1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Giải pháp quy hoạch làng nghề truyền thống mây tre đan vùng Đồng bằng sông Hồng

6 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tiến hành nghiên cứu và đề xuất giải pháp tổ chức không gian làng nghề truyền thống mây tre đan bao gồm giải pháp thực hiện, phạm vi áp dụng, đánh giá ưu điểm, nhược điểm và cấu trúc không gian làng nghề gắn với ba loại hình làng.

Trang 1

Theo thống kê năm 2016, cả nước có

khoảng 5.000 làng nghề trong đó 1.700 làng nghề đã được công nhận Theo Quyết định số 85/2009/QĐ-UBND về việc “Ban hành quy chế xét công nhận danh hiệu LNTT Hà Nội”, đến năm 2016, thủ đô Hà Nội đã xét công nhận 276

làng nghề Nhiều tỉnh cũng quan tâm phát triển, công nhận làng nghề như Hà Nam (163 làng năm 2010), Bắc Ninh (140 làng trong đó có 32 LNTT) Trong các LNTT vùng ĐBSH, LNTT MTĐ chiếm

tỉ trọng lớn và có tiềm năng phát triển du lịch cao Các LNTT MTĐ đã được khôi phục và phát triển

vùng Đồng bằng sông Hồng

Làng xã nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) phần lớn là các làng xã truyền thống đã được hình thành lâu đời, ẩn chứa nhiều giá trị văn hóa, lịch sử vô cùng phong phú, đại diện cho văn hóa của người Việt Trong đó nổi bật là các giá trị về văn hóa nghề truyền thống mây tre đan (MTĐ) Những giá trị làng nghề truyền thống mây tre đan (LNTT MTĐ) là những tiềm năng lớn để phát triển kinh tế nông thôn trong bối cảnh đô thị hóa Để có thể tạo được sự chuyển biến về phát triển kinh tế du lịch LNTT MTĐ trong thời gian tới, cần có giải pháp tổ chức không gian quy hoạch làng nghề truyền thống (LNTT) gắn với hoạt động dịch vụ du lịch Trên cơ sở đánh giá thực trạng LNTT MTĐ vùng ĐBSH, bài báo đề xuất các giải pháp quy hoạch LNTT MTĐ vùng ĐBSH Kết quả của bài báo góp phần vào bảo tồn các giá trị làng nghề, phát huy được những tiềm năng sẵn có, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội địa phương, bảo vệ môi trường LNTT MTĐ

Từ khóa: Quy hoạch, làng nghề truyền thống mây tre đan, vùng Đồng bằng sông Hồng

Planning solutions for traditional villages of bamboo and rattan in the red river delta

Rural villages in the Red River Delta (RRD) are mostly traditional villages that have been formed for a long time, hiding many extremely rich cultural and historical values, representing Vietnamese culture Among them are the values of traditional bamboo and rattan weaving culture (MTĐ) The values of traditional rattan and bamboo handicraft villages (TCV) are great potentials for rural economic development in the context

of urbanization In order to be able to create a change in the development of tourism economy of tourism industry in the coming time, it is necessary to have a solution to organize the traditional village planning space (TCV) associated with tourism service activities Based on the assessment of the actual situation of traditional rattan and bamboo handicraft villages in the Red River Delta, the article proposes solutions for planning a traditional trade village of bamboo and rattan in the Red River Delta The results of the article contribute

to preserving the values of craft villages, promoting available potentials, promoting local socio-economic development, protecting the environment of traditional rattan and bamboo handicraft villages.

& taÙC giaÛ

nCs.ths nguYễn thu hương1 , ts nguYễn văn tuYên2 , ts nguYễn hoài thu3

giaÛi PhaÙP QuY hoaÏCh làng nghề truYền thống mâY tre đan

Trang 2

gần đây như Phú Vinh, Thủ Sỹ, Chuông…

có một tiềm năng về thu hút khách du lịch

bởi du khách có thể thông qua tìm hiểu về

nghề để được hiểu biết sâu sắc thêm về

văn hóa Việt, được trải nghiệm làm nghề,

được tiếp cận các sản phẩm nghề độc đáo

Bước đầu một số địa phương đã có kết hợp

đưa khách tới thăm quan du lịch như Phú

Vinh (Hà Nội)

Với nhiều tiềm năng như vậy nhưng việc

khai thác phát triển du lịch dựa trên các thế

mạnh ở các làng nghề mây tre đan truyền

thống hiện nay còn rất hạn chế, nhiều địa

phương có nghề truyền thống nhưng không

đưa được khách du lịch tới vì môi trường ô

nhiễm, không có không gian giới thiệu sản

phẩm địa phương cho du khách, không có

sản phẩm lưu niệm để khách mua Các

LNTT MTĐ vùng ĐBSH có nhiều di sản

truyền thống cũng chưa biết khai thác tốt

các giá trị này để phát triển hoạt động du

lịch, thúc đẩy việc giữ gìn các giá trị văn

hóa truyền thống, kể cả khôi phục các nghề

truyền thống đã mất

Qua nghiên cứu thực trạng LNTT MTĐ

vùng ĐBSH, nhóm tác giả nhận thấy có 05

vấn đề chủ đạo cần thay đổi cách tiếp cận

trong việc phát triển như sau:

i Trong quá trình xây dựng các quy hoạch, kế hoạch phát triển, LNTT MTĐ thường chỉ chú trọng phát triển kinh tế nghề mà chưa đặt phát triển du lịch là mục tiêu có vai trò quan trọng, coi du lịch làng nghề như một nguồn lợi “ăn theo”

chứ không phải là một mục tiêu kinh tế chủ đạo

ii Việc phát triển du lịch LNTT MTĐ cũng là hoạt động thứ yếu, thường sau khi nghề đã có sự phục hồi, phát triển Nếu LNTT MTĐ đó thuận lợi cho phát triển du lịch thì các doanh nghiệp lữ hành tiến hành khai thác, nếu không thuận lợi thì cũng không đầu tư hoặc tổ chức hoạt động du lịch

iii Chưa thấy sự khác biệt rõ giữa phát triển LNTT MTĐ theo mục tiêu phát triển kinh tế với LNTT MTĐ có mục tiêu du lịch Không phải LNTT MTĐ nào rất phát triển cũng có thể khai thác du lịch vì hai hướng này có những điểm chung nhưng cũng có rất nhiều điểm riêng Ví dụ sản xuất có hiệu quả trong kinh tế thị thường đòi hỏi phải có các đơn hàng lớn, sản xuất hàng loạt, dân đưa máy móc vào Trong khi thăm quan du lịch chú trọng các sản phẩm làm tay, đơn chiếc, mang dấu ấn văn hóa cao của sản phẩm do các nghệ nhân làm, tuy nhiên loại hình này giá trị kinh tế không cao nên khó khuyến khích phát triển

iv Sản phẩm du lịch LNTT MTĐ phải đa dạng, không chỉ đơn thuần là văn hóa nghề Ví dụ thăm LNTT MTĐ cần kết hợp thăm các di sản văn hóa lịch sử, thăm nhà cổ không phải chỉ đến thăm về kiến trúc mà còn tìm hiểu về đời sống, văn hóa xưa, du khách được tham gia đan lát, xay lúa, giã gạo hay làm bánh truyền thống, uống trà cùng với hộ gia đình Qua đó việc tìm hiểu của du khách được nâng tầm về văn hóa

Bảng 1 Phân loại LNTT MTĐ vùng ĐBSH

Hình 1 Sơ đồ tổ chức các điểm tham quan tại làng nghề MTĐ Phú Vinh

Trang 3

Các giá trị ẩm thực, trang phục, chuyện

kể, truyền thuyết cũng phải được tập hợp

thành những bộ sản phẩm du lịch riêng

v Chưa thiết lập được chuỗi sản phẩm giữa

các LNTT MTĐ, tạo nên hệ thống sản phẩm

đặc sắc, tránh trùng lặp sản phẩm Chính vì

chỉ tổ chức thăm một làng, sản phẩm còn

đơn điệu nên không hấp dẫn du khách

Từ những phân tích trên cho thấy, du lịch

LNTT MTĐ không phải là hoạt động ăn

theo, hoạt động phụ trợ của làng nghề

hay của mục tiêu bảo tồn mà phải được

nhìn nhận làm một mục tiêu chính, được

thiết lập một cách khoa học mới có thể đạt

được kết quả

Khái niệm làng nghề - du lịch chưa được

định nghĩa tại Việt Nam Trên cơ sở khái

niệm LNTT, nhóm tác giả đề xuất các khái

niệm làng thuần nghề, làng nghề có hoạt

động du lịch và làng nghề - du lịch như sau:

n Làng thuần nghề (LNTT MTĐ-01): Là mô

hình LNTT thuần túy, chưa khai thác hoạt

động dịch vụ du lịch văn hóa

n Làng nghề có hoạt động du lịch (LNTT

MTĐ-02): Là mô hình LNTT đã có khai

thác các hoạt động du lịch văn hóa gắn

với tuyến du lịch địa phương, tuy nhiên giá

trị sản xuất làng nghề là chủ đạo, chưa

có các công trình dịch vụ phục vụ khách

du lịch

n Làng nghề - Du lịch (LNTT MTĐ-03): Mô

hình phát triển du lịch văn hóa song song

với phát triển nghề truyền thống, đã khai

thác hoạt động du lịch văn hóa hiệu quả

gắn với tuyến du lịch của địa phương, giá

trị dịch vụ du lịch văn hóa đặt ngang với

sản xuất làng nghề, đã có một số công trình

dịch vụ du lịch như bảo tàng, nhà triển lãm,

chợ du lịch, phố đi bộ…

Các giải pháp quy hoạch phát

triển làng nghề MTĐ vùng ĐBSH

1 Quan điểm quy hoạch

Nghiên cứu quy hoạch hoạt động du lịch

LNTT MTĐ vùng ĐBSH là cấp thiết Trên

cơ sở quan điểm tổ chức không gian LNTT

MTĐ theo hướng bền vững, nhóm tác giả

đưa ra các quan điểm chính như sau:

i) Quy hoạch hoạt động du lịch LNTT MTĐ

là bộ phận cấu thành không gian làng

ii) Quy hoạch hoạt động du lịch LNTT MTĐ

cần tiếp cận linh hoạt giữa việc thực hiện

công tác phát triển du lịch và bảo tồn giá trị làng nghề trên cơ sở tiềm năng du lịch làng nghề hiện có

iii) Quy hoạch hoạt động du lịch LNTT MTĐ được thiết lập dựa trên hệ thống sản phẩm

du lịch làm chủ đạo

2 Nguyên tắc quy hoạch

Để phát triển bền vững du lịch LNTT MTĐ cần thực hiện 05 nguyên tắc chính sau:

i) Khôi phục và bảo tồn các giá trị LNTT MTĐ hiện có và các làng có nguy cơ bị mai một, thất truyền;

ii) Thiết lập các sản phẩm du lịch mới cho LNTT;

iii) Tạo lập không gian để phát huy giá trị LNTT;

iv) Thúc đẩy hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển du lịch và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề;

v) Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch

3 Đề xuất tiêu chí đánh giá tiềm năng hoạt động du lịch LNTT

Trên cơ sở quan điểm phát triển LNTT bền vững, đề xuất Bộ tiêu chí đánh giá tiềm năng hoạt động du lịch LNTT MTĐ như bảng 2:

Quá trình đánh giá do các tiêu chí có các tỷ trọng điểm số khác nhau nên khi đánh giá cần dựa vào phương pháp cộng điểm cho từng sản phẩm Dưới đây là công thức xác định giá trị tổng hợp đánh giá mức độ điểm của các nhóm tiêu chí:

P = ∑x1÷10 Trong đó:

P: Tổng số điểm đánh giá mức độ phù hợp của tiềm năng du lịch;

x: Tổng điểm của từng tiêu chí;

Tổng điểm tối đa tiềm năng hoạt động du lịch LNTT MTĐ đạt được là 100 điểm Nếu tổng số điểm dưới 40 điểm là chưa đạt, từ

40 điểm trở lên là đạt Trong đó, từ 40-60 điểm là mức thấp, từ 60-80 điểm là mức độ trung bình, trên 80 điểm là mức cao Tuy nhiên, để đánh giá là đạt khi tính tỷ trọng điểm số đạt 40 điểm trở lên nhưng nhất thiết phải đạt được một trong các tiêu chí của nhóm tiêu chí số 1

4 Đề xuất bộ sản phẩm hoạt động du lịch LNTT MTĐ vùng ĐBSH

i) Sản phẩm du lịch thăm quan: Tổ chức dịch vụ thăm quan các khu vực sản xuất nghề MTĐ Khách du lịch được thăm quan vườn tre, khu vực trưng bày sản phẩm nghề, khu vực sản xuất MTĐ

ii) Sản phẩm du lịch văn hóa: Tổ chức các dịch vụ du lịch tín ngưỡng, khách du lịch được thăm viếng các di tích lịch sử văn hóa, nhà thờ tổ nghề Sản phẩm du lịch này có

Bảng 2 Các tiêu chí đánh giá tiềm năng hoạt động du lịch LNTT MTĐ vùng ĐBSH

Quy hoπch & t∏c gi∂

Trang 4

thể kết hợp với du lịch thăm quan thành một loại hình du lịch

Các dạng của du lịch văn hóa như:

n Tổ chức hoạt động tín ngưỡng tại đình, chùa, nhà thờ tổ

nghề MTĐ;

n Tổ chức lễ hội làng, ngày giỗ họ và tổ nghề MTĐ

iii) Sản phẩm du lịch trải nghiệm nghề truyền thống: Tổ

chức các dịch vụ trải nghiệm làng nghề MTĐ cho khách du

lịch Khách du lịch có thể tham gia vào toàn bộ hoặc một

công đoạn của dây chuyền sản xuất MTĐ Khách du lịch sẽ

được nhận sản phẩm cuối cùng là những đồ lưu niệm như

túi, đĩa, hộp, vòng tay Đối với dạng sản phẩm này, khách

du lịch được cung cấp “tài liệu hướng dẫn thực hành nghề

MTĐ” hay “cẩm nang sản xuất nghề MTĐ”

iv) Sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng: Tổ chức các điểm du lịch

nghỉ dưỡng ở nhiều dạng khách nhau cho khách du lịch lựa

chọn Đối với LNTT MTĐ có các dạng như sau:

n Loại hình Camping: Khách du lịch được cắm trại tại khu

vực vườn tre, ven ao hoặc sân bóng của làng Đây là mô

hình phù hợp với khách du lịch là học sinh và sinh viên Đối

với mô hình này, cần đảm bảo tính an toàn và không làm ảnh

hưởng đến sinh hoạt của cộng đồng dân cư

n Loại hình homestay: Khách du lịch sẽ ở và làm việc cùng

hộ sản xuất nghề Loại hình này tương đối phổ biến tại các

LNTT MTĐ hiện nay Khách du lịch vừa được thăm quan

không gian nhà ở truyền thống vừa được trải nghiệm những

hoạt động sản xuất nghề truyền thống MTĐ

n Loại hình khách sạn: Khách du lịch sẽ ở riêng tại các khách

sạn được xây dựng mới hoặc khách sạn mini được chuyển

đổi chức năng từ nhà ở sang Dạng tổ chức này phục vụ cho

những khách du lịch cần không gian riêng tư, nhu cầu dịch

vụ cao hơn so với dạng homestay

v) Sản phẩm du lịch sinh thái nông thôn: Tổ chức dịch vụ

khai thác hệ sinh thái nông thôn như sông hồ, sản xuất nông

nghiệp, hoạt động ẩm thực gắn với sản phẩm nông nghiệp

Các hoạt động dịch vụ này góp phần thúc đẩy phát triển sản

phẩm MTĐ cho sản xuất như rọ, đó Một số loại hình du lịch

sinh thái nông thôn như:

n Một ngày làm nông dân;

n Câu, đánh bắt cá;

n Dịch vụ ẩm thực nông thôn: Ngô, khoai, sắn, cá kho

vi) Sản phẩm du lịch vui chơi giải trí: Tổ chức hoạt động thể

thao, vui chơi giải trí vừa giúp du khách tìm hiểu thêm các

giá trị LNTT MTĐ, vừa tạo hoạt động thư giãn cho khách du

lịch Hoạt động vui chơi giải trí có thể ở các dạng sau:

n Xe đạp, xe trâu, xe cải tiến được thiết kế từ tre hoặc một

phần từ cây tre, mây, giang;

n Tham gia trò chơi dân gian truyền thống như: Đánh cờ

tướng, đập niêu, đánh đu, chọi gà Các hoạt động này thúc

đẩy sự khám phá LNTT

vii) Sản phẩm du lịch đặc thù của các loại LNTT MTĐ: thể

hiện ở Bảng 3

Bảng 4 Đề xuất mô hình phát triển

Trang 5

5 Đề xuất các mô hình phát triển LNTT

MTĐ vùng ĐBSH

Qua tổng quan phân tích từ lý luận đến

thực tiễn, tác giả nhận thấy tiềm năng du

lịch của mỗi LNTT MTĐ khác nhau Do

đó, nhóm tác giả đề xuất ba mô hình phát

triển LNTT MTĐ tương ứng với tiềm năng

du lịch như ở bảng 4

6 Giải pháp thiết lập cấu trúc không gian

LNTT MTĐ vùng ĐBSH

i) Khu vực tài nguyên du lịch cần phục hồi,

bảo tồn và tôn tạo: Phục dựng và bảo tồn

nghiêm ngặt các công trình kiến trúc đã mất

như đình, chùa, nhà thờ họ, nhà thờ tổ nghề

Đề xuất các khu vực nhà ở kết hợp nghề

truyền thống MTĐ còn giữ được kiến trúc

cảnh quan và mô hình sản xuất truyền thống

vào diện cần bảo vệ Quá trình phục dựng,

bảo tồn cần phải được nghiên cứu hệ thống

từ những dấu tích, tài liệu còn lưu giữ của

làng và cộng đồng dân cư Cần tránh những

trường hợp phục dựng và bảo tồn công trình

nhưng làm sai khác giá trị văn hóa

ii) Tuyến điểm du lịch: Đối với mô hình

LNTT MTĐ còn lưu giữ giá trị tương đối

nguyên vẹn, tuyến du lịch thăm quan bám theo đường giao thông đường bộ và đường sông là chủ đạo Các điểm du lịch là di tích,

nhà ở kết hợp nghề và khu vực cảnh quan đặc thù làng

Bảng 5 Đề xuất khu vực dịch vụ du lịch

Bảng 6 Đề xuất khu vực phụ trợ

Quy hoπch & t∏c gi∂

Trang 6

làng nghề như nhà triển lãm, lưu niệm, ẩm thực… tại các khu vực lối

tiếp cận vào làng Các công trình này có thể xây dựng mới hoặc kết

hợp với các công trình nhà văn hóa xã, nhà văn hóa thôn đã có

iii) Khu vực phụ trợ cho các hoạt động du lịch LNTT: Bổ sung các khu

vực bãi đỗ xe, bể xử lý nước thải, nhà vệ sinh công cộng Bãi đỗ xe,

nhà vệ sinh công cộng được bố trí tại khu vực lối tiếp cận Bể xử lý

nước thải phân tán bên ngoài làng, có thể sử dụng giải pháp hồ ao đã

có để xử lý nước thải theo mô hình xử lý nước thải sinh học

Kết luận

Nghiên cứu LNTT MTĐ vùng ĐBSH là rất cấp thiết, kết quả nghiên

cứu là cơ sở khoa học để phát triển các LNTT MTĐ theo hướng bền

vững Từ thực trạng, bài báo đã đề xuất giải pháp tổ chức không gian

LNTT MTĐ bao gồm giải pháp thực hiện, phạm vi áp dụng, đánh giá

ưu điểm, nhược điểm và cấu trúc không gian làng nghề gắn với ba

loại hình làng

1 Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Đại học Xây dựng (Chủ nhiệm bài báo).

2 Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Đại học Xây dựng.

3 Bộ môn Xây Dựng nhà và Công trình công nghiệp, Viện Kỹ thuật

Công trình đặc biệt, Học viện Kỹ thuật Quân sự.

NGÀY NHẬN BÀI: 30/3/2020

NGÀY GỬI PHẢN BIỆN: 30/3/2020

NGÀY DUYỆT ĐĂNG: 20/4/2020.

Tài liệu Tham khảo:

1 Nguyễn Thu Hạnh (2013), Tư duy sáng tạo sản phẩm du lịch: Khái niệm và phương

pháp tiếp cận, Nhà Xuất bản Xây dựng, Hà Nội.

2 Lê Xuân Tâm, Nguyễn Tất Thắng (2013), Phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh trong

bối cảnh xây dựng nông thôn mới, Tạp chí Khoa học và Phát triển 2013, tập 11, số

8: 1214-1222.

3 Nguyễn Vĩnh Thanh (2006), Xây dựng thương hiệu sản phẩm LNTT vùng ĐBSH

hiện nay, Đề tài cấp Bộ, Hà Nội.

4 Vũ Quốc Tuấn (2010), Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát

triển, Nhà Xuất bản Hà Nội, Hà Nội.

5 Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch Nông

thôn Việt Nam, Hà Nội

6 Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch

vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc đến năm 2020, tầm nhìn đến

năm 2030, Thuyết minh quy hoạch, Hà Nội.

7 Bùi Văn Vượng (2002), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, Nhà Xuất bản

Văn hóa thông tin, Hà Nội.

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w