Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại - Bài 1: Tổng quan về ngân hàng và hoạt động ngân hàng nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng, chức năng và vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế ngày nay; đặc thù của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Trang 1BÀI 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG
NGÂN HÀNG
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Trang Web môn học
Nội dung
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng Trong bài này, chúng ta sẽ nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng, chức năng và vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế ngày nay Bên cạnh đó, chúng ta sẽ nghiên cứu tính đặc thủ của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Mục tiêu
Giúp sinh viên nắm được lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng
Hiểu và giải thích các chức năng của ngân hàng
Nắm vững các nghiệp vụ, sản phẩm mà ngân hàng cung cấp để hiểu được vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế
Hiểu và phân biệt các loại hình ngân hàng
Biết được lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Cỗ máy kỳ diệu nhất của tạo hóa chính là cơ thể một con người Vậy để vận hành “thể chế” này, chúng ta cần có một nguồn năng lượng nuôi dưỡng, cung cấp cho cỗ máy đó Và hệ tuần hoàn với trái tim mình đã mang những chất dinh dưỡng thiết yếu nhất chứa đựng trong dòng máu ngọt lành đến các cơ quan trong cơ thể này
Với vai trò là phát minh quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng đóng vai trò là trái tim, là nhịp đập của nền kinh tế Huy động vốn từ những người có tiền nhàn rỗi
để “nuôi dưỡng” các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế
1 Vậy cụ thể ngân hàng là gì? Chức năng của ngân hàng trong nền kinh tế ra sao?
2 Các dịch vụ chính của ngân hàng trong nền kinh tế?
Trang 31.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng
1.1.1 Lịch sử hình thành
Vào khoảng ba nghìn năm trước Công nguyên Hình thức ngân hàng sơ khai được nhiều nhà sử học cho rằng đã hình thành trước khi con người phát minh ra tiền Ban đầu, tài sản gửi tại "ngân hàng'' là các loại ngũ cốc, sau đó là gia cầm, nông sản, rồi đến kim loại quý như vàng Đền thờ là nơi an toàn để cất trữ tài sản Đó là các công trình được xây dựng kiên cố, thường xuyên có người tới hành lễ Và xét về tâm linh thì ngay những tên trộm táo tợn nhất cũng có ý tránh chốn linh thiêng này
Tại Ai Cập và Mesopotamia, vàng được gửi vào các
đền thờ Nhưng những tài sản quý giá này lại ngủ yên
trong đó, trong khi, ở bên ngoài xã hội, các nhóm
thương nhân và hoàng tộc lại rất cần sử dụng chúng
Các nhà khảo cổ học tìm được những tàng tích cho
thấy tới đầu thế kỷ 18 trước công nguyên, tại Babylon,
dưới thời trị vì của Hammurabi, thầy tu trông giữ đền
thờ bắt đầu cho các nhà buôn mượn tài sản cất trữ trong
đền Khái niệm ngân hàng ra đời
Hoạt động tín dụng ngân hàng phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ thứ 4 trước công nguyên ở vùng Địa Trung Hải Tại Ai Cập, từ rất sớm, ngũ cốc đã được sử dụng như một loại tiền tệ bên cạnh kim loại quý (vàng và bạc) Các kho chứa ngũ cốc của triều đình thực hiện chức năng của ngân hàng Khi đế chế Hy Lạp chinh phục Ai Cập, thời
kỳ trị vì của hoàng gia Ptolemies (330-323 B.C.), những kho chứa nằm rải rác được tổ chức lại thành một hệ thống ngân hàng ngũ cốc, và được quản lý tập trung tại Alexandria- nơi ghi chép và lưu trữ tài khoản của các tất cả các ngân hàng ngũ cốc Mạng lưới ngân hàng này hoạt động như hệ thống tín dụng thương mại, trong đó, việc thanh toán được thực hiện bằng ghi sổ từ tài khoản này sang tài khoản khác mà không cần chuyển tiền trên thực tế Đây chính là bản chất và hình thức đầu rõ ràng nhất của các nghiệp vụ bù trừ hay thanh toán điện tử của các ngân hàng hiện đại
Thành Rome cổ đại đã hoàn thiện các qui tắc và thủ tục hành chính của ngân hàng, cũng như các tổ chức và giao dịch tài chính Lãi suất tiền vay và lãi tiền gửi được sử dụng rộng rãi với kỹ thuật tính toán phát triển và trong môi trường cạnh tranh Trong thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, các khoản nợ được coi là đã chính thức thanh toán sau khi số tiền tương ứng đã chuyển tới ngân hàng Nhà nước La Mã bổ nhiệm công chứng viên ghi nhận các giao dịch ngân hàng Tuy vậy, sự phát triển của các ngân hàng La Mã gặp phải cản trở lớn từ thói quen sử dụng tiền mặt trong giao dịch của người La Mã Trong thời gian trị vì của Gallienus (260-268 sau Công nguyên), hệ thống ngân hàng La Mã từng bị gián đoạn sau khi các ngân hàng từ chối tiền bằng đồng mà vị Hoàng đế cho đúc ra
Khi đế chế La Mã suy vong, các hoạt động thương mại giảm đáng kể nên các ngân hàng cũng không còn cần thiết Thêm vào đó, giáo lý Cơ đốc cổ ngăn cấm thực hiện các giao dịch ngân hàng và coi việc tính lãi (cả với tiền gửi và tiền cho vay) là không
Đền thờ Bel ở Mesopotamia
Trang 4có đạo đức Sau khi La Mã sụp đổ, hoạt động ngân hàng bị cấm tại Tây Âu và chỉ được phục hồi trở lại vào thời điểm các cuộc thập tự chinh xuất hiện
Trong suốt thế kỷ 13, các nhà ngân hàng ở bắc Italy, được biết tới tên gọi chung ''những người Lombards'', dần thay thế vai trò của người Do Thái trong hoạt động truyền thống: cung cấp tiền bạc cho những người giàu có và quyền lực, các hoàng gia Châu Âu Kỹ năng kinh doanh của ngân hàng được phát triển với phát kiến về nghiệp
vụ ghi sổ kép và cách thức bù trừ nghĩa vụ tín dụng của khách hàng trên ghi chép sổ sách giữa các ngân hàng trong hệ thống, vốn được các ngân hàng ở Genoa áp dụng từ thế kỷ 12 Cách thức kế toán sáng tạo này giúp họp tránh được “tội lỗi'' cho vay nặng lãi được qui định trong giáo lý Cơ đốc Lợi nhuận của khoản vay được ghi trong các tài khoản dưới dạng quà tặng tự nguyện của người vay hoặc phần thưởng cho những rủi ro mà nhà ngân hàng đã trải qua Hẳn nhiên, những món quà và phần thưởng của các hoàng tộc đứng đầu châu Âu không bao giờ có giá trị nhỏ
Các ngân hàng tại Siena và Lucca, Milan và Genoa
đều thu lợi từ những thương vụ mới này Nhưng xứ
Florence mới thực sự chiếm phần lớn nhất Hệ thống
ngân hàng Florence thống lĩnh hệ thống tài chính quốc
tế nhờ đồng tiền vàng florin nổi tiếng Được đúc lần
đầu tiên vào năm 1252, đồng florin nhanh chóng nhận
được sự tín nhiệm và công nhận rộng rãi, thực sự trở
thành đồng tiền mạnh (hard currency) vào thời đó
Các ngân hàng xứ Florence đảm bảo dịch vụ này nhờ số lượng chi nhánh ở khắp nước Italia và tại các trung tâm buôn bán lớn của châu Âu Tới đầu thế kỷ 14, hệ thống ngân hàng Bardi đã hiện diện tại Barcelona, Seville và Majorca; Paris, Avignon, Nice và Marseilles; London, Bruges, Constantinople, Rhodes, Cyprus và Jerusalem
Quyền lực của xứ Florence còn được củng có bởi những khoản nợ lớn mà các chủ ngân hàng ở đây đang nắm giữ Con nợ, không ai xa lạ, chính là các vị Hoàng đế uy quyền bậc nhất châu Âu Cũng chính vì lẽ đó, không lâu sau, các ngân hàng này rơi vào cảnh tồi tệ
Năm 1340, vua Edward III của nước Anh thực hiện thương vụ cực kỳ tốn kém: cuộc chiến với nước Pháp, sự khởi đầu của một thế kỷ chiến tranh Vị Hoàng đế vay rất nhiều tiền từ xứ Florence Nhà Peruzzi cho vua Edward III vay 600.000 florin vàng còn nhà Bardi cung cấp khoản vay 900.000 florin vàng Tới năm 1345, nhà vua vỡ nợ
và cả hai dòng họ ngân hàng Florence cũng lâm vào cảnh phá sản
Hoạt động ngân hàng trong thế kỷ 16 cũng không tránh khỏi rủi ro này Trong khi nhiều ngân hàng lớn của Đức và Italia cho các vương triều Châu Âu mượn tiền thì việc thu hồi các khoản nợ gặp rất nhiều khó khăn Hỗ trợ cho bên chiến bại đồng nghĩa với việc người vay tiền sẽ bị xử tử và lãnh địa của họ bị tàn phá bởi các đạo quân vô cùng hung hãn Cũng không kém phần nguy hiểm, ngay cả các hoàng gia lớn cũng có thể sử dụng quá mức nguồn lực tài chính của mình và thường dẫn tới kết cục
vỡ nợ Vua Philip II của Tây Ban Nha đã phải tuyên bố phá sản vào năm 1557 Hậu quả tại hại của sự kiện này là các ngân hàng lớn của Đức đều bị tổn thất nặng nề
Đồng tiền vàng florin
Trang 5Năm 1587, Banco della Piazza di Rialto mở cửa tại Venice với tư cách một sáng kiến của nhà nước Mục tiêu của nó là cất giữ an toàn các khoản tiền của thương nhân và đảm bảo các giao dịch tài chính giữa Venice và đối tác ở bất kỳ đâu mà không thực hiện di chuyển vật lý của tiền đúc
Venice, sau khi là thành phố đầu tiên lập ngân hàng cho việc giữ tiền và thanh toán bù trừ séc, cũng đi tiên phong trong việc cho phép một ngân hàng can dự vào tài chính chính phủ Năm 1617, Banco Giro được thành lập để giải quyết các vấn đề mà Banco della Piazza di Rialto để lại sau khi thực hiện những khoản cho vay không đảm bảo Con nợ của ngân hàng chính là nhà nước Venice Banco Giro ra đời trên nguyên tắc những chủ nợ của chính phủ chấp nhận nợ được thanh toán dưới dạng tín dụng với ngân hàng mới Để giải quyết một vấn đề trước mắt, những cơ hội mới được tạo ra Venice đã có một cơ chế tạo nguồn quỹ tài chính công trên cơ sở các khoản tín dụng được đảm bảo
Mở rộng khái niệm này theo logic đưa tới khái niệm ngân hàng quốc gia, được thành lập dưới dạng các liên kết với chính phủ Ngân hàng quốc gia đầu tiên ra đời là Ngân hàng Thụy Điển (Bank of Sweden), thành lập năm 1668 Cho tới nay ngân hàng này vẫn hoạt động và thường được nhắc tới với tư cách tổ chức xét và trao Giải thưởng Khoa học Kinh tế Tưởng nhớ Alfred Nobel Cũng rất lâu đời và giữ vai trò quan trọng trong lịch sử ngân hàng thế giới là Ngân hàng Anh (Bank of England) được thành lập năm 1694, ban đầu là một công ty cổ phần, với thương vụ đầu tiên là thu xếp khoản
nợ 1,2 triệu bảng được vua nước Anh Willam sử dụng trong cuộc chiến với Louis XIV của Pháp (Ellen Hodgson Brown, 2008 Web of Debt)
Tiền giấy xuất hiện lần đầu tiên tại châu Âu vào thế kỷ 17 tại Thụy Điển, vài năm trước khi ngân hàng quốc gia đầu tiên ra đời Năm 1656, Johan Palmstruch lập Stockholm Banco Dù đây là ngân hàng tư nhân nhưng có mối liên hệ rất mật thiết với Nhà nước Một nửa lợi nhuận của ngân hàng này là khoản phải trả cho Bộ tài chính của Hoàng gia Thụy Điển Năm 1661, sau khi thảo luận cùng chính phủ Thụy Điển, Palmstruch nhận được quyền phát hành giấy tín dụng có thể trao đổi Khi đưa giấy này tới ngân hàng của Palmstruch, một số lượng tiền xu đúc bằng bạc đã được định trước sẽ được trao cho người xuất trình
Giấy bạc Palmstruch được thiết kế rất ấn tượng In trên
mặt giấy là 8 chữ ký Nếu đạt đủ lòng tin của dân
chúng, đó sẽ là loại tiền tệ lý tưởng Giấy bạc này có
thể được sử dụng để mua hàng hóa trong chợ nếu từng
người nắm giữ nó cùng có chung niềm tin rằng sẽ đổi
được môt lượng tiền đúc thực sự khi cầm giấy đến
ngân hàng
Nhưng tai họa đã xảy ra Palmstruch phát hành nhiều
tiền giấy hơn số bạc có thể đổi cho khách hàng Đến
năm 1667 Palmstruch bị thất sủng, và đối diện với án tử hình, sau đó được giảm nhẹ xuống phạt tù, do gian lận
Các hệ thống ngân hàng vẫn tiếp tục phát triển cùng sự tiến bộ của xã hội loài người với vai trò và ảnh hưởng ngày một quan trọng và sâu sắc hơn Lịch sử thế giới đương
Tiền giấy 1661
Trang 6đại đang chứng kiến những biến cố lớn về kinh tế, chính trị, và xã hội với căn nguyên sâu xa bắt đầu từ những trục trặc của hệ thống ngân hàng quốc tế Các phần nội dung tiếp theo giới thiệu những nguyên lý vận hành căn bản của hệ thống ngân hàng Từ đó, phần nào kiến giải cùng độc giả bản chất diễn biến phức tạp trên các thị trường tài chính-tín dụng toàn cầu trong năm 2008 Đây cũng là những nền tảng để tiếp tục quan sát và dự báo những biến chuyển kinh tế Việt Nam và thế giới trong giai đoạn tiếp theo Lịch sử ngân hàng của thế giới có điểm thú vị là các hệ thống ngân hàng quyền lực nhất luôn thuộc về dòng họ hoặc một nhóm người có chung tôn giáo, nguồn gốc địa
lý Sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi liền với các hoạt động thương mại nở rộ Tuy vậy, các nhà ngân hàng thu lợi rất lớn từ các hoàng tộc, triều đình, và Nhà nước Những lợi ích này bao gồm cả của cải vật chất và quyền lực chính trị Cho tới thế kỷ
20 và 21, ngay cả khi nền kinh tế toàn cầu đã đạt tới qui mô vô cùng lớn về giá trị tiền
tệ, và các thể chế chống độc quyền quốc tế được áp dụng rộng khắp, hệ thống tài chính-ngân hàng quốc tế về cơ bản vẫn nằm dưới sự kiểm soát của một nhóm đại gia tộc kinh doanh tiền tệ
1.1.2 Lịch sử phát triển
Hoạt động ngân hàng đầu tiên - ngân hàng của các thợ
vàng, hoặc ngân hàng của những kẻ cho vay nặng lãi -
thực hiện cho vay với các cá nhân, chủ yếu là những
người giàu: quan lại, địa chủ nhằm mục đích phục vụ
tiêu dùng Nhiều chủ ngân hàng lớn còn mở rộng cho
vay đối với vua chúa, nhằm tài trợ một phần nhu cầu
chi tiêu cho chiến tranh Hình thức cho vay chủ yếu là
cho phép khách hàng chi nhiều hơn số tiền gửi tại ngân
hàng, một hình thức cho vay có nhiều rủi ro Do lợi
nhuận từ cho vay rất cao, nhiều chủ ngân hàng đã lạm
dụng ưu thế của chứng chỉ tiền gửi (lưu thông thay
vàng hoặc bạc), phát hành chứng chỉ tiền gửi khống để
cho vay Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân hàng đến
chỗ mất khả năng thanh toán và phá sản
Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động thanh toán, ảnh hưởng xấu tới hoạt động buôn bán Hơn nữa, lãi suất cao nên những nhà buôn không thể sử dụng nguồn vay này Trước tình hình đó nhiều nhà buôn góp vốn lập ngân hàng, với chức năng chủ yếu là tài trợ ngắn hạn (tài trợ cho tài sản lưu động), và thanh toán hộ, gắn liền với quá trình luân chuyển của tư bản thương nghiệp Ngân hàng này được gọi là ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại thực hiện các hoạt động như huy động tiền gửi, thanh toán, cất giữ hộ, và chủ yếu cho các nhà buôn vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu Đây là các khoản cho vay ngắn hạn, dựa trên quá trình luân chuyển của hàng hoá với lãi suất phải thấp hơn lợi nhuận được tạo ra do sử dụng tiền vay
Tại mỗi nước, trong những điều kiện lịch sử cụ thể đã hình thành nên nhiều loại hình ngân hàng khác như ngân hàng tiền gửi, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư… tạo nên hệ thống các ngân hàng Trong đó, trừ ngân hàng trung ương có
Trang 7chức năng xây dựng và quản lí chính sách tiền tệ quốc gia, các ngân hàng còn lại dù có một số nghiệp vụ khác nhau song đều là các tổ chức thực hiện kinh doanh tiền tệ
Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, hoạt động ngân hàng với 3 nội dung chính là nhận tiền gửi, thanh toán và cấp tín dụng đã có những bước tiến rất nhanh Trước hết đó là sự đa dạng các loại hình ngân hàng và các hoạt động ngân hàng Từ các ngân hàng tư nhân, quá trình tích tụ và tập trung vốn trong ngân hàng đã dẫn đến hình thành ngân hàng cổ phần Quá trình gia tăng vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước; các ngân hàng liên doanh, các tập đoàn ngân hàng phát triển mạnh trong những năm cuối thế kỉ 20 Nhiều dịch vụ mới đang ngày càng phát triển Ngân hàng thương mại từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng cho vay trung và dài hạn, cho vay để đầu tư vào bất động sản Nhiều ngân hàng mở rộng cho vay tiêu dùng, kinh doanh chứng khoán, cho thuê… Các hình thức huy động cũng ngày càng phong phú Các loại hình tiền gửi khác nhau được đưa ra nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng Công nghệ ngân hàng đang góp phần làm thay đổi các hoạt động cơ bản cuả ngân hàng Thanh toán điện tử thay thế dần thanh toán thủ công, đẩy nhanh tốc độ, tính thuận tiện, an toàn trong thanh toán Các loại thẻ đang thay thế dần tiền giấy; dịch vụ ngân hàng 24 giờ, dịch vụ ngân hàng tại nhà đang tạo ra các tiện ích ngày càng lớn cho cộng đồng
Quá trình phát triển của các ngân hàng không những làm gia tăng số lựợng các ngân hàng mà còn làm tăng qui mô của mỗi ngân hàng Tích tụ và tập trung vốn đã tạo ra các công ty ngân hàng lớn để tài trợ cho những ngành công nghiệp và dịch vụ toàn cầu Bên cạnh các dịch vụ ngân hàng truyền thống, các dịch vụ hiện đại, liên kết đang được các ngân hàng cung cấp, làm giảm dần ranh giới giữa các ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính - bao gồm cả các công ty tài chính, công ty môi giới chứng khoán, quĩ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang mở rộng cung cấp một số các dịch vụ ngân hàng Ngược lại, ngân hàng cũng đang
mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quĩ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác Quá trình phát triển của ngân hàng đang tạo ra mối liên
hệ ràng buộc ngày càng chặt chẽ, sự phụ thuộc lẫn
nhau ngày càng lớn giữa chúng Các hoạt động ngân
hàng xuyên quốc gia và đa quốc gia đã và đang thúc
đẩy hình thành các hiệp hội, các tổ chức liên kết các
ngân hàng nhằm tạo ra các chính sách chung, công
nghệ và qui trình tương thích để kiểm soát chung, để
kết nối và tạo sự thống nhất trong điều hành và vận hành hệ thống ngân hàng trong
mỗi quốc gia, khu vực và quốc tế
Lịch sử phát triển của các ngân hàng cũng đã chứng kiến nhiều khủng hoảng và hoảng loạn ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và thế giới, gây tổn thất rất lớn cho nền kinh tế và mất ổn định chính trị Có thể nói, các vụ sụp đổ ngân hàng cũng là một khâu tất yếu trong tiến trình phát triển của ngân hàng Các nhà quản lý đã và đang không ngừng cải tiến chính sách quản lý để hạn chế khủng khoảng, gia tăng hiệu quả hoạt động ngân hàng và tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành công nghiệp ngân hàng
Trang 8Các ngân hàng có thể được khái niệm qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà
chúng thực hiện trong nền kinh tế, ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, là
trung gian tài chính, là tổ chức tín dụng Khái niệm trên là cơ sở xem xét những loại
hình dịch vụ mà chúng cung cấp: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch
vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế Một số khái niệm dựa trên các hoạt động chủ yếu
Ví dụ Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam ( 2011)
ghi: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng theo quy định của Luật này” “Hoạt động ngân hàng là việc kinh
doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:
a) Nhận tiền gửi;
b) Cấp tín dụng;
c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
1.2 Chức năng của ngân hàng
1.2.1 Trung gian tài chính
Ngân hàng là một trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư dưới hình thức nhận tiền gửi và cấp tín dụng
Hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời có nhu cầu chi cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập/ hoặc vốn hiện có, vì vậy phát sinh nhu cầu bổ xung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức có thu nhập /hoặc vốn hiện tại lớn hơn các khoản chi cho hàng hoá, dịch vụ, vì vậy có tiền để tiết kiệm Tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi Như vậy, lợi nhuận
là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm Dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì
đó quan hệ tín dụng Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn
Lấy quan hệ tín dụng làm ví dụ Người có tiền tiết
kiệm đòi 1% cho chi phí giao dịch, 2% phòng rủi ro,
và 3% là thu nhập ròng từ số tiền tiết kiệm mà anh ta
đang phải tạm thời từ bỏ quyền sử dụng, tổng cộng 6%
trên số tiền cho vay Người vay phải chi 1% chi phí
giao dịch, 6% trả cho người có tiền, tổng cộng phí tổn
tín dụng là 7% Nếu việc sử dụng tiền vay có thể mang lại cho người vay tỷ lệ sinh lời lớn hơn 7% (giả sử là 10%) thì quan hệ tín dụng sẽ được thiết lập Quan hệ tín dụng trực tiếp đã có từ rất lâu và tồn tại cho đến ngay nay (dân có cho nhau vay, doanh nghiệp, nhà nước vay của dân ) Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp về qui mô, thời gian, không gian người tiết kiệm có 100 đơn vị tiền
tệ, và tạm thời chưa tiêu dùng trong 6 tháng thì người vay lại có nhu cầu vay 50 đơn vị tiền tệ trong vòng 10 năm Đây là điều kiện cần để nảy sinh trung gian tài chính - ngân hàng - trong quá trình chuyển tiết kiệm thành đầu tư
Do chuyên môn hoá, ngân hàng có thể làm giảm chi phí giao dịch ví dụ từ 2% xuống còn 1% ở ví dụ trên, chi phí rủi ro từ 2% xuống 1%, ngân hàng có thể trả cho người
Trang 9tiết kiệm 3,5% với cam kết không có rủi ro (lớn hơn 3% thu nhập trước đó), và đòi người sử dụng 6,5% (nhỏ hơn 7% trước đó) Chênh lệch 6,5% - 3,5% = 3% chính là lãi gộp của ngân hàng Ngân hàng là sẵn sàng chấp nhận các khoản cho vay nhiều rủi
ro trong khi lại đảm bảo ít rủi ro cho người gửi tiền Như vậy, ngân hàng đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm và giảm chi phí cho người đầu tư thông qua đáp ứng nhu cầu vốn, tiết kiệm, thanh khoản cho họ Vậy là điều kiện đủ để hình thành trung gian tài chính Với chi phí và rủi ro thấp, ngân hàng tập hợp lượng đông đảo hàng triệu các nhà đầu tư và người tiết kiệm thành khách hàng của mình, qua đó giải quyết các mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp, trở thành trung gian tài chính hiệu quả
Cơ sở cho chức năng trung gian tài chính của ngân hàng là khả năng thẩm định thông
tin của ngân hàng Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin
được gọi là tình trạng "thông tin không cân xứng" làm giảm tính hiệu quả của thị trường nhưng tạo ra khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên môn và kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn những công cụ với các yếu tố rủi ro - lợi nhuận hấp dẫn nhất
1.2.2 Trung gian thanh toán
Khi ngân hàng nhận tiền gửi và cho vay - trung gian tài chính - tất yếu dẫn đến cơ sở của thanh toán hộ Trước tiên là thanh toán hộ giữa những khách hàng có tiền gửi ở cùng một ngân hàng, sau đó mở rộng ra khi hệ thống thanh toán liên ngân hàng hình thành Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ theo lệnh của khách hàng
Hàng triệu khách hàng mở tài khoản và gửi tiền tại
ngân hàng là cơ sở để ngân hàng trở thành trung gian
thanh toán lớn nhất và có thể duy nhất hiện nay ở hầu
hết các quốc gia Tiền được chuyển từ tài khoản của
khách hàng A tại ngân hàng này sang tài khoản của
khách hàng B tại ngân hàng khác, mở đầu hoặc kết
thúc một quá trình luân chuyển hàng hóa, hoặc quan hệ
kinh tế Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện, và
tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, thẻ ngân hàng cũng đầu tư lớn, thiết lập mạng lưới thanh toán rộng khắp tại các chi nhánh, phòng giao dịch, ATM, POS, thanh toán trên mạng kết nối các quĩ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lí tìm cách áp dụng rộng rãi Ngân hàng kết nối với các tổ chức cung cấp dịch vụ thông tin, dịch vụ công, các công ty, nhằm cung cấp dịch vụ thanh toán 24/24, trên phạm vi toàn cầu với chi phí thấp và tính tiện ích cao Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất, bảo mật trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới Các trung tâm thanh toán quốc
tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế mỗi quốc gia và toàn cầu
Trang 10Thực hiện chức năng trung gian thanh toán mang lại lợi ích lớn cho ngân hàng Ngoài doanh thu từ phí, ngân hàng còn mở rộng huy động và cho vay
1.2.3 Tạo phương tiện thanh toán
Tiền có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán Hệ thống ngân hàng tham gia tạo nên phương tiện thanh toán là tiền ghi sổ (tiền trên tài khoản)
Các ngân hàng không tạo được tiền kim loại Các ngân hàng thợ vàng tạo phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng Ban đầu các ngân hàng đã tạo
ra tiền giấy thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ; nó trở thành tiền giấy
Với nhu cầu có đồng tiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành (in) tiền giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ Tài chính hoặc là Ngân hàng Trung ương, chấm dứt việc các ngân hàng thương mại tạo ra các giấy bạc của riêng mình
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy nếu
họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu Tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng
là phương tiện thanh toán song hành cùng tiền giấy
Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm
nhiều bộ phận Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông,
thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của
khách hàng tại ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên tài
khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kì hạn Khi
ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh
toán của khách hàng, bằng cách đó, các ngân hàng đã
tạo ra phương tiện thanh toán cho khách hàng
Toàn bộ hệ thống ngân hàng tham gia tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở mở rộng cho vay Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu (tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác, từ đó tạo
ra các khoản cho vay mới Toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi thanh toán nhiều gấp bội so với lượng tiền cơ sở thông qua hoạt động tín dụng
Như vậy, chức năng tạo phương tiện thanh toán của ngân hàng được phát sinh dựa trên chức năng trung gian tài chính (huy động và cấp tín dụng) và chức năng trung gian thanh toán Khi thực hiện chức năng này, hệ thống ngân hàng tham gia cung tiền, tác động tới lượng tiền cung ứng, qua đó tới lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Trang 111.3.1 Nhận tiền gửi
Tiền gửi tiết kiệm của cá nhân và tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức
Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng nhằm mục triệu đảm bảo an toàn và sinh lời Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các ngân hàng đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh
Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền một cách thuận lợi thông qua hệ thống mạng lưới dày đặc, giúp khách hàng có thể gửi tiền vào ngân hàng mọi lúc, mọi nơi với chi phí thấp nhất Nhiều tiện ích được kết nối với tài khoản tiền gửi, cho phép khách hàng có thể sử dụng tiền thuận tiện
Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền một cách an toàn do ngân hàng có két tốt, được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo khả năng chi trả và tham gia bảo hiểm tiền gửi Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền có trả lãi Chi phí trả lãi tiền gửi là khoản chi phí rất lớn của ngân hàng và là thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình
Cung cấp tài khoản giao dịch và thực hiện ủy thác
Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho mọi tổ chức và cá nhân có nhu cầu Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh của khách hàng trên phạm vi quốc gia hoặc toàn cầu như chi hộ, thu hộ, chuyển tiền, quản lý hộ
Ngân hàng cung cấp các tiện ích trong thanh toán
thông qua mở rộng mạng lưới, kết nối hệ thống thanh
toán trong và ngoài nước, áp dụng công nghệ hiện
đại Các tiện ích của thanh toán qua ngân hàng (an
toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp
phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu
nhập cho khách hàng
1.3.2 Cấp tín dụng
Cho vay thương mại
Cho vay thương mại là các khoản cho vay ngắn hạn, tài trợ cho tài sản lưu động của doanh nghiệp (thường dưới 12 tháng) Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước) Sau đó ngân hàng
mở rộng cho vay trực tiếp đối với các khách hàng (là người mua), giúp họ có vốn
để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh
Tài trợ cho dự án
Bên cạnh cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ trung dài hạn theo các dự án của doanh nghiệp (thường trên 12 tháng): cho vay để mua sắm tài sản cố định, tài trợ xây dựng nhà máy, phát triển ngành