1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nồng độ lipocalin 2 trong huyết tương và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân vảy nến

120 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nồng độ lipocalin-2 trong huyết tương và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân vảy nến
Tác giả Nguyễn Phan Trâm Oanh
Người hướng dẫn TS.BS Nguyễn Thị Hồng Chuyên
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nội Khoa (Da Liễu)
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 5,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 01.BÌA

  • 02.LỜI CAM ĐOAN

  • 03.MỤC LỤC

  • 04.DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

  • 05.DANH MỤC BẢNG

  • 06.DANH MỤC BIỂU ĐỒ

  • 07.DANH MỤC HÌNH

  • 08.ĐẶT VẤN ĐỀ

  • 09.TỔNG QUAN TÀI LIỆU

  • 10.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

  • 11.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

  • 12.BÀN LUẬN

  • 13.KẾT LUẬN

  • 14.KIẾN NGHỊ

  • 15.TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • 16.PHỤ LỤC

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang phân tích

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bệnh nhân vảy nến từ 18 tuổi trở lên.

Bệnh nhân vảy nến từ 18 tuổi trở lên điều trị tại Bệnh viện Da liễu thành phố

Hồ Chí Minh từ tháng 11/2019 đến tháng 7/2020.

TIÊU CHUẨN CHỌN MẪU

Công thức tính cỡ mẫu nhằm so sánh 2 giá trị trung bình của 2 nhóm theo tác giả Bernard Rosner (2016): n1 ='( ) * , ( * * ⁄ / (1- )23 * ⁄ , 1 )24 ) *

• a: xác suất sai lầm loại 1 Chọn a = 0,05

• b: xác suất sai lầm loại 2 Chọn b = 0,2

• 𝜎 8 và 𝜎 9 : độ lệch chuẩn của 2 nhóm, dựa vào nghiên cứu trước đây của tác giả Aizawa và cộng sự [5], giá trị của 𝜎 8 và 𝜎 9 lần lượt là 51,3 và 20,18 ng/mL

• ∆: hiệu số trung bình 2 nhóm, theo nghiên cứu của tác giả Aizawa và cộng sự

[5], giá trị trung bình 2 nhóm lần lượt là 80,08 và 59,07 ng/mL => ∆ = 21,01

• k là tỉ số cỡ mẫu n2/n1 Chọn k = 0,5

=> Cỡ mẫu tối thiểu cần có của nhóm 1 (nhóm bệnh nhân vảy nến) là 62 và nhóm 2 (nhóm chứng) là 31.

Chọn mẫu thuận tiện, liên tục.

- Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên.

Bệnh nhân được chẩn đoán vảy nến mảng, vảy nến mủ và vảy nến đỏ da toàn thân dựa vào tiền sử bệnh vảy nến và các triệu chứng da liễu xuất hiện trên lâm sàng.

- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định viêm khớp vảy nến dựa vào tiêu chuẩn CASPAR.

- Với các trường hợp lâm sàng không điển hình sẽ được hội chẩn và làm giải phẫu bệnh để xác định chẩn đoán.

- Đồng ý tham gia nghiên cứu.

Người từ 18 tuổi trở lên không bị bệnh vảy nến, bao gồm nhân viên y tế, sinh viên và người nhà của bệnh nhân không mắc bệnh này, đồng thời không có tiền sử gia đình mắc bệnh vảy nến.

- Có độ tuổi, giới tính tương đồng với nhóm bệnh nhân vảy nến.

- Đồng ý tham gia nghiên cứu.

- Phụ nữ có thai hoặc cho con bú

Bệnh nhân mắc các bệnh lý nhiễm trùng cấp hoặc mãn tính, cùng với các bệnh nội khoa, có thể trải qua sự thay đổi nồng độ lipocalin-2 Điều này thường xảy ra trong các tình trạng như tổn thương thận cấp, bệnh thận mạn, bệnh thận lupus, viêm tuỵ cấp nặng, viêm ruột, và thoái hoá sụn trong các bệnh khớp Ngoài ra, các bệnh tự miễn như lupus đỏ hệ thống và viêm khớp dạng thấp, cũng như suy giảm miễn dịch và bệnh lý ác tính, cũng có thể ảnh hưởng đến nồng độ này.

Bệnh nhân vảy nến đang sử dụng các thuốc điều trị hệ thống và ức chế miễn dịch như methotrexate, acitretin và cyclosporin có thể gặp ảnh hưởng đến lipid máu và tình trạng viêm Việc đánh giá các yếu tố này cần được thực hiện trong vòng 6 tháng trước khi tiến hành nghiên cứu.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Công cụ thu thập số liệu

- Bảng thu thập số liệu (phụ lục 2)

- Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu (phụ lục 3)

- Máy đo huyết áp cơ học

- Ống tiêm dung tích 5ml và ống đựng máu có chất chống đông EDTA

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

Bệnh nhân được chẩn đoán vảy nến khi vào viện sẽ được thông tin về mục tiêu và phương pháp nghiên cứu Nếu đồng ý tham gia, họ sẽ ký vào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu.

Bệnh nhân sẽ được hỏi bệnh và thăm khám để xác định xem có đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu hay không Quá trình này bao gồm việc ghi nhận thông tin vào bảng thu thập số liệu, trong đó có hỏi về bệnh sử như tuổi khởi phát, thời gian mắc bệnh, vị trí sang thương, tiền sử dùng thuốc, các bệnh lý khác và tiền sử gia đình Ngoài ra, bệnh nhân sẽ được khám các cơ quan, đo chiều cao, cân nặng, vòng bụng và huyết áp Cuối cùng, việc khám da sẽ bao gồm phân loại lâm sàng, xác định vị trí, diện tích và đặc điểm sang thương hiện tại, cũng như ghi nhận tổn thương móng, tổn thương khớp và phân độ nặng của bệnh.

- Phỏng vấn bệnh nhân để đánh giá chất lượng cuộc sống bằng bảng câu hỏi DLQI.

- Chụp hình ghi nhận một số hình ảnh sang thương điển hình.

Bệnh nhân sẽ được lấy máu để xét nghiệm nồng độ lipocalin-2 huyết tương, bilan lipid (bao gồm HDL cholesterol, triglyceride, cholesterol toàn phần), đường huyết tĩnh mạch đói và hs-CRP huyết thanh Mẫu máu cần được lấy từ tĩnh mạch sau khi nhịn đói ít nhất 8 tiếng, sử dụng ống tiêm 5ml và phân chia vào 3 ống nghiệm chứa chất chống đông EDTA cho lipocalin-2, chất chống đông NaF cho glucose máu đói, và ống không chứa chất chống đông cho các xét nghiệm sinh hóa khác Các ống máu thu thập được phải được giữ lạnh và chuyển đến khoa xét nghiệm Medic Hoà Hảo trong vòng 2 giờ.

- Những người hiện tại khoẻ mạnh (nhân viên y tế, sinh viên, học viên, người nhà của bệnh nhân không phải vảy nến…) thoả tiêu chuẩn chọn mẫu.

Sau khi được giải thích về mục tiêu và phương pháp nghiên cứu, những người đồng ý tham gia sẽ ký vào phiếu đồng ý Tiếp theo, quá trình thu thập thông tin lâm sàng, yếu tố nguy cơ, tiền căn và mẫu máu sẽ được thực hiện để tiến hành các xét nghiệm tương tự.

2.4.3 Nhập và xử lí số liệu

- Số liệu thu thập được nhập và quản lí bằng phần mềm Excel 2019

- Phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê R version 3.6.3

Các biến số định tính được thể hiện qua tần số và tỷ lệ phần trăm, trong khi các biến số định lượng được trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn khi có phân phối bình thường, và dưới dạng trung vị với khoảng tứ phân vị khi không có phân phối bình thường.

- Để so sánh 2 hoặc nhiều tỉ lệ dùng test Chi-square hoặc Fisher.

Để so sánh giá trị trung bình giữa các nhóm, sử dụng phép kiểm t-test cho hai nhóm và ANOVA cho ba nhóm trở lên khi biến số có phân phối bình thường Ngược lại, nếu biến số không theo phân phối bình thường, áp dụng phép kiểm Mann-Whitney cho hai nhóm và Kruskal-Wallis cho ba nhóm trở lên.

Để xác định mối tương quan giữa các biến, sử dụng phép kiểm tương quan Pearson khi biến phụ thuộc có phân phối bình thường, và tương quan Spearman khi biến phụ thuộc không theo phân phối bình thường Hệ số tương quan được ký hiệu là r.

- Sử dụng phương pháp Bootstrap để tính khoảng tin cậy 95% sự khác biệt giữa 2 biến số định lượng không theo phân phối bình thường.

- Sự khác biệt được xem có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 với độ tin cậy 95%.

KỸ THUẬT ĐỊNH LƯỢNG LIPOCALIN-2 TRONG HUYẾT TƯƠNG

In this study, we quantified the concentration of lipocalin-2 in plasma using the sandwich Enzyme Linked Immunosorbent Assay (ELISA) method with the Human NGAL ELISA kit (KIT 036RUO, BioPorto Diagnostics, Denmark).

Trong bước đầu tiên, các mẫu chuẩn, mẫu pha loãng và chứng được ủ trong các giếng đã được gắn sẵn kháng thể đơn dòng kháng NGAL người NGAL có trong mẫu dịch cần định lượng sẽ kết hợp với kháng thể cố định ở đáy giếng, trong khi các thành phần sinh học không gắn kết sẽ được rửa sạch.

Bước 2: Thêm kháng thể đơn dòng kháng NGAL gắn biotin vào mỗi giếng và tiến hành ủ Các kháng thể này sẽ liên kết với NGAL đã được giữ lại bởi kháng thể cố định trước đó Sau đó, rửa sạch những kháng thể gắn biotin dư thừa.

• Bước 3: HRP-streptavidin được thêm vào giếng để tạo phức hợp với kháng thể gắn biotin Các HRP-streptavidin không được gắn sẽ được rửa sạch.

Trong bước 4, dung dịch chất nền peroxidase chứa tetramethylbenzidine được thêm vào mỗi giếng, nơi HRP-streptavidin đã gắn sẽ phản ứng với chất nền để tạo ra sản phẩm có màu Phản ứng enzyme sẽ được ngưng lại bằng hóa chất, và độ hấp thụ được đo ở bước sóng 450 nm Độ hấp thụ này phản ánh nồng độ NGAL hoạt động ban đầu trong mỗi giếng Dựa vào đường cong chuẩn từ mẫu pha loãng NGAL với nồng độ đã biết, ta có thể xác định nồng độ NGAL trong mẫu thử.

BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU

Tuổi = năm khảo sát – năm sinh

Biến định lượng, đơn vị: năm

Biến nhị giá, gồm 2 giá trị: nam, nữ

• Tiền sử gia đình có người bị vảy nến:

Người thân, họ hàng trong vòng 3 đời có người mắc bệnh vảy nến Biến nhị giá, gồm 2 giá trị: có, không

• Tiền sử bệnh lý bản thân khác (được chẩn đoán bởi bác sĩ chuyên khoa) Đái tháo đường: có, không

• Mang các chất phản ứng ra nhiệt độ phòng

• Pha loãng mẫu và chứng

• Thêm 100 𝜇L chất pha loãng Calibrator

• Ủ 1 giờ ở nhiệt độ phòng - Rửa 3 lần

• Thêm 100 𝜇L kháng thể kháng NGAL gắn biotin

• Ủ 1 giờ ở nhiệt độ phòng - Rửa 3 lần

• Ủ 1 giờ ở nhiệt độ phòng - Rửa 3 lần

• Thêm 100 𝜇L chất nền chứa tetramethylbenzidine

• Ủ 10 phút ở nhiệt độ phòng nơi tối

• Thêm 100 𝜇L dung dịch ngưng kết

• Độ hấp thụ đo ở bước sóng 450 nm

Tăng huyết áp: có, không

Rối loạn mỡ máu: có, không

Biến định lượng, đơn vị: kg

Biến định lượng, đơn vị: m

• Chỉ số khối cơ thể BMI

Chỉ số BMI = trọng lượng (kg)/ chiều cao 2 (m 2 ), biến định lượng, đơn vị kg/m 2

Phân nhóm BMI theo chuẩn dành cho người châu Á: biến định tính thứ tự, có 4 giá trị: nhẹ cân < 18,5 kg/m 2 ; bình thường 18,5 – 22,9 kg/m 2 ; thừa cân

Đo bằng thước dây ở trung điểm đường nối phần cao nhất mào chậu và phần thấp nhất bờ sườn, đo lúc đói, thì thở ra, tư thế đứng.

Biến định lượng, đơn vị: cm

Đang điều trị: có, không

Đo huyết áp ở tư thế ngồi, tay ngang tim, nghỉ ngơi 15 phút trước khi đo. Biến định lượng, đơn vị: mmHg

2.6.2 Nhóm biến số về đặc điểm lâm sàng

Định nghĩa: thời gian tính từ lúc xuất hiện triệu chứng đầu tiên của bệnh đến thời điểm tiến hành nghiên cứu.

Biến định lượng, đơn vị: năm

Định nghĩa: thời điểm xuất hiện triệu chứng đầu tiên của vảy nến.

Biến định lượng, đơn vị: tuổi

• Phân loại lâm sàng: theo đặc điểm đã mô tả phần tổng quan

Biến định tính danh định, có 4 giá trị:

Vảy nến đỏ da toàn thân

Tính theo quy tắc số 9 của Wallace [84]

• Phân độ nặng vảy nến mảng [66]

Biến nhị giá trong đánh giá mức độ bệnh bao gồm hai loại: nhẹ và trung bình đến nặng Đối với mức độ nhẹ, chỉ số BSA và PASI đều nhỏ hơn hoặc bằng 10 và DLQI cũng nhỏ hơn hoặc bằng 10 Tuy nhiên, nếu DLQI lớn hơn 10 trong trường hợp BSA và PASI vẫn nhỏ hơn hoặc bằng 10, cần cân nhắc chuyển sang mức độ trung bình đến nặng Ngược lại, mức độ trung bình đến nặng được xác định khi BSA lớn hơn 10 hoặc PASI lớn hơn 10 và DLQI lớn hơn 10 Nếu BSA hoặc PASI lớn hơn 10 nhưng DLQI nhỏ hơn hoặc bằng 10, có thể xem xét lại để đánh giá ở mức độ nhẹ.

• Độ nặng vảy nến mủ [37]

Điểm độ nặng vảy nến mủ: biến định lượng

Phân độ nặng vảy nến mủ:

Biến định tính danh định có 3 giá trị: o Nhẹ: điểm độ nặng 0 – 6 điểm o Trung bình: điểm độ nặng 7 – 10 điểm o Nặng: điểm độ nặng 11 – 17 điểm

Tổn thương ở móng: có, không

Đặc điểm tổn thương móng có thể được chia thành hai phần chính: mầm móng và giường móng Ở mầm móng, các dấu hiệu có thể bao gồm rỗ móng, móng trắng, đốm đỏ ở liềm móng và móng bể vụn Trong khi đó, giường móng có thể xuất hiện các triệu chứng như ly móng, giọt dầu hoặc mảng cá hồi, xuất huyết mảnh vụn và tăng sừng dưới móng Đánh giá tổng thể tình trạng này có thể được thực hiện thông qua điểm NAPSI, với tổng điểm tối đa là 160.

Định nghĩa: có tổn thương khớp khi có hiện tượng sưng, nóng, đỏ, đau, biến dạng bất kì khớp nào phù hợp với bệnh cảnh viêm khớp vảy nến.

Biến nhị giá, 2 giá trị: có, không

Bài viết này đề cập đến các vị trí khớp có thể bị tổn thương, bao gồm khớp ngoại biên như khớp bàn-ngón tay, khớp bàn-ngón chân, khớp gối, khớp cổ tay, khớp vai và khớp thái dương-hàm, với các trường hợp có hoặc không Ngoài ra, bài viết cũng xem xét các khớp trục, bao gồm cột sống cổ, cột sống thắt lưng và khớp cùng-chậu, cũng với tình trạng có hoặc không.

Biến nhị giá: có, không

• Liệu pháp đã điều trị

Trong tháng qua, đã ghi nhận các phương pháp điều trị vảy nến bao gồm thuốc thoa tại chỗ như thuốc tiêu sừng (Salicylic Acid, Vitamin D3 và dẫn xuất), Retinoids (Tazarotene), Anthralin, và thuốc ức chế miễn dịch (Tacrolimus, Pimecrolimus) Bên cạnh đó, quang liệu pháp cũng được áp dụng, bao gồm UVB phổ hẹp, PUVA, và Laser Ngoài ra, cũng cần ghi nhận các thuốc điều trị bệnh khác liên quan.

• Chất lượng cuộc sống DLQI [33]:

Trả lời 10 câu hỏi ở phụ lục 2

Biến định lượng, giá trị từ 0 – 30 điểm

2.6.3 Nhóm biến số về đặc điểm cận lâm sàng

• Nồng độ lipocalin-2 huyết tương

Biến định lượng, đơn vị ng/mL

Đang điều trị: có, không

Nồng độ TG: biến định lượng, đơn vị mg/dL

Đang điều trị: có, không

Biến định lượng, đơn vị mg/dL

Đang điều trị: có, không

Nồng độ VLDL-C ước lượng = nồng độ TG x 1/5, đơn vị mg/dL

Đang điều trị: có, không

Biến định lượng, đơn vị mg/dL

Đang điều trị: có, không

Nồng độ LDL-C = Cholesterol TP – HDL-C – VLDL-C, đơn vị mg/dL theo công thức của Friedewald [36]

• Nồng độ glucose máu đói

Lấy máu tĩnh mạch sau nhịn đói qua đêm (ít nhất 8 tiếng)

Đang điều trị: có, không

Biến định lượng, đơn vị mg/dL

Biến nhị giá: có, không

Hội chứng chuyển hoá được xác định khi có ít nhất 3 trong 5 tiêu chuẩn của NCEP ATP III (2004) điều chỉnh cho người châu Á, bao gồm: vòng bụng ≥ 90 cm ở nam và ≥ 80 cm ở nữ, huyết áp ≥ 130/85 mmHg hoặc đang điều trị, HDL-C < 40 mg/dL ở nam và < 50 mg/dL ở nữ hoặc đang điều trị, triglyceride ≥ 150 mg/dL hoặc đang điều trị, và glucose máu đói ≥ 100 mg/dL hoặc đang điều trị Số lượng các yếu tố của hội chứng chuyển hoá có thể được xem xét như là biến định lượng.

• Nồng độ hs-CRP huyết thanh

Biến định lượng, đơn vị mg/L

• Thang điểm nguy cơ Framingham

Biến định lượng và các chỉ số thang điểm bao gồm tuổi, giới tính, tình trạng hút thuốc lá, huyết áp tâm thu, nồng độ cholesterol toàn phần và HDL-C đã được ghi nhận và tính toán theo hướng dẫn của NCEP ATP III (2002).

Phân nhóm nguy cơ tim mạch: biến định tính thứ tự có 3 giá trị

VẤN ĐỀ Y ĐỨC

Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều đồng ý tự nguyện sau khi được giải thích rõ ràng về mục đích, lợi ích và các xét nghiệm cần thực hiện.

- Việc thực hiện nghiên cứu không làm chậm trễ việc chẩn đoán hay cản trở điều trị cho bệnh nhân

Nghiên cứu được thực hiện bởi người chuyên nghiệp, bao gồm việc lấy mẫu máu, gửi đi xét nghiệm và thanh toán chi phí, đảm bảo không gây hại về thể chất, tinh thần và tài chính cho bệnh nhân, đồng thời không gây phiền hà cho họ.

- Các dữ liệu thông tin của bệnh nhân được bảo mật hoàn toàn và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học

Bệnh nhân vảy nến đến khám tại bệnh viện Da liễu

Giải thích về nghiên cứu và đồng ý tham gia Hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng

Hoàn tất bảng thu thập số liệu

Lấy 5 ml máu Đưa mẫu máu đến

Medic Hoà Hảo Kết quả xét nghiệm

Nhóm chứng tương đồng về tuổi, giới với nhóm bệnh

Giải thích về nghiên cứu và đồng ý tham gia

Phỏng vấn, ghi nhận các dữ kiện lâm sàng Hoàn tất bảng thu thập số liệu

Lấy 5 ml máu Đưa mẫu máu đến

Medic Hoà HảoKết quả xét nghiệm

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1.1 Một số đặc điểm chung của nhóm bệnh và nhóm chứng

Bảng 3.1 So sánh một số đặc điểm chung của nhóm bệnh và nhóm chứng Đặc điểm Nhóm bệnh

† Biến số có phân phối bình thường, trình bày dạng trung bình ± độ lệch chuẩn

†† Biến số không có phân phối bình thường, trình bày dạng trung vị (khoảng tứ phân vị)

BMI, Body Mass Index; HCCH, hội chứng chuyển hóa

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân vảy nến và nhóm chứng về giới tính, tuổi tác, chỉ số khối cơ thể (BMI), phân độ BMI theo chuẩn người châu Á, vòng bụng và tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa, với p > 0,05 cho tất cả các phép kiểm so sánh.

3.1.2 Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan của nhóm bệnh nhân vảy nến 3.1.2.1 Tuổi khởi phát

Theo y văn, bệnh nhân vảy nến type I, đặc biệt là những người mang kháng nguyên HLA-Cw6, thường có tuổi khởi phát sớm trước 40 tuổi và biểu hiện lâm sàng nặng hơn so với bệnh nhân vảy nến type II khởi phát sau 40 tuổi Do đó, chúng tôi đã thực hiện thống kê tỉ lệ bệnh nhân khởi phát sớm trong mẫu nghiên cứu, kết quả được trình bày ở bảng dưới đây.

Bảng 3.2 Phân bố tuổi khởi phát

Nhóm tuổi khởi phát n Tỉ lệ (%)

Trung vị (tứ phân vị) 25,5 (18,0 – 37,0)

Tuổi nhỏ nhất – lớn nhất 4 – 61

Tuổi khởi phát bệnh vảy nến trong mẫu nghiên cứu dao động từ 4 đến 61 tuổi, với hơn 75% bệnh nhân có tuổi khởi phát sớm, tức là trước 40 tuổi.

Chúng tôi đã kiểm tra sự khác biệt về tuổi khởi phát bệnh ở các phân nhóm vảy nến khác nhau, và kết quả được trình bày trong bảng dưới đây.

Bảng 3.3 So sánh tuổi khởi phát giữa các thể vảy nến

Thể vảy nến n Tuổi khởi phát

Trung vị (tứ phân vị) p Phép kiểm Vảy nến ĐDTT 21 28,0 (20,0 – 45,0)

Nhận xét: Các thể vảy nến khác nhau không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về độ tuổi khởi phát bệnh (p = 0,410).

Bệnh nhân vảy nến có thời gian mắc bệnh trên 10 năm có nguy cơ cao bị viêm khớp vảy nến hơn so với những người mắc bệnh dưới 10 năm Vì lý do này, chúng tôi đã chọn mốc thời gian 10 năm để tiến hành phân tích trong nghiên cứu này.

Bảng 3.4 Phân bố thời gian mắc bệnh

Thời gian mắc bệnh n Tỉ lệ (%)

Thời gian mắc bệnh thường dao động từ vài tháng đến 42 năm, với hơn 1/3 số bệnh nhân trải qua thời gian mắc bệnh kéo dài trên 10 năm.

Chúng tôi cũng so sánh thời gian mắc bệnh giữa các thể vảy nến khác nhau trong nghiên cứu, kết quả được trình bày ở bảng dưới:

Bảng 3.5 So sánh thời gian mắc bệnh giữa các thể vảy nến

Thể vảy nến n Thời gian mắc

Trung vị (tứ phân vị) p Phép kiểm Vảy nến ĐDTT 21 10,0 (7,0 – 17,0)

Nhận xét: Thời gian mắc bệnh của các thể vảy nến không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,343).

Tổn thương móng ở bệnh nhân viêm khớp vảy nến có mối liên hệ chặt chẽ với mức độ nghiêm trọng của bệnh Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng tỷ lệ tổn thương móng có sự khác biệt rõ rệt giữa các phân nhóm bệnh vảy nến, với các kết quả được thể hiện qua biểu đồ dưới đây.

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ tổn thương móng ở các phân nhóm vảy nến

Nghiên cứu cho thấy, tổn thương móng là triệu chứng phổ biến ở hầu hết bệnh nhân mắc bệnh vảy nến đỏ da toàn thân Trong khi đó, chỉ có khoảng 2/3 bệnh nhân bị vảy nến mảng và hơn 1/3 bệnh nhân vảy nến mủ gặp phải tình trạng tương tự.

Ngoài ra, chúng tôi cũng đánh giá mức độ tổn thương móng ở các phân nhóm vảy nến trong nghiên cứu:

Bảng 3.6 Chỉ số độ nặng vảy nến móng NAPSI của các phân nhóm vảy nến

Phân nhóm vảy nến n Điểm NAPSI

Trung bình ± ĐLC p Phép kiểm

Nhận xét cho thấy rằng nhóm bệnh nhân mắc vảy nến đỏ da toàn thân có mức độ tổn thương móng cao nhất, tiếp theo là nhóm vảy nến mủ, trong khi nhóm vảy nến mảng có mức độ tổn thương thấp nhất.

Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,018.

Tương tự, chúng tôi cũng phân tích tỉ lệ tổn thương khớp ở các phân nhóm vảy nến khác nhau, kết quả được thể hiện ở biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ tổn thương khớp ở các phân nhóm vảy nến

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có 16 bệnh nhân vảy nến có tổn thương khớp, trong đó nhóm bệnh nhân vảy nến đỏ da toàn thân có tỉ lệ tổn thương khớp cao nhất, vượt quá 40% Tỉ lệ tổn thương khớp ở nhóm này gấp đôi so với nhóm bệnh nhân vảy nến mảng Đối với nhóm vảy nến mủ, tỉ lệ tổn thương khớp chỉ đạt 15%.

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận rằng tất cả các tổn thương khớp ở bệnh nhân đều là tổn thương khớp đang hoạt động, với triệu chứng đau khớp và có thể kèm theo sưng đỏ.

Vị trí các khớp bị tổn thương khá đa dạng:

- Khớp ngoại biên: khớp bàn – ngón tay, khớp bàn – ngón chân, khớp gối, khớp cổ tay, khớp vai, khớp thái dương hàm.

- Khớp trục: khớp cột sống cổ, khớp cột sống thắt lưng, khớp cùng – chậu.

Bảng 3.7 Tỉ lệ các loại tổn thương khớp phân theo vị trí

Tổn thương khớp n Tỉ lệ (%)

Khớp trục và khớp ngoại biên 12 75,0

Trong số các bệnh nhân có tổn thương khớp, tỷ lệ bệnh nhân chỉ bị tổn thương khớp ngoại biên đơn thuần chiếm một phần nhỏ, trong khi phần lớn bệnh nhân có tổn thương phối hợp cả khớp trục và khớp ngoại biên Nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận trường hợp nào chỉ bị tổn thương khớp trục đơn thuần.

3.1.2.5 Phân độ nặng các thể vảy nến

Bảng dưới đây thống kê phân độ mức độ nặng ở từng phân nhóm vảy nến:

Bảng 3.8 Phân độ nặng của các phân nhóm vảy nến

Phân độ n Tỉ lệ (%) Điểm độ nặng

‡ Phân độ nặng vảy nến mảng theo đồng thuận của Châu Âu năm 2011

‡‡ Phân độ nặng vảy nến mủ theo Guideline của Nhật Bản năm 2018

Trong nghiên cứu về nhóm vảy nến mảng, có tới 61,9% bệnh nhân mắc bệnh ở mức trung bình đến nặng Đối với phân nhóm vảy nến mủ, tỷ lệ bệnh nhân cũng ghi nhận mức độ nặng đáng kể.

3.1.3 Đặc điểm cận lâm sàng của nhóm bệnh và nhóm chứng

Chúng tôi đã thực hiện một cuộc so sánh để xác định sự khác biệt về bilan lipid máu và nồng độ hs-CRP giữa các phân nhóm bệnh nhân vảy nến và nhóm chứng, với kết quả được trình bày trong bảng dưới đây.

Bảng 3.9 So sánh một số chỉ số cận lâm sàng giữa nhóm bệnh và nhóm chứng

Chỉ số cận lâm sàng

† Biến số có phân phối bình thường, trình bày dạng trung bình ± độ lệch chuẩn

†† Biến số có phân phối không bình thường, trình bày dạng trung vị (khoảng tứ phân vị)

Phép kiểm T – Test dùng để so sánh sự khác biệt nồng độ chất có phân phối bình thường giữa 2 nhóm

Phép kiểm Mann – Whitney dùng để so sánh sự khác biệt nồng độ chất không có phân phối bình thường giữa 2 nhóm

HDL-C, High Density Lipoprotein Cholesterol; LDL-C, Low Density Lipoprotein Cholesterol; hs-CRP, high sensitive C-Reactive Protein.

Nhóm bệnh nhân mắc vảy nến đỏ da toàn thân, vảy nến mủ và viêm khớp vảy nến có nồng độ cholesterol toàn phần, HDL-C và LDL-C thấp hơn đáng kể so với nhóm chứng (p < 0,001) Tuy nhiên, nồng độ triglyceride của ba thể bệnh này không khác biệt so với nhóm chứng (p > 0,05).

NỒNG ĐỘ LIPOCALIN-2 HUYẾT TƯƠNG

3.2.1 Nồng độ lipocalin-2 huyết tương giữa nhóm bệnh và nhóm chứng

Bảng 3.13 So sánh nồng độ lipocalin-2 giữa nhóm bệnh và nhóm chứng

Lipocalin-2 (ng/mL) p Phép kiểm

Trung vị (tứ phân vị) Giá trị cao nhất Giá trị thấp nhất

Nồng độ lipocalin-2 huyết tương ở bệnh nhân vảy nến cao hơn đáng kể so với nhóm chứng, với giá trị trung bình là 89,2 ng/mL Khoảng tin cậy 95% cho thấy độ khác biệt dao động từ 82,2 đến 198,2 ng/mL, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

3.2.2 Nồng độ lipocalin-2 huyết tương giữa các phân nhóm vảy nến

** (p < 0,01), **** (p < 0,0001): giá trị p khi so sánh từng cặp bằng phép kiểm Mann-Whitney

Biểu đồ 3.3 So sánh nồng độ lipocalin-2 huyết tương giữa các nhóm

Cả 4 phân nhóm vảy nến khác nhau đều có nồng độ lipocalin-2 huyết tương cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p < 0,0001) Trong đó nồng độ lipocalin-2 của nhóm vảy nến đỏ da toàn thân cao nhất với trung vị 381,7 ng/mL(khoảng tứ phân vị 297,7 – 500,0 ng/mL), cao thứ hai là nhóm viêm khớp vảy nến với trung vị 338,4 ng/mL (khoảng tứ phân vị 226,3 – 479,7 ng/mL), kế đến là nhóm vảy nến mủ với trung vị 257,9 ng/mL (khoảng tứ phân vị 236,4 – 365,8 ng/mL), nhóm vảy nến mảng có nồng độ lipocalin-2 thấp nhất với trung vị 203,9 ng/mL (khoảng tứ phân vị 165,0 – 237,9 ng/mL) Sự khác biệt nồng độ lipocalin-2 huyết tương giữa các thể vảy nến khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).

Biểu đồ cho thấy nồng độ lipocalin-2 ở nhóm bệnh nhân vảy nến đỏ da toàn thân, vảy nến mủ và viêm khớp vảy nến cao hơn đáng kể so với nhóm vảy nến mảng, với các giá trị p lần lượt là p < 0,0001; p < 0,01 và p < 0,01.

MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ LIPOCALIN-2 HUYẾT TƯƠNG VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

3.3.1 Mối tương quan giữa nồng độ lipocalin-2 và các đặc điểm dịch tễ của nhóm bệnh và nhóm chứng

3.3.1.1 Nồng độ lipocalin-2 huyết tương theo giới tính

Biểu đồ 3.4 So sánh nồng độ lipocalin-2 huyết tương giữa hai giới

Trong nghiên cứu về bệnh nhân vảy nến, nồng độ lipocalin-2 ở nam giới cao hơn nữ giới với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Ngược lại, trong nhóm chứng, nồng độ lipocalin-2 giữa hai giới không cho thấy sự khác biệt (p = 1).

3.3.1.2 Mối tương quan nồng độ lipocalin-2 với tuổi, BMI, vòng bụng Ở biểu đồ dưới đây, chúng tôi so sánh mối tương quan giữa nồng độ lipocalin-2, tuổi, BMI và vòng bụng cho 62 người thuộc nhóm bệnh và 31 người khỏe mạnh nhóm chứng.

‘ ’ (p ≤ 1), ‘.’ (p < 0,1), ‘*’ (p < 0,05), ‘**’ (p < 0,01), ‘***’ (p < 0,001): giá trị p khi xét mối tương quan từng cặp bằng phép kiểm Spearman

BMI, Body Mass Index; Corr, Correlation coefficient

Biểu đồ 3.5 Mối tương quan giữa nồng độ lipocalin-2, tuổi, BMI và vòng bụng

Mẫu Lipocalin.2 Tuổi BMI Vòng.bụng

Biểu đồ phân bố cho thấy không có mối tương quan giữa nồng độ lipocalin-2 với tuổi, chỉ số BMI và vòng bụng trong cả nhóm bệnh và nhóm chứng, với giá trị p > 0,05 ở tất cả các phép kiểm.

Chúng tôi không phát hiện mối liên hệ nào giữa nồng độ lipocalin-2 với tuổi tác, chỉ số BMI và vòng bụng khi phân tích riêng từng nhóm bệnh nhân mắc các loại vảy nến như vảy nến đỏ da toàn thân, vảy nến mảng, vảy nến mủ và viêm khớp vảy nến (xem bảng 4, phụ lục 1).

3.3.1.3 Nồng độ lipocalin-2 theo phân độ BMI, hội chứng chuyển hóa và nguy cơ tim mạch

Lipocalin-2 được coi là một chỉ số quan trọng của rối loạn chuyển hóa Chúng tôi đã tiến hành so sánh nồng độ lipocalin-2 giữa các nhóm bệnh nhân dựa trên chỉ số BMI, nguy cơ tim mạch theo thang điểm Framingham và hội chứng chuyển hóa Nghiên cứu này bao gồm 62 bệnh nhân mắc bệnh vảy nến và 31 người trong nhóm chứng, với kết quả được trình bày chi tiết trong bảng dưới đây.

Bảng 3.14 So sánh nồng độ lipocalin-2 theo phân độ BMI, hội chứng chuyển hóa và nguy cơ tim mạch ở nhóm bệnh và nhóm chứng

Nhóm bệnh Nhóm chứng n (N = 62) Giá trị p n

(N = 31) Giá trị p Phân độ BMI

Nồng độ lipocalin-2 trong huyết tương không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm phân độ BMI, hội chứng chuyển hóa và nguy cơ tim mạch ở cả bệnh nhân và nhóm chứng, với p > 0,05 trong tất cả các phép kiểm so sánh.

3.3.2 Mối tương quan giữa nồng độ lipocalin-2 và các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân vảy nến

3.3.2.1 Nồng độ lipocalin-2 và tiền căn gia đình

Chúng tôi đã so sánh nồng độ lipocalin-2 của 62 bệnh nhân, chia thành hai nhóm: một nhóm có tiền sử gia đình mắc bệnh vảy nến và một nhóm không Mục tiêu là khảo sát mối liên hệ giữa lipocalin-2 và yếu tố di truyền liên quan đến bệnh vảy nến.

Bảng 3.15 So sánh nồng độ lipocalin-2 theo tiền căn gia đình

Tiền căn gia đình n Lipocalin-2 (ng/mL)

Trung vị (tứ phân vị) p Phép kiểm

Nghiên cứu cho thấy nồng độ lipocalin-2 trong huyết tương không khác biệt đáng kể giữa nhóm bệnh nhân có tiền sử gia đình mắc bệnh vảy nến và nhóm không có tiền sử này, với giá trị p là 0,669.

3.3.2.2 Nồng độ lipocalin-2 và tuổi khởi phát, thời gian mắc bệnh

Mối liên quan giữa nồng độ lipocalin-2 ở 62 bệnh nhân vảy nến với hai yếu tố là tuổi khởi phát và thời gian mắc bệnh đã được phân tích và trình bày trong các bảng dưới đây.

Bảng 3.16 So sánh nồng độ lipocalin-2 theo tuổi khởi phát

Tuổi khởi phát n Lipocalin-2 (ng/mL)

Trung vị (tứ phân vị) p Phép kiểm

Nồng độ lipocalin-2 huyết tương không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân khởi phát sớm (< 40 tuổi) và nhóm khởi phát muộn (≥ 40 tuổi), với giá trị p là 0,500.

Bảng 3.17 So sánh nồng độ lipocalin-2 theo thời gian mắc bệnh

Thời gian mắc n Lipocalin-2 (ng/mL)

Trung vị (tứ phân vị) p Phép kiểm

Nồng độ lipocalin-2 trong huyết tương không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân mắc bệnh dưới 10 năm và nhóm trên 10 năm, với giá trị p là 0,994.

Bảng 3.18 Mối tương quan giữa nồng độ lipocalin-2 với tuổi khởi phát và thời gian mắc bệnh

Các yếu tố Nồng độ lipocalin-2

Nồng độ lipocalin-2 trong huyết tương của bệnh nhân vảy nến không có mối liên hệ đáng kể với độ tuổi khởi phát bệnh, cũng như thời gian mắc bệnh, với giá trị p lần lượt là 0,639 và 0,705.

3.3.2.3 Nồng độ lipocalin-2 và các chỉ số đánh giá độ nặng vảy nến

Chúng tôi đã khảo sát mối liên hệ giữa nồng độ lipocalin-2 trong huyết tương của bệnh nhân vảy nến và các chỉ số đánh giá mức độ nghiêm trọng của các thể vảy nến khác nhau Kết quả khảo sát được trình bày dưới dạng biểu đồ, với sự chú ý đặc biệt vào nồng độ lipocalin-2 và diện tích tổn thương.

Mối tương quan giữa nồng độ lipocalin-2 huyết tương và diện tích tổn thương tính chung cho tất cả các nhóm bệnh được trình bày ở biểu đồ dưới đây:

(tương quan Spearman) BSA, Body Surface Area

Biểu đồ 3.6 Mối tương quan giữa nồng độ lipocalin-2 và diện tích tổn thương

Nghiên cứu cho thấy có mối tương quan tích cực mạnh giữa nồng độ lipocalin-2 trong huyết tương và diện tích tổn thương ở bệnh nhân vảy nến, với hệ số tương quan r đạt 0,59 và p < 0,001.

Nồng độ lipocalin-2 huyết tương (ng/mL)

Chúng tôi đã phân tích mối tương quan giữa nồng độ lipocalin-2 và chỉ số PASI trong các phân nhóm bệnh nhân Kết quả cho thấy chỉ có sự liên quan giữa hai biến số này ở phân nhóm vảy nến mủ, trong khi không phát hiện mối tương quan ở phân nhóm vảy nến mảng và vảy nến đỏ da toàn thân (xem bảng 5, phụ lục 1).

BÀN LUẬN

ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Ở phần này chúng tôi sẽ bàn luận về các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu.

Nghiên cứu trên 62 bệnh nhân vảy nến, bao gồm vảy nến mảng, vảy nến đỏ da toàn thân và vảy nến mủ toàn thể, cho thấy không có sự khác biệt về tuổi, giới tính và chỉ số BMI giữa nhóm bệnh và nhóm chứng Tỉ lệ nam và nữ trong nhóm bệnh là 1,3:1, không chênh lệch đáng kể, với độ tuổi trung vị là 37, cho thấy phần lớn bệnh nhân nằm trong độ tuổi lao động, ảnh hưởng đến công việc và đời sống xã hội BMI trung bình của mẫu nghiên cứu là 21,5 ± 3,4, với 17,7% bệnh nhân béo phì, gần với tỉ lệ 20,7% trong một nghiên cứu ở Anh Béo phì được xem là yếu tố khởi phát vảy nến và có liên quan đến kém đáp ứng trong điều trị Tỷ lệ hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân vảy nến trong nghiên cứu của chúng tôi đạt 19,7%.

Vảy nến có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, với tuổi khởi phát dao động từ 4 đến 61 tuổi, trung vị khoảng 25,5 tuổi Hơn 75% bệnh nhân mắc vảy nến type I, tức khởi phát trước 40 tuổi, phù hợp với nghiên cứu cho thấy có hai đỉnh tuổi khởi phát, từ 20-30 và 50-60 tuổi Các thể vảy nến khác nhau không có sự khác biệt về độ tuổi khởi phát và thời gian mắc bệnh Hơn 1/3 bệnh nhân có thời gian mắc bệnh trên 10 năm, và tổn thương da thường xuất hiện trước triệu chứng khớp trong gần 75% trường hợp, với triệu chứng da phát triển 10 năm trước triệu chứng khớp Do đó, bệnh nhân mắc bệnh trên 10 năm có nguy cơ cao bị viêm khớp vảy nến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống dù diện tích tổn thương có thể hạn chế.

Trong nghiên cứu về tổn thương móng, hầu hết bệnh nhân mắc vảy nến đỏ da toàn thân đều có tổn thương ở móng, trong khi tỷ lệ này chỉ đạt 2/3 ở nhóm vảy nến mảng và hơn 1/3 ở nhóm vảy nến mủ Tỷ lệ tổn thương móng trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các thống kê trong y văn, dao động từ 10% đến 80% tùy thuộc vào từng nghiên cứu.

Nhóm vảy nến đỏ da toàn thân có tổn thương móng nặng nề nhất, trong khi nhóm vảy nến mủ có tỷ lệ tổn thương móng thấp nhất nhưng điểm số NAPSI trung bình cao thứ hai Nhóm vảy nến mảng lại có tổn thương móng nhẹ nhất trong ba thể vảy nến được khảo sát Bệnh nhân mắc vảy nến móng thường có điểm độ nặng của bệnh cao hơn đáng kể so với nhóm không có vảy nến móng, và họ cũng trải qua chất lượng cuộc sống kém hơn, gặp khó khăn trong công việc, thường đi kèm với viêm khớp vảy nến.

Nhóm vảy nến đỏ da toàn thân có tỉ lệ tổn thương khớp cao nhất (42,9%), tiếp theo là nhóm vảy nến mảng (19,1%) và nhóm vảy nến mủ (15,0%) Khoảng 75% bệnh nhân gặp tổn thương khớp nặng, bao gồm cả khớp trục và khớp ngoại biên Theo báo cáo của WHO, tỉ lệ viêm khớp vảy nến dao động từ 1,3% đến 34,7% tùy theo từng nghiên cứu Viêm khớp vảy nến có thể gây ra cơn đau mạn tính, biến dạng và giảm chức năng cơ học của khớp, thường gặp ở bệnh nhân có sang thương da kéo dài.

Để mở rộng đánh giá vai trò của lipocalin-2 trong sinh bệnh học vảy nến, chúng tôi đã thu thập dữ liệu từ ba thể bệnh: vảy nến đỏ da toàn thân, vảy nến mảng và vảy nến mủ với tỷ lệ 1:1:1 Hầu hết bệnh nhân trong các thể bệnh này đều ở mức độ trung bình đến nặng, điều này có thể do việc lấy mẫu tại Bệnh viện Da liễu TP.HCM, nơi có tỷ lệ bệnh nhân vảy nến nặng cao hơn so với nhẹ.

4.1.3 Đặc điểm cận lâm sàng và mối tương quan với chỉ số đánh giá độ nặng

Nghiên cứu về bilan lipid máu ở bệnh nhân vảy nến cho thấy nồng độ cholesterol toàn phần, triglyceride, và LDL-C thường cao hơn, trong khi HDL-C thấp hơn so với nhóm chứng, mặc dù một số nghiên cứu không ghi nhận sự khác biệt Xu hướng này chỉ ra rối loạn lipid máu và tăng nguy cơ bệnh tim mạch ở bệnh nhân vảy nến Đặc biệt, nghiên cứu của chúng tôi phát hiện rằng ở các phân nhóm vảy nến đỏ da toàn thân, vảy nến mủ và viêm khớp vảy nến, nồng độ cholesterol toàn phần, HDL-C và LDL-C thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng, trong khi nhóm vảy nến mảng không có sự khác biệt Điều này có thể do các nghiên cứu trước chủ yếu tập trung vào bệnh nhân vảy nến mảng, một tình trạng viêm mạn tính, trong khi ba thể bệnh kia đại diện cho tình trạng viêm cấp tính, dẫn đến sự khác biệt trong chuyển hóa lipid Phản ứng viêm mạnh mẽ ở ba phân nhóm này được chứng minh qua nồng độ hs-CRP cao hơn đáng kể so với nhóm chứng và nhóm vảy nến mảng Hơn nữa, nồng độ lipid ở ba thể cấp tính này cũng thấp nhất và có tương quan nghịch với các chỉ số đánh giá độ nặng của bệnh.

Khi phản ứng viêm xảy ra, các cytokine gây viêm như TNF, IL-2 và IFN-𝛽 sẽ làm giảm cả HDL-C và LDL-C Điều này liên quan đến việc giảm kích thước các phân tử lipid, dẫn đến tăng lượng HDL-C và LDL-C đặc, nhỏ.

Các phân tử cholesterol có tính ưu việt giúp tích lũy cholesterol ở tế bào ngoại vi và đại thực bào, cung cấp lipid cho hệ miễn dịch, cải thiện khả năng phòng thủ và sửa chữa của cơ thể Cholesterol đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt và phân chia tế bào lympho, bảo vệ cơ thể khỏi các tác động viêm và nhiễm trùng Nồng độ HDL-C và LDL-C giảm dẫn đến giảm cholesterol toàn phần, vì hai loại lipoprotein này chiếm 60-70% và 20-30% tổng cholesterol huyết thanh Sự thay đổi về lipid và lipoprotein không chỉ xảy ra trong bệnh vảy nến mà còn ở các bệnh tự miễn khác như viêm khớp dạng thấp, lupus đỏ hệ thống và các nhiễm trùng cấp tính.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có sự khác biệt về chuyển hóa lipid máu giữa nhóm vảy nến mảng và nhóm chứng trong tình trạng viêm mạn tính Tuy nhiên, ở các thể viêm cấp tính, nồng độ hs-CRP tăng cao và cholesterol máu giảm, cho thấy mối tương quan với mức độ nặng của bệnh Cụ thể, khi triệu chứng bệnh nặng hơn, nồng độ hs-CRP cũng tăng và cholesterol máu giảm Hiện tượng giảm cholesterol ngoại vi (bao gồm cholesterol toàn phần, HDL-C, LDL-C) liên quan đến độ nặng của vảy nến cần được nghiên cứu thêm để làm rõ vai trò của chúng trong cơ chế bệnh sinh phức tạp của bệnh.

NỒNG ĐỘ LIPOCALIN-2 HUYẾT TƯƠNG

Chúng tôi sẽ thảo luận về sự khác biệt trong nồng độ lipocalin-2 giữa nhóm bệnh nói chung và các phân nhóm vảy nến so với nhóm chứng.

4.2.1 Nồng độ lipocalin-2 huyết tương giữa nhóm bệnh và nhóm chứng

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nồng độ lipocalin-2 huyết tương ở bệnh nhân vảy nến cao hơn đáng kể so với nhóm chứng, với giá trị trung bình là 263,6 ng/mL (207,7 – 384,1 ng/mL) so với 125,8 ng/mL (95,7 – 165,5 ng/mL) ở nhóm chứng Các nghiên cứu khác cũng xác nhận kết quả tương tự về nồng độ lipocalin-2 trong huyết thanh và mô của bệnh nhân vảy nến.

Bảng 4.1 Nồng độ lipocalin-2 của các nghiên cứu trên bệnh nhân vảy nến

Tác giả Nhóm bệnh Nhóm chứng n Lipocalin-2 (ng/mL) n Lipocalin-2 (mg/mL) p

(Tây Ban Nha, 2013) 50 •Huyết thanh

(Thổ Nhĩ Kỳ, 2014) 56 •Huyết thanh

(Thổ Nhĩ Kỳ, 2015) 30 •Huyết thanh

•Huyết thanh PASI < 10: 49 (17-97) PASI 10-20: 86 (36-138) PASI > 20: 106 (20-183)

Hầu hết các nghiên cứu hiện nay chỉ tập trung vào bệnh nhân vảy nến mảng, một tình trạng viêm hệ thống mạn tính, mà chưa có nghiên cứu nào đánh giá nồng độ lipocalin-2 ở các thể vảy nến có tình trạng viêm cấp tính như vảy nến đỏ da toàn thân và vảy nến mủ.

4.2.2 Nồng độ lipocalin-2 huyết tương của các phân nhóm vảy nến

Cả 4 phân nhóm vảy nến mảng, vảy nến đỏ da toàn thân, vảy nến mủ toàn thể và viêm khớp vảy nến được khảo sát trong nghiên cứu của chúng tôi đều có nồng độ lipocalin-2 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (giá trị p đều < 0,0001) (biểu đồ 3.3) Theo Guttman-Yassky và cộng sự, sự biểu hiện của protein lipocalin-2 tăng trong thượng bì của sang thương da vảy nến so với da người bình thường [44] Lipocalin-2 được ghi nhận tăng biểu hiện khi có kích thích từ IL-17, một cytokine trung gian có tính quyết định trong kết nối đáp ứng miễn dịch bẩm sinh và mắc phải [32] IL-17 được tiết từ tế bào Th17 trong sang thương da vảy nến có thể làm tăng sự biểu hiện của gene LCN2 trong các tế bào tạo sừng, kể cả 1 mình hay phối hợp với TNF-𝛼 [80] Mặt khác, lipocalin-2 còn có thể định hướng sự tổng hợp các cytokine của Th17 như IL-17A, IL-17F, IL-22, IL-23p19 và IL-23p40, từ đó thúc đẩy quá trình viêm da ở bệnh nhân [46] Ngoài ra, trong một nghiên cứu, Kamata và cộng sự đã tìm ra có mối tương quan đáng kể giữa nồng độ lipocalin-2 và TNF-𝛼 ở bệnh nhân vảy nến [51] TNF-𝛼 là cytokine do tế bào tua gai dDCs sản xuất, đóng vai trò quan trọng trong vòng xoắn bệnh lý của vảy nến mảng theo trục TNF – IL-23 – Th17 (hình 1.2) [24] Vì IL-17 và TNF-𝛼 đều là những cytokine có vai trò chủ chốt trong sinh bệnh học của vảy nến và sự biểu hiện của chúng không chỉ bị giới hạn ở da, nên có thể các mô và tế bào không phải da khác bao gồm các tế bào bạch cầu đa nhân trung tính, đại thực bào, tế bào mỡ, tế bào biểu mô cũng là nguồn sản xuất lipocalin-2 trong máu [4], [46], [51] Như vậy, lipocalin-2 được biểu hiện cao trong các tổn thương vảy nến có thể góp phần trong cơ chế bệnh sinh của bệnh vảy nến bằng cách kích hoạt bạch cầu trung tính để sản xuất cytokine tiền viêm, gây hóa ứng động bạch cầu trung tính [78] và tăng cường phản ứng viêm qua trung gian Th17 [46]

Kết quả nghiên cứu cho thấy lipocalin-2 ở nhóm bệnh nhân vảy nến mủ có thể được giải thích theo cơ chế bệnh sinh khác, đặc biệt là trong tình trạng viêm hệ thống Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào công bố về lipocalin-2 ở thể bệnh này, nhưng có một nghiên cứu cho thấy protein lipocalin-2 xuất hiện trong tế bào tạo sừng ở các sang thương vảy nến mủ lòng bàn tay, bàn chân, với IL-1β là tác nhân kích thích chính Cả vảy nến mủ toàn thể và vảy nến mủ lòng bàn tay, bàn chân đều có đột biến gene IL36RN, dẫn đến tăng tín hiệu IL-36 và sản xuất IL-1 Đột biến này cũng liên quan đến việc tăng biểu hiện trục IL-36 – IL-1β ở nhiều thể vảy nến mủ Bạch cầu đa nhân trung tính đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt sản xuất IL-1β thông qua việc phóng thích enzyme protease Tăng lipocalin-2 ở bệnh nhân vảy nến mủ toàn thể có thể do IL-1β kích hoạt tế bào tạo sừng Ngoài ra, nồng độ lipocalin-2 cũng tăng ở viêm tuyến mồ hôi nung mủ, nơi mà TNF-𝛼 là yếu tố kích thích chính Lipocalin-2 có nhiều chức năng như kháng khuẩn và hoạt động tiền viêm, phản ánh tình trạng viêm da và mụn mủ vô khuẩn của vảy nến mủ toàn thể, đồng thời có khả năng hóa hướng động bạch cầu đa nhân trung tính, góp phần vào sự thâm nhiễm bạch cầu và hình thành mụn mủ trong bệnh.

Trong cơ chế bệnh sinh của vảy nến đỏ da toàn thân, con đường phản ứng viêm chủ yếu liên quan đến việc sản xuất IFN type I từ tế bào đuôi gai pDCs, vượt trội hơn so với con đường TNF – IL-23 – Th17 ở vảy nến mảng Sự biểu hiện quá mức của các peptide kháng khuẩn (AMPs) tại vùng da tổn thương kích hoạt các tế bào pDCs Lipocalin-2, một trong những AMPs được biểu hiện cao ở sang thương vảy nến, có thể đóng vai trò quan trọng trong mối liên hệ giữa lipocalin-2 và con đường viêm này Cần thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu hơn về sự kích hoạt phản ứng miễn dịch qua lipocalin-2 để làm rõ vấn đề này.

Biểu đồ 3.3 cho thấy nồng độ lipocalin-2 ở các phân nhóm có tình trạng viêm cấp tính như vảy nến đỏ da toàn thân, vảy nến mủ và viêm khớp vảy nến cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm vảy nến mảng Điều này chứng tỏ lipocalin-2 có thể đóng vai trò là chỉ điểm cho quá trình viêm hệ thống cấp tính trong bệnh vảy nến.

MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ LIPOCALIN-2 HUYẾT TƯƠNG VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

Chúng tôi sẽ phân tích mối liên hệ giữa nồng độ lipocalin-2 trong huyết tương và các yếu tố dịch tễ, đặc điểm lâm sàng cũng như cận lâm sàng của bệnh nhân mắc bệnh vảy nến.

4.3.1 Mối tương quan giữa nồng độ lipocalin-2 và đặc điểm dịch tễ

Nồng độ lipocalin-2 không có sự khác biệt đáng kể giữa nam và nữ trong nhóm chứng, nhưng ở nhóm bệnh nhân vảy nến, nồng độ này ở nam cao hơn so với nữ với ý nghĩa thống kê rõ ràng Sự chênh lệch này có thể được giải thích bởi tỉ lệ giới tính khác nhau trong các phân nhóm vảy nến trong quá trình thu thập mẫu nghiên cứu.

Bảng 4.2 Tỉ lệ giới tính ở các phân nhóm vảy nến

Nồng độ lipocalin-2 huyết tương ở phân nhóm vảy nến đỏ da toàn thân cao nhất so với hai phân nhóm còn lại, với tỷ lệ nam giới chiếm đến 90,5%, dẫn đến nồng độ lipocalin-2 trung bình của nam cao hơn so với nữ Trong một nghiên cứu tương tự về lipocalin-2 huyết thanh, không có sự khác biệt về nồng độ giữa nam và nữ.

Nồng độ lipocalin-2 huyết tương không có mối liên hệ với tuổi của bệnh nhân vảy nến, theo biểu đồ 3.5 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đó về lipocalin-2 huyết thanh.

Mặc dù lipocalin-2 là một adipokine và có liên quan đến hội chứng chuyển hóa, nhưng nồng độ của nó không tương quan với chỉ số BMI và vòng bụng ở cả nhóm bệnh và nhóm chứng Hơn nữa, không có sự khác biệt về nồng độ lipocalin-2 giữa các phân độ béo phì theo BMI, giữa hai nhóm có và không có hội chứng chuyển hóa, cũng như giữa các phân nhóm nguy cơ tim mạch theo thang điểm Framingham Các nghiên cứu về lipocalin-2 huyết thanh cũng cho kết quả tương tự.

Nghiên cứu cho thấy nồng độ lipocalin-2 tăng cao trong bệnh vảy nến có thể là hệ quả của quá trình viêm, không chỉ đơn thuần là chỉ số liên quan đến rối loạn chuyển hóa như thừa cân hay béo phì Điều này có nghĩa là mức lipocalin-2 cao trong máu không nhất thiết phản ánh hội chứng chuyển hóa hay các bệnh tim mạch ở bệnh nhân vảy nến Mặc dù tế bào mỡ là một trong những tế bào sản xuất lipocalin-2, nhưng vai trò của chúng trong sinh bệnh học của vảy nến vẫn chưa được làm rõ, và tế bào mỡ không phải là nguồn duy nhất sản xuất lipocalin-2 ở bệnh nhân này.

4.3.2 Mối tương quan giữa nồng độ lipocalin-2 và các đặc điểm lâm sàng

4.3.2.1 Tiền căn gia đình, tuổi khởi phát và thời gian mắc bệnh

Chúng tôi không phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ lipocalin-2 huyết tương giữa nhóm có và không có tiền căn gia đình mắc bệnh vảy nến (p = 0,669) cũng như giữa các nhóm bệnh nhân vảy nến type I và type II (p = 0,500).

Nghiên cứu cho thấy không có mối tương quan giữa nồng độ lipocalin-2 với thời gian mắc bệnh dưới và trên 10 năm (p = 0,994) cũng như với tuổi khởi phát và thời gian mắc bệnh của bệnh nhân (p lần lượt là 0,639 và 0,705) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của EL-Hadidi và cộng sự về nồng độ lipocalin-2 huyết thanh Điều này có thể được giải thích bởi lipocalin-2 là một protein pha cấp, dẫn đến việc không tìm thấy mối liên hệ rõ ràng với thời gian mắc bệnh.

Vai trò của lipocalin-2 dường như không liên quan đến yếu tố di truyền, diễn tiến bệnh kéo dài, và nguy cơ phát triển viêm khớp vảy nến, đặc biệt là trong trường hợp mắc bệnh trên 10 năm.

4.3.2.2 Các chỉ số đánh giá độ nặng bệnh

Nồng độ lipocalin-2 có mối tương quan thuận mạnh với diện tích da bị tổn thương ở bệnh nhân vảy nến (r = 0,59; p < 0,001), trong khi không tương quan với BMI và vòng bụng, cho thấy rằng các mô và tế bào ở vùng da tổn thương đóng vai trò chính trong việc sản xuất lipocalin-2 Nghiên cứu đã chỉ ra rằng bạch cầu đa nhân trung tính là nguồn sản xuất chính lipocalin-2 trong vảy nến Hơn nữa, nồng độ lipocalin-2 trong mô cao hơn so với huyết thanh ở bệnh nhân vảy nến, và có sự tương quan giữa nồng độ lipocalin-2 trong mô và huyết thanh, cho thấy bạch cầu đa nhân trung tính có thể làm tăng lipocalin-2 cả tại chỗ và trong máu Sự thâm nhiễm của các tế bào gây viêm vào vùng da tổn thương cũng có thể là nguyên nhân hợp lý giải thích cho sự gia tăng nồng độ lipocalin-2 ở mô tổn thương so với mô da bình thường.

Nồng độ lipocalin-2 có thể phản ánh mức độ tổn thương da ở bệnh nhân vảy nến, với mối tương quan mạnh với chỉ số PASI (r = 0,61; p < 0,001) Lipocalin-2 cũng là chỉ dấu đánh giá độ nặng của vảy nến mủ, tương quan với điểm đánh giá theo guideline của Hội da liễu Nhật Bản năm 2018 (r = 0,63; p = 0,003) Đánh giá độ nặng dựa trên các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng, nhưng không thấy mối tương quan với số lượng bạch cầu trong máu (p = 0,488) và bạch cầu đa nhân trung tính (p = 0,375) Điều này cho thấy lipocalin-2 có thể được sản xuất chủ yếu do rối loạn miễn dịch tại chỗ, không phải từ bạch cầu lưu hành Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chemokine từ tế bào lympho T và tế bào tạo sừng thu hút bạch cầu đa nhân trung tính đến tổn thương vảy nến, nơi lipocalin-2 đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học.

Nồng độ lipocalin-2 trong nghiên cứu không khác biệt giữa nhóm bệnh nhân có và không có tổn thương móng (p = 0,294) Tuy nhiên, ở nhóm bệnh nhân mắc vảy nến móng, nồng độ lipocalin-2 có mối tương quan thuận với chỉ số NAPSI (r = 0,32; p = 0,043) So sánh điểm NAPSI trung bình giữa ba thể vảy nến cho thấy nhóm bệnh nhân vảy nến đỏ da toàn thân và vảy nến mủ có tổn thương móng nặng hơn so với nhóm vảy nến mảng, với điểm NAPSI trung bình lần lượt là 77,8 ± 31,4 và 60,1 ± 21,0, trong khi nhóm vảy nến mảng là 50,1 ± 21,9, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,018) Những dữ kiện này cho thấy độ nặng của vảy nến móng liên quan đến tình trạng viêm cấp tính và nồng độ lipocalin-2 huyết tương có liên quan đến mức độ tổn thương móng hơn là sự hiện diện của tổn thương móng ở bệnh nhân vảy nến.

Nồng độ lipocalin-2 ở nhóm viêm khớp vảy nến cao hơn nhóm chứng với ý nghĩa thống kê (p < 0,0001), tuy nhiên, trong nhóm bệnh nhân vảy nến, không có sự khác biệt về nồng độ này giữa các nhóm tổn thương khớp nhẹ, nặng và không có tổn thương (p = 0,628) Kết quả cho thấy lipocalin-2 là chỉ điểm của tình trạng viêm nhưng không đặc hiệu cho viêm khớp vảy nến và không phản ánh mức độ nặng của tổn thương khớp.

4.3.3 Mối tương quan giữa nồng độ lipocalin-2 và các đặc điểm cận lâm sàng 4.3.3.1 Nồng độ hs-CRP

Nồng độ hs-CRP ở nhóm bệnh nhân tăng đáng kể so với nhóm chứng, cho thấy mối tương quan thuận giữa nồng độ lipocalin-2 huyết và hs-CRP Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây về lipocalin-2 trong huyết thanh và mô Hs-CRP là một chất phản ứng pha cấp nhạy cảm, tăng nhanh trong quá trình viêm, và là chỉ điểm quan trọng trong phản ứng viêm cấp tính Điều này càng củng cố vai trò của lipocalin-2 trong quá trình viêm ở bệnh vảy nến.

Lipocalin-2 là một protein pha cấp quan trọng Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nồng độ lipocalin-2 ở ba thể viêm cấp tính: vảy nến đỏ da toàn thân, vảy nến mủ và viêm khớp vảy nến đều cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với nhóm vảy nến mảng, với p lần lượt < 0,0001; < 0,01 và < 0,01 Kết quả này được thể hiện rõ trong biểu đồ 3.3.

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Trọng Hào, Nguyễn Tất Thắng, Trần Hậu Khang (2016) Nghiên cứu rối loạn lipid máu ở bệnh nhân vảy nến và hiệu quả điều trị hỗ trợ của simvastatin trên bệnh nhân vảy nến thông thường, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu rối loạn lipid máu ở bệnh nhân vảy nến và hiệu quả điều trị hỗ trợ của simvastatin trên bệnh nhân vảy nến thông thường
2. Trần Hậu Khang (2014) "Bệnh vảy nến", Bệnh học da liễu, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, trang 91-99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh vảy nến
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
3. Trương Lê Anh Tuấn, Lê Ngọc Diệp (2011) Mối liên quan giữa bệnh vảy nến và hội chứng chuyển hoá, Luận án chuyên khoa cấp II, Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối liên quan giữa bệnh vảy nến và hội chứng chuyển hoá
4. Abella V., Scotece M., Conde J., et al. (2015) "The potential of lipocalin- 2/NGAL as biomarker for inflammatory and metabolic diseases", Biomarkers, 20 (8), pp. 565-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The potential of lipocalin-2/NGAL as biomarker for inflammatory and metabolic diseases
5. Aizawa N., Ishiuji Y., Tominaga M., et al. (2019) "Relationship between the Degrees of Itch and Serum Lipocalin-2 Levels in Patients with Psoriasis", J Immunol Res, 2019, pp. 8171373 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relationship between the Degrees of Itch and Serum Lipocalin-2 Levels in Patients with Psoriasis
6. Al Harthi F., Huraib G. B., Zouman A., et al. (2014) "Apolipoprotein E gene polymorphism and serum lipid profile in Saudi patients with psoriasis", Dis Markers, 2014, pp. 239645 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Apolipoprotein E gene polymorphism and serum lipid profile in Saudi patients with psoriasis
7. Alberti K. G., Zimmet P. Z. (1998) "Definition, diagnosis and classification of diabetes mellitus and its complications. Part 1: diagnosis and classification of diabetes mellitus provisional report of a WHO consultation", Diabet Med, 15 (7), pp. 539-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Definition, diagnosis and classification of diabetes mellitus and its complications. Part 1: diagnosis and classification of diabetes mellitus provisional report of a WHO consultation
8. Alberti K. G., Zimmet P., Shaw J. (2006) "Metabolic syndrome--a new world- wide definition. A Consensus Statement from the International Diabetes Federation", Diabet Med, 23 (5), pp. 469-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Metabolic syndrome--a new world-wide definition. A Consensus Statement from the International Diabetes Federation
9. Ataseven A., Kesli R., Kurtipek G. S., Ozturk P. (2014) "Assessment of lipocalin 2, clusterin, soluble tumor necrosis factor receptor-1, interleukin-6, homocysteine, and uric acid levels in patients with psoriasis", Dis Markers, 2014, pp. 541709 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment of lipocalin 2, clusterin, soluble tumor necrosis factor receptor-1, interleukin-6, homocysteine, and uric acid levels in patients with psoriasis
10. Augustin M., Reich K., Blome C., et al. (2010) "Nail psoriasis in Germany: epidemiology and burden of disease", Br J Dermatol, 163 (3), pp. 580-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nail psoriasis in Germany: epidemiology and burden of disease
11. Bai F., Zheng W., Dong Y., et al. (2018) "Serum levels of adipokines and cytokines in psoriasis patients: a systematic review and meta-analysis", Oncotarget, 9 (1), pp. 1266-1278 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Serum levels of adipokines and cytokines in psoriasis patients: a systematic review and meta-analysis
12. Balkau B., Charles M. A. (1999) "Comment on the provisional report from the WHO consultation. European Group for the Study of Insulin Resistance (EGIR)", Diabet Med, 16 (5), pp. 442-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comment on the provisional report from the WHO consultation. European Group for the Study of Insulin Resistance (EGIR)
13. Baran A., Swiderska M., Mysliwiec H., Flisiak I. (2017) "Effect of psoriasis activity and topical treatment on serum lipocalin-2 levels", J Dermatolog Treat, 28 (2), pp. 136-140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of psoriasis activity and topical treatment on serum lipocalin-2 levels
14. Beygi S., Lajevardi V., Abedini R. (2014) "C-reactive protein in psoriasis: a review of the literature", J Eur Acad Dermatol Venereol, 28 (6), pp. 700-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C-reactive protein in psoriasis: a review of the literature
15. Bloomgarden Z. T. (2003) "American Association of Clinical Endocrinologists (AACE) consensus conference on the insulin resistance syndrome: 25-26 August 2002, Washington, DC", Diabetes Care, 26 (4), pp. 1297-303 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Association of Clinical Endocrinologists (AACE) consensus conference on the insulin resistance syndrome: 25-26 August 2002, Washington, DC
16. Boehncke W. H., Boehncke S., Tobin A. M., Kirby B. (2011) "The 'psoriatic march': a concept of how severe psoriasis may drive cardiovascular comorbidity", Exp Dermatol, 20 (4), pp. 303-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The 'psoriatic march': a concept of how severe psoriasis may drive cardiovascular comorbidity
17. Catalan V., Gomez-Ambrosi J., Rodriguez A., et al. (2009) "Increased adipose tissue expression of lipocalin-2 in obesity is related to inflammation and matrix metalloproteinase-2 and metalloproteinase-9 activities in humans", J Mol Med (Berl), 87 (8), pp. 803-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Increased adipose tissue expression of lipocalin-2 in obesity is related to inflammation and matrix metalloproteinase-2 and metalloproteinase-9 activities in humans
19. Chakraborty S., Kaur S., Guha S., Batra S. K. (2012) "The multifaceted roles of neutrophil gelatinase associated lipocalin (NGAL) in inflammation and cancer", Biochim Biophys Acta, 1826 (1), pp. 129-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The multifaceted roles of neutrophil gelatinase associated lipocalin (NGAL) in inflammation and cancer
20. Chiang C. C., Cheng W. J., Korinek M., Lin C. Y., Hwang T. L. (2019) "Neutrophils in Psoriasis", Front Immunol, 10, pp. 2376 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neutrophils in Psoriasis
21. Christopher Griffiths, Jonathan Barker, Tanya Bleiker, Robert Chalmers, Daniel Creamer (2016) "Psoriasis and Related Disorders", Rook's Textbook of Dermatology, 9th ed, Wiley Blackwell, pp. 1133-1180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psoriasis and Related Disorders

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w