Sau cùng chúng tôi nêu kiến nghị giữ gìn nghề thủ công này vì nó phục vụ tốt cho ngành du lịch của thành phố Nha Trang, phục vụ tốt cho người dân sử dụng sản phẩm gốm … - Chúng tôi còn
Trang 1KHOA VIỆT NAM HỌC
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP KHOA NĂM 2013
KÝ ỨC VÀ HIỆN TRẠNG LÀNG GỐM LƯ CẤM (Phường Ngọc Hiệp, Tp Nha Trang, Tỉnh Khánh Hoà)
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Hwang Sarah (105 VNH0028)
Thành viên: Park Hye Yeon (105 VNH0012)
Kim Hyo Jin (08 VNH20) Yun Seong Baek (105 VNH0031)
Người hướng dẫn: PGS.TS Phan Thị Yến Tuyết
Ngành chuyên môn: Dân tộc học/ Nhân học
Khoa Việt Nam học
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………1
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ LÀNG GỐM LƯ CẤM
XƯA VÀ PHƯỜNG NGỌC HIỆP HIỆN NAY Ở TP NHA TRANG………… 5
1.1 Thao tác hoá khái niệm và lý thuyết áp dụng trong đề tài……… 5
1.2 Khái quát lịch sử nghề gốm ở Việt Nam……… 7
1.3 Khái quát về làng nghề gốm Lư Cấm xưa………10
1.4 Khái quát về phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang hiện nay………14
CHƯƠNG 2 – NHỮNG SẢN PHẨM GỐM LƯ CẤM XƯA VÀ NAY VÀ HOẠT
ĐỘNG KINH TẾ VĂN HOÁ CỦA CƯ DÂN LÀM NGHỀ GỐM………….16
2.1.Sản phẩm gốm của làng nghề Lư Cấm xưa………16
2.2 Sản phẩm gốm của làng nghề Lư Cấm, phường Ngọc Hiệp hiện nay… 22
KẾT LUẬN……….28
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 30
PHỤ LỤC……… ………32
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Một trong những nghề thủ công truyền thống lâu đời của người Việt ở Việt Nam
là nghề gốm Khắp đất nước Việt Nam nhiều nơi sản xuất gốm nổi tiếng Chỉ riêng tại tỉnh Khánh Hoà, một tỉnh của miền Trung cũng ít nhất có hai làng nghề gốm khá lâu đời, đó là làng nghề gốm Lư Cấm ở phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang và làng gốm Trung Dõng ở xã Vạn Bình, huyện Vạn Ninh (do thời gian có hạn, đề tài của chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu làng gốm Lư Cấm) Do nhiều nguyên nhân khác nhau về môi trường sinh thái, về biến đổi kinh tế, văn hoá, xã hội nên cho đến nay nghề gốm ở Việt Nam nói chung và nghề gốm ở tỉnh Khánh Hoà nói riêng có xu hướng mất dần Nếu không nghiên cứu và có biện pháp can thiệp phù hợp và kịp thời thì chúng tôi e ngại nghề gốm nơi đây sẽ không còn tồn tại, trong khi chủ trương bảo vệ di sản văn hoá của tỉnh Khánh Hoà quan tâm đến các nghề thủ công truyền thống ở địa phương Chính vì lý do
đó nên việc khảo sát nghề làm gốm mang tính cấp thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Tìm hiểu về làng nghề gốm Lư Cấm chúng tôi đã tìm thấy hai văn bản tài liệu cổ
viết bằng chữ Hán- Nôm, đó là Tưởng niệm phương danh công đức tiền nhân đình Lư Cấm, tài liệu đề cập đến làng Lư Cấm, đình làng và việc thờ vị tổ nghề
gốm của làng Tài liệu này còn nhiều thông tin liên quan đến lịch sử ở địa phương Về đình làng Lư Cấm hiện có hai tài liệu chuyên khảo về đình do Sở Văn hoá thông tin Khánh Hoà và Trung tâm QLDT- DTTC tổ chức thực hiện Đây là những tài liệu bổ ích cho chúng tôi trong việc tìm hiểu lịch sử làng, dân
cư và nghề gốm tại đây Một tài liệu khác là Làng cổ Nha Trang của Trần Việt
Kỉnh, xuất bản 2004 cũng dành một số trang viết về làng Lư Cấm Uỷ ban nhân dân phường Ngọc Hiệp (tức địa bàn làng Lư Cấm trước kia) cũng cung cấp cho chúng tôi sơ nét về cư dân, cơ sở kinh tế và tín ngưỡng tôn giáo của phường
Trang 4Ngoài ra chúng tôi còn dựa vào nguồn tài liệu internet chủ yếu có 3 website: tỉnh Khánh Hoà (Cổng thông tin điện tử); Du lịch Việt Nam và Du lịch Khánh Hoà
về nghề gốm của tỉnh
Là những sinh viên nước ngoài lần đầu tiên đi thực tế, lần đầu tiên đến vùng đất Nha Trang để tìm hiểu nghề gốm trong khi vốn tiếng Việt của chúng tôi còn hạn chế nên chúng tôi hết sức cố gắng phỏng vấn để có nhiều tài liệu cho mình Việc thực hiện công trình nghiên cứu khoa học này chủ yếu dựa vào tài liệu điền dã của nhóm sinh viên chúng tôi và chúng tôi cũng được tham khảo thêm tài liệu điền dã của cô giáo hướng dẫn thực tế của nhóm Cô đã giảng giải cho chúng tôi rất nhiều điều và chỉ dẫn chúng tôi biết cách nhập liệu, biết hệ thống tài liệu, thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học nên chúng tôi đã hiểu tốt về đề tài của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
- Mục đích của chúng tôi làm đề tài này nhằm tìm hiểu nghề thủ công truyền thống của thành phố Nha Trang, một thành phố du lịch nổi tiếng, qua đó hiểu biết thêm về văn hoá Việt Nam mà ngành Việt Nam học của chúng tôi rất cần Ngoài ra nghề gốm tại phường Ngọc Hiệp hiện chỉ còn vài hộ làm, trong tương lai sợ không còn nữa nên chúng tôi phải cố gắng nghiên cứu và muốn nêu kiến nghị bảo vệ nghề thủ công này
Nhiệm vụ của chúng tôi tìm hiểu nghề gốm Lư Cấm ngày xưa và hiện nay, biết được người dân đã làm gốm như thế nào, cuộc sống của họ, ước mong của họ Sau cùng chúng tôi nêu kiến nghị giữ gìn nghề thủ công này vì nó phục vụ tốt cho ngành du lịch của thành phố Nha Trang, phục vụ tốt cho người dân sử dụng sản phẩm gốm …
- Chúng tôi còn có nhiệm vụ hiểu biết từ thực tế để có thể vận dụng chúng vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn liên quan Ngoài ra qua đợt thực tế, sinh viên nước ngoài của Khoa có cơ hội tiếp xúc với cư dân địa phương để hiểu biết cuộc sống của người dân Việt Nam, hiểu biết các ngành nghề thủ công truyền thống để từ đó trải nghiệm và nhận thức về đời sống và văn hoá Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Trang 5Nghề làm gốm ở làng nghề Lư Cấm trước đây và phường Ngọc Hiệp hiện nay là
sự kết nối của nghề gốm trước đây và cuộc mưu sinh nghề làm lò hiện nay Chúng tôi áp dụng các phương pháp đã được học ở lớp như sau:
- Phương pháp quan sát tham dự (participant and observation): Đây là phương pháp đến tận nơi nghiên cứu, quan sát trực tiếp Ở đề tài này chúng tôi tham gia vào không gian người dân chế tác nghề thủ công, cùng làm thử sản phẩm thủ công và học hỏi những kinh nghiệm sàn xuất
- Phương pháp phỏng vấn sâu (in-depth interviewing): Phương pháp trực tiếp phỏng vấn theo bản hỏi đã chuẩn bị sẵn, hỏi kỹ những vấn đề liên quan gần và
xa tới đề tài để thu được thông tin tại chỗ và từ những người có thẩm quyền trả lời chính những vấn đề của họ Chúng tôi phỏng vấn những người thợ thủ công tại lò gốm cùng chính quyền địa phương cũng như một số người dân am hiểu nghề gốm
- Phương pháp phỏng vấn lịch sử qua lời kể (oral history): Phương pháp này nhằm tìm hiểu những việc đã qua còn lưu lại trong ký ức của những người trong cuộc hoặc liên quan đến vấn đề nghiên cứu Chúng tôi tìm hiểu những sản phẩm gốm trước đây do làng gốm Lư Cấm sản xuất, về cuộc sống xưa kia của họ trong không gian làng nghề, trong ngôi đình Lư Cấm cổ xưa Chúng tôi cố gắng so sánh ký ức nghề làm gốm xưa kia của làng gốm Lư Cấm và nghề làm gốm ngày nay của phường Ngọc Hiệp
5 Giới hạn của đề tài:
Đề tài của chúng tôi giới hạn về không gian là phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang Còn giới hạn về thời gian là khao sát từ khoảng năm 1950 đến nay,
vì những người dân lớn tuổi, sống lâu năm ở địa phương này còn nhớ về nghề gốm chủ yếu chỉ từ khoảng thời gian ấy trở lại đây
6 Đóng góp mới của đề tài:
Đề tài của chúng tôi có một số nét mới là:
Trang 6- Tìm hiểu được nhiều sản phẩm gốm Lư Cấm trước đây mà nay không còn, nhờ vậy chúng tôi hiểu được quy mô và kiểu loại sản xuất của làng nghề này thời xưa rất lớn và đa dạng
- Qua phỏng vấn sâu những người dân lớn tuổi từng làm nghề gốm ở đia phương chúng tôi tái hiện được ký ức nếp sinh hoạt, sản xuất xưa của làng nghề cũng như tình trạng sản xuất của nghề làm gốm hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn:
- Ý nghĩa khoa học của đề tài nhằm góp vào cơ sở lý luận lĩnh vực nghề thủ công truyền thống trong ngành văn hoá dân gian (folklore), bổ sung kiến thức văn hoá cho lĩnh vực nghiên cứu Việt Nam học
- Ý nghĩa thực tiễn là đóng góp thông tin về nghề thủ công truyền thống cho UBND tỉnh các ngành chức năng của tỉnh Khánh Hoà, ngoài ra còn dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu ở các trường đại học
8 Kết cấu của đề tài:
Đề tài gồm phần mở đầu, nội dung hai chương và kết luận
Hai chương của đề tài này như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về thành phố Nha Trang, về làng Lư Cấm xưa và phường Ngọc Hiệp hiện nay
- Chương 2: Những sản phẩm gốm của Lư Cấm xưa và nay và hoạt động kinh tế, văn hoá, của cư dân làm nghề gốm
Phần phụ lục gồm: hình ảnh minh hoạ, nhật ký điền dã và biên bản gỡ băng
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ LÀNG GỐM LƯ CẤM XƯA VÀ
PHƯỜNG NGỌC HIỆP HIỆN NAY Ở TP NHA TRANG
1.1 Thao tác hoá khái niệm và lý thuyết áp dụng trong đề tài:
- Đồ gốm là tên gọi chung sản phẩm chế tác từ chất liệu đất sét và hỗn hợp khác
được nung ở nhiệt độ cao Đồ gốm bao gồm đồ đất nung không tráng men hoặc có tráng men, đồ gốm trơn, đồ sành, đồ bán sứ, và đồ sứ Nơi chế tạo các đồ gốm được gọi là lò gốm
- Làng nghề ở Việt Nam là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cư dân, chủ
yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn Việt Nam, có chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại Việt Nam1
- Thủ công nghiệp/ Nghề thủ công (handircafts) là nghề sản xuất hoàn toàn hay
một phần bằng tay những vật dụng trang trí hay tiêu dùng, việc sản xuất đòi hỏi kỹ năng tay chân và cả kỹ năng nghệ thuật2 “Nghề thủ công nói gọn lại là sản xuất chủ yếu bằng tay và công cụ đơn giản, với con mắt và bộ óc sáng tạo của nghệ nhân”3
- Thợ thủ công là người làm nghề tay chân, thường có tính chất truyền thống, họ
làm việc đơn độc hay cùng với thợ bạn hay người học nghề nhằm đem lại thu nhập cho bản thân4
Nghề thủ công truyền thống là nghề mang dấu ấn văn hóa lâu đời của một dân tộc,
một đất nước, có giá trị thể hiện được bản sắc văn hóa, trải qua nhiều thế hệ lưu
truyền Chúng tôi nhận thấy nghề gốm chính là một nghề thủ công truyền thống
1
Wikipedia (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A0ng_ngh%E1%BB%81_Vi%E1%BB%87t_Nam) 2
Từ điển Bách Khoa Encarta
3
Bùi Văn Vượng (1998), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, NXB Văn Hoá Dân Tộc, Hà Nội
4
Từ điển Larousse
Trang 8của người Việt ở Việt Nam và chúng tôi tìm hiểu nghề này dưới góc độ khái niệm
nêu trên
Một nghề được gọi là thủ công truyền thống nhất thiết phải hội đủ 7 yếu tố sau:
1 Đã hình thành và phát triển lâu đời
2 Sản xuất tập trung tạo thành các làng nghề, phố nghề, xóm nghề
3 Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề
4 Kỹ thuật là công nghệ khá ổn định của dân tộc
5 Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất
6 Sản phẩm tiêu biểu và độc đáo, có giá trị và chất lượng cao, vừa là hàng hoá vừa là sản phẩm văn hoá nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành di sản văn hoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá dân tộc
7 Là nghề nghiệp nuôi sống bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp đáng kể của Nhà nước5
Nghề thủ công ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đã phát triển từ lâu đời Tuỳ theo điều kiện của mỗi vùng miền mà hình thành những nghề thủ công đặc trưng riêng Tuy ngày nay xã hội phát triển hiện đại nhưng nghề thủ công vẫn giữ một vị trí nhất định trong xã hội, làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh thần và vật chất của người dân6
Về lý thuyết chúng tôi vận dụng thuyết sinh thái văn hoá (cultural ecology), Sinh thái văn hóa (cultural ecology) là khái niệm đề cập đến cách con người sử dụng
văn hóa để thích nghi với môi trường thiên nhiên cụ thể trong bối cảnh nền văn hóa của họ Con người “thích ứng” với sinh thái tự nhiên tại chỗ để sinh tồn là những quan điểm được sử dụng nhiều trong nghiên cứu nhân học sinh thái hiện nay Quan điểm hệ sinh thái tự nhiên và khái niệm “thích ứng”, hoặc thích nghi, là những quan điểm được sử dụng nhiều trong nghiên cứu nhân học sinh thái hiện nay Khái niệm thích ứng được nhà nhân học Mỹ Julian H Steward đề cập trong
5
Bùi Văn Vượng (1998), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, NXB Văn Hoá Dân Tộc, Hà Nội
6
Trích từ giáo trình điện tử , bài Nghề thủ công truyền thống, môn Văn hóa dân gian của PGS TS Phan
Thị Yến Tuyết (Trường ĐH KHXH& NV TP HCM)
Trang 9phương pháp nghiên cứu sinh thái học vào những năm 20 của thế kỷ XX J
Steward dùng khái niệm thích nghi để lý giải hành vi văn hoá của con người đối
với môi trường tự nhiên Điều này có nghĩa là sự biến đổi và thích ứng văn hoá là một quá trình tương tác giữa văn hoá với môi trường tự nhiên7 Nghề làm gốm phụ
thuộc vào điều kiện nơi sinh sống phải có đất sét, cây rừng để có củi nung gốm Khi vận chuyển đất sét và sản phẩm gốm đã nung để đi bán bằng đường thuỷ thường dễ bị tai nạn nên ngay bến sông của làng có miếu thờ “Hà bá công công” Ngoài ra nơi vùng này thuở xưa có lẽ địa thế nhiều rừng rậm nên tín ngưỡng thờ cúng ‘Sơn lâm chủ tương” (Thần hổ) thể hiện sự thích nghi của người dân với môi trường thiên nhiên
1.2 Khái quát lịch sử nghề gốm ở Việt Nam:
Việt Nam là một trong những quốc gia có nghề gốm xuất hiện khá sớm Theo các tài liệu cổ, gốm đã xuất hiện ở Việt Nam một vạn năm trước đây Sau đây, xin nêu vài nét khát quát sự có mặt của gốm qua quá trình phát triển lịch sử đất nước
Thời tiền sử: những sản phẩm đất nung được phát hiện cho thấy ở giai đoạn đầu
thường thô có pha lẫn cát hoặc các tạp chất khác, được nặn bằng tay, hoa văn đơn giản ở phía ngoài như các vạch chéo, vân sóng, vân chải răng lược Các hoa văn này được tạo ra khi sản phẩm còn ướt, một số được tạo bằng bàn dập hoặc dùng que nhọn để vẽ, vạch.8
Các nhà chuyên môn cho rằng trong suốt thời gian dài, từ lúc phát minh ra đồ gốm tới đầu thời kỳ đồ đồng, phần lớn gốm được hình thành bởi bàn tay của phụ nữ (vân tay để lại trên sản phẩm cho thấy điều đó); được nung ngoài trời, nhiệt độ thường dưới 700ºC Các sản phẩm gốm thời kỳ này là đồ đựng, đồ đun nấu, về cuối ta thấy xuất hiện thêm các loại đồ dùng để ăn uống, trang sức
Thời kỳ đồ đồng: ở Việt Nam (cách đây 4 nghìn năm), hầu hết các sản phẩm gốm
được hình thành bằng bàn xoay một cách khá thành thạo, do vậy tạo nên sự phong
Trang 10phú về chủng loại và kiểu dáng sản phẩm: ngoài các sản phẩm đun nấu còn thấy những sản phẩm gốm để chứa đựng, dụng cụ ăn uống, trang sức, công cụ lao động
và gốm mỹ thuật Về trang trí, gốm đất nung chủ yếu có các hoa văn hình hoạ, nét chìm là chính Một số sản phẩm được xoa một lớp áo bằng nước đất khác màu nhưng chưa phải men Các hoa văn trang trí và cách tạo dáng của gốm giai đoạn này có ảnh hưởng đến tạo dáng và trang trí trên đồ đồng cùng thời
Thời đại đồ sắt: gốm đất nung được sản xuất hầu như khắp các vùng trong nước
Chất lượng gốm còn non lửa và vẫn thô sơ nhưng về tạo dáng và trang trí thì chưa
có thời kỳ nào đặc sắc và phong phú bằng Hiện vật thời kỳ này cho thấy nghề gốm vẫn gắn bó với nghề nông nhưng nam giới đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất
Đến thế kỷ 2 trước Công nguyên Việt Nam bị rơi vào ách thống trị của phong kiến phương Bắc Nghề gốm tiếp tục phát triển trên vốn kinh nghiệm cổ truyền, có tiếp thu ảnh hưởng của gốm Trung Hoa Về chủng loại sản phẩm, xuất hiện thêm loại gốm kiến trúc như gạch, ngói Ngoài ra còn có các tượng động vật nhỏ như lợn, bò với kiểu nặn sơ sài Phong cách gốm thời kỳ này mang phong cách Hán hoặc kết hợp hoa văn Việt và hoa văn Hán Nhiều sản phẩm gốm Hán khác được cải biên theo phong cách Việt
Thời Lý - Trần: thế kỷ 10 đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam Thời kỳ
phục hồi độc lập dân tộc sau hơn mười thế kỷ đô hộ của phong kiến Trung Hoa Suốt bốn thế kỷ, từ nhà Lý sang nhà Trần, đồ gốm đạt được những thành tựu rực
rỡ Quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm, chất liệu đều được mở rộng9 Nhiều loại men được ứng dụng và ổn định về công nghệ Đặc biệt men trắng cũng xuất hiện ở thời kỳ này ngoài men tro và men đất Ba yếu tố cơ bản tạo nên vẻ đẹp của
đồ gốm là hình dáng, hoa văn trang trí, men màu Sự phát triển của kỹ thuật và trình độ thẩm mỹ cao đã tạo nên sản phẩm gốm thời kỳ này có ba loại nổi tiếng là gốm men trắng ngà chạm đắp nổi, gốm hoa nâu, gốm men ngọc
9
Nguồn: http://www.web-du-lich.com/dich-vu/news_Gom-su-co-truyen_11_141_1304.html
Trang 11Về tạo dáng gốm Lý - Trần ngoài những hình mẫu trong thiên nhiên như hoa, quả
là cách tạo dáng của những đồ đồng trước đó Trang trí trên gốm Lý - Trần, hoa văn hình học chiếm vị trí phụ Những hoạ tiết chính ở đây là hoa lá, chim, thú, người Hoa văn trang trí với cách miêu tả giản dị, mộc mạc rất gần gũi với thiên nhiên và con người Việt Nam Một đặc điểm nữa là nét chìm được làm "bè" ra, một bên rõ cạnh, một bên biến dần vào sản phẩm, làm chỗ chảy dồn men, tạo nên
độ đậm nhạt cho hoạ tiết như trên gốm men ngọc hoặc làm giới hạn để tô nâu
Về kỹ thuật, lò nung cho gốm thời Lý - Trần có một bước tiến lớn như việc sử dụng các lò cóc, lò nằm, có khi cả lò rồng để nâng nhiệt độ nung cho sản phẩm lên đến 1200ºC – 1280ºC Việc sử dụng bao nung và kỹ thuật nung chồng bằng con kê (lòng dong) được ứng dụng rộng rãi đối với nhiều loại sản phẩm đã cho thấy đạt trình độ sản xuất gốm cao cấp, nhất là gốm men ngọc Nhiều địa phương sản xuất gốm ở Thanh Hoá, Hà Nội, vùng Nam Định chứng tỏ sự hình thành gốm tập trung và mang tính chuyên nghiệp
Gốm Lý - Trần đã tạo nên sự chuyển hoá bước đầu giữa yêu cầu sử dụng với chất liệu Điều này nó thể hiện bước tiến bộ về mặt kỹ thuật và nghệ thuật, phản ánh tư tưởng duy lý trong quá trình sáng tạo gốm và ứng dụng nó vào đời sống một cách tốt đẹp nhất, phù hợp nhất
Sau thế kỷ 14: nhiều trung tâm sản xuất gốm chuyên môn hoá nổi tiếng như Bát
Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh, Hàm Rồng, Mỹ Thiện, Phú Vinh chứng
tỏ sức sống mạnh mẽ của nghề Nhiều sản phẩm gốm ghi lại địa phương, ngày tháng và người sáng tạo ra nó Nhiều quốc gia đã nhập gốm từ Việt Nam, đặc biệt thợ giỏi của Nhật Bản còn bắt chước gốm của Việt Nam
Tiêu biểu cho kỹ thuật và nghệ thuật gốm Việt Nam thời kỳ này là gốm hoa lam; gốm chạm đắp nổi tinh tế, có bản sắc riêng Ngoài ra còn có loại gốm vẽ men mà người Nhật thời đó trong trà đạo rất ưa chuộng, gọi là "Hồng An Nam"
Về kỹ thuật, các loại lò rồng cỡ lớn đã được sử dụng khá rộng rãi, nhiệt độ và chế
độ nung, điều khiển lửa một cách chủ động Loại men tro trấu, tro cây được dùng
Trang 12nhiều Kỹ thuật vẽ hoa đã đạt tới trình độ thành thục, nét trang trí phóng bút mang nhiều chất hội hoạ
Đến thời Nhà Nguyễn: Vào đời Gia Long (đầu thế kỷ 19), nghề gốm có dấu hiệu
xuống dốc bởi việc nhập gốm từ Trung Hoa theo các đơn đặt hàng của triều đình Huế Một vài cơ sở sản xuất gốm ở Biên Hoà, Lái Thiêu đã phát triển một loại gốm men lửa trung (thường gọi là gốm Biên Hoà) được sử dụng khá rộng rãi ở các địa phương lân cận Đầu thế kỷ 20, ở miền Bắc, một vài cơ sở đã nhập thiết bị từ nước ngoài và nghiên cứu sản xuất đồ sứ, nhưng kết quả không đáng kể
Trong những năm chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, người Việt Nam không
có điều kiện để phát triển nghề thủ công nói chung và nghề gốm nói riêng Nghề gốm bị sa sút và có lúc tưởng chừng bị mất nghề Sau ngày đất nước thống nhất, hầu hết các nghề thủ công được hồi sinh, trong đó nghề gốm là một nghề đã được khôi phục và phát triển rất nhanh Nhiều trung tâm gốm trở lại hoạt động sôi nổi
và rất năng động như Bát Tràng, Đông Triều, Phù Lãng, Biên Hoà May mắn thay, các lớp nghệ nhân cũ vẫn còn và các lớp nghệ nhân mới đang xuất hiện Sản phẩm gốm của Việt Nam từ lâu đã là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao và hiện nay nó còn là một mặt hàng lưu niệm không thể thiếu đối với nhiều du khách gần xa.10
1.3 Khái quát về làng Lư Cấm xưa:
Thôn Lư Cấm được hình thành như sau: theo lời của các bậc cao niên truyền lại thì ngày xưa cả vùng này có một tên gọi chung là làng Ngọc Toản Làng Ngọc Toản do giòng họ Nguyên khai phá lập làng và góp công xây đình Ngọc Toản, nhưng sau đó một số giòng họ trong làng và họ Nguyễn có chuyện bất hòa trong
cuộc sống về đất đai canh tác nên họ tách riêng thành hai làng, đó là làng Lư Cấm
và Làng Ngọc Hôi vào khoảng năm 1825 Họ Nguyễn tôn tạo nên đình Lư Cấm
trên nền cũ của ngôi miếu thờ ông tổ nghề gốm của làng (Đào Lư Nghệ) Vị trí đình Lư Cấm từ ngày đó đến nay không thay đổi, còn đình Ngọc Toản thành đình Ngọc Hội Thời gian lập đình Lư Cấm chính xác lúc nào không ai còn nhớ, nhưng
10
Nguồn: http://www.web-du-lich.com/dich-vu/news_Gom-su-co-truyen_11_141_1304.html
Trang 13căn cứ vào những tấm hoành phi, câu đối ở trong đình còn giữ được thì biết nó đã
có cách đây 122 năm (năm Bính Tý – Tự Đức tam thập tam niên) tức vào năm
1874 Quá trình hình thành ngôi đình Lư Cấm là do ông bà tổ tiên họ Nguyễn đứng ra xây dựng và cùng với dân làn Lư Cấm gìn giữ cho đến ngày nay.11Hiện nay những ngôi mộ tổ của họ Nguyễn còn nằm ở đất Ngọc Hội và trong đình Ngọc Hội còn lưu giữ bia đá ghi lại công đức của họ Nguyễn ngày xưa đã đóng góp nhiều công lao trong việc nuôi quân Tây Sơn khi phong trào Tây Sơn vào đến Khánh Hòa (Nội dung tấm bia này đã được Hội bảo vệ văn hóa cổ truyền thành phố Nha Trang dịch ra tiếng Việt và còn lưu giữ tại nhà ông Nguyễn Phương Nam, con cháu Tiền hiền họ Nguyễn) Như vậy hai làng Ngọc Hội và Lư Cấm có chung một Tiền Hiền họ Nguyễn Theo các cụ hào lão trong làng Lư Cấm và dựa vào những văn tự viết bằng chữ Hán còn lưu giữ được trong đình Lư Cấm cho thấy có thờ một vị họ Trần (không rõ tên) làm Thành Hoàng bổn cảnh Ngoài ra đình Lư Cấm vẫn còn lưu giữ những cổ vật như câu đối, hoành phi, dấu vết của ngôi miếu nhỏ thờ vị Tổ nghề làm đồ gốm (Đào Lư Nghệ)
Ngày xưa các bậc Tiền Hiền họ Nguyễn giàu có nhất vùng này (phường Ngọc Hiệp hiện nay), đã xây chợ, làm cầu và đường sá trong làng (Khuôn viên của chọ hiện nay vẫn còn- đối diện với UBND phường Ngọc Hiệp) Trước kia, phía trước chợ có dòng sông chảy qua, nay dòng sông đã bị bồi lấp Ngày ấy, ghe thuyền đi lại tấp nập, chuyên chở, buôn bán các sản phẩm đồ gốm làng Lư Cấm Đình làng
Lư Cấm còn lưu giữ liễn đối, sắc phong của các triều đại phong kiến trước kia Nội dung của các câu liễn đối mang nhiều ý nghĩa về nghề nghiệp làm đồ gốm – một nghề thủ công truyền thống của cả làng, và nghề gốm ấy còn truyền đến ngày nay Đình Lư Cấm lúc đầu (thời Tự Đức) được xây bằng ghè ống12, đến năm 1962 thì toàn bộ ngôi đình được trùng tu, thay bằng loại gạch như hiện nay Ghè ống vẫn còn ở vách hậu của đình, nhưng chỉ còn ở phần móng nằm sâu dưới đất
Trang 14Như vậy ngoài giá trị và ý nghĩa là một di tích lịch sử của một vùng đất có nghề truyền thống làm gốm đặt biệt của thành phố Nha Trang, đình làng Lư Cấm vừa thờ thần Thành Hoàng vừa thờ vị tổ sư nghề gốm (Đào Lư Nghệ) Không những thế, đình Lư Cấm còn là một chứng tích của hai thời kỳ cách mạng kháng chiến chống ngoại xâm của địa phương Làng Lư Cấm có 23 liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc, được nhân dân lập đài tưởng niệm tại đình Lư Cấm vào năm 199213
Đình Lư Cấm tọa lạc tại số 27 hương lộ Ngộc Hiệp thuộc tổ dân phố số 8 Lư Cấm, phường Ngọc Hiệp thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa Đình Lư Cấm được dựng lên thờ Thành Hoàng bổn cảnh, thờ ông Tổ làm nghề gốm, Tiền Hiền, ngoài ra đình còn thờ Sơn lâm chủ tướng, Hà bá,14
13
Trần Việt Kỉnh (2004), Làng cổ ở Nha Trang, tr 79- 84
14
Sở Văn hoá thông tin KH& Trung tâm QLDT- DLTC, 2006, Lý lịch di tích kiến trúc nghệ thuật đình Lư
Cấm Bản đánh máy, do Ban quản trị đình tặng cho nhóm khảo khảo sát chúng tôi
TH2: Đình này được xây dựng năm 1874, từ khi mà tách làng ra thì …
TL: Mình cũng không nhớ tách làng khi nào vì quá lâu
TL2: Nó có một chuyện nữa thế này Hồi xưa nó chung một cái làng Ngọc Toản
đó Cái cái… cái nghề gốm này là thờ Tổ sư ở một cái miếu Miếu thờ Tổ sư là Đào Nghệ Nhưng sau khi mà tách làng mới xây dựng cái đình Đình đưa miếu
đó vào luôn, theo tài liệu nghiên cứu nó được xây dựng năm 1874
H: Vậy tách làng ra thì đặt tên làng là gì?
TL: Làng Lư Cấm Cái từ Lư Cấm là theo tiếng nôm là lò gốm
H: Và từ khi nào đổi thành là phường Ngọc Hiệp vậy anh?
TL:Năm 1970 là là trường hợp thế này, tất nhiên là hồi trước đó, ở đây nó thuộc
xã Vĩnh Ngọc
H: Đầu tiên nói là Ngọc Toản sau đó là làng Lư Cấm rồi còn là gì nữa ạ?
TL: Ghi rõ là Ngọc Toản, rồi đổi Lư Cấm từ làng Ngọc Hội
(Trích biên bản phỏng vấn số 3)
Trang 15Đình Lư Cấm không rã được xây dựng chính xác vào năm nào nhưng căn cứ vào các hoành phi, câu đối, đại tự và sắc phong thì đình làng có niên đại vào cuối thế kỷ 19 (1874), được xây dựng trên một nền móng cũ là một cái miếu bổn thợ của nghề gốm ( Đào Lư Nghệ)
Ngôi đình của cư dân trong làng chuyên nghề làm gốm nên có những di tích như các bức hoành phi, câu đối liên quan với nghề gốm:
Thiên địa lô trung thành mỹ chất
Chân đào trạch lý lạc khởi tài
Tạm dịch:
(Nung luyện trong lò trời đất thành đất tốt
Giáo hóa thấm nhuần vui vẻ phát tài)
Hoặc:
Đạo củ tuần quy ca đế tắc
An cư lạc nghiệp phố hà tân
Tạm dịch:
Noi theo khuôn mẫu ca phép đế
An cư lạc nghiệp phổ bến sông
Đặc biệt nhất là hai câu dưới đây thể hiện nghề gốm rõ rệt nhất:
Quy chuẩn dực vào tổ tiên truyền lại
Chọn được đất tốt, khéo tay làm nên gốm đẹp
Ngay gian giữa có một bức hoành phi bằng gỗ:
ĐÀO NGHỆ MIẾU ( MIẾU THỜ TỔ NGHỀ GỐM)15
Trang 16Hiền là ban thờ Hà Bá chi vị (Thần Sông) Ngoài ra còn có ban thờ “Âm cô và tả chiêu hữu mục”, Phía tay phải là ban thờ “Âm hồn”
Hàng năm đình Lư Cấm tổ chức cúng lớn 2 lần trong năm, cúng Xuân và cúng Thu Cúng Xuân vào một ngày trong tháng giêng và cúng Thu vào ngày
trong tháng 8 âm lịch và cúng Thu là lễ chính và lớn nhất “Xuân kỳ Thu tế”, tức
là mùa Xuân thì cúng cầu an cho dân chúng trong làng, còn hết mùa mưa, tháng 8 cúng Thu để tạ ơn thần linh và Tổ nghề gốm
Đình Lư Cấm Được xây dựng vào thế kỷ 19, toàn bộ kiến trúc được dựng bằng gỗ, nay đã thay đổi phần hồi nhưng hệ thống kiến trúc bên trong vẫn còn nguyên giá trị Những hình ảnh và hoa văn trang trí tại di tích mang đậm giá trị mỹ thuật, lịch sử thuộc kiến trúc triều Nguyễn16
1.4 Khái quát về phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang hiện nay:
Nguyên trước đây (1653) khi chúa Nguyễn Phúc Tần lấy được vùng đất Khánh Hòa ngày nay lập thành hai phủ và 5 huyện: Thái Khang và Diên Ninh Sự thay đổi các đời vua triều Nguyễn dẫn đến sự thay đổi địa bạ và địa danh các vùng đất Năm 1803 dinh Bình Khang đổi thành dinh Bình Hòa, năm 1808 đổi thành trấn Bình Hòa, đến năm 1832 đổi thành tỉnh Khánh Hòa Năm 1803 đổi dinh thành phủ Ở phủ Diên Khánh, sau khi lập tỉnh bỏ huyện Hoa Châu sáp nhập vào huyện Phước Điền Như vậy tỉnh Khánh Hòa được thành lập vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng gồm 2 phủ và 4 huyện Lúc này đình Lư Cấm thuộc xã Vĩnh Ngọc, tổng Xương Hà, huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa Trải qua thời gian, các đơn vị hành chính thay đổi nhiều lần Năm 1970 thị xã Nha Trang có 2 quận, ấp Lư Cấm thuộc xã Vĩnh Ngọc thuộc địa phận quận 1 ( quận Vĩnh Xương) Theo nghị định số 357-ĐUHC/NC/NĐ ngày 5-6-1971 thị xã Nha Trang được chia làm 11 khu phố, Ngọc Hiệp là một khu phố trong số đó.Nghị định số 553-BNV/HCĐP/NV ngày 22-8-1972 đổi các khu phố thành phường Ngày 30/3/2977 theo quyết định số 391-CP/QĐ của Hội đồng Chính phủ nước
16
Sở Văn hoá thông tin KH& Trung tâm QLDT- DLTC, 2006, Lý lịch di tích kiến trúc nghệ thuật đình Lư
Cấm., tr.13
Trang 17Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thị xã Nha Trang nâng lên cấp thành phố trực thuộc tỉnh Sát nhập vào thành phố Nha Trang 7 xã của huyện Vĩnh Xương cũ, trong đó có xã Vĩnh Ngọc17
Nghề gốm Lư Cấm hiện nay thuộc địa bàn của phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà
Phường Ngọc Hiệp ở phía Tây thành phố Nha Trang, giáp ranh với 7 xã, phường khác: Phương Sơn, phương Sài, Vạn Thắng, Vĩnh Phước, Vĩnh Hải, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Hiệp Diện tích tự nhiên của phường Ngọc Hiệp là 346,8 ha, thuộc địa hình đa dạng Diện tích sông ngòi là 74 ha, diện tích trồng rừng là 19,8 ha Một số
tổ dân phố của phường bị chia cắt bởi dòng sông Cái (tổ 13, 14 Ngọc Thảo và tổ
15 Ngọc Sơn) Toàn phường có 4.771 hộ gia đình với 19.776 khẩu Phường bao gồm 15 tổ dân phố, người dân chủ yếu kinh doanh buôn bán nhỏ, lao động phổ thông…Đời sống kinh tế của người dân còn khó khăn Trước đây vùng này còn cói nên khá nhiều hộ dân dệt chiếu, nhưng hiện nay do đất trồng cói bị quy hoạch nên người dân địa phương mất luôn nghề thủ công này Riêng nghề gốm chỉ còn 3
hộ còn làm Phường có 08 cơ sở tôn giáo, gồm 7 chùa (Kim Long, Phổ Tịnh, Quan Thánh, Đào Viên, Phổ Tế, Ngọc Trang, Ngọc Thuỷ), 1 nhà thờ Công giáo (giáo xứ Ngọc Thuỷ), 7 miếu (2 miếu của người Hoa là miếu bà Phước Triều, Hải Nam, miếu Đông An, miếu Am Cô- Vĩnh Điềm, miếu Lò Gạch- Ngọc Hội, miếu Thuộc-
Lư Cấm, miếu Chò Vò- Vĩnh Hội), 4 ngôi đình (Vĩnh Điềm, Ngọc Hội, Lư Cấm, Vĩnh Hội)18
Trang 18
CHƯƠNG 2
NHỮNG SẢN PHẨM GỐM CỦA LƯ CẤM XƯA VÀ NAY VÀ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VĂN HOÁ CỦA CƯ DÂN LÀM NGHỀ GỐM
2.1 Sản phẩm gốm của làng nghề Lư Cấm xưa:
Trước đây chưa có các đồ dùng bằng nhôm, gang, nhựa, thuỷ tinh như ngày nay mà người ta chủ yếu chỉ dùng đồ đất nung nên nhu cầu sử dụng đồ gốm rất cao Hầu hết cư dân làng gốm Lư Cấm đều làm gốm, các lò gốm hoạt động suốt ngày đêm, thợ thủ công hoạt động tấp nập Cho tới nay làng gốm Lư Cấm đã trải qua khoảng 200 năm, các lò gốm ở đây đều cha truyền con nối qua nhiều thế hệ Trước đây do nhu cầu sử dụng đồ dùng bằng gốm cao, phải sản xuất nhiều nên lò
gốm của làng Lư Cấm đều là lò úp (loại lò rất to) Sản phẩm của làng gốm Lư
Cấm rất đa dạng Theo danh mục tổng hợp được19như sau:
Trang 193 Đồ dùng nhà bếp / nấu ăn:
- Cái chõ nấu xôi
- Nồi lớn/ vừa/ nhỏ
- Cái trả (trả trứng thì lớn, trả trà thì nhỏ)
- Khuôn mỏ vịt (loại bếp giống cái cà ràng, chụm củi)
- Bếp đầu ông táo (dùng than)
- Ghè ống (một loại hũ hình ống, hai đầu bằng nhau, dùng dựng đường chảy, mật mía…)20
- Hũ đựng mắm
- Cối đâm/ giã muối
- Cái chưn củi (còn gọi là cái cù lao, dùng 4 cái đổ nước kê dưới 4 chân củi đựng thức an cho kiếng không lên củi)
- Chậu kiểng trồng cây
- Cái bùng binh (đồ đựng tiền tiết kiệm như heo đất)…
Qua danh mục tổng hợp này có thể thấy trước đây làng gốm Lư Cấm sản xuất rất nhiều sản phẩm, điều này cũng có thể thấy nhu cầu xã hội thời ấy rất đa dạng
20
Những ghè ống bằng sành rất chắc, cứng cáp Nếu sản phẩm bị khiếm khuyết phải loại bỏ thì người dân
đổ đầy cát bên trong ghè ống rồi dùng nó như một loại gạch để xây tường Ngày xưa người dân Lư Cấm xây tường bằng ghè ống phổ biến Hiện vẫn còn vài gia đình lưu giữ loại tường này
Trang 20Một vài sản phẩm ngày xưa của Lư Cấm sau khi nghe cô giáo phân tích chúng tôi rất ngạc nhiên, như chiếc “khuôn mỏ vịt” là loại bếp lò chuyên chụm bằng củi, có hình dạng và chức năng rất giống chiếc cà ràng mà người Khmer ở Nam Bộ thường dùng Loại khuôn mỏ vịt này tiện dụng vừa đun nấu vừa có thể cơi than củi ra chỗ phình to của bếp để nướng, có thể tiện dụng trên bờ lẫn trên ghe thuyền vì đáy lò bằng phẳng, thiết diện lớn
Khuôn lò vịt đun nấu bằng củi Ảnh YT, 2013
Hiện nay với ý thức lưu giữ những sản phẩm gốm của Lư Cấm ngày xưa
để cho thanh thiếu niên địa phương hiểu về nghề gốm truyền thống đáng tự hào, Ban quản lý đình Lư Cấm nhiệm kỳ này đã sưu tầm một số sản phẩm gốm trưng bày trong các ngăn kệ trong đình Trong số những món đồ gốm này có cái độc bình to còn ghi năm sản xuất là 1925
Trang 21Chiếc bình gốm có ghi năm sản xuất là 1925, hiện lưu giữ tại đình Lư Cấm Ảnh: YT, 2013
Trước đây do sử dụng nhiều lò nung lớn (lò úp) nên làng gốm Lư Cấm tiêu thụ rất nhiều củi, đây chính là mặt hạn chế của nghề gốm, vì khói độc tuôn ra từ các lò gốm làm ô nhiễm môi trường, có hại cho sức khoẻ của con người, ngoài ra
vì để đáp ứng nhu cầu củi đốt lò mà diện tích gỗ rừng quanh đây ngày càng thu hẹp và mất đi
Khâu xếp sản phẩm gốm vào lò là cả một quá trình đúc kết kinh nghiệm Xưa kia thợ xếp đồ gốm vào lò nung phải chuyên nghiệp, vì nếu không biết cách xếp, sản phẩm sẽ hư hỏng, thất bại, kém chất lượng Ngay cả khâu đốt lò nung cũng đòi hỏi kinh nghiệm cao, thợ lò phải biết lúc nào đốt củi vừa, lúc nào đốt lửa thật nhiều, như đêm thứ ba của mẻ gốm (một mẻ gốm xưa kia nung 3 ngày 3 đêm) phải đốt lửa rất lớn, vì nếu không đúng kỹ thuật sẽ hư hết mẻ gốm ấy, vì vậy vào những đêm canh củi, sinh hoạt tại các lò nung trong làng rất vui vẻ, nhộn nhịp Chủ lò nấu cháo gà, pha trà cho thợ nung thức suốt đêm canh lửa, phụ nữ phục vụ nấu ăn, trẻ em chạy nhảy chơi đùa
Thời nào và ở đâu các làng gốm phần lớn đều ở gần sông lớn để thuận tiện vận chuyển sản phẩm, ngoài ra vì chi phí vận chuyển đường thuỷ rẻ hơn đường bộ Làng gốm Lư Cấm được bao bọc bởi sông Cái và phụ lưu của nó là sông Kim Bồng21 Do di chuyển trên sông nhiều, từng gặp không hiếm bất trắc nên dân làng gốm Lư Cấm thờ thần Hà Bá để mong được thần che chở an toàn trên sông nước Trong đình Lư Cấm có ban thờ Hà Bá Phong tục thờ cúng “Hà bá chi vị” trong đình Lư Cấm xuất phát từ môi trường sông nước của cuộc sống, của nghề gốm tại đây Tín ngưỡng thờ Hà Bá Công Công thoạt tiên tưởng không liên quan gì với
21
Từ 4 con sông: sông Chò, sông Khế, sông Giang, sông Cầu gộp lại phân lưu ra thành thác Giang Bay và
sông Cái Sông Cái lớn nhất thành phố Nha Trang, tẻ ra nhiều nhánh, đến Diên Khánh, sông Cái gộp lại
thành dòng chính (theo giải thích của ông Lê Công Ra, một người dân địa phương có gia tộc sống lâu đời tại Lư Cấm)
Trang 22nghề làm gốm, nhưng khi tìm hiểu kỹ chúng tôi biết được do quá trình đi thuyền mua đất về làm gốm và đi thuyền chở sản phẩm gốm để giao hàng hay đem bán nhiều nơi bằng đường sông và đường biển sợ gặp tai nạn vì vậy người dân làng gốm Lư Cấm thờ cúng Hà Bá Công Công để nhờ vị thần sông này che chở
H: Thưa chú trong đình Lư Cấm có thờ Hà Bá sao chú?
TL: Phong tục cúng “Hà bá chi vị” trong đình Lư Cấm xuất phát từ môi trường sông nước của cuộc sống, của nghề gốm tại đây, vì người dân phải di chuyển trên thuyền nhiều nơi sông Cái và biển nên họ thờ Hà Bá để được bình yên trên môi trường sông, biển
H: Thờ như thế nào hả chú?
TL: Thờ Hà Bá để được yên ổn, nghề này là nghề sông nước, đi lấy đất, mua đất, chở gạch, ngói đồ gốm đi bán tới Nha Trang, Ninh Hoà Xưa kia chủ yếu đi đường sông, đường biển, chở nhiều được, còn đường lộ chỉ có xe bò, xe ngựa, chưa có xe cơ giới nên chậm chạp, chở được ít
(Trích biên bản phỏng vấn số 4 )
Qua thuyết sinh thái văn hoá (cultural ecology) mới thấy con người sáng tạo
văn hóa để thích nghi với môi trường thiên nhiên cụ thể trong bối cảnh nền văn hóa của họ và con người “thích nghi” với sinh thái tự nhiên tại chỗ để sinh tồn qua những cách thờ cúng để tìm kiếm sự bình yên
Về cách vận chuyển sản phẩm gốm trên sông, biển xưa kia ở miền Trung nói riêng và Việt nam nói chung chỉ có duy nhất làng Lư Cấm có loại thuyền chuyên chở đất và đồ gốm rất độc đáo Thời xưa ở Lư Cấm có 3, 4 nhà thầu thu mua bao tiêu sản phẩm gốm, chạy thuyền bằng đường sông, đường biển đem đi bán ra Ninh Hoà và các tỉnh khác ở miền Trung Họ đã sáng tạo ra một loại thuyền xẻ từ gỗ súc, cột tấm ván lại bằng giây mây chứ không phải theo kỹ thuật đóng đinh Chủ lò nào cũng có ít nhất một chiếc thuyền, có chủ lò có 3-4 chiếc thuyền Chiếc thuyền cuối cùng còn tồn tại đến năm 1976 mới hết hẳn, đó là thuyền của ông Ba Lân, tên thật
Trang 23là Phạm Ngọc Hùng, ở Lư Cấm Thuyền dài khoảng 9-12m, bề ngang chỗ rộng nhất khoảng 2,5m, được làm bằng 5 tấm gỗ chò22 liên kết lại, có các tên gọi như
sau: 2 tấm ván ngoài cùng gọi là “con mạn”; 2 tấm ván kế tiếp gọi là “con tiếp”; tấm ván ở giữa gọi là “con tè” Toàn bộ thuyền bằng cây rừng quý, chắc như chò,
sao Còn cột của thuyền bằng tràm, tre, cây gạc nai…Đặc biệt giây cột thuyền đều
bằng giây mây rừng Đầu mũi thuyền có “Bàn độ” để cúng Thuỷ thần Ở phía sau
ghe nào cũng trang trí một cái vòng sơn đỏ cho đẹp Đặc điểm của thuyền này là các tấm ván liên kết lại bằng giây mây rừng bằng cách khoan lỗ, sau đó luồn, xỏ giây mây theo kỹ thuật rất đặc biệt: người ta lót vỏ tràm với tre phủ tràn, xong xỏ mây rồi vặn thật chặt, xong nêm chặt thêm bằng ván gạc nai chẻ ra, miếng này lót lên miếng kia cho chắc Làm tất cả 4 làn riêng Cột xong, người ta thui cho cháy nham nham để xuống biển con hà không bám ghe ăn, sau đó người ta đẩy thuyền xuống nước để hoạt động Trọng tải của thuyền có thể chở được hàng chục tấn đất mỗi lượt, hoặc chở cả 5 thiên (mỗi thiên là 1.000 viên) gạch sống và 6 thiên gạch chín Thuyền này có thể đi ra biển, lúc đó thuyền chạy bằng buồm làm bằng lá buông Trong lòng thuyền chia ra 3 khoan: khoan lái lớn hơn khoan mũi Mỗi khoan dài 3m, có 2 khoan chở hàng hoá (2 người bạn thuyền một bạn ngồi ở khoan lái, 1 bạn ngồi ở khoan mũi Nếu đi đường sông thì bạn thuyền dùng sào chống, còn đi đường biển (ven bờ), đi gần (như ra Ninh Hoà) thì chèo tay và có gắn buồm.23
Tài liệu điền dã của cô Phan Thị Yến Tuyết
H: Ai làm thuyền này giỏi đâu anh? Nay có ai còn sống không?
TL: Mấy ông làm thuyền nổi tiếng một thời trong làng gốm Lư Cấm là ông Bốn Riềng Phan Văn Tạo, ông Trần Sảng…)
………
H: Trọng tải thuyền bao nhiêu vậy anh?
TL: Thuyền có thể chở được hàng chục tấn đất mỗi lượt, hoặc chở cả 5 thiên (1.000
Trang 242.2 Sản phẩm gốm của làng nghề Lư Cấm, phường Ngọc Hiệp hiện nay:
Hiện nay nghề gốm của thôn Lư Cấm phường Ngọc Hiệp chỉ còn 4 lò nung
nhỏ, gọi là lò ngữa và chỉ còn 4 hộ làm nghề này, chủ yếu sản xuất sản phẩm hoả
lò, vì những sản phẩm khác không bán được nữa, không ai đặt làm 4 lò hiện nay còn làm là: Thứ nhất lò của ông Lê Văn Xương, hai là cái lò chung của ông Lê văn Chưởng và Lê Văn Triết (em trai của ông Xương), lò thứ ba của ông Hồ Nhỏ và lò thứ tư của ông Đặng Văn Hiệu Trong số 4 lò này thì lò của ông Xương lớn nhất
và lâu đời nhất do truyền từ đời ông cố của ông Xương tới nay Nhưng ông Xương cho biết các con trai của ông không muốn làm nghề gốm gia truyền nữa nên ông không biết tương lai nghề gốm gia đình ông sẽ còn tồn tại được không
Hiện nay sản phẩm gốm chủ yếu ở Lư Cấm hầu như chỉ còn duy nhất mặt hàng hỏa lò, ở đây người dân còn gọi là “đầu ông táo” Công dụng chủ yếu của hỏa lò là dùng để nướng, đun nấu bằng than Trung bình mỗi ngày một hộ sản xuất thành phẩm khoảng 20 cái Hoả lò của Lư Cấm tiêu thụ chủ yếu ở Nha Trang, Ninh Hòa, Cam Ranh Những người mối lái tới đây trực tiếp mua, hoặc đặt hàng rồi cho xe tới lấy Giá mỗi cái hỏa lò tuỳ theo kích thước của 4 loại và 4 giá: Loại đại: 30.000 đ, loại trung: 25.000 đ, loại nhỏ: 20.000đ, loại nhí: 10.000đ Tùy theo
sử dụng nhiều hay ít nhưng trung bình mỗi lò xài được khoảng 6 tháng
viên) gạch sống và 6 thiên gạch chín Xưa kia chưa có nước máy, mỗi lần thuyền đi người dân gửi theo những vò không để lúc thuyền về đem nước ngọt về giúp họ vì sông Cái nước mặn không uống được
(Trích biên bản phỏng vấn số 5 )
Trang 254 loại lò thành phẩm Ảnh: Hwang Sarah, 1- 2013
Đất làm gốm mua ở Diên Lâm, Diên Thọ, huyện Diên Khánh, cách đây khoảng 20- 30 km Mỗi lần một hộ làm gốm ở đây mua khoảng 30m3 đất, giá trung bình khoảng 200.000đ/m3
Hiện nay quy trình sản xuất hoả lò tuần tự là:
- Đầu tiên phải cuốc khối đất mua bằng cuốc, ngâm với nước
-
- Thứ hai là xáo đất, đạp bằng 2 chân để trộn đất (Hiện nay người ta trộn đất
bằng máy moteur, máy xay đất nhuyễn hơn đạp bằng chân)
Trang 26- Thứ ba là đắp đất vào khuôn, đúc ra cái lò (khung lò làm bằng tôn để tạo độ
24
Khi lò thành phẩm, người ta có thể bọc thêm vòng thiếc chung quanh than lò cho chắc chắn, song theo chúng tôi nghĩ làm như thế tuy chắc nhưng sản phẩm gốm mất đi vẻ đẹp của gốm
Trang 27- Một khâu quan trọng nữa là làm vỉ lò, vỉ nung một lượt với lò, nhưng nung
vỉ xong mới lắp vào lò vì lắp vỉ trước sẽ tốn nhiều công lao động
Từ trước tới nay ở vùng này chủ yếu nung gốm bằng củi Trước kia người ta
nung gốm trong lò úp (lò rất lớn), nay không còn Hiện nay ở Lư Cấm chỉ còn lò ngữa vì chỉ nung ít sản phẩm Riêng lò ngữa cũng có 2 loại lớn và nhỏ Nếu lò lớn
thì nung khoảng 3, 5m³ củi, còn lò nhỏ dùng khoảng 1,5m3 củi, nung liên tục trong 24giờ Trong quá trình nung bao giờ cũng bị như nứt hay hư hỏng sản phẩm
Trang 28khoảng 1% Sản phẩm kém chất lượng do nhiều nguyên nhân như lò chưa khô, phơi gốm sống chưa kỹ, trộn đất không đều, xếp đồ gốm không đúng quy cách, lửa cháy không đều, nung không kỹ, đặt sản phẩm vào lò nung bị nghiêng, vì vậy khâu xếp sản phẩm vào lò nung rất quan trọng, phải đúng kỹ thuật nên do người làm lâu, có nhiều kinh nghiệm mới được xếp
Làm nghề gốm hiện nay sử dụng những công cụ như sau:
+ Cuốc, xẻng (để trộn đất)/ máy trộn đất
+ Cái nề (dùng để cắt đất)
+ Dao nhỏ (đề cắt, gọt sản phẩm)
+ Đế xoay /bàn xoay, để tạo dáng sản phẩm
+ Cái lẹm (bằng tre, khi dùng xong bàn xoay thì dùng cái lẹm để gọt tỉa cho sản
phẩm đẹp)
+ Cái ống đục lỗ vỉ lò…
Khâu trộn và làm nguyễn đất hiện nay được làm bằng máy, giải phóng sức lao động cho nghề làm gốm So với trước kia phụ nữ hiện nay làm đồ gốm nhiều
do thiếu hụt nguồn nhân công nam
Cho tới nay mặt hàng gốm hoả lò vẫn còn nhu cầu trên thị trường vì loại lò dùng than này phục vụ trong các quán ăn nướng thịt cá rất tiện dụng Hơn nữa vào dịp Tết người ta mua lò này rất nhiều để làm mứt, làm bánh, nhất là làm mứt gừng, mứt dừa không chịu được nhiệt độ cao của bếp gas, bếp từ, vì vậy loại bếp hoả lò dùng than này trong tương lai chắc chắn sẽ vẫn còn tồn tại
Trang 29Sau hơn hai trăm năm, giờ đây hầu như người ta chỉ còn biết đến nghề gốm
Lư Cấm dưới hình thức sản xuất lò đất Chiếc lò đất tại đây rất được ưa chuộng và mỗi năm, vào những ngày cận Tết, hàng sản xuất không kịp bán vì người dân làm mứt tết chỉ dùng lò đất đun bằng than, vì đun than cho lửa dịu nhẹ thích hợp làm mứt chứ không quá nóng như bếp gas hay bếp từ hiện nay Dù cho cho các loại bếp khác đã giành thị trường, các gia đình vẫn có thói quen giữ trong nhà mình một chiếc lò đất với mục đích dùng để đốt than và nướng thịt Bởi nướng bằng bếp than thì thức ăn mới thực sự ngon miệng25 Đặc biệt hầu như mọi nhà hàng, quán
ăn ở Nha Trang đều dung bếp lò than này để phục vụ cho các món nướng vì thực khách thích tự tay nướng món ăn, chính vì vậy chúng tôi nghĩ loại bếp lò của làng
Lư Cấm xưa và phường Ngọc Hiệp hiện nay sẽ còn được sử dụng và sản xuất lâu dài
Bếp lò đun than của Lư Cấm được dùng phổ biến trong nhà hàng, quán ăn Ảnh: YT, 2013
25
http://www.khanhhoa.gov.vn/?ArticleId=0d510e77-428b-482c-930e-f0c839facfa1 (Cổng thông tin điện
tử tỉnh Khánh Hoà), Khuê Việt Trường, Làng gốm cổ bên sông Kim Bồng, 14- 3- 2012
Trang 30KẾT LUẬN
Gọi là làng gốm Lư Cấm nhưng giờ đây gần như chỉ còn làm một nghề duy nhất: sản xuất lò đất nung Làng gốm Lư Cấm không còn như trước nữa nhưng những người thợ ở đây vẫn gắn bó với nghề, hàng ngày vẫn làm ra những sản phẩm lò đất nung để phục vụ đời sống Đối với nhóm chúng tôi, đi khảo sát làng gốm Lư Cấm trở thành một phần ký ức không thể quên trong đời Cũng trong khi tham quan làng gốm Lư Cấm, chúng tôi có thể nhập cuộc để trở thành những người thợ lò như cùng tham gia nhồi, cùng đưa đất vào khuôn, cùng dùng bàn xoay tạo dáng
Nhờ những người dân của làng Ngọc Hiệp giúp đỡ chúng tôi rất tốt nên chúng tôi có thể hiểu biết về cuộc sống của người dân Việt Nam sâu sắc hơn Trước khi đi thực tập ở Nha Trang lần này, nhóm chúng tôi chưa bao giờ có dịp tiếp xúc với những người Việt Nam gần gũi và thân thiện như vây Khi chúng tôi xin phép phỏng vấn những người dân thì họ bao giờ cũng tốt bụng trả lời là
“Được” Do đó, chúng tôi có thể phỏng vấn những người dân liên quan đến nghề làm gốm một cách thoải mái Mặc dù khả năng hiểu và nói tiếng Việt của chúng tôi không thành thạo nhưng cả nhóm chúng tôi vẫn cố gắng làm chăm chú nghe, ghi chép và giúp đỡ nhau Lần nào chúng tôi trò chuyện với ông Lê Văn Xương- một chủ lò gốm đồng thời cũng là người công nhân trực tiếp làm nghề này- cũng
để lại cho chúng tôi rất nhiều ấn tượng tốt đẹp Chúng tôi cảm thấy thông cảm với ông, vì ông ấy nói rằng thời xưa thì xã hội chưa có phát triển nên nhân dân sử dùng nhiều loại gốm như nồi, siêu, ấm, bình còn bây giờ thì xã hội được hiện đại hóa, công nghiệp ngày càng phát triển, người ta dùng nhiều loại dụng cụ nấu ăn mới đẹp và tiện ích hơn, ít ai còn quan tâm đến đồ dùng bằng gốm, điều đó làm cho nghề làm gốm dần dần mất đi Lúc đó chúng tôi thấy giọng nói của ông có vẻ tiếc, buồn và ngậm ngùi, chịu đựng Khi nghe thu nhập trung bình một tháng của
Trang 31người thợ gốm thì chúng tôi lại ngạc nhiên, chỉ khoảng ba triệu đồng, thu nhập như vậy quá thấp so với thời gian và sức lực nhọc nhằn bỏ ra và so với giá trị nghệ thuật làm gốm thủ công
Chúng tôi mong muốn nghề làm gốm truyền thông Lư Cấm tại địa phương này được duy trì và phát triển; Cần khuyến khích các công ty du lịch trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà thực hiện các tour du lịch tới làng nghề, vừa quảng bá hình ảnh những làng nghề truyền thống của Tỉnh vừa tạo thêm thu nhập để bà con gắn bó với nghề lâu dài Chúng tôi cũng mong Bảo tàng tỉnh có biện pháp lưu giữ những bức tường bằng ghè ống tại phường Ngọc Hiệp đừng để người dân phá dở nó đi, cũng mong Bảo tàng phục hồi chiếc thuyền chở gốm đặc sắc duy nhất chỉ có ở làng Ngọc Hiệp Chúng tôi đề nghị chính quyền UBND phường Ngọc Hiệp hỗ trợ cho đình
Lư Cấm phương tiện để lưu giữ, trưng bày các sản phẩm trong quá khứ của làng gốm Lư Cấm cho các thế hệ sau trong phường được hiểu về một thời vàng son của nghề gốm ở địa phương
Trang 32TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Liên hiệp các hội KHKT tỉnh Khánh Hoà và Trung tâm bảo tồn sinh vật
biển và phát triển cộng đồng (2012), Diễn đàn phát triển xanh Khánh Hoà (lần 1)
2 Sở Văn hoá thông tin Khánh Hoà và Trung tâm QLDT- DTTC (2006), Lí lịch di tích Kiến trúc nghệ thuật đình Lư Cấm, Hồ sơ
3 Sở Văn hoá thông tin Khánh Hoà và Trung tâm QLDT- DTTC (2011), Di tích văn hoá đình Lư Cấm, Hồ sơ
4 Tài liệu điền dã của PGS TS Phan Thị Yến Tuyết, Ký ức làng nghề gốm
Lư Cấm xưa, 2013
5 Tài liệu của Uỷ ban nhân dân Phường Ngọc Hiệp, TP Nha Trang, tỉnh
Khánh Hoà, Khái quát tình hình phường Ngọc Hiệp
6 Tài liệu văn bản Hán- Nôm, Tưởng niệm phương danh công đức tiền nhân đình Lư Cấm (do Bản quản lý đình Lư Cấm cung cấp)
7 Trần Việt Kỉnh (2004), Làng cổ ở Nha Trang, Hội Văn học nghệ thuật
Khánh Hoà xuất bản
Nguồn tài liệu internet:
1 Làng nghề gốm Lư Cấm- Ngọc Hiệp- Nha Trang
http://www.dulichvietnam.com.vn/lang-nghe-gom-lu-cam.html
(cập nhật 16-5-2012)
2 Làng nghề- Làng gốm cổ bên sông Kim Bồng (bài của Khuê Việt Trường)
http://www.khanhhoa.gov.vn (Cổng thông tin điện tử tỉnh Khánh Hoà)
3 Làng nghề gốm Trung Dõng
http://www.nhatrang-travel.com/index.php?cat=10010202;itemid=48
(cập nhật 4-9- 2009)
4 Gốm sứ cổ truyền
Trang 33truyen_11_141_1304.html
Trang 34
PHỤ LỤC
1 PHỤ LỤC 1: HÌNH ẢNH TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2 PHỤ LỤC 2: NHẬT KÝ ĐIỀN DÃ CỦA SINH VIÊN
3 PHỤ LỤC 3: MẪU BẢN HỎI PHỎNG VẤN SÂU DÀNH CHO S V
Hình 3:Bếp lò(07/01/2013)
Ảnh:Yun Seong Baek
Hình 4:Nồi(07/01/2013) Ảnh: Hwang Sarah
Trang 35Hình 5:Nồi, lò vịt(7/01/2013)
Ảnh: Hwang Sarah
Hình6:Ngói (7/01/2013) Ảnh: Hwang Sarah
Hình7:Đồ lót chậu(4/01/2013)
Ảnh: Hwang Sarah
Hình 8: Bình vôi(4/01/2013) Ảnh: Hwang Sarah
Hình9:Ghè ống,bình(7/01/2013)
Ảnh: Hwang Sarah
Hình10:Ngói(7/01/2013) Ảnh: Hwang Sarah
Trang 36Hình11:Bình hoa(7/01/2013)
Ảnh:Hwang Sarah
Hình12:Ngói(5/01/2013) Ảnh: Hwang Sarah
Hình13:Bếplò,Vỉ
lò(5/01/2013).Ảnh:H.Sarah
Hình14:Các loạibình(5/01/13) Ảnh:Hwang Sarah
Hình15: Bức tường ghè ống(7/01/13) Hình16:Bếp lò,Vỉ lò(7/01/13)
Trang 37Ảnh: H Sarah Ảnh: Hwang Sarah
Hình17:Ghè ống(4/01/2013)
Ảnh: Hwang Sarah
Hình18:Ghèống,lò vịt(4/01/13) Ảnh:Hwang Sarah
Hình 19: Cuốc đất- ngâm
nước(8-1-13) Ảnh: Hwang Sarah
Hình 20: Bưng đất tới chỗ làm gốm (8-1-13) Ảnh: Hwang Sarah
Hình 21: Nhào đất với nước cho Hình 22: Chia đất đã trộn ra các phần
Trang 38nhuyễn(8-1-13).Ảnh: Hwang Sarah riêng để làm từng công đoạn của bếp
Hình 27: Bỏ vào lò ngữa nung liên tục Hình 28: Kích thước 4 loại lò thành
Trang 39trong 24 tiếng
(8-1-2013).Ảnh:H.Sarah
phẩm (5-1-2013).Ảnh: Hwang Sarah
Hình 29: Độc bình bằng gốm (5 / 01 /
2013) Ảnh: Yến Tuyết
Hình 30: Bình gốm Lư Cấm sản xuất năm 1925 (5 / 01 / 2013) Ảnh: Yến Tuyết
Hình 31: Chõ nấu xôi (05 / 01 / 2013)
Ảnh: Yến Tuyết
Hình 32: Giới thiệu đình Lư Cấm (5 / 01 / 2013) Ảnh: Kim Hyo Jin
Trang 40Hình 33: Chính điện đình Lư Cấm
(5 / 01 /2013) Ảnh: Kim Hyo Jin
Hình 34: Gốm ghè ống Lư Cấm (5 / 01 / 2013) Ảnh: yến Tuyết
Hình 37: Nhà cửa trong phường Ngọc Hiệp Hình 38: Lối đi trong phường