1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Môi trường kinh doanh ở Việt Nam: Nhìn từ góc độ doanh nghiệp tư nhân

5 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 395,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môi trường kinh doanh đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, nhưng vẫn chứa đựng nhiều khó khăn và thách thức. Vẫn còn tồn tại sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước, giữa doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các thủ tục hành chính, trong tiếp cận nguồn tài chính,…

Trang 1

Trong quá trình đổi mới kinh tế, dù có

khẳng định phát triển kinh tế nhiều thành

phần là chủ trương có tính chất chiến lược

và “kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng,

là động lực của nền kinh tế”, nhưng vẫn

chưa giải thoát được những quan điểm e

ngại về sự phát triển mạnh của khu vực

kinh tế tư nhân (KTTN) gắn liền với sự

gia tăng những tiêu cực trong kinh tế và

xã hội, làm suy yếu nền tảng của nền kinh

tế xã hội chủ nghĩa (XHCN), dẫn đến

chệch hướng XHCN Trên thực tế, những

mặt tiêu cực của KTTN còn phụ thuộc

vào hiệu lực và hiệu quả của việc phát

huy vai trò quản lý điều hành vĩ mô của Nhà nước: Nhà nước hoạt động kém hiệu lực, kém hiệu quả, các mặt tiêu cực của kinh tế thị trường (KTTT) sẽ phát triển; ngược lại, khi hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, Nhà nước sẽ ngăn ngừa và hạn chế được các tiêu cực của KTTN Hiện cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với khu vực KTTN còn thiếu nhất quán, “lúc mở, lúc thắt”, vẫn ưu ái đối với khu vực kinh tế nhà nước (KTNN), chưa tạo lập sự kết nối chặt chẽ giữa các mắt xích trong nền kinh

tế, tạo “nền móng” vững chắc cho sự phát triển (Vũ Hùng Cường 2011, tr.35-36)

MÔI TRƯỜNG KINH DOANH Ở VIỆT NAM:

NHÌN TỪ GÓC ĐỘ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

Lưu Hoài Nam •

Tóm tắt: Môi trường kinh doanh đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần

đây, nhưng vẫn chứa đựng nhiều khó khăn và thách thức Vẫn còn tồn tại sự phân biệt đối xử giữa các đoanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước, giữa doanh nghiệp

tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các thủ tục hành chính, trong tiếp cận nguồn tài chính,… Đó chính là những rào cản làm cho doanh nghiệp tư nhân khó có thể trở thành động lực của nền kinh tế, nếu như chúng ta không

có những giải pháp khắc phục

Từ khóa: Kinh tế thị trường, kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, môi trường kinh

doanh, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước

Abstract: The business environment has improved significantly in recent years,

but still contains many difficulties and challenges Discrimination still exists between private and state-owned enterprises, between domestic private enterprises and foreign-invested enterprises in administrative procedures, in accessing financial resources., These are barriers that make difficulties for private enterprises to become the driving force of the economy, if we do not have the solutions to overcome.

Keywords: Market economy, state economy, private economy, business

environment, private enterprises, state enterprise.

Trang 2

Trong quá trình phát triển nền KTTT

định hướng XHCN ở Việt Nam, Nhà

nước phải thực hiện “vai trò kép” Một

mặt, là người quản lý toàn bộ nền kinh

tế quốc dân với sự tham gia của các chủ

thể kinh tế thuộc các hình thức sở hữu và

thành phần kinh tế khác nhau; mặt khác,

có trách nhiệm tạo lập môi trường bình

đẳng cho tất cả các chủ thể thuộc các hình

thức sở hữu và thành phần kinh tế, tạo

điều kiện quan trọng để các khu vực kinh

tế, trong đó có khu vực KTTN, phát huy

được năng lực vốn có và góp phần tích

cực nhất vào công cuộc phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước

Theo tinh thần đó, khả năng phát triển

của khu vực KTTN phụ thuộc quan trọng

vào các chính sách, thể chế của Nhà nước tạo lập môi trường luật pháp, môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường chính trị - xã hội cho sự cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng trên thị trường

1 Thực trạng môi trường kinh doanh trong những năm qua

a) Chi phí gia nhập thì trường

Kết quả khảo sát chỉ số cạnh tranh PCI của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, chi phí gia nhập thị trường giai đoạn 2006-2018 đã

có xu hướng được cải thiện Hầu hết các địa phương đều nỗ lực tạo điều kiện gia nhập thị trường cho doanh nghiệp, giảm bớt các yêu cầu cấp phép và thiết lập cơ chế một cửa

Bảng 1 Các chỉ số thành phần đo lường chi phí gia nhập thị trường

1 Thời gian đăng ký

doanh nghiệp, ngày 20 15 12,25 10 10 8,5 10 10

2 Thời gian thay đổi nội dung

đăng ký doanh nghiệp, ngày 10 7 7 7 7 7 7 7

3 Thời gian chờ đợi cấp Chứng

nhận Quyền sử dụng đất, ngày 121 60 38,5 32,5 30 30 30 30

4 Chờ hơn một tháng để hoàn tất các

thủ tục hoạt động chính thức, % 25,81 27,21 21,91 19,35 24,39 14,7 13,95 16,67

5 Chờ hơn ba tháng để hoàn tất các

thủ tục hoạt động chính thức, % 5,78 6,78 5,72 4,44 5,77 3,33 2,94 3,57

Nguồn: Khảo sát PCI của VCCI

Xét chi tiết các chỉ số thành phần, thời

gian đăng ký doanh nghiệp đã giảm một

nửa, từ 20 ngày năm 2006 xuống chỉ còn 10

ngày năm 2013 và 7 ngày năm 2018 Thời

gian thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh

cũng đã giảm từ 10 ngày xuống còn 7 ngày

trong giai đoạn 2008-2018, cải thiện nhiều

hơn là thời gian chờ đợi để được cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất Nếu năm

2006 các doanh nghiệp phải mất khoảng 4

tháng, năm 2013 mất 1 tháng, thì đến năm

2018 chỉ cần 18 ngày là các doanh nghiệp

có thể có được giấy phép Những kết quả này cho thấy, sự nỗ lực của các cấp chính quyền ở Việt Nam trong việc giảm bớt các chi phí gia nhập thị trường Nhờ thế, tỷ lệ các doanh nghiệp phải chờ đợi trên 1 tháng hoặc 3 tháng để hoàn tất các thủ tục chính thức đi vào hoạt động đã giảm trong giai đoạn 2010-2018 Nhìn chung, nhờ có sự cải thiện điều kiện gia nhập thị trường, số lượng doanh nghiệp khu vực KTTN đăng

Trang 3

ký hoạt động đã gia tăng nhanh ngay sau

khi nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi sau

giai đoạn chịu ảnh hưởng của khủng hoảng

tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

b) Tính minh bạch

Việc xây dựng kế hoạch và chiến

lược kinh doanh của doanh nghiệp phụ

thuộc rất lớn vào thông tin và dự báo sự

biến động của thị trường, đồng thời phải

hiểu rõ và nắm bắt được các chính sách

liên quan đến quy hoạch và chiến lược,

chính sách phát triển ngành, lĩnh vực Vì

vậy, doanh nghiệp rất cần một sự minh

bạch trong việc tiếp cận các chính sách,

các quy định liên quan đến việc kinh

doanh của họ Tuy nhiên, dù có nhiều lỗ

lực, nhưng chỉ số về tính minh bạch hầu

như chưa được cải thiện nhiều trong thời

gian qua và chỉ đạt 6.5 điểm trên thang điểm 10 Sự thiếu minh bạch thể hiện việc các doanh nghiệp không dễ dàng để tiếp cận các tài liệu quy hoạch Kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu đề tài tại hai tỉnh Bắc Ninh và Vĩnh Phúc cũng cho thấy,

có khoảng 30-45% doanh nghiệp được hỏi tại các địa phương khảo sát khó tiếp cận hoặc không thể tiếp cận quy hoạch

sử dụng đất và quy hoạch xây dựng cơ

sở hạ tầng, mua sắm công, đấu thầu Một trong những mối quan ngại về tình trạng thiếu minh bạch thường xảy ra, đó là quan

hệ với các cán bộ thuế Các doanh nghiệp thường hay thương lượng với cán bộ thuế trong việc đóng thuế doanh nghiệp dù tỷ

lệ này có xu hướng giảm, nhưng vẫn ở mức cao gần 30% năm 2018

1 Tiếp cận tài liệu quy hoạch (1: tiếp

cận rõ ràng; 5: không thể tiếp cận) 2,63 2,51 2,55 2,44 2,31 2,51 2,39 2,61

2 Tiếp cận tài liệu pháp lý (1: tiếp

cận rõ ràng; 5: không thể tiếp cận) 3,15 3,05 3,11 3,11 3,05 3,03 2,84 3,14

3 Cần có “mối quan hệ” để có được

các tài liệu (quan trọng hoặc 62,5 56,6 49,82 61,26 78,64 75,0 62,2 51,47 rất quan trọng), %

4 Thương lượng với cán bộ thuế là phần

thiết yếu trong hoạt động kinh doanh 61,05 44,7 36,71 41,32 40,78 41,09 39,21 39,44 (hoàn toàn đồng ý hoặc không đồng ý), %

5 Khả năng có thể dự đoán việc địa phương

thực thi các quy định pháp luật của Trung 9,49 7,46 6,94 8,4 8,97 8,75 6,6 8,18 ương (luôn luôn hoặc thường xuyên), %

Nguồn: Khảo sát PCI của VCCI

Bảng 2 Các chỉ số thành phần đo lường tính minh bạch

c) Chi phí không chính thức

Chi phí không chính thức có xu hướng

cải thiện nhẹ từ năm 2009 trở lại đây: số vụ

và quy mô tham nhũng lớn giảm, nhưng

vẫn còn tham nhũng vặt, doanh nghiệp

phải chi để sớm được cấp phép xây dựng,

sớm được thuê mặt bằng kinh doanh, được

chọn là đơn vị mua sắm công,…

Chỉ số chi phí không chính thức được cải thiện thể hiện thông qua việc các doanh nghiệp cho rằng, tỷ lệ phải trả các khoản phí không chính thức giảm từ 70% năm 2006 xuống còn 50,43% năm 2013

và 45% năm 2018 Dù có giảm, nhưng

có trên 54,8% doanh nghiệp (2018) cho rằng phải trả các khoản chi phí không

Trang 4

chính thức cho thấy, đây vẫn là một trong

những cản trở trong kinh doanh ở Việt

Nam Tỷ lệ các doanh nghiệp phải chi

hơn 10% doanh thu cho chi phí không

chính thức, dù đã giảm từ 12,99% năm

2006 xuống 6,96% năm 2013, trong khi

tỷ suất lợi nhuận bình quân trên doanh thu của các doanh nghiệp khu vực KTTN đạt 8,3% năm 2012 và 8,5% năm 2018, cho thấy các khoản chi không chính thức vẫn chiếm tỷ lệ khá cao, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Bảng 3 Các chỉ số thành phần đo lường chi phí không chính thức

TT Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

1 Các doanh nghiệp cùng ngành thường phải

trả thêm các khoản chi phí không chính 70,0 68,25 65,93 59,4 58,23 51,39 53,17 51,43 thức (đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý), %

2 Doanh nghiệp phải chi hơn 10%

doanh thu cho các khoản chi phí 12,99 11,54 9,89 8,75 6,78 6,56 6,45 6,96 không chính thức, %

3 Hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết

thủ tục cho doanh nghiệp là phổ biến 39,76 38,21 37,12 50,35 50,0 40,28 43,75 41,18 (đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý), %

4 Công việc đạt được kết quả mong đợi

sau khi đã trả chi phí không chính thức 76,98 48,28 48,99 51,51 56,32 61,11 60,71 63,16 (thường xuyên hoặc luôn luôn), %

Nguồn: Khảo sát PCI của VCCI

d) Cạnh tranh bình đẳng

Một trong những nguyên nhân của

tình trạng hoạt động kém hiệu quả của

doah nghiệp khu vực KTTN xuất phát từ

môi trường cạnh tranh thiếu bình đẳng

Nói cụ thể hơn, doanh nghiệp tư nhân

(DNTN) đang bị doanh nghiệp nhà nước

(DNNN) được ưu ái, tước đi nhiều cơ hội

kinh doanh Thực tế là, khoảng một phần

ba doanh nghiệp tham gia khảo sát PCI

tiếp tục cho biết, sự ưu đãi đối với DNNN

và doanh nghiệp FDI là một trở ngại cho

hoạt động của họ Các DNNN và doanh

nghiệp FDI, trong một số trường hợp, do

có quan hệ chặt chẽ với chính quyền, nên

có nhiều thuận lợi hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực đất đai, vốn và lao động được đào tạo, đấu thầu và mua sắm công

Để thu hút FDI, nhiều địa phương đã thực hiện mọi giá lôi kéo các doanh nghiệp FDI và dành cho các doanh nghiệp này nhiều ưu đãi liên quan đến địa điểm tiện lợi, giảm tiền thuê đất, miễn giảm thuế, tiếp cận tín dụng, thiếu ràng buộc về bảo

vệ môi trường Điều này đã tăng thêm sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp FDI vốn

đã có nhiều lợi thế hơn so với các DNTN trong nước

Bảng 4 Các chỉ số thành phần đo lường sự cạnh tranh bình đẳng

TT Chỉ tiêu (tỷ lệ trả lời “đồng ý” đối với các câu hỏi khảo sát), % 2013

1 Ưu đãi cho các DNNN có gây khó khăn cho DNTN? 32.14

2 Các DNNN có được dành đặc quyền thuận lợi trong việc tiếp cận đất đai? 27.59

3 Các DNNN có được dành đặc quyền thuận lợi trong việc cấp phép khai thác tín dụng? 27.59

4 Các DNNN có được dành đặc quyền thuận lợi về cấp phép khai thác khoáng sản? 19.51

Trang 5

Kết quả khảo sát năm 2016 của VCCI

cho thấy, ưu đãi dành cho các doanh

nghiệp lớn rõ rệt nhất ở lĩnh vực mua

sắm công (35% doanh nghiệp đồng ý) và

cũng khá rõ nét trong lĩnh vực tiếp cận

đất đai (27%), tiếp cận vốn (27%), thủ

tục hành chính nhanh chóng, đơn giản

(26%) Tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng,

việc địa phương ưu ái doanh nghiệp lớn

gây khó khăn cho hoạt động của họ giảm

đáng kể so với năm 2005, khi lần đầu

tiên khảo sát PCI, song con số vẫn đủ lớn

để tiếp tục là một vấn đề đáng lo ngại,

vì đây là một trong những chỉ số chuyển biến chậm, nguyên nhân chủ yếu là từ những chính sách Hơn nữa, tình trạng cạnh tranh thiếu bình đẳng hiện diện ở khắp các địa phương trên toàn quốc với các mức độ khác nhau Quá nửa doanh nghiệp tại một số tỉnh tham gia khảo sát PCI đồng ý với nhận định, chính quyền tỉnh tạo thuận lợi hơn cho DNNN và doanh nghiệp FDI tiếp cận đất đai, tín dụng và lao động đã qua đào tạo./

Nguồn: Khảo sát PCI của VCCI

5 Thủ tục hành chính nhanh chóng và đơn giản hơn là đặc quyền dành cho các DNNN? 25.86

6 Dễ dàng có các hợp đồng từ cơ quan nhà nước là đặc quyền dành cho các DNNN? 35.00

7 Doanh nghiệp FDI được ưu tiên hơn so với các doanh nghiệp trong nước

8 Ưu tiên thu hút FDI hơn là phát triển khu vực KTTN? 29.50

9 Thuận lợi trong việc tiếp cận đất đai là đặc quyền dành cho các doanh nghiệp FDI? 12.64

10 Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có là đặc quyền dành cho các doanh nghiệp FDI? 9.64

11 Thủ tục hành chính nhanh chóng và đơn giản là đặc quyền dành cho các doanh nghiệp FDI? 10.85

12 Hoạt động của các doanh nghiệp FDI nhận được nhiều sự quan tâm,

13 Hợp đồng đất đai,… và các nguồn lực kinh tế khác chủ yếu rơi vào tay

các doanh nghiệp có liên kết chặt chẽ với chính quyền địa phương? 96.59

14 Ưu đãi đối với các doanh nghiệp lớn (nhà nước và tư nhân) là trở ngại cho

hoạt động kinh doanh của bản thân đoanh nghiệp? 34.62

Tài liệu tham khảo

1 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập NXB Chính trị Quốc gia, H - 2016.

2 PGS TS Vũ Hùng Cường Kinh tế tư nhân – Một động lực cơ bản cho phát triển:

NXB Khoa học xã hội.H - 2016

3 PCI năm 2018.

4 TS Nguyễn Chiến Thắng Khung khổ tổng thể đánh giá tác động tiềm năng của FTA

NXB Khoa học xã hội H - 2018

5 GS TS Nguyễn Kê Tuấn Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa NXB Chính trị Quốc gia, H - 2010.

6 GS TS Nguyễn Quang Tuấn Kinh tế thế giới và Việt Nam 2017-2018 NXB Khoa

học xã hội.H - 2018

Ngày nhận bài: 08/01/2020

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w