại sản phẩm tiêu biểu là lược tre, mặt ghế,

chiếu tre, sàng lọc , quạt tre, các loại rổ …

Sản phẩm thủ công đan tre nổi tiếng ở Đam Yang - Kỹ thuật Jin sung

2.3 Những nỗ lực duy trì và phát triển nghề đan tre ở Đam Yang

2.3.1 Tổ chức cuộc thi đan tre và đào tạo nghề miễn phí

Nhằm tiếp tục phát triển công nghệ đan tre Damyang, chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân huyện Damyang) hỗ trợ những nghệ nhân và còn tổ chức những cuộc thi đan tre hằng năm, nhằm tạo ra sản phẩm mới Ngoài ra, địa phương cũng đang thực hiện chương trình đào tạo miễn phí nghề dành cho những người về hưu, người già, người dân bình thường v.v Nhưng đối với người Hàn Quốc, nghề này là một trong những nghề được xếp loại 3D (difficult,dirty, dangerous) nên số người tham gia học nghề này dần dần giảm

đi

Trang 26

2.3.2 Tổ chức Lễ hội tre

Lễ hội Tre Damyang được tổ chức từ năm 1999 Mục đích của Lễ hội Tre là nhằm tăng hiệu quả ứng dụng cây tre tự nhiên làm kinh tế, kết hợp phát

triển thu nhập du lịch, văn hóa với sự kích thích mở rộng kinh tế địa phương,

Carnival đường phố Trình diễn nhạc dân gian Cây tre treo đèn ước

tháng 5, trong chương trình lễ hội có trình diễn Nông nhạc dân gian Hàn,

Carnival đường phố, Biểu diễn âm nhạc trong rừng Trúc, Triển lãm tre, Cây tre treo đèn ước nguyện v.v

Người thợ thủ công đan tre đan trực tiếp sản phẩm tại Hội chợ tre

Trang 27

2.3.3 Thành lập Bảo tàng tre Hàn Quốc ở ĐamYang

Bảo tàng chuyên môn về Tre tọa lạc tại

Huyện ĐamYang – nơi nổi tiếng nhất cả nước

về Tre Năm 1966, khởi đầu từ Trung tâm

thủ công mỹ nghệ tre đan nhằm triển lãm bảo

tồn thủ công mỹ nghệ tre đan, trao đổi

thông tin kỹ thuật, giới thiệu buôn bán, sau đó

được đổi thành Viện bảo tàng sản phẩm Tre

đan Đến năm 2003, chính thức được gọi với

tên Bảo tàng Tre Hàn Quốc

Lớp hướng dẫn khách tham

quan làm thử sản phẩm thủ

công mỹ nghệ tre đan

khí hậu của Hàn Quốc

Bảo tàng tre Hàn Quốc ở ĐamYang

Theo thống kê năm 2011, số lượt khách tham quan trong nước đến bảo tàng hằng năm là 144,440 người Số lượt khách tham quan nước ngoài đến bảo tàng hằng năm là khoảng 400 người Phía sau bảo tàng có trồng 104 loại Tre Mục đích là để cho du khách tham quan và thử nghiệm sức sống các loại Tre đó trong môi trường

Ở Bảo tàng tre Hàn Quốc có trưng bày 98 loại sản phẩm thủ công đan

tre truyền thống, 72 loại sản phẩm hiện đại và 405 loại sản phẩm nước ngoài để quảng bá các sản phẩm thủ công mỹ nghệ đan tre của ĐamYang Bên cạnh đó,

Bảo tàng Tre có lớp hướng dẫn khách tham quan làm thử sản phẩm thủ công

mỹ nghệ Tre đan để khách tham quan gần gũi hơn với những vật dụng Tre Nhưng do sự đầu tư của chính phủ còn yếu và còn thiếu về việc cập nhật thông tin nước ngoài nên công nghệ đan tre tre dần dần mất đi và những dự án phát triển nghề này không được thực hiện một cách hiệu quả

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w