ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân viêm tai giữa mạn được chỉ định chụp CT Scan xương thái dương tại bệnh viện Tai Mũi Họng TPHCM từ tháng 11/2018 đến tháng 6/2019.
− Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên.
Bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính một bên được chỉ định chụp CT Scan xương thái dương khi có tai còn lại đáp ứng các tiêu chuẩn như không có tiền căn bệnh lý tai, màng nhĩ còn nguyên và bình thường, cùng với việc không phát hiện dấu hiệu bệnh lý trên CT Scan theo kết luận của bác sĩ chẩn đoán hình ảnh.
Bệnh nhân viêm tai giữa mạn thủng nhĩ được chẩn đoán dựa trên triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng Tiền sử bệnh thường là nhiễm trùng mạn tính kéo dài và chảy mủ tai tái phát Triệu chứng cơ năng bao gồm chảy tai lặp lại, giảm thính lực dần dần, có thể kèm theo đau tai, ù tai và chóng mặt Về triệu chứng thực thể, có thể thấy dịch trong ống tai ngoài hoặc hòm nhĩ, màng nhĩ thủng, có thể có mô hạt viêm hoặc polyp hòm nhĩ Kết quả thính lực đồ thường cho thấy giảm thính lực, trong khi nhĩ lượng đồ thường có kiểu đặc trưng.
CT Scan xương thái dương thường cho thấy các dấu hiệu viêm xương, mờ tế bào chũm, xơ hoá xương chũm và huỷ xương Chẩn đoán viêm tai giữa mạn tính với thủng nhĩ dựa vào kết luận từ bác sĩ điều trị, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và phẫu thuật viên Đặc biệt, không có dấu hiệu bệnh tích cholesteatoma được phát hiện qua chẩn đoán hình ảnh và sau phẫu thuật.
− Các thể lâm sàng khác của viêm tai giữa.
− Tiền căn đã phẫu thuật tai xương chũm
− Tiền căn chấn thương tai trước đó.
− Dị dạng tai hoặc đầu cổ.
Phương pháp nghiên cứu
Tiến cứu, mô tả hàng loạt ca.
2.2.2 Các b ướ c ti ế n hành nghiên c ứ u :
Bệnh nhân viêm tai giữa mạn thủng nhĩ được chỉ định chụp CT Scan xương thái dương tại bệnh viện Tai Mũi Họng TPHCM từ tháng 11/2018 đến tháng 6/2019.
Ghi nhận thông tin về hành chính, bệnh sử, tiền sử, khám lâm sàng và hình ảnh nội soi (nếu có) là bước quan trọng để lựa chọn bệnh nhân cho nghiên cứu, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ.
Bệnh nhân đư ợc tiến hành chụp CT Scan xương thái dương bằng máy CT SOMATOM Emotion xoắn ốc 16 lát cắt.
Kết quả CT Scan xương thái dương được ghi nhận dựa trên kết luận của bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh, với việc lựa chọn các mẫu nghiên cứu theo tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ.
Liên hệ mượn đĩa DVD, chép lưu vào máy vi tính xách tay có cài đ ặt phần mềm Efilm để đọc phim CT Scan.
Tiến hành đọc CT Scan xương thái dương: Đọc CT Scan xương thái dương xác định các nhóm thông bào nhóm trong trên hình ảnh CT Scan:
2.2.3.1 Thông bào quanh thần kinh mặt
Mặt cắt axial ngang mức ống tai ngoài cho thấy đường thông bào trung tâm, với các tế bào quanh thần kinh mặt nằm phía trên và các tế bào cạnh xoang tĩnh mạch bên nằm phía dưới Các tế bào xoang tĩnh mạch bên bao quanh xoang tĩnh mạch, ở ngang mức ống tai ngoài và mỏm chũm, trong khi các thông bào quanh thần kinh mặt được ngăn cách bởi đường thông bào trung tâm.
Hình 2.1 Dây thần kinh mặt và nhóm thông bào quanh dây TK mặt.
Thông bào quanh thần kinh mặt là những cấu trúc nằm ở mặt sau và bên ngoài của đoạn chũm thần kinh mặt, gần với thành sau của ống tai ngoài, bao gồm cả các tế bào trong ngách mặt.
Hình 2.2 Ống thần kinh VII
2.2.3.2 Thông bào quanh tiền đình
Mặt cắt axial ngang qua ống bán khuyên trên và mặt cắt coronal qua lỗ trâm chũm cho thấy nhóm thông bào quanh tiền đình trên phát triển theo 4 con đường khác nhau hướng về đỉnh xương đá.
Các thông bào trên tiền đình trước nằm trong vùng tam giác trước tiền đình, vị trí này nằm phía trên bóng của ống bán khuyên ngoài và phía dưới hạch gối cùng ống Fallop.
Các thông bào xuyên tiền đình: nằm ở mặt trong ống bán khuyên trên, phía trên ống tai trong (hình 2.4).
Hình 2.3 Thông bào trên tiền đình trước
Hình 2.4 Thông bào xuyên tiền đình
Các thông bào trên tiền đình nằm dọc theo hố sọ giữa, tại vị trí giao nhau giữa ống bán khuyên trên và ống bán khuyên sau, bao gồm cả các tế bào nằm trong ống tai trong.
Các thông bào trên tiền đình sau: nằm phía trên cống tiền đình, phía sau ống bán khuyên sau và mặt sau của trụ chung (hình 2.6).
Hình 2.5 Thông bào trên tiền đình
Hình 2.6 Thông bào trên tiền đình sau
Thông bào quanh tiền đình dưới: nằm phía dưới ốc tai, sau trong thần kinh mặt đoạn chũm (hình 2.7).
Hình 2.7 Thông bào trên tiền đình và dưới tiền đình
Trên mặt cắt coronal qua cơ căng màng nhĩ, các thông bào quanh vòi nằm quanh phần xương của vòi nhĩ, phía trước ngoài ống động mạch cảnh.
Hình 2.8 Thông bào quanh vòi
2.2.3.4 Thông bào đỉnh xương đá
Mặt cắt axial ngang qua ống tai trong: Phía trong, đư ờng thông bào sau giữa đi
37 trên ống tai trong, hai đường này đến thông khí vùng đỉnh xương đá tạo thành các tế bào đỉnh xương đá.
Hình 2.9 Nhóm thông bào đỉnh xương đá
2.2.4 Kh ả o sát s ự phát tri ể n c ủ a các thông bào nhóm trong
Nhóm trong sào bào gồm 4 nhóm nhỏ: nhóm quanh thần kinh VII, nhóm quanh vòi, nhóm quanh tiền đình, nhóm xương đá.
2.2.4.1 Đánh giá sự thông khí quanh thần kinh VII trên mặt cắt axial
Có hay không hiện diện các thông bào quanh thần kinh VII đoạn chũm.
Hình 2.11 Xương chũm xơ hoá, không có thông bào quanh thần kinh VII
2.2.4.2 Đánh giá sự thông khí quanh vòi trên mặt cắt coronal
Có hay không hiện diện các thông bào nằm quanh phần xương của vòi Eustache và phía trước ngoài của ống động mạch cảnh.
Hình 2.12 Thông bào quanh vòi (mũi tên) mở vào vòi nhĩ (*)
2.2.4.3 Đánh giá thông khí đỉnh xương đá trên mặt cắt axial
Mức độ thông khí đỉnh xương đá được chia thành bốn nhóm: Nhóm 1 không có thông bào trong vùng quanh tai trong, Nhóm 2 có thông khí dưới một nửa đỉnh xương đá từ phía trong tiền đình, Nhóm 3 có thông khí hơn một nửa đỉnh xương đá từ phía trong tiền đình, và Nhóm 4 là đỉnh xương đá thông khí hoàn toàn.
Hình 2.13 Phân nhóm thông khí đỉnh xương đá
2.2.4.4 Đánh giá thông khí quanh tiền đình trên mặt cắt sagittal
Loại A: hiện diện nhiều thông bào ở phần thấp nhất và trong nhất của đỉnh xương đá phía dưới và trên ống tai trong (hình 2.14.a)
Loại B: có một số thông bào ở phần xương quanh tiền đình (hình 2.41.b).
Loại C: không có thông bào ở phần xương trong tiền đình quanh ống tai trong (hình 2.14.c).
Hình 2.14 Phân nhóm thông khí quanh tiền đình
2.2.5 Đ ánh giá s ự phát tri ể n x ươ ng ch ũ m Đánh giá thông khí xương chũm trên mặt cắt axial [12] : trên lát cắt thấy xương búa và xương đe tạo thành hình ảnh “que kem”, kẻ 3 đư ờng song song góc 45 đ ộ theo hướng trước ngoài Đường thứ nhất đi qua điểm trước nhất của xoang sigma tại vị trí nối tiếp với xương đá, đường thứ hai đi qua cạnh ngoài nhất dọc theo mặt phẳng ngang của rãnh sigma, và đường thứ ba đi qua điểm ngoài nhất và sau nhất của xoang sigma. Mức độ thông khí xương chũm được phân thành 4 nhóm (hình 2.15):
Nhóm 1 (nhóm thông khí kém): thông khí đ ến trước trong đư ờng kẻ đi qua điểm trước nhất của xoang sigma (hình 2.15.a).
Nhóm 2 (nhóm thông khí trung bình): thông khí đến vùng nằm giữa 2 đường kẻ đi qua điểm trước nhất và ngoài nhất của xoang sigma (hình 2.15.b).
Nhóm 3 (nhóm thông khí tốt): thông khí đến vùng nằm giữa 2 đường kẻ đi qua điểm
Nhóm 4 (nhóm thông khí nhiều): thông khí vượt qua đường kẻ đi qua điểm sau nhất của xoang sigma (hình 2.15.d).
Hình 2.15 Mức độ thông khí xương chũm
Sơ đồ 2.1 Tóm tắt quá trình thu thập số liệu trong nghiên cứu
- Không thấy Cholesteatoma tai giữa
- Đau tai Đặc tính mẫu:
- Tiền căn nội/ngoại khoa
Loại khỏi mẫu nghiên cứu
Ghi nhận hình ảnh các nhóm thông bào trên CT Scan theo bảng kiểm
Phim Schuller + Nội soi + Thính lực đ ồ: Thoả tiêu chuẩn chọn mẫu?
Loại khỏi mẫu nghiên cứuKhông thoả
TÊN BIẾN GIÁ TRỊ GIÁ TRỊ CÁCH THU THẬPCÁCH THU THẬP ĐẶC ĐIỂM CHUNG
Tuổi Tuổi hiện tại Ghi nhận hồ sơ bệnh án
Nhóm tuổi 0 < 30 Ghi nhận theo tuổi
Giới 0 Nam Ghi nhận hồ sơ bệnh án
Bên tai 0 Phải Ghi nhận theo tai
Tình trạng tai giữa 0 Bình thường Ghi nhận chẩn đoán lâm
1 Viêm tai giữa mạn sàng
CÁC THÔNG BÀO NHÓM TRONG
Nhóm quanh dây TK mặt 0 Không Đọc CT Scan
Nhóm quanh vòi 0 Không Đọc CT Scan
Nhóm quanh tiền đình 0 Loại A Đọc CT Scan
Nhóm quanh xương đá 0 Nhóm 1 Đọc CT Scan
Mức độ phát triển xương chũm
2.2.7 Ph ươ ng pháp x ử l ý và phân tích s ố li ệ u
- Các dữ liệu thu thập được ghi vào phiếu thu thập số liệu
- Lập bảng đánh giá các dữ liệu thu được.
- Xử lý số liệu thu thập đư ợc theo phương pháp thống kê y học bằng phần mềmSTATA 13.0.
Y đức
Nghiên cứu được thực hiện với sự phê duyệt của hội đồng nghiên cứu khoa học tại Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh và Bệnh viện Tai mũi họng TPHCM, tuân thủ các tiêu chí y đức nhằm đảm bảo lợi ích cho bệnh nhân mà không gây hại Quá trình thu thập thông tin chỉ dựa trên bệnh án và kết quả cận lâm sàng có sẵn, không làm ảnh hưởng đến quy trình khám chữa bệnh Tất cả thông tin liên quan đến bệnh nhân sẽ được mã hóa và bảo mật, chỉ người thực hiện nghiên cứu mới có quyền truy cập, đồng thời thông tin cá nhân sẽ được viết tắt để không xác định danh tính và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu gồm có 158 tai, trong đó nhóm viêm tai giữa mạn có 86 tai, nhóm bình thường gồm có 72 tai
3.1.1 Đặ c đ i ể m chung c ủ a nhóm tai bình th ườ ng
Mẫu nghiên cứu bình thường gồm có 72 bệnh nhân, trong đó có 28 Nam chiếm 38,89% và 44 nữ chiếm 61,11%, tỉ lệ nam:nữ là 1:1,5
Trong tổng số 72 tai nghiên cứu bình thường, có 41 tai trái ( chiếm 56,94%) và 31 tai phải (chiếm 43,06%)
Biểu đồ 3.1 Tần số và tỉ lệ giới tính và bên tai nghiên cứu
Tuổi trung bình là 47,8 ± 14,55 tuổi Tuổi nhỏ nhất là 22 tuổi và lớn nhất là 76 tuổi Bảng phân bố độ tuổi theo hình dưới đây
Biểu đồ 3.2 Phân bố nhóm tuổi tai bình thường
3.1.2 Đặ c đ i ể m chung c ủ a nhóm tai b ệ nh l ý
Mẫu nghiên cứu bệnh lý bao gồm 86 bệnh nhân, trong đó có 41 nam (chiếm 47,67%) và 45 nữ (chiếm 52,33%), với tỷ lệ nam:nữ là 1:0,9 Số lượng tai phải là 47 (chiếm 54,65%) và tai trái là 39 (chiếm 45,35%).
Tuổi trung bình của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu là 14,06, với nhóm tuổi phổ biến nhất từ 60-70 tuổi, tiếp theo là nhóm 30-40 tuổi và 50-60 tuổi Tuổi nhỏ nhất ghi nhận là 19 và tuổi cao nhất là 73 Bảng phân bố độ tuổi được trình bày trong hình dưới đây.
Biểu đồ 3.4 Phân bố nhóm tuổi tai bệnh lý
Thời gian từ khi bắt đầu triệu chứng đến khi nhập viện thường không được bệnh nhân nhớ chính xác, đặc biệt là trong các trường hợp viêm tai giữa từ nhỏ Nghiên cứu của chúng tôi phân chia thời gian bệnh thành ba nhóm: dưới 1 năm, từ 1-10 năm và trên 10 năm Đáng chú ý, đa số bệnh nhân có thời gian bệnh kéo dài trên 10 năm.
Thời gian < 1 năm 1- 10 năm > 10 năm Tổng
Các nhóm thông bào trên CT Scan tai bình thường
3.2.1 Đ ánh giá m ứ c độ thông khí quanh th ầ n kinh m ặ t
Trong 72 tai, nhóm thông bào quanh thần kinh mặt hiện điện trong 50 tai, tỉ lệ 69,44%.
3.2.2 Đ ánh giá m ứ c độ thông khí quanh vòi
Trong 72 tai, nhóm thông bào quanh vòi hiện diện trong 30 tai, tỉ lệ 41,6%.
Nhóm quanh thần kinh mặt
Bảng 3.1 Mức độ thông khí quanh thần kinh mặt và quanh vòi tai bình thường
3.2.3 Đ ánh giá m ứ c độ thông khí nhóm đỉ nh x ươ ng đ á:
Trong nghiên cứu, có 32 tai thuộc nhóm 1 với mức độ thông khí xương đá không có thông bào, chiếm tỷ lệ cao nhất là 44,44% Ngoài ra, 19 tai thuộc nhóm 2, 16 tai thuộc nhóm 3 và 5 tai thuộc nhóm khác về mức độ thông khí xương đá.
Mức độ thông khí Tai P Tai T Tổng Phần trăm (%)
Bảng 3.2 Mức độ thông khí quanh đỉnh xương đá nhóm bình thường
Hình 3.1 Thông khí đỉnh xương đá nhóm 4
Hình 3.2 Thông khí đỉnh xương đá nhóm 3
Hình 3.3 Thông khí đỉnh xương đá nhóm 2
Hình 3.4 Thông khí đỉnh xương đá nhóm 1
3.2.4 Đ ánh giá m ứ c độ thông khí nhóm quanh ti ề n đ ình
Mức độ thông khí Tai P Tai T Tổng Phần trăm (%)
Bảng 3.3 Mức độ thông khí quanh tiền đình nhóm bình thường
Trong nghiên cứu, loại B (thông khí một phần) chiếm tỉ lệ cao nhất với 31 bệnh nhân, tương ứng 43,06% Tiếp theo, loại C (không có thông bào) chiếm 37,5% với 27 bệnh nhân Cuối cùng, loại A (có nhiều thông bào) chiếm 19,44% với 14 bệnh nhân.
Hình 3.5 Thông khí quanh tiền đình loại B
Hình 3.6 Thông khí quanh tiền đình loại C
3.2.5 Đ ánh giá m ứ c độ thông khí x ươ ng ch ũ m
Xương chũm thông khí tốt chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,61% (35 bệnh nhân), trong khi xương chũm thông khí nhiều đạt 25,0% (18 bệnh nhân) Tỷ lệ xương chũm thông khí vừa cũng được ghi nhận, thể hiện sự đa dạng trong mức độ thông khí của xương chũm.
Mức độ thông khí Tai P Tai T Tổng Phần trăm (%)
Bảng 3.4 Mức độ thông khí xương chũm nhóm bình thường
Hình 3.7 Xương chũm thông khí nhiều Hình 3.8 Xương chũm thông khí tốt.
Hình 3.9 Xương chũm thông khí vừa Hình 3.10 Xương chũm thông khí kém
Các nhóm thông bào trên CT Scan tai viêm tai giữa mạn tính
3.3.1 Đ ánh giá m ứ c độ thông khí quanh th ầ n kinh m ặ t
Trong 86 tai, nhóm thông bào quanh thân kinh mặt hiện diện trong 33 tai, chiếm tỉ lệ 38,37%.
3.3.2 Đ ánh giá m ứ c độ thông khí quanh vòi
Trong 86 tai, nhóm thông bào quanh vòi chỉ hiện diện trong 12 tai, chiếm tỉ lệ 13,95%.
Nhóm quanh thần kinh mặt
Bảng 3.5 Mức độ thông khí quanh thần kinh mặt và quanh vòi.
3.3.3 Đ ánh giá m ứ c độ thông khí nhóm đỉ nh x ươ ng đ á Đa số tai có mức độ thông khí xương đá thuộc nhóm 1 (không có thông bào), chiếm tỉ lệ cao nhất (84,88%) với 73 tai, chỉ có 9 tai có mức độ thông khí xương đá thuộc
55 nhóm 2, 2 tai có mức độ thông khí xương đá thuộc nhóm 3 và 2 tai có mức độ thông khí xương đá thuộc nhóm 4 (thông khí toàn bộ đỉnh xương đá).
Mức độ thông khí Tai P Tai T Tổng Phần trăm (%)
Bảng 3.6 Mức độ thông khí quanh đỉnh xương đá nhóm viêm tai giữa mạn tính
3.3.4 Đ ánh giá m ứ c độ thông khí nhóm quanh tiên đ ình
Loại C (không có thông bào) là loại chiếm tỉ lệ cao nhất trong nghiên cứu với 54,65%, tương đương 47 bệnh nhân Tiếp theo là loại B (thông khí một phần) với tỉ lệ 36,05%, tương ứng với 31 bệnh nhân Cuối cùng, loại A (có nhiều thông bào) chỉ chiếm 9,30%, với 8 bệnh nhân.
Mức độ thông khí Tai P Tai T Tổng Phần trăm (%)
3.3.5 Đ ánh giá m ứ c độ thông khí x ươ ng ch ũ m
Trong nghiên cứu, xương chũm thông khí kém chiếm tỉ lệ cao nhất với 52,33% (45 bệnh nhân), trong khi xương chũm thông khí vừa chiếm 20,93% (18 bệnh nhân) Tỉ lệ xương chũm thông khí tốt là 11,63% (10 bệnh nhân) và xương chũm thông khí nhiều chiếm 15,12% (13 bệnh nhân).
Mức độ thông khí Tai P Tai T Tổng Phần trăm (%)
Bảng 3.8 Mức độ thông khí xương chũm nhóm viêm tai giữa mạn tính
So sánh giữa nhóm tai bình thường và nhóm tai bệnh lý
3.4.1 M ứ c độ thông khí các thông bào nhóm trong
Nghiên cứu so sánh sự hiện diện thông bào nhóm ở tai bình thường và tai bệnh lý cho thấy có sự khác biệt đáng kể về mức độ thông khí giữa hai nhóm này, đặc biệt là giữa nhóm bình thường và nhóm viêm tai giữa mạn tính.
Tỉ lệ hiện diện thông bào quanh thần kinh mặt ở nhóm bình thường đạt 69,44%, trong khi ở nhóm bệnh lý chỉ có 38,37% Tương tự, 41,6% tai bình thường có thông bào quanh vòi, nhưng tỉ lệ này ở nhóm bệnh lý chỉ là 13,95%.
Tai bình thường Tai bệnh lý
Số ca - Tỉ lệ (nr)
Hiện diện thông bào quanh thần kinh mặt
Hiện diện thông bào quanh vòi
Bảng 3.9 cho thấy sự khác biệt giữa nhóm thông bào quanh thần kinh mặt và quanh vòi Ở tai bệnh lý, tỷ lệ tai không có thông bào tại đỉnh xương đá lên đến 84,88%, trong khi ở tai bình thường chỉ chiếm 44,44% Đặc biệt, mức độ thông khí của đỉnh xương đá trong nhóm 4 là thấp nhất ở cả hai nhóm.
Mức độ thông khí Tai bình thường Tai bệnh lý
Trong bảng 3.10, so sánh giữa nhóm thông bào đỉnh xương đá và nhóm thông bào quanh tiền đình cho thấy tỉ lệ tai bệnh lý không có thông bào đạt 54,65%, trong khi tỉ lệ này ở tai bình thường chỉ là 37,5% Đặc biệt, chỉ có 9,3% tai bệnh lý có nhiều thông bào quanh tiền đình, so với 19,44% ở tai bình thường.
Mức độ thông khí Tai bình thường Tai bệnh lý
So sánh nhóm thông bào quanh tiền đình cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong sự phát triển xương chũm giữa hai nhóm Cụ thể, xương chũm thông khí kém chiếm 52,33% ở tai bệnh lý, trong khi tai bình thường chủ yếu thuộc nhóm thông khí tốt (48,61%) và thông khí nhiều (25%).
Mức độ thông khí Tai bình thường Tai bệnh lý
Hình 3.12 So sánh sự thông khí xương chũm
Liên quan giữa tuổi và thông khí xương thái dương
3.5.1 Nhóm tai bình th ườ ng
Bệnh nhân trong nhóm 4 có mức độ thông khí đỉnh xương đá cao nhất với độ tuổi trung bình là 51,2 tuổi, trong khi nhóm 3 có độ tuổi trung bình thấp nhất là 43,4 tuổi Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể về độ tuổi giữa các nhóm thông khí đỉnh xương đá (p > 0,05).
Mức độ thông khí Tuổi trung bình Độ lệch chuẩn
Bảng 3.11 cho thấy phân bố độ tuổi của các nhóm thông khí xương đá ở tai bình thường Độ tuổi trung bình của nhóm thông khí quanh tiền đình loại A là 44,6 tuổi, loại B là 46,5 tuổi và loại C là 50,9 tuổi Kết quả nghiên cứu không phát hiện sự khác biệt đáng kể về độ tuổi giữa các nhóm thông khí quanh tiền đình (p>0,05).
Mức độ thông khí Tuổi trung bình Độ lệch chuẩn
Bảng 3.12 cho thấy phân bố độ tuổi của các nhóm thông khí xương chũm ở tai bình thường, với độ tuổi trung bình lần lượt là 48, 50,5, 47 và 46,8 cho các mức độ thông khí kém, vừa, tốt và nhiều Kết quả phân tích cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về độ tuổi giữa các nhóm này (p>0,05).
Mức độ thông khí Tuổi trung bình Độ lệch chuẩn
Bảng 3.13 Phân bố độ tuổi các nhóm thông khí xương chũm ở tai bình thường
Bệnh nhân trong nhóm 4 có mức độ thông khí đỉnh xương đá cao nhất với độ tuổi trung bình là 58 tuổi, trong khi nhóm 3 có độ tuổi trung bình thấp nhất là 40 tuổi.
Không có sự khác biệt về độ tuổi giữa các nhóm thông khí đỉnh xương đá (p > 0,05).
Mức độ thông khí Tuổi trung bình Độ lệch chuẩn
Bảng 3.14 cho thấy độ tuổi trung bình của các nhóm thông khí xương đá ở tai bệnh lý, cụ thể nhóm A là 50,5 tuổi, nhóm B là 47,4 tuổi và nhóm C là 48,7 tuổi Không có sự khác biệt đáng kể về độ tuổi giữa các nhóm thông khí quanh tiền đình (p>0,05).
Mức độ thông khí Tuổi trung bình Độ lệch chuẩn
Bảng 3.15 trình bày phân bố độ tuổi của các nhóm thông khí quanh tiền đình ở tai bệnh lý, với độ tuổi trung bình của nhóm thông khí xương chũm ở mức độ kém, vừa, tốt và nhiều lần lượt là 47,5, 50,1, 50,3 và 47,8 Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về độ tuổi giữa các nhóm thông khí xương chũm (p>0,05).
Mức độ thông khí Tuổi trung bình Độ lệch chuẩn
Bảng 3.16 Phân bố độ tuổi các nhóm thông khí xương chũm ở tai bệnh lý
Liên quan giữa thời gian bệnh và thông khí xương thái dương
Bệnh nhân có thời gian bệnh kéo dài trên 10 năm chiếm 73,47% với mức độ thông khí quanh tiền đình loại C (36/47 ca), trong khi bệnh nhân có thời gian bệnh dưới 1 năm chỉ có 43% với thông bào loại A và không có bệnh nhân nào thuộc loại C Có sự tương quan rõ rệt giữa thời gian bệnh và mức độ phát triển thông bào quanh tiền đình (p0,05).
Thời gian bệnh Loại A Loại B Loại C Tổng
Bảng 3.17 Tương quan giữa thời gian bệnh và nhóm thông bào quanh tiền đình
Liên quan giữa mức độ phát triển các nhóm thông bào với mức độ thông khí xương chũm
3.7.1 Nhóm tai bình t ườ ng
Nghiên cứu cho thấy có mối tương quan đáng kể giữa mức độ thông khí quanh tiền đình và sự phát triển của thông bào xương chũm (p0,05).
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi về tai bình thường bao gồm bệnh nhân từ 22 đến 76 tuổi, với tuổi trung bình là 47,8 Phân bố tuổi khá đồng đều trong các nhóm từ 30 đến 70 tuổi Tỉ lệ giới tính là 1:1,5 (nam:nữ) và tỉ lệ tai T: tai P là 1:1,3, cho thấy sự chênh lệch không đáng kể.
Nghiên cứu của chúng tôi về bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính bao gồm những người từ 19 đến 73 tuổi, với tuổi trung bình là 48,14 Đặc biệt, nhóm bệnh nhân chủ yếu tập trung ở độ tuổi từ 60 đến 70.
Viêm tai giữa mạn tính là bệnh lý phổ biến ở người trẻ, với 50% bệnh nhân trong độ tuổi từ 11-30, theo nghiên cứu của Theo Memon [23] Nghiên cứu của Amitava năm 2015 [5] cũng cho thấy nhóm tuổi 11-20 chiếm tỉ lệ cao nhất (36,17%) Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng đa số bệnh nhân có thời gian bệnh kéo dài trên 10 năm (56,98%), dẫn đến độ tuổi trung bình cao hơn Tương tự, nghiên cứu của Trần Phương Thảo năm 2014 [3] tại Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy tuổi trung bình là 44,46, với nhóm tuổi trên 50 chiếm 31,08% Tỉ lệ nam:nữ trong nhóm viêm tai giữa mạn tính là 1:0,9, cho thấy sự chênh lệch không đáng kể.
Sự phát triển các thông bào nhóm trong
4.2.1 Nhóm tai bình th ườ ng
Nhiều nghiên cứu đã được công bố về phân loại các kiểu hình thông khí xương thái dương Han và cộng sự đã phân tích 116 phim CT và đo thể tích thông bào xương thái dương bằng kỹ thuật đồ hoạ, từ đó đề xuất một hệ thống phân loại dựa trên các cấu trúc tham chiếu như tiền đình và phức hợp xương búa đe Hệ thống này được áp dụng trong nghiên cứu của chúng tôi để phân loại thông khí xương chũm và đỉnh xương đá Tiếp theo, Marchioni và cộng sự cũng đã đóng góp vào lĩnh vực này.
Nghiên cứu về thông khí xương thái dương đã được thực hiện bởi nhiều tác giả Jadhav và cộng sự đã phân tích 125 phim chụp CT cone beam, cho thấy mối tương quan đáng kể giữa thể tích thông bào xương thái dương và hệ thống phân loại do Han và cộng sự đề xuất Đồng thời, Bronoosh và nhóm nghiên cứu cũng áp dụng hệ thống phân loại này để khảo sát mối liên hệ giữa thông khí xương thái dương và sự hiện diện của thông bào tại củ khớp xương thái dương.
So sánh giữa các nghiên cứu có liên quan, kiểu thông khí xương thái dương được ghi nhận rất đa dạng.
Trong 72 tai trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm thông bào quanh thần kinh mặt hiện diện trong 50 tai, tỉ lệ 69,44%, và nhóm thông bào quanh vòi hiện diện trong 30 tai, tỉ lệ 41,6% Trong nghiên cứu của tác giả Ngọc Lâm (2017) [1], nhóm quanh dây thần kinh VII có 301 tai, chiếm đến 99.3%. Đánh giá sự thông khí đỉnh xương đá rất quan trọng vì nhiều lý do, trong đó có đặc điểm diễn tiến âm thầm và nguy cơ dẫn đ ến các biến chứng nội sọ của bệnh viêm xương đá (hội chứng Gradenigo) Có đến 4% trường hợp có thông bào khổng lồ ở đỉnh xương đá [29], hình ảnh này có thể bị chẩn đoán nhầm là một tổn thương huỷ xương nếu không có CT Scan Các nghiên cứu trước đây ghi nhận tỉ lệ thông khí đỉnh xương đá thay đ ổi từ 11% đ ến 62% [29] Trong nghiên cứu của chúng tôi, trong mẫu bình thường, sự thông khí xương đá ở nhóm 1 (không có thông bào hiện diện trong vùng quanh tai trong) là thường gặp nhất, chiếm tỉ lệ 44,44% Một số nghiên cứu cũng cho tỉ lệ bệnh nhân trong nhóm 1 là cao nhất, từ 40% - 77,4% [16],[18],[22] Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Tan [6] trên 299 phim CT Scan xương thái dương bình thường, nhóm thường gặp nhất là nhóm 2 (thông khí dưới một nửa đỉnh xương đá từ phía trong tiền đình), chiếm tỉ lệ 54,8% Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận thấy mối liên quan giữa mức
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh, nghiên cứu này cho thấy mối liên hệ giữa độ thông khí đỉnh xương đá và mức độ phát triển thông bào xương chũm, điều này phù hợp với quan điểm của Kraus.
Nhóm 1 (%) Nhóm 2 (%) Nhóm 3 (%) Nhóm 4 (%) Tan (n)9)
Tai trái 51,4 22,9 20 4,7 Đối với nhóm thông bào quanh tiền đình, loại thường gặp nhất là loại B (thông khí một phần), gặp trong 31 bệnh nhân (43,06%).
Nghiên cứu của Tan cho thấy loại B là loại thường gặp nhất với 76,0% bệnh nhân, trong khi nghiên cứu của Marchioni lại chỉ ra rằng loại A (thông khí tốt) chiếm tỉ lệ cao nhất với 40,0% Đặc biệt, nghiên cứu của Đạt Nhân khảo sát 55 tai bình thường và phát hiện nhóm thông bào quanh tiền đình xuất hiện trong 54 tai, chiếm tỷ lệ 98,2%.
Trong 86 tai, nhóm thông bào quanh thần kinh mặt hiện diện trong 33 tai, chiếm tỉ lệ 38,37%, nhóm thông bào quanh vòi chỉ hiện diện trong 12 tai, chiếm tỉ lệ 13,95%.
Mức độ thông khí xương đá thuộc nhóm 1 (không có thông bào) chiếm tỷ lệ cao nhất với 84,88% (73 tai), trong khi chỉ có 9 tai thuộc nhóm 2, 2 tai thuộc nhóm 3 và 2 tai thuộc nhóm 4 (thông khí toàn bộ đỉnh xương đá) Tác giả Đạt Nhân ghi nhận nhóm thông bào xương đá chỉ xuất hiện trong 4 tai trên tổng số 151 tai viêm tai giữa mạn thủng nhĩ, chiếm tỷ lệ 2,6% Mặc dù tỷ lệ tai không có thông bào trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhưng vẫn chiếm đa số Tuy nhiên, nghiên cứu của Mauricio cho thấy nhóm thông bào đỉnh xương đá xuất hiện trong 34 tai (chiếm 45,3%) ở 75 bệnh nhân viêm tai giữa mạn, cao hơn đáng kể so với kết quả của chúng tôi.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, mức độ thông khí quanh tiền đình loại C (không có thông bào) chiếm tỉ lệ cao nhất với 54,65% (47 bệnh nhân), trong khi loại A (có nhiều thông bào) chỉ chiếm 9,30% (8 bệnh nhân) So với nghiên cứu của tác giả Đạt Nhân trên 151 bệnh nhân viêm tai giữa mạn thủng nhĩ, nhóm thông bào quanh tiền đình chỉ hiện diện trong 23,8% (36 tai).
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Sự thông khí xương chũm
4.3.1 Nhóm tai bình th ườ ng Đối với xương chũm bình thường, nhóm 3 (thông khí tốt) chiếm tỉ lệ cao nhất, 48,6% bệnh nhân Tuy nhiên, trong các nghiên cứu khác thì nhóm 4 (thông khí nhiều) là nhóm thường gặp hơn cả: chiếm 30,9% bệnh nhân trong nghiên cứu của Bronoosh và cộng sự [8], và 55,4% trong nghiên cứu của Tan [6] Mặt khác, nhóm 2 (thông khí vừa) lại là nhóm thường gặp nhất trong nghiên cứu của Han [16] Một số nghiên cứu khảo sát tai bình thường của bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính có kết quả tương tự với nghiên cứu của chúng tôi hơn Nghiên cứu của Amitava [5] khảo sát 70 tai bình thường của bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính 1 bên: xương chũm thông khí tốt 30 tai (42.86%), 22 tai xương chũm dạng xốp (21,43%) và 18 tai xương chũm đ ặc ngà (25,71%) Fatma [19] nghiên cứu 169 tai bình thường của bệnh nhân viêm tai xương chũm mạn không cholesteatoma, theo đó xương chũm thông khí kém có 65 tai, chiếm 38,5%.
Nhóm 1 (%) Nhóm 2 (%) Nhóm 3 (%) Nhóm 4 (%) Tan (n)9)
Nghiên cứu cho thấy có sự tương quan giữa mức độ thông khí quanh tiền đình và sự phát triển của thông bào xương chũm, cũng như giữa thông khí đỉnh xương đá và quanh vòi với sự phát triển này Tuy nhiên, không có mối liên hệ nào giữa thông bào quanh thần kinh mặt và thông bào xương chũm Các nghiên cứu của Hindi và Yamakami đều chỉ ra rằng thông khí đỉnh xương đá và quanh tiền đình có ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ thông khí của xương chũm Bên cạnh đó, nghiên cứu của Tan cho thấy bệnh nhân có mức thông khí cao ở một vùng thường cũng có xu hướng tăng thông khí ở các vùng khác cùng bên tai.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có mối liên hệ giữa tuổi tác và mức độ thông khí của xương chũm, điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Tan [6].
4.3.2 Nhóm tai b ệ nh l ý Đối với xương chũm có viêm tai giữa mạn tính, xương chũm thông khí kém (nhóm
1) chiếm tỉ lệ cao nhất với 45 bệnh nhân (52,33%), xương chũm thông khí tốt (nhóm 3) chỉ chiếm tỉ lệ 11,63% (10 bệnh nhân) So sánh với nghiên cứu của Sethi [11], tác giả chỉ chia làm 2 nhóm thông khí tốt và thông khí kém, có 26 tai thông khí kém (chiếm 52%) Trong nghiên cứu của Mauricio [12] thì xương chũm thông khí tốt chiếm 65,3%, xương chũm xốp chiếm 6,7%, và xương chũm đặc ngà 28% Trong nghiên cứu của Rai
Các tỉ lệ tương ứng là 44%, 50% và 6% Không giống như nhóm bình thường, không có sự tương quan giữa mức độ thông khí của các thông bào nhóm trong và mức độ phát triển của thông bào xương chũm.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
So sánh giữa nhóm tai bình thường và nhóm tai bệnh lý
Hệ thống thông bào có vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận âm thanh, cộng hưởng, chứa khí, phân tán âm thanh, bảo vệ trước lực tác động từ bên ngoài và làm nhẹ khối lượng hộp sọ Chức năng chứa khí giúp ngăn ngừa áp lực âm trong tai giữa, điều này rất cần thiết để tránh co lõm màng nhĩ và hình thành cholesteatoma Mức độ khí hoá xương thái dương ảnh hưởng lớn đến chức năng sinh lý tai giữa, với sự thông khí xương thái dương có phân phối bình thường và đa dạng giữa các cá thể Hai giả thuyết đã được đưa ra để giải thích sự khác biệt về mức độ khí hoá này giữa các cá nhân.
Mức độ khí hoá của xương chũm được xác định bởi yếu tố di truyền, theo quan điểm của Diament và được nhấn mạnh bởi Stern (1973) Kích thước xương chũm liên quan đến kích thước hộp sọ; người có đầu lớn thường có xương chũm dày và rộng, trong khi người có đầu nhỏ có xương chũm kém phát triển (Graham & Brackmen) Nghiên cứu của Sade cho thấy bệnh nhân xốp xơ tai có xương chũm thông khí tốt hơn người bình thường, và Todd cũng ghi nhận điều tương tự ở bệnh nhân xơ nang, mặc dù họ thường gặp polyp mũi và viêm xoang nhưng không tăng nguy cơ viêm tai giữa Nghiên cứu của Cheatel cũng hỗ trợ thuyết này, nhấn mạnh vai trò của di truyền trong quá trình khí hoá thông qua các cặp song sinh và anh chị em.
Giả thuyết thứ hai cho rằng tình trạng tai giữa ảnh hưởng đến mức độ khí hoá xương chũm Theo “thuyết môi trường” của Wittmack, viêm tai giữa, bao gồm thanh dịch và mủ, làm thay đổi hình thái học và sinh lý của niêm mạc, từ đó ức chế quá trình thông khí Điều này cho thấy mức độ bệnh lý ở tai giữa trong thời thơ ấu có thể quyết định sự phát triển của xương chũm.
Nghiên cứu cho thấy rằng 73% khí hoá xương chũm giảm, với mối quan hệ trực tiếp giữa thời gian mắc bệnh và mức độ thông khí xương chũm Sự tương quan này có thể được giải thích bởi tác động ức chế của nhiễm trùng cấp thấp đối với hoạt động hủy xương của xương chũm Mặc dù cả hai yếu tố đều được cho là quan trọng trong quá trình khí hoá, giá trị cụ thể của mỗi yếu tố vẫn chưa được xác định Vấn đề liệu xương chũm kém thông khí là nguyên phát hay thứ phát sau viêm tai giữa vẫn còn gây tranh cãi.
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa về mức độ thông khí xương chũm giữa nhóm người bình thường và nhóm bị viêm tai giữa mạn tính Kết quả cho thấy có mối tương quan rõ rệt giữa viêm tai giữa mạn tính và khả năng thông khí của xương chũm Tuy nhiên, thời gian mắc bệnh không liên quan đến sự phát triển thông bào nhóm quanh tiền đình.
Chúng tôi đã so sánh sự hiện diện thông bào nhóm giữa tai bình thường và tai bệnh lý, và nhận thấy có sự khác biệt đáng kể về mức độ thông khí Cụ thể, sự khác biệt này được ghi nhận giữa tai bình thường và viêm tai giữa mạn tính ở tất cả các nhóm.
Tai bình thường Tai bệnh lý
Số ca - Tỉ lệ (nr)
Hiện diện thông bào quanh thần kinh mặt
Hiện diện thông bào quanh vòi
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Tỉ lệ hiện diện của nhóm thông bào quanh thần kinh mặt ở tai bình thường cao gấp 1,8 lần so với tai bệnh lý Ngoài ra, tỉ lệ thông bào quanh vòi cũng có sự chênh lệch đáng kể.
Trong nghiên cứu về tai bệnh lý, nhóm thông bào quanh đỉnh xương đá cho thấy rằng tỉ lệ đỉnh xương đá không có thông bào cao nhất ở cả hai nhóm, trong khi tỉ lệ đỉnh xương đá thông khí hoàn toàn thấp nhất Đặc biệt, ở nhóm tai bệnh lý, tỉ lệ đỉnh xương đá không có thông bào lên tới 84,88%, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt so với nhóm còn lại.
Mức độ thông khí Tai bình thường Tai bệnh lý
Tổng 72 (100%) 86 (100%) Đối với nhóm thông bào quanh tiền đình, tai bệnh lý không có thông bào chiếm tỉ lệ cao nhất (54,65%), trong khi đó, ở tai bình thường thì loại B là thường gặp hơn cả(43,06%).
Mức độ thông khí Tai bình thường Tai bệnh lý
Tổng 72 (100%) 86 (100%) Đối với sự phát triển xương chũm cũng có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm. Xương chũm thông khí kém chiếm tỉ lệ cao nhất ở tai bệnh lý (73,3%) còn tai bình thường thì đa số thuộc nhóm thông khí tốt và nhiều (73,6%) Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Sethi (2006) [11].
Thông khí tốt Thông khí kém
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu của chúng tôi không bao gồm những người có hai bên tai bình thường, do đó không thể đánh giá sự tương ứng về mức độ thông khí Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng có sự đối xứng giữa hai bên tai trong 72% - 99% dân số Khi phát hiện sự bất đối xứng giữa hai bên tai trên CT Scan, cần cân nhắc đến bệnh lý ở tai có mức độ thông khí kém hơn, đặc biệt là khi có mối liên hệ rõ ràng với tình trạng viêm tai giữa Hơn nữa, hình ảnh của mỗi thông bào cần được đánh giá cẩn thận để phát hiện các dấu hiệu như xương tân tạo, huỷ xương, và dày niêm mạc, vì một vùng thông khí kém với các thông bào nhỏ có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với hình ảnh bệnh lý.