Mối liên quan giữa hành vi tự chăm sóc với đặc điểm của người bệnh suy tim trong mẫu nghiên cứu .... Mối liên quan giữa hành vi tự chăm sóc với kiến thức của người bệnh suy tim trong mẫu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- -CUNG THỊ BÌNH
TỰ CHĂM SÓC VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH SUY TIM
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- -Cung Thị Bình
TỰ CHĂM SÓC VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH SUY TIM
Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã số: 60.72.05.01
Luận văn Thạc sĩ Điều dưỡng
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HOÀNG ĐỊNH
GS.TS JANE DIMMITT CHAMPION
Thành phố Hồ chí Minh - Năm 2016
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.Các số liệu và kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực, khách quan vàchưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Cung Thị Bình
Trang 5
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về suy tim 4
1.2 Tự chăm sóc ở người bệnh suy tim 8
1.3 Các nghiên cứu về tự chăm sóc của người bệnh suy tim 13
1.4 Các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc ở ngưởi bệnh suy tim 19
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Dân số mục tiêu 25
2.2 Dân số chọn mẫu 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26
2.5 Liệt kê và định nghĩa biến số nghiên cứu: 27
2.6 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 30
2.7 Tiến trình nghiên cứu 32
2.8 Kiểm soát sai lệch và biện pháp khắc phục 32
2.9 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 33
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 34
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 35
3.1 Đặc điểm chung của người bệnh suy tim trong mẫu nghiên cứu 35
Trang 6
3.2 Tỷ lệ hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim trong mẫu nghiên
cứu 40
3.3 Điểm trung bình hành vi tự chăm sóc và kiến thức suy tim 44
3.4 Mối liên quan giữa hành vi tự chăm sóc với đặc điểm của người bệnh suy tim trong mẫu nghiên cứu 44
3.5 Mối liên quan giữa hành vi tự chăm sóc với kiến thức của người bệnh suy tim trong mẫu nghiên cứu 48
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 51
4.1 Đặc điểm chung của người bệnh suy tim trong mẫu nghiên cứu 51
4.2 Hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim trong mẫu nghiên cứu 55
4.3 Liên quan giữa hành vi tự chăm sóc và các đặc điểm của người bệnh suy tim trong mẫu nghiên cứu 64
4.4 Liên quan giữa kiến thức suy tim và hành vi tự chăm sóc 70
4.5 Điểm mạnh và hạn chế của đề tài 71
4.6 Tính ứng dụng của nghiên cứu 72
KẾT LUẬN 73
KIẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Thang đo kiến thức người bệnh suy tim Hà Lan
Thang đo hành vi tự chăm sóc suy tim châu Âu 9
Hội tim mạch New york
Trang 8
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết Orem và ứng dụng trong nghiên cứu 24
Biểu đồ 3.1 Phân bố giới tính của người bệnh 35
Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn của người bệnh 37
Biểu đồ 3.3 Phân bố tình trạng kinh tế theo trình độ học vấn 38
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ % các hành vi tự chăm sóc tốt của người bệnh 43
Biểu đồ 3.5 Tương quan giữa kiến thức và hành vi tự chăm sóc 49
Trang 9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Hành vi tự chăm sóc ở 15 nước theo kết quả nghiên cứu của
Jaarsma (2013) 13
Bảng 3.1 Phân bố theo nhóm tuổi của người bệnh 35
Bảng 3.2 Phân bố nghề nghiệp của người bệnh 36
Bảng 3.3 Phân bố tình trạng hôn nhân của người bệnh 36
Bảng 3.4 Phân bố tình trạng chung sống, nơi cư trú và tình trạng kinh tế của người bệnh 38
Bảng 3.5 Thời gian bị bệnh và bệnh kèm theo của người bệnh 39
Bảng 3.6 Phân độ suy tim của người bệnh 39
Bảng 3.7 Theo dõi cân nặng và hạn chế dịch của người bệnh 40
Bảng 3.8 Ăn nhạt và uống thuốc theo đơn của người bệnh 40
Bảng 3.9 Tập thể dục và liên hệ với bác sĩ hoặc điều dưỡng nếu bị phù 41
Bảng 3.10 Liên hệ với bác sĩ hoặc điều dưỡng nếu khó thở, tăng cân và mệt 42
Bảng 3.11 Điểm trung bình hành vi tự chăm sóc và kiến thức của người bệnh 44
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa hành vi tự chăm sóc với giới tính và nhóm tuổi của người bệnh 44
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa hành vi tự chăm sóc với nghề nghiệp và trình độ học vấn của người bệnh 45
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa hành vi tự chăm sóc với nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của người bệnh 46
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa hành vi tự chăm sóc với tình trạng chung sống và tình trạng kinh tế của người bệnh 47
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa hành vi tự chăm sóc và bệnh kèm theo, thời gian bị bệnh và độ suy tim của người bệnh 47
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa hành vi tự chăm sóc và kiến thức suy tim 49
Trang 10
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy tim là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng trên toàn thế giới và đặt
ra một gánh nặng cho hệ thống chăm sóc sức khỏe Gần 15 triệu người trêntoàn thế giới đã được chẩn đoán suy tim [43], [67] Tỷ lệ người bệnh đã tănglên trong những thập kỷ gần đây và ước tính khoảng 6,5 triệu người ở Châu
Âu và 2,5 triệu người ở Nhật Bản có suy tim [90], có 3,6 triệu người bệnhchâu Âu được chẩn đoán suy tim mỗi năm [73] Tại Mỹ vào năm 2012 cókhoảng 5,7 triệu người bị suy tim và là nguyên nhân chính của hơn 55.000 ca
tử vong mỗi năm [17], [111]
Suy tim là một trong những bệnh mạn tính phổ biến và là nguyên nhâncủa hầu hết các nhập viện ở người cao tuổi [67] Tỷ lệ hiện mắc tăng nhanhcùng với sự gia tăng của tuổi [111] Tỷ lệ hiện mắc của suy tim khoảng 1-2%trên toàn dân số và trên 10% ở dân số già [68] Tại Việt Nam chưa có mộtnghiên cứu chính thức về tỷ lệ mắc bệnh suy tim [6]
Suy tim là gánh nặng về kinh tế cho người bệnh, gia đình, chi phí xãhội và hệ thống chăm sóc y tế bởi số lần và số ngày nhập viện [3], [32], [45],[59]
Tự chăm sóc là một trong những yếu tố quan trọng nhất để phòng cácbiến chứng và hậu quả do suy tim gây ra Hành vi tự chăm sóc người bệnhsuy tim bao gồm các hành vi như tuân thủ dùng thuốc, chế độ ăn uống và vậnđộng cơ thể, cân nặng bản thân hàng ngày, nhận biết các triệu chứng, tìmkiếm sự giúp đỡ khi các triệu chứng xảy ra [47] Hành vi tự chăm sóc tốt cóthể ngăn chặn hoặc làm chậm tiến triển của suy tim, tránh xảy ra những đợtcấp phải nhập viện Từ đó giảm số lần tái nhập viện, nâng cao chất lượngcuộc sống, kéo dài tuổi thọ, đồng thời giảm gánh nặng kinh tế cho gia đình và
xã hội [11], [25], [36], [37], [39], [40], [53], [103]
Trang 11
Nhìn chung, hành vi tự chăm sóc ở người bệnh suy tim còn thấp [21],[28], [42], [58], [70], [80], [69], [85], [102], [105] [109] Nghiên cứu củaJaarsma và cộng sự (2013) [49] so sánh hành vi tự chăm sóc của người bệnhsuy tim ở 15 quốc gia trên ba châu lục đã cho thấy hành vi tự chăm sóc ởngười bệnh suy tim còn thấp và cần phải được cải thiện trên toàn thế giới.Trong đó tỷ lệ người bệnh thực hiện chế độ ăn hạn chế muối ở Đài Loan là9%, Đức 40%, Nhật Bản 55%, Thái Lan 47% Tỷ lệ người bệnh không thựchiện uống thuốc theo đơn ở Thái Lan là 37%, Mỹ 30%, Israel 19%, Việt Nam10% Tỷ lệ người bệnh không theo dõi cân nặng ở Brazil 89%, Hồng Kông95%, Thái Lan 83%, Việt Nam 43% Một số nghiên cứu đã xác định nguyênnhân phổ biến nhất làm cho bệnh nhân suy tim trầm trọng hơn dẫn đến nhậpviện chính là việc không tuân thủ chế độ dùng thuốc và chế độ ăn uống dànhcho bệnh nhân suy tim [36], [103], [104]
Hiện nay chưa tìm thấy nghiên cứu nào về tự chăm sóc và các yếu tốliên quan của người bệnh suy tim từ 18 tuổi trở lên ở Việt Nam Nghiên cứucủa Nguyễn Ngọc Huyền [4] cho thấy có 50,9% trong số 126 người già suytim ở Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Trung Ương Thái Nguyên có hành vi tựchăm sóc ở mức độ thấp Bệnh viện đa khoa Tỉnh Quảng Trị là một bệnh việnhạng I và là đơn vị khám chữa bệnh lớn nhất của tỉnh Trong năm 2015, sốlượng người bệnh đến khám tại bệnh viện là 80170 người, trong đó số lượngngười bệnh tim mạch là 10282 người Qua khảo sát cho thấy nhiều ngườibệnh suy tim có hành vi tự chăm sóc chưa đúng Vì vậy, chúng tôi tiến hành
đề tài nghiên cứu ―Tự chăm sóc và các yếu tố liên quan của người bệnh suy
tim‖ nhằm đánh giá mức độ hành vi tự chăm sóc của người bệnh và tìm các
yếu tố liên quan Từ đó người nghiên cứu sẽ đưa ra những kiến nghị xây dựngmột chương trình giáo dục sức khỏe về tự chăm sóc cho người bệnh suy timnhằm giảm những biến chứng và hậu quả đáng tiếc cho người bệnh
Trang 12
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Tỷ lệ người bệnh suy tim có hành vi tự chăm sóc tốt đang điều trị tạiBệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị là bao nhiêu?
Có mối liên quan giữa hành vi tự chăm sóc với đặc điểm của ngườibệnh và kiến thức suy tim hay không?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
* Mục tiêu tổng quát:
Xác định mức độ hành vi tự chăm sóc và các yếu tố liên quan ở người bệnhsuy tim đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa Quảng Trị
* Mục tiêu cụ thể:
1 Xác định tỷ lệ người bệnh suy tim có hành vi tự chăm sóc tốt
2 Xác định mối liên quan giữa hành vi tự chăm sóc với đặc điểm của ngườibệnh và kiến thức suy tim
Trang 13
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về suy tim
1.1.1 Định nghĩa suy tim
Suy tim là tình trạng tim không thể bơm đủ máu và oxy để cung cấp cho các
cơ quan, suy tim xảy ra khi có một bất thường trong chức năng tim [8]
1.1.2 Phân loại suy tim: Có nhiều dạng suy tim [6], [7].
Suy tim tâm thu: suy giảm chức năng co bóp của tim
Suy tim tâm trương: suy giảm chức năng thư giãn và đổ đầy của tim
Suy tim cấp: phù phổi cấp
Suy tim mạn: tình trạng suy tim diễn tiến chậm
Suy tim cung lượng cao: do cường giáp, thiếu máu, thiếu vitamin B1, do độngtĩnh mach, bệnh Paget
Suy tim cung lượng thấp: do bệnh tim thiếu máu cục bộ, tăng huyết áp, bệnh
cơ tim giãn nở, bệnh van tim và màng ngoài tim
Suy tim phải: do ứ dịch dẫn đến tĩnh mạch cổ nổi, gan to, sung huyết, chânphù
Suy tim trái: do ứ dịch gây ra sung huyết phổi dẫn đến khó thở khi nằm, khóthở khi gắng sức, khó thở kịch phát về đêm và sau cùng gây phù phổi cấp.Rối loạn chức năng thất không triệu chứng cơ năng: là sự hiện diện của giảm
co bóp thất một thời gian dài mà không triệu chứng cơ năng
Suy tim có triệu chứng cơ năng
Suy tim ngược dòng
Suy tim xuôi dòng
1.1.3 Nguyên nhân chính gây suy tim
Bao gồm các bệnh: bệnh động mạch vành, bệnh tăng huyết áp, bệnhvan tim, bệnh cơ tim giãn nở, bệnh viêm cơ tim, bệnh tim bẩm sinh [7], [17]
Trang 14
1.1.4 Các nguyên nhân làm nặng suy tim
Sự không tuân thủ điều trị thuốc và điều trị không dùng thuốc là nhữngnguyên nhân chính làm nặng suy tim bao gồm ăn mặn (nhiều natri), tăng cân,hút thuốc, uống rượu, chế độ vận động, tăng huyết áp không kiểm soát được,loạn nhịp tim, sử dụng thuốc không phù hợp (ví dụ: kháng viêm, ức chếcalci), stress tình cảm, điều trị không đủ, thiếu máu cục bộ cơ tim hay nhồimáu cơ tim, bệnh hệ thống (thiếu máu, tuyến giáp, nhiễm trùng), thuyên tắcphổi, tiểu đường, suy thận, quá tải dịch, thai kỳ [6], [7], [17]
1.1.5 Triệu chứng lâm sàng suy tim
1.1.5.1.Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim
Dựa theo tiêu chuẩn Framingham [6], [7]
8 Thời gian tuần hoàn > 25 giây
9 Phản hồi gan- tĩnh mạch cổ dương tính
Trang 156 Dung tích sống giảm 1/3 so với tối đa
7 Nhịp tim nhanh (> 120 lần /phút )
Tiêu chuẩn chính hay phụ: giảm 4,5 kg /5 ngày điều trị suy tim
1.1.5.2 Chẩn đoán xác định suy tim: khi có 2 tiêu chí chính hoặc một tiêu
chí chính và hai tiêu chí phụ
1.1.6 Phân độ suy tim: Phân độ chức năng suy tim của hội tim mạch New
York (NYHA) dựa vào triệu chứng cơ năng và khả năng gắng sức
Độ 1: Có bệnh tim nhưng không bị hạn chế vận động, vận động thể lực thôngthường không gây mệt, khó thở hoặc hồi hộp
Độ 2: Bệnh tim gây hạn chế nhẹ vận động thể lực Bệnh nhân khỏe khi nghỉngơi, vận động thể lực thông thường dẫn đến mệt, hồi hộp, khó thở hoặc đaungực
Độ 3: Bệnh tim gây hạn chế nhiều vận động thể lực, mặc dù bệnh nhân khỏekhi nghỉ ngơi, nhưng chỉ vận động nhẹ đã có triệu chứng cơ năng
Độ 4: Triệu chứng cơ năng của suy tim xảy ra ngay khi nghỉ ngơi, không vậnđộng thể lực nào mà không gây khó chịu, chỉ một vận động thể lực triệuchứng cơ năng gia tăng
1.1.7 Điều trị suy tim
Nguyên tắc điều trị:
Loại bỏ các yếu tố làm nặng suy tim
Điều trị nguyên nhân gây suy tim
Điều trị triệu chứng: kiểm soát tình trạng suy tim sung huyết
Giảm công cho tim: giảm tiền tải và hậu tải
Kiểm soát tình trạng ứ muối và nước
Tăng sức co bóp cơ tim
Trang 16
Điều trị nguyên nhân: bao gồm các bệnh như bệnh van tim, bệnh tănghuyết áp, bệnh động mạch vành, dị tật bẩm sinh, viêm nội tâm mạc nhiễmtrùng, thấp tim [6], [7]
Loại trừ các yếu tố làm nặng: Nhiễm trùng, loạn nhịp, thuyên tắc phổi,thiếu máu cơ tim cục bộ, có thai, bệnh tuyến giáp, thiếu máu, chất độc (rượu,anthracycline), thuốc (ức chế beta, kháng viêm không steroid, ức chế calci),không theo đúng yêu cầu và tiết chế dinh dưỡng [6], [7]
Điều trị suy tim bằng các biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc:Xác định nguyên nhân suy tim và các yếu tố làm nặng rất cần thiết trước khi
sử dụng thuốc điều trị suy tim và các thuốc sử dụng có thể thay đổi tùy theonguyên nhân suy tim [6], [7]
Giảm công tải: Nghỉ ngơi, điều trị béo phì (nếu có), thuốc giãn mạch,tuần hoàn phụ trợ [6], [7]
Cải thiện chức năng bơm của tim: Digitalis, các thuốc tăng co bópkhác, các chất giống giao cảm, máy tạo nhịp [6], [7]
Kiểm soát ứ đọng và quá nhiều muối và nước trong cơ thể: Chế độ ăn ítmuối natri, các thuốc lợi tiểu, giảm lượng nước ứ đọng bằng các biện pháp cơhọc (Chọc dẫn lưu màng phổi, chọc dẫn lưu cổ chướng, thẩm phân, lọc thận,siêu lọc) [6], [7]
Các biện pháp điều trị không dùng thuốc [6], [7]
Hạn chế vận động và nghỉ ngơi cả thể xác lẫn tinh thần, trong thời gianbệnh nhân nằm nghỉ ở giường, cần tránh huyết khối tĩnh mạch bằng heparintiêm dưới da hoặc thuốc chống vitamin K, khi đã qua giai đoạn cấp, cần cóchương trình tập luyện thể lực Chương trình tập thể dục được khuyến khích ởnhững bệnh nhân suy tim ổn định, nhằm giúp hỗ trợ thuốc điều trị suy tim.Giảm cân nặng ở bệnh nhân béo, nhờ đó sẽ giảm được sức cản ngoại vi
Trang 17
Cho thở oxy làm giảm bớt khó thở và giảm bớt áp lực động mạch phổi.
Cần ngưng hút thuốc lá, không uống rượu
1.2 Tự chăm sóc ở người bệnh suy tim
1.2.1 Khái niệm về tự chăm sóc
Theo Orem [74] ―Tự chăm sóc là thực hiện các hoạt động do cá nhânkhởi xướng và thực hiện bởi chính họ để duy trì cuộc sống, sức khỏe và hạnhphúc‖
Tổ chức Y tế Thế giới [75] định nghĩa tự chăm sóc là ''Những hoạtđộng cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện với ý định tăng cường sứckhỏe, ngăn ngừa bệnh, hạn chế đau ốm, và phục hồi sức khỏe Những hoạtđộng này được bắt nguồn từ kiến thức và kỹ năng, từ kinh nghiệm sống vàkiến thức chuyên môn Chúng được thực hiện bởi chính bản thân họ, hoặcriêng rẽ hoặc trong sự phối hợp tham gia với những người có nguyên môn‖
Theo Riegel [82], [89] tự chăm sóc được định nghĩa là một quá trình raquyết định tự nhiên mà bệnh nhân sử dụng trong việc lựa chọn hành vi để duytrì sự ổn định sinh lý (theo dõi triệu chứng và tuân thủ điều trị) và phản ứngvới các triệu chứng khi nó xẩy ra
Như vậy, tự chăm sóc là cần thiết để mỗi cá nhân duy trì cuộc sốngkhỏe mạnh, nâng cao sức khỏe, phòng ngừa biến chứng, giảm tái nhập viện
Trang 18
Tóm lại tự chăm sóc là quá trình theo đó các cá nhân và /hoặc ngườichăm sóc của họ thực hiện các hoạt động hàng ngày nhằm để duy trì hoặckhôi phục lại sức khỏe và hạnh phúc, ngăn chặn bệnh tật, và quản lý các bệnhmạn tính Tự chăm sóc thích hợp có liên quan đến phòng ngừa hoặc phát hiệnsớm các vấn đề về sức khỏe, nâng cao sức khỏe và chất lượng của cuộc sống.Người Điều dưỡng chú ý đến những thiếu hụt trong tự chăm sóc của ngườibệnh để hỗ trợ kịp thời.
1.2.2 Nội dung tự chăm sóc ở người bệnh suy tim
Theo Riegel (2012) [86] gần 50% người trưởng thành có một hoặcnhiều hơn một bệnh mạn tính, tự chăm sóc được coi là yếu tố quan trọngtrong việc quản lý bệnh mạn tính trong đó có người bệnh suy tim
Ở những bệnh nhân có các bệnh mạn tính như suy tim để cải thiện kếtquả điều trị lâm sàng và giảm chi phí chăm sóc sức khỏe, hoạt động tự chămsóc là quan trọng để kéo dài tuổi thọ, nhưng nhu cầu tăng, tự chăm sóc phứctạp cùng với sự gia tăng của tuổi tác, đặc biệt với sự xuất hiện của các bệnh đikèm mãn tính đòi hỏi người bệnh suy tim phải có một chương trình tự chămsóc phù hợp [10], [65], [45], [70], [86] Các nội dung tự chăm sóc ở ngườibệnh suy tim bao gồm:
Quản lý triệu chứng và ra quyết định tự chăm sóc phù hợp
Theo Riegel [83], [87], [89] trong suy tim, duy trì tự chăm sóc đòi hỏingười bệnh phải theo lời khuyên của các nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe để
Trang 19
dùng thuốc, ăn một chế độ ăn ít natri, tập thể dục, từ bỏ thuốc lá, hạn chếuống rượu bia, tham gia vào các hành vi phòng ngừa và chủ động tự theo dõicác dấu hiệu và triệu chứng Tự quản lý chăm sóc liên quan đến việc ra quyếtđịnh để đáp ứng với các dấu hiệu và triệu chứng Trong suy tim, tự quản lýchăm sóc đòi hỏi bệnh nhân nhận ra một sự thay đổi (chẳng hạn như tăng phù
nề, mệt nhiều hơn, tăng cân đột ngột), đánh giá sự thay đổi, quyết định hànhđộng, thực hiện một chiến lược điều trị (ví dụ, lấy một liều thuốc lợi tiểuthêm), và đánh giá sự đáp ứng với điều trị Tự chăm sóc không đồng nghĩavới tuân thủ điều trị nhưng tuân thủ điều trị là 1 thành phần của tự chăm sóc.Chính người bệnh là người chịu trách nhiệm chính cho các hoạt động tự chămsóc, ngoài ra cần sự giúp đỡ của gia đình và người chăm sóc Bởi vì tự chămsóc liên quan đến hành vi như dùng thuốc, theo dõi và giải thích các triệuchứng, giữ cuộc hẹn, và liên hệ với các nhà cung cấp chăm sóc y tế khi cầnthiết
Moser (2008) [70] cũng cho rằng tự quản lý chăm sóc liên quan đếnquá trình nhận thức và hành động, nó bao gồm nhận ra triệu chứng xấu củasuy tim và thực hiện tự chăm sóc ví dụ như cắt giảm lượng muối hoặc dùngmột viên thuốc lợi tiểu thêm
Thực hiện uống thuốc theo đơn
Yếu tố quan trọng nhất trong quản lý tự chăm sóc của người bệnh suytim là tuân thủ điều trị bằng thuốc, thực hiện uống thuốc theo đơn là cần thiếttác động đến hiệu quả điều trị của người bệnh suy tim, cải thiện dấu hiệu,triệu chứng, ngăn ngừa nhập viện và giảm tỷ lệ tử vong, tuân thủ điều trị bằngthuốc tốt liên quan đến người bệnh sống cao hơn [57], [65], [67], [100]
Trang 20
Theo dõi cân nặng
Việc theo dõi cân nặng là quan trọng nhất để nhận ra triệu chứng tăngcân trở lại, nó liên quan đến tình trạng tim trở nên tồi tệ hơn và cho thấy dấuhiệu giữ nước trong cơ thể Theo dõi cân nặng hàng ngày là để người bệnh tựđánh giá trọng lượng cơ thể và ra quyết định chăm sóc phù hợp như liên lạcvới bác sĩ và điều dưỡng nếu tăng > 2kg trong 3 ngày [18], [65], [100]
Swedberg (2005) [100] cũng cho rằng theo dõi cân nặng hàng ngày làmột công cụ quan trọng để phát hiện tình trạng xấu đi của suy tim Bệnh nhânsuy tim nên cân nhắc mình hàng ngày và trong trường hợp có tăng cân độtngột cần báo với nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe hoặc điều chỉnh liều thuốclợi tiểu của họ
Ăn hạn chế muối và hạn chế lượng dịch đưa vào cơ thể
Một chế độ ăn hạn chế muối là rất quan trọng trong việc tự quản lýtriệu chứng của người bệnh suy tim [33], [68], [97] Lượng muối đưa vào <5g /ngày theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới cho tất cả người lớn và ≤2g /ngày cho tất cả các bệnh nhân suy tim Và nếu người bệnh thành côngtrong tuân thủ chế độ ăn hạn chế muối có thể dẫn đến giảm liều thuốc lợi tiểu[38], [49], [67] Hạn chế lượng muối trong chế độ ăn của người bệnh suy tim
có triệu chứng được khuyến cáo để tránh giữ nước trong cơ thể Kiểm soátlượng muối trong chế độ ăn (< 2g) đối với bệnh nhân suy tim và hạn chếlượng dịch <1500-2000 ml nên được khuyến cáo ở những bệnh nhân suy timtiến triển [6], [68], [97], [100]
Thường xuyên tập thể dục
Nhiều nghiên cứu cho thấy tập thể dục là rất quan trọng đối với ngườibệnh suy tim Thường xuyên hoạt động vừa phải hàng ngày được khuyếnkhích cho tất cả các bệnh nhân suy tim có tình trạng ổn định, người bệnh cóthể tập khoảng 20 phút một lần và tối thiểu 3 lần trong 1 tuần giúp cải thiện
Trang 21
tình trạng gắng sức cho người bệnh [60] Nghiên cứu của Davies (2010) [23]
và Piepoli (2004) [78] đã chứng minh rằng hoạt động thể chất có lợi cho tất cảcác bệnh nhân suy tim mạn tính trừ khi họ đang có tình trạng suy tim độ IVtheo phân loại của NYHA hoặc có triệu chứng hạn chế khác như đau thắtngực
Chương trình tập thể dục được khuyến khích ở những bệnh nhân suytim ổn định, nhằm giúp hỗ trợ thuốc điều trị suy tim Chương trình tập thể dụchợp lý giúp cải thiện khả năng gắng sức, cải thiện chất lượng cuộc sống vàgiảm hoạt hóa hệ thần kinh thể dịch Ngoài ra, các chỉ số liên quan đến thayđổi nhịp tim cũng được cải thiện bằng cách tập thể dục thường xuyên và cóbằng chứng lâm rằng tập thể dục thường xuyên cải thiện sự sống và giảm tỷ lệ
Bệnh nhân cũng cần tập luyện và nghỉ ngơi phù hợp để cải thiện tìnhtrạng sức khỏe, tập luyện thể dục giúp cải thiện chức năng cơ xương khớp từ
đó cải thiện chức năng toàn bộ cơ thể [18], [73], [100]
Ngoài ra, theo Moser (2008) [70] duy trì tự chăm sóc đề cập đến sự lựachọn lối sống lành mạnh (ví dụ tập thể dục và bỏ thuốc lá) và tuân thủ hành viđiều trị (ví dụ các triệu chứng và giám sát trọng lượng, chế độ ăn uống phùhợp và dùng thuốc)
Trang 22
Tóm lại các hoạt động tự chăm sóc ở người bệnh suy tim bao gồm tựtheo dõi, phát hiện các triệu chứng như phù, khó thở, mệt mỏi và tăng cân đểtìm sự giúp đỡ và can thiệp cần thiết, theo dõi cân nặng hàng ngày, thực hiệnmột chế độ ăn hạn chế muối, hạn chế lượng dịch đưa vào cơ thể và thực hiệntập luyện thể dục thường xuyên Thực hiện tốt các hoạt động tự chăm sóc sẽgiúp người bệnh nâng cao sức khỏe, phòng ngừa biến chứng, giảm tái nhậpviện và cải thiện chất lượng cuộc sống [38], [60], [65], [69], [86]
1.3 Các nghiên cứu về tự chăm sóc của người bệnh suy tim.
1.3.1 Tỷ lệ người bệnh suy tim thực hiện các hành vi tự chăm sóc tốt
Nghiên cứu của Jaarsma và cộng sự (2013) [49] so sánh hành vi tựchăm sóc ở 15 quốc gia trên ba châu lục đã cho kết quả như sau
Bảng 1.1 Hành vi tự chăm sóc ở 15 nước theo kết quả nghiên cứu của
Jaarsma (2013)
Tên nước Cỡ mẫu
(n)
Tỷ lệ hành vi tự chăm sóc tốt Tập thể
dục (%)
Theo dõi cân nặng (%)
Uống thuốc theo đơn (%)
Ăn hạn chế muối (%)
Trang 23là ở Đài Loan (9%), cao nhất là ở Hà Lan (82%).
Trang 24
Theo dõi cân nặng
Kết quả các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh thực hiện theo dõicân nặng hàng ngày nhìn chung còn ở mức thấp Nghiên cứu của Krum là46% [58], Pulignano 40% [80], Nieuwenhuis 41% [72], Kato năm 200953,5% [56], Nguyễn Ngọc Huyền 57% [4], Vellone 35,2% [102] Theonghiên cứu của Van Der Wal [108] tỷ lệ người bệnh thực hiện theo dõi cânnặng dao động từ 12% đến 75% Nghiên cứu của Hoàng Văn Cường [1] chothấy chỉ có 19% người bệnh suy tim có kiến thức về cân nặng hàng ngày, đa
số người bệnh cân khi có dịp đi khám bệnh Nghiên cứu của Ni [71] cũng chorằng có 40% người bệnh không nhận ra tầm quan trọng của việc theo dõi cânnặng hàng ngày
Uống thuốc theo đơn
Đa số người bệnh tuân thủ uống thuốc theo đơn, tuy nhiên vẫn còn một
số kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh tuân thủ uống thuốc theo đơncòn thấp Kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Cường 84% [1], Vellone 86,8%[102], Pulignano 85% [80], Krum 90% [58], Nguyễn Ngọc Huyền 90% [4],Jaarsma 94,9% [47], Kato năm 2008 là 98,3% [55], nghiên cứu của Diaz 70%[24], Hung 47% [44]
Theo một số nghiên cứu cho thấy nhiều người bệnh già suy tim sử dụngthuốc không kê đơn và thường xuyên quên uống thuốc [28], [106], [88], bệnhnhân có thể sử dụng thuốc thảo dược hoặc thuốc gia truyền mà không nhậnthức được sự tương tác thuốc có thể xẩy ra [27], nhiều người bệnh cho rằng
họ không uống thuốc điều trị vì thuốc gây nhiều tác dụng phụ và thuốc gâyđộc cho cơ thể [44], [95]
Tập thể dục
Thường xuyên hoạt động vừa phải hàng ngày là rất quan trọng và đượckhuyến khích cho tất cả các bệnh nhân suy tim có tình trạng ổn định [60]
Trang 25
Nhưng kết quả tìm thấy trong các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh suytim thường xuyên tập thể dục là chưa cao Nghiên cứu của Nieuwenhuis 54%[72], Nguyễn Ngọc Huyền 59% [4], Kato năm 2008 47,% [55], Krum 53%[58], Vellone 36,7% [102] Nghiên cứu của Evangelista (2003) cũng chỉ rarằng có 51% người già suy tim báo cáo gặp khó khăn khi tập thể dục [26] Kếtquả nghiên cứu so sánh hành vi tự chăm sóc của 15 quốc gia trên thế giới củaJaarsma (2013) [49] cho thấy hơn nửa người bệnh suy tim không tập luyệnthể dục thường xuyên
Liên lạc với bác sĩ hoặc điều dƣỡng nếu khó thở, phù, mệt và tăng cân
Kết quả các nghiên cứu đã cho thấy rằng tỷ lệ người bệnh thực hiện tốthành vi tự chăm sóc liên lạc với bác sĩ hoặc điều dưỡng nếu khó thở, phù, mệt
và tăng cân là chưa cao
Theo kết quả nghiên cứu của Kato năm (2009) [56], và Vellone (2014)[102] thì chỉ có 50,9% và 46,5% người bệnh liên lạc với bác sĩ hoặc điềudưỡng khi khó thở, 42,2% và 47,2% người bệnh liên lạc với bác sĩ hoặc điềudưỡng khi phù Nghiên cứu của Moser [70] chỉ ra rằng có 41% người bệnhsuy tim không nhận ra khó thở là triệu chứng của suy tim và nhiều người bệnhchưa phân biệt được khó thở do suy tim và do bệnh phổi, những người nhận
ra triệu chứng tự tin hơn trong việc ra quyết định tự chăm sóc và tìm kiếm sựgiúp đỡ của người khác và người bệnh suy tim không nhận ra triệu chứng phùdẫn đến khó khăn trong việc ra quyết định chăm sóc phù hợp Có 35% ngườibệnh đến khám và điều trị sau 6 ngày xuất hiện triệu chứng khó thở [76].Nghiên cứu của Jaarsma (2009), Kato (2008) và Vellone (2014) cũng cho kếtquả có 61,6%, 36,2% và 55,8% người bệnh liên lạc với bác sĩ hoặc điềudưỡng khi mệt mỏi tăng lên [47], [55], [102]
Tỷ lệ người bệnh thực hiện liên lạc với bác sĩ hoặc điều dưỡng nếu tăngcân theo nghiên cứu của Kato năm 2008 là 34,3% [55], Vellone 36,0% [102],
Trang 26
Jaarsma 61,1% [47], Carlson 77% [15] Carlson cũng chỉ ra rằng có 61%người bệnh suy tim không nhận ra tăng cân đột ngột là một triệu chứng xấucủa bệnh Kết quả nghiên cứu của Jaarsma [46] cho thấy có 50% người bệnhđánh giá tăng cân đột ngột không phải là quan trọng
Hạn chế dịch
Tỷ lệ người bệnh thực hiện hạn chế lượng dịch đưa vào cơ thể được tìmthấy trong kết quả nghiên cứu của Nieuwenhuis 46% [72], Vellone 51,2%[102], Jaarsma 65,5% [47] và Kato năm 2008 là 27,6% [55] Nghiên cứuHoàng Văn Cường [1] cho thấy chỉ có 33% người bệnh suy tim có kiến thứcđúng về hạn chế nước và có nhiều người bệnh trả lời khi tiểu ít họ thườnguống nhiều hơn để đi tiểu Nghiên cứu của Ni (1999) [71] cho thấy một sốngười bệnh thay vì hạn chế uống nước thì họ lại nghĩ rằng phải uống nhiềunước và tỷ lệ này là 36%
Ăn chế độ ăn hạn chế muối
Một chế độ ăn hạn chế muối là rất quan trọng trong việc tự quản lýtriệu chứng của người bệnh suy tim [33], [68], [97] Các nghiên cứu cho thấy
tỷ lệ người bệnh thực hiện tốt chế độ ăn hạn chế muối chưa cao Nghiên cứucủa Krum 63% [58], Pulignano 65% [80], Coelho 64% [28], Vellone 66,1%[102], Jaarsma 72,7% [47], và Kato năm 2008 55,0% [55] Nghiên cứu địnhtính của Van Der Wal (2010) [105] cũng cho thấy người bệnh không thựchiện chế độ ăn hạn chế muối liên quan đến sự thiếu hụt các kiến thức vềlượng muối trong các sản phẩm khác nhau
Theo Diaz (2011) [24] tỷ lệ không tuân thủ chế độ ăn hạn chế muối là52% và không tuân thủ dùng thuốc lên đến 30% Kết quả nghiên cứu của VanDer Wal và cộng sự (2006) [106] cho thấy tỷ lệ bệnh nhân thực hiện tuân thủuống thuốc là hơn 90%, ăn giảm mặn là 83%, hạn chế dịch là 73%, vận độngthể lực là 39% và tuân thủ về kiểm soát cân nặng là 35%
Trang 27
Theo nghiên cứu của Jaarma và cộng sự (2000) [46] tỷ lệ người bệnh
ăn chế độ ăn hạn chế muối là 50%, tỷ lệ tuân thủ hạn chế uống nước là 23%.Theo nghiên cứu của Ni và cộng sự (1999) [71] cho thấy khoảng 40% bệnhnhân không nhận ra tầm quan trọng của cân nặng bản thân hàng ngày và 27%cân nặng cứ hai lần một tháng hoặc ít thường xuyên hơn Mặc dù 80% sốbệnh nhân biết họ nên hạn chế ăn mặn, chỉ có một phần ba luôn luôn tránh ănmặn Ngoài ra 36% tin rằng họ nên uống nhiều nước Nghiên cứu của VanDer Wal (2003) [108] cho thấy tỷ lệ hạn chế dịch chỉ có 23%, một số bệnhnhân thay vì phải hạn chế uống nước thì họ lại nghĩ rằng phải uống nhiềunước và tỷ lệ này là 30%
Kết quả nghiên cứu của Sulzbach-Hoke và cộng sự (1997) [99] chothấy có 40% bệnh nhân theo dõi cân nặng hằng ngày và 23% theo dõi 2-5 lầnmột tuần, và 7% bệnh nhân đã không theo dõi Theo một số nghiên cứu đã kếtluận rằng, mặc dù bệnh nhân được khuyên về việc cân đối các hoạt động vàchế độ nghỉ ngơi nhưng chỉ có 41-58% bệnh nhân tuân thủ vận động vừa sức[15], [46]
Nghiên cứu của Heo và cộng sự (2008) [41] đã đưa ra kết quả bệnhnhân suy tim không hoàn toàn tham gia vào các hành vi tự chăm sóc như: cânnặng hàng ngày, thực hiện một chế độ ăn uống có lượng natri thấp, hoạt độngthể chất thường xuyên, duy trì trọng lượng cơ thể hiện tại, tuy nhiên nghiêncứu này được tiến hành trên cỡ mẫu nhỏ là 48 người bệnh
Theo nghiên cứu của Ali Sahebi và cộng sự (2014) [92] cho thấy cóhơn 75% người bệnh thực hiện hành vi tự chăm sóc không đúng cách Ở ViệtNam, theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Huyền (2012) [4] cho thấy có 50,9%người người già suy tim ở Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên cóhành vi tự chăm sóc ở mức thấp
Trang 28
Tóm lại, hành vi tự chăm sóc ở mỗi nước là khác nhau và nhìn chungđều ở mức thấp [21], [28], [47], [58], [69], [70], [80], [102] [105], [109], vàphù hợp với kết luận của của Jaarsma (2013) [49] về hành vi tự chăm sóc củangười bệnh suy tim cần được cải thiện trên toàn thế giới
1.4 Các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc ở ngưởi bệnh suy tim
Theo Riegel (2004) [82] tự chăm sóc ở người bệnh suy tim được ảnhhưởng bởi các yếu tố như thiếu kiến thức, đặc điểm dân số, xã hội hay sựkhác biệt về hoàn cảnh và kinh nghiệm trước đây Kết quả tìm kiếm trong yvăn cho thấy hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim liên quan đến cácyếu tố sau:
1.4.1 Tuổi và giới
Theo y văn, tuổi và giới có liên quan đến hành vi tự chăm sóc củangười bệnh suy tim Kết quả nghiên cứu của Sahebi (2015) [92], Cené (2013)[16], Cline (1999) [21] Moser (2008) [70] và Van Der Wal (2008) [109] cũngchỉ ra rằng sự tuân thủ thuốc và lối sống phù hợp của người trẻ tốt hơn so vớingười già suy tim Kết quả nghiên cứu của Sahebi (2015) [92] cho thấy khảnăng duy trì các hành vi tự chăm sóc và theo dõi, quản lý triệu chứng tốt hơn
ở người trẻ so với người già Nhiều nghiên cứu chỉ ra người già suy tim giảmtrí nhớ, thị giác, chức năng cơ thể giảm dẫn đến hạn chế thực hiện hành vi tựchăm sóc [13], [16], [21], [70], [72], [80] Nghiên cứu của Evangelista (2003)[26] cho thấy người già suy tim báo cáo gặp khó khăn khi thực hiện hành vitập thể dục (51%), khó khăn về thực hiện chế độ ăn uống (37%), giữ cuộc hẹntái khám (24%), khó khăn khi dùng thuốc (23%) và tìm thấy mối quan hệnghịch khi khó khăn tăng lên thì tự chăm sóc giảm Conraads (2012) [22]cũng chỉ ra người cao tuổi liên quan đến tập thể dục kém hơn người trẻ
Theo Krueger và cộng sự (2015) [57] cho thấy trong 17 nghiên cứu đãđược phân tích Bảy nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ có ý nghĩa thống
Trang 29
kê giữa tuổi tác và thực hiện hành vi tuân thủ uống thuốc Theo nghiên cứucủa Hoàng Văn Cường (2014) [1] cho thấy có mối liên quan giữa nhóm tuổi
và việc tuân thủ hạn chế nước, nhóm tuổi từ 50 đến dưới 60 chỉ bằng 0,13 lần
so với nhóm tuổi dưới 50 tuổi
Nghiên cứu của Heo và cộng sự (2008) [41] cho thấy nữ giới có hành
vi theo dõi các triệu chứng suy tim tốt hơn ở nam giới, tuổi có liên quan đếnhành vi tự chăm sóc Theo nghiên cứu của Sahebi và cộng sự (2015) [92] chothấy có sự liên quan giữa giới, tuổi với hành vi tự chăm sóc, trong đó nữ giới
có hành vi tự chăm sóc tốt hơn nam giới, ngưởi trẻ có hành vi tự chăm sóc tốthơn người già Kết quả này giống với kết quả của Riegel và cộng sự (1995) vàLee và cộng sự [61] Theo kết quả nghiên cứu của của Kato và cộng sự (2008)[55] tại Nhật Bản cho thấy tuổi có liên quan hành vi tự chăm sóc Theo kếtquả nghiên cứu của Liu và cộng sự (2008) [63] cho thấy tuổi tác đã được xácđịnh là yếu tố tương quan đáng kể của các hành vi tự chăm sóc
1.4.2 Nghề nghiệp và trình độ học vấn
Kết quả nghiên cứu của Moser (2008) [70], Cené (2013) [16] và Sahebi(2015) [92], Lee và cộng sự (2009) [61] cho thấy trình độ học vấn cao hơn làliên quan đến hành vi tự chăm sóc tốt hơn Nghiên cứu của Hoàng VănCường (2014) [1] cũng cho thấy có mối liên quan giữa trình độ học vấn vớiviệc tuân thủ điều trị dùng thuốc, vận động, giảm bỏ rượu và thuốc lá củangười bệnh suy tim Kết quả nghiên cứu của Saccomann (2014) [91] cho thấytrình độ học vấn thấp có liên quan đến sự khó khăn để nhận ra triệu chứngphù và kiểm soát cân nặng của của người bệnh suy tim Conraads (2012) [22]cho thấy học vấn thấp liên quan đến sự tập luyện thể dục ở những người bệnhsuy tim Kết quả nghiên cứu của Sahebi (2014) [92] và Kato (2009) [56] chothấy nghề nghiệp và trình độ học vấn có liên quan đến hành vi tự chăm sóccủa người bệnh suy tim
Trang 30
1.4.3 Tình trạng kinh tế và tình trạng hôn nhân
Kết quả nghiên cứu của Nieuwenhuis (2013) [72], Coelho Filho (2004)[28] cho thấy tình trạng kinh tế có liên quan đến hành vi tự chăm sóc, trong
đó những người bệnh có kinh tế nghèo thì có hành vi tự chăm sóc thấp hơnnhững người không nghèo Nghiên cứu của Van Der Wal và cộng sự (2005)[108] cho thấy có mối liên quan giữa tuân thủ thực hiện ăn hạn chế muối vàhạn chế uống nước với tình trạng hôn nhân, trong đó những người sống độcthân có tỷ lệ tuân thủ thấp hơn
1.4.4 Thời gian bị bệnh và bệnh kèm theo
Kết quả nghiên cứu của Chriss (2004) [19], Kato (2009) [56], và Sahebi(2015) [92] cũng cho thấy rằng thời gian bị bệnh, bệnh kèm theo có liên quanđến hành vi tự chăm sóc ở người bệnh suy tim
1.4.5 Kiến thức suy tim
Theo Artinian (2002) [9], [10] kiến thức là điều cần thiết cơ bản để tạođiều kiện cho người bệnh thực hiện hành vi tự chăm sóc Nó bao gồm sự hiểubiết về lí do và các triệu chứng của suy tim, lựa chọn thức ăn ít muối, sử dụngthuốc và hành động khi có tác dụng phụ, tự quản lý liên quan đến theo dõi cânnặng, hoạt động thể chất phù hợp, nhận ra triệu chứng xấu của bệnh
Moser (2008) [70] cũng cho rằng kiến thức là yếu tố quan trọng để thực hiệnhành vi tự chăm sóc ở người bệnh suy tim
Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra được kiến thức suy tim là yếu tố ảnhhưởng và có mối liên quan giữa kiến thức và hành vi tự chăm sóc [9] Đó lànghiên cứu của Nieuwenhuis (2012) [72], Artinian (2002) [9], Heo (2008)[41], Ni (1999) [71], Van Der Wal (2006) [106], Cline (1999) [21], Liu(2014) [63], Nguyễn Ngọc Huyền (2013) [4] Nghiên cứu của Hoàng VănCường (2014) chỉ ra nhóm người bệnh suy tim có kiến thức tuân thủ kiểmsoát cân nặng cao gấp 3,9 lần so với nhóm không có kiến thức (p <0,001) [1]
Trang 31
Nghiên cứu của Ni (1999) cho thấy kiến thức liên quan đến chế độ ăncủa người bệnh suy tim [71] Bệnh nhân có thể thực hiện tốt hơn khi họ cókiến thức về căn bệnh của mình và các chế độ chăm sóc sức khỏe liên quan
Do đó, kiến thức có thể được xem như là một trong những yếu tố cơ bản tácđộng đến chương trình quản lý tình trạng bệnh và tử vong của người bệnh[31], [32], [81]
Trong các nghiên cứu định tính, bệnh nhân báo cáo rằng kiến thức vềtình trạng bệnh của họ và quản lý bệnh là quan trọng đối với các hành vi tựchăm sóc của họ [83], [101]
Như vậy, theo y văn hành vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim cómối liên quan với đặc điểm người bệnh như tuổi, giới, trình độ học vấn, tìnhtrạng hôn nhân, tình trạng kinh tế, đặc điểm bệnh lý và kiến thức suy tim
1.5 Lý thuyết Orem về tự chăm sóc và ứng dụng trong nghiên cứu
Người nghiên cứu chọn lý thuyết Dorothea E Orem để ứng dụng vào
nghiên cứu này Bởi theo Orem (2001) [74] ―Tự chăm sóc là thực hiện các
hoạt động do cá nhân khởi xướng và thực hiện bởi chính họ để duy trì cuộc sống, sức khỏe và hạnh phúc‖.
Lý thuyết Orem bao gồm bốn khái niệm liên quan đến hệ thống chămsóc sức khoẻ người bệnh: tự chăm sóc, khả năng tự chăm sóc, nhu cầu về tựchăm sóc và những thiếu hụt về tự chăm sóc Ngoài ra lý thuyết Orem còn haikhái niệm liên quan đến Điều dưỡng và vai trò của họ đó là cơ sở điều dưỡng
và hệ thống điều dưỡng Bên cạnh đó còn có sự liên kết với các khái niệmđược gọi là các yếu tố điều kiện cơ bản bao gồm tuổi, giới, trình độ học vấn,trình trạng sức khỏe, tình trạng hôn nhân, hệ thống chăm sóc sức khỏe và yếu
tố môi trường
Sự thiếu hụt tự chăm sóc là một lời giải thích và mô tả lý do tại saobệnh nhân cần sự chăm sóc của Điều dưỡng và theo Orem (2001), thâm hụt tự
Trang 32
chăm sóc được xác định khi nhu cầu tự chăm sóc lớn hơn khả năng tự chămsóc; khả năng tự chăm sóc không đủ để đáp ứng nhu cầu tự chăm sóc Lýthuyết này giải thích mối quan hệ giữa khả năng tự chăm sóc và nhu cầu tựchăm sóc Khi nhu cầu tự chăm sóc của người bệnh lớn hơn khả năng tự chămsóc, họ sẽ cần đến sự giúp đỡ của Điều dưỡng, người thân, gia đình Thiếuhụt tự chăm sóc là cần thiết hàng đầu để phát triển hệ thống điều dưỡng Hệthống chăm sóc là tất cả các hoạt động, các tác động qua lại của điều dưỡng
và người bệnh trong môi trường thực hành, bảo vệ và điều hòa sự phát triểncủa tự chăm sóc Hệ thống chăm sóc điều dưỡng có nhiều loại trong đó có hỗtrợ giáo dục sức khỏe
Theo thuyết Orem, người bệnh suy tim có hành vi tự chăm sóc bản thân
bị ảnh hưởng bởi kiến thức của họ về suy tim Người bệnh muốn thực hiệnhành vi tự chăm sóc thì họ phải hiểu và có các năng lực cơ bản để thực hiệnhành vi này Lý thuyết Orem cũng chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến khảnăng tự chăm sóc của người bệnh như tuổi, giới, trình độ học vấn, tình trạngsức khỏe, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nơi sinh sống, yếu tố môi trường
xã hội, gia đình, mô hình cuộc sống
Vì vậy, trong nghiên cứu này, người nghiên cứu đánh giá mức độ hành
vi tự chăm sóc của người bệnh suy tim, mối liên quan giữa hành vi tự chămsóc và đặc điểm cá nhân người bệnh, kiến thức suy tim Từ đó người nghiêncứu sẽ xác định khả năng tự chăm sóc của người bệnh và những thiếu hụt củangười bệnh liên quan đến khả năng tự chăm sóc Sau đó, người nghiên cứu sẽtiến hành thiết lập một chương trình giáo dục sức khỏe về tự chăm sóc phùhợp với người bệnh suy tim Chương trình này sẽ góp phần nâng cao kiếnthức, bởi người bệnh muốn tự chăm sóc tốt thì phải có kiến thức đúng Thựchành chăm sóc đúng sẽ nâng cao sức khỏe, phòng ngừa biến chứng, giảmnguy cơ tái nhập viện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh
Trang 33
Hành vi tự chăm sóc
Thiếu hụt chăm sóc
Khả năng tựchăm sóc
Trang 34CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Dân số mục tiêu
Những người bệnh được chẩn đoán suy tim đang được điều trị tại Bệnhviện đa khoa tỉnh Quảng Trị
2.2 Dân số chọn mẫu
Những người bệnh suy tim đang điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnhcủa Bệnh viện đa khoa Tỉnh Quảng Trị trong thời gian từ tháng 12 năm 2015đến tháng 5 năm 2016
2.2.1.Tiêu chuẩn chọn mẫu
Người bệnh từ 18 tuổi trở lên và được chẩn đoán là suy tim
Có tình trạng sức khỏe ổn định
Có khả năng giao tiếp được tiếng Việt
Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Người bệnh là nhân viên y tế
Người bệnh đang trong tình trạng cấp cứu
Người bệnh lần đầu được chẩn đoán suy tim
n: độ lớn của mẫu
cậy 95% thì Z= 1,96)
Trang 35
d: sai số tuyệt đối, chọn d = 0,09
p : tỷ lệ người bệnh suy tim có hành vi tự chăm sóc tốt
Chọn p = 0,491 (theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Huyền) [4]
0,491(1-0,491)
(0,09)2Vậy cỡ mẫu tối thiểu trong nghiên cứu là n = 119 người bệnh
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Bước 1 Các ngày từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần, dựa trên số lượng người bệnh
đăng ký đến khám và xem chẩn đoán để lựa chọn ra những bệnh nhân đượcchẩn đoán suy tim
Bước 2 Tiếp xúc người bệnh suy tim sau khi họ đã khám bệnh xong hoặc
trong thời gian chờ khám bệnh, mời họ vào phòng riêng để giới thiệu về mụcđích nghiên cứu và mời họ tham gia phỏng vấn nếu họ đáp ứng tiêu chí lựachọn
Bước 3 Tiến hành phỏng vấn nếu người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu 2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.4.1 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016
Trang 36
2.4.2 Địa điểm nghiên cứu
Khoa Khám bệnh Bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh Quảng Trị
2.5 Liệt kê và định nghĩa biến số nghiên cứu:
2.5.1 Biến số đặc điểm cá nhân người bệnh
Tuổi: Là khoảng thời gian sống của một người tính từ ngày sinh đến thời
điểm nghiên cứu đo lường thông qua phỏng vấn đối tượng năm sinh (dươnglịch), giá trị của tuổi được tính bằng công thức sau: tuổi = năm 2016 - nămsinh Nhóm tuổi là biến danh định bao gồm các giá trị: nhóm 1: 18- 40 tuổi,nhóm 2: 41- 60, nhóm 3: > 60
Giới tính: là sự khác nhau về mặt sinh học của đối tượng nghiên cứu, là biến
nhị giá với hai giá trị là nam và nữ
Trình độ học vấn: là cấp học cao nhất mà người bệnh tốt nghiệp tính đến
thời điểm nghiên cứu, bao gồm cả giáo dục văn hóa và đào tạo nghề, là biếnthứ tự với các giá trị: không biết chữ; tiểu học (cấp 1) và trung học cơ sở (cấp2); trung học phổ thông (cấp 3); trung cấp trở lên (trung cấp, cao đẳng, đạihọc và sau đại học)
Nghề nghiệp: Là hình thức công việc hiện tại bệnh nhân đang làm đem lại
thu nhập cho đời sống cá nhân và gia đình, là biến số danh định gồm các giátrị sau: nông dân, công chức/viên chức, kinh doanh/buôn bán, già/hưu trí,nghề tự do
Nơi cư trú: là khu vực hiện tại bệnh nhân đang sinh sống, là biến danh định
gồm có hai giá trị: thành thị bao gồm các phường nội thành, thị xã và thị trấn;Nông thôn bao gồm tất cả các đơn vị cơ sở hành chính còn lại (xã)
Tình trạng kinh tế: là tình trạng kinh tế hiện tại của đối tượng được khảo sát,
được xác định bằng cách có hoặc không có sổ hộ nghèo và sổ cận nghèo là
Trang 37
biến nhị giá bao gồm hai giá trị nghèo (khi có sổ hộ nghèo, cận nghèo) vàkhông nghèo
Tình trạng hôn nhân: là tình trạng hôn nhân hiện tại của đối tượng, là biến
danh định bao gồm các giá trị: kết hôn, độc thân, ly dị/ góa
Tình trạng chung sống: là tình trạng chung sống hiện tại của đối tượng, là
biến danh định gồm 2 giá trị sống với gia đình và sống một mình
Thời gian mắc bệnh: là khoảng thời gian từ lúc người bệnh được chẩn đoán
suy tim cho đến thời điểm tiến hành làm nghiên cứu và được tính bằng côngthức 2016 – năm mắc bệnh, được chia thành 3 nhóm: < 1 năm, 1- 5 năm, và >
5 năm
Bệnh kèm theo: là những bệnh mạn tính kèm theo khác ngoài bệnh suy tim
(ví dụ bệnh tiểu đường, tăng huyết áp…) là biến nhị giá, bao gồm hai giá trị:
có và không có bệnh kèm theo Được xác định qua hồ sơ bệnh án, sổ khámbệnh
Phân độ suy tim: là biến thứ tự về phân độ suy tim theo hiệp hội tim mạch
New york (NYHA) Được xác định dựa vào chẩn đoán của bác sĩ ghi trong hồ
sơ bệnh án hoặc sổ khám bệnh Là biến thứ tự gồm 4 độ:
Độ I: Có bệnh tim nhưng không bị hạn chế vận động, vận động thể lưc thôngthường không gây mệt, khó thở hoặc hồi hộp
Độ II: Bệnh tim gây hạn chế nhẹ vận động thể lực Bệnh nhân khỏe khi nghỉngơi, vận động thể lực thông thường dẫn đến mệt, hồi hộp, khó thở hoặc đaungực
Độ III: Bệnh tim gây hạn chế nhiều vận động thể lực, mặc dù bệnh nhân khỏekhi nghỉ ngơi, nhưng chỉ vận động nhẹ đã có triệu chứng cơ năng
Độ IV: Triệu chứng cơ năng của suy tim xẩy ra ngay khi nghỉ ngơi, khôngvận động thể lực nào mà không gây khó chịu, chỉ một vân đông thể lực triệuchứng cơ năng gia tăng
Trang 38
2.5.2 Hành vi tự chăm sóc
Là những hành động tự chăm sóc bản thân của người bệnh suy tim gồmcác nội dung: theo dõi cân nậng hàng ngày, ăn hạn chế muối, hạn chế lượngnước đưa vào cơ thể, tập thể dục, uống thuốc theo đơn, liên hệ với bác sĩ hoặcđiều dưỡng khi phù, khó thở, tăng cân, mệt mỏi [47]
Được đánh giá qua bộ câu hỏi European Heart Failure Self-careBehavior Scale-9 (EHFScBS-9) Bộ câu hỏi này được phát triển bởi Jaarsmanăm 2009 [47], [102] Bao gồm 9 câu hỏi cho 9 hành vi Mỗi câu hỏi gồm 5mức độ trả lời:
5 Tôi hoàn toàn đồng ý (5 điểm)
3 Tôi không có ý kiến (3 điểm)
1 Tôi rất không đồng ý (1 điểm)
Đánh giá mỗi hành vi tự chăm sóc tốt và chưa tốt theo biến định tính gồm 2giá trị:
Hành vi tự chăm sóc tốt khi người bệnh trả lời với số điểm ở mức 4hoặc mức 5 và chưa tốt khi người bệnh trả lời với số số điểm của mức 1, 2hoặc mức 3 cho mỗi hành vi [49]
Điểm số cho bộ câu hỏi là từ 9 – 45 điểm, điểm càng cao cho thấy hành
vi tự chăm sóc tốt hơn, tổng điểm của mỗi người bệnh được tính để xét mốiliên quan với đặc điểm cá nhân người bệnh và kiến thức suy tim [4]
2.5.3 Kiến thức suy tim
Là những hiểu biết của người bệnh về thông tin chung của bệnh suytim, điều trị suy tim, chế độ ăn, hạn chế nước và các hoạt động, đánh giá triệu
chứng và sự phát hiện các triệu chứng của suy tim [107].
Trang 39
Được đánh giá qua bộ câu hỏi: The Dutch Heart Failure KnowledgeScale (DHFKS) Bộ câu hỏi này được phát triển bởi tác giả Van Der Wal(2005), gồm 15 câu hỏi nhiều lựa chọn, mỗi câu hỏi gồm 3 lựa chọn cho câutrả lời, người bệnh nhận được 1 điểm cho câu trả lời đúng và ngược lại nhậnđiểm 0 cho câu trả lời sai Tổng số điểm của bộ câu hỏi này là 0-15 điểm.Tổng điểm cao càng cao người bệnh có kiến thức về suy tim tốt hơn
2.6 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu
Tất cả số liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp bệnh nhânbằng bộ câu hỏi đã được soạn sẵn (phụ lục 2)
2.6.2 Công cụ thu thập số liệu
Dữ kiện được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp ngườibệnh với bộ câu hỏi trong khoảng thời gian 20-25 phút Cấu trúc bộ câu hỏigồm 3 phần:
Phần 1: Bao gồm các câu hỏi để đánh giá đặc điểm cá nhân người bệnh như
các thông tin về tuổi, giới, nơi cư trú, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, tìnhtrạng hôn nhân, tình trạng kinh tế gia đình, tình trạng chung sống, thời gianmắc bệnh, bệnh kèm theo, phân độ suy tim
Phần 2: Các câu hỏi về hành vi tự chăm sóc bản thân, được đánh giá qua bộ
câu hỏi: European Heart Failure Self-care Behavior Scale-9 (EHFScBS-9) Bộcâu hỏi này được phát triển bởi Jaarsma năm 2009 [47], [102], có 9 câu hỏicho 9 hành vi bao gồm các nội dung theo dõi cân nặng hàng ngày, hạn chếnước, chế độ ăn hạn chế muối, sử sụng thuốc, liên lạc với cán bộ y tế khingười bệnh có các triệu chứng như tăng cân, phù, khó thở, mệt
Mỗi câu hỏi gồm 5 mức độ trả lời từ 1 ―Tôi rất không đồng ý‖ đến 5
―Tôi hoàn toàn đồng ý‖, sau khi thảo luận và được sự cho phép của tác giả, bộ
Trang 40
3 Tôi không có ý kiến (3 điểm)
1 Tôi rất không đồng ý (1 điểm)
Đánh giá mỗi hành vi tự chăm sóc tốt và chưa tốt theo biến định tính gồm 2giá trị:
Hành vi tự chăm sóc tốt khi người bệnh trả lời với số điểm ở mức 4hoặc mức 5 và chưa tốt khi người bệnh trả lời với số số điểm của mức 1, 2hoặc mức 3 cho mỗi hành vi [49]
Điểm số cho bộ câu hỏi là từ 9 – 45 điểm, điểm càng cao cho thấy hành
vi tự chăm sóc tốt hơn, tổng điểm của mỗi người bệnh được tính để xét mốiliên quan với đặc điểm cá nhân người bệnh và kiến thức suy tim
Bộ câu hỏi EHFScBS-9 có tính giá trị và độ tin cậy cao đã được dịchxuôi và dịch ngược ra 22 thứ tiếng trên thế giới gồm tiếng Anh, Anh Mỹ, HàLan, Thụy Điển, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Aixơlen, Catalan, Đức, PhầnLan, Đan Mạch, Iran, Nga, Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ, Hebrew, Hàn Quốc,Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam [51]
Hệ số Cronbach’s Alpha của bộ câu hỏi EHFScBS-9 trong nghiên cứunày là 0,81
Phần 3: Các câu hỏi về kiến thức suy tim, được đánh giá qua bộ câu hỏi: The
Dutch Heart Failure Knowledge Scale (DHFKS) Bộ câu hỏi này được pháttriển bởi tác giả Van der Wal (2005) [107] Gồm 15 câu hỏi nhiều lựa chọn vàđược chia ra làm 3 nhóm: nhóm 1 gồm 4 câu hỏi về kiến thức chung của bệnhsuy tim (gồm các câu 6, 7, 9 và 11), nhóm 2 gồm 6 câu hỏi đánh giá về chế độ