1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Giáo trình môn học Thị trường chứng khoán - Trường CĐ GTVT Trung ương I

76 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Môn Học Thị Trường Chứng Khoán
Trường học Trường Cao Đẳng Giao Thông Vận Tải Trung Ương I
Chuyên ngành Kế Toán Doanh Nghiệp
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình môn học Thị trường chứng khoán gồm có 5 chương với những nội dung cơ bản sau: Bản chất và vai trò của thị trường chứng khoán, hàng hoá và phân loại thị trường chứng khoán, thị trường chứng khoán sơ cấp, thị trường chứng khoán thứ cấp, đầu tư và phân tích chứng khoán. Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm các nội dung chi tiết.

Trang 1

Ban hành theo Quyết định số 1661/QĐ-CĐGTVTTWI ngày 31/10/2017

của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng GTVT Trung ương I

NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP

Hà Nội, 2017

Trang 3

2

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG I

Trang 4

3 Chức năng và vai trò của thị trường chứng khoán……….19

4 Những hạn chế (tiêu cực) của thị trường chứng khoán……….23

Chương 2: Hàng hoá và phân loại thị trường chứng khoán

1 Hàng hoá của thị trường chứng khoán……….28

Chương 4: Thị trường chứng khoán thứ cấp

Trang 5

Tài liệu tham khảo……… 73

LƠI NÓI ĐẦU

Giáo trình thị trường chứng khoán được biên soạn tại Trường CĐ GTVTTW 1 Giáo trình đã đáp ứng nhu cầu tài liệu, học tập và nghiên cứu khoa học của cán bộ giáo viên và sinh viên trong thời gian vừa qua Tuy nhiên, thực tế cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua gần 10 năm ra đời và phát triển, hoạt động của thị trường ngày càng đa dạng phong phú hơn Mặt khác, về mặt lý luận nhiều vấn đề về thị trường chứng khoán được nhận thức sâu hơn và rõ hơn Chính

vì vậy, việc biên soạn giáo trình thị trường chứng khoán lần này nhầm cung cấp các kiến thức cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng về đào tạo và nghiên cứu khoa học của Trường CĐ GTVTTW1 cũng như yêu cầu của xã hội

Giáo trình bao gồm có 5 chương

Chương 1: Bản chất và vai trò của thị trường chứng khoán

Chương 2: Hàng hoá và phân loại thị trường chứng khoán

Chương 3: Thị trường chứng khoán sơ cấp

Chương 4: Thị trường chứng khoán thứ cấp

Chương 5: Đầu tư và phân tích chứng khoán

Trang 6

5

Giáo trình thị trường chứng khoán được biên soạn lần này là kết quả của sự kết hợp kê thừa những ưu điểm của lần biên soạn trưốc đồng thời và làm phong phú thêm nội dung khoa học rút ra từ lý luận và thực tế của thị trường chứng khoán Việt Nam Tuy nhiên, thị trường chứng khoán là lĩnh vực phong phú, đa dạng và rấ

t phức tạp, do vậy mặc dù tập thê tác giả đã hết sức cô gắng để hoàn thành giáo trình vối chất lượng cao, song giáo trình sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tập thể tác giả mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc

để giáo trình được hoàn thiện hơn

Chương 1: Bản chất và vai trò của thị trường chứng khoán

1 Thị trường chứng khoán

1.1 Khái niệm về chứng khoán

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về tích lũy trong xã hội không ngừng tăng lên và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng hơn Trong xã hội xuất hiện một số người cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu tư, đồng thời lại có một

số người khác có vôn nhàn rỗi tạm thòi muốn cho vay để lấy lãi Ban đầu, những người này thường tìm gặp nhau một cách trực tiếp, dựa trên quan hệ quen biết cá nhân đê giải quyết các nhu cầu vê' vốn cho mình Tuy nhiên sau đó, khi cung và cầu vốn không ngừng tăng lên thì hình thức vay và cho vay trực tiếp dựa trên quan

hệ cá nhân tỏ ra không đáp ứng được nữa, thực tế khách quan đòi hỏi phải có một thị trường cho cung và cầu vốn gặp nhau, đáp ứng các nhu cầu tài chính của nhau Thị trường đó chính ià thị trường tài chính Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính thông qua những phương thức giao dịch và các công cụ tài chính nhất định, là tổng hòa các quan hệ cung và cầu về vôn Thị trường tài chính định hướng các nguồn tiết kiệm chủ yếu

từ các hộ gia đình tới các cá nhân và tổ chức cần thêm vôn để sử dụng ngoài thu

Trang 7

6

nhập hiện tại Thông qua thị trường tài chính, nhiều khoản vốn nhàn rỗi được huy động vào đầu tư, tạo nên đòn bẩy cho phát triển kinh tê Căn cứ vào thời gian luân chuyển vốn, thị trường tài chính được chia thành thị trường tiền tệ và thị trường vởn

- Thi trường tiền tệ Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán, trao đổi các công cụ tài chính ngắn hạn (thường có thời hạn dưới 1 năm) Thị trường tiền tệ là nơi diễn

ra các hoạt động cúa cung và cầu về vốn ngắn hạn và là nơi đỏ Ngân hàng trung ương thực thi nghiệp vụ thị trường mờ nhằm kiểm soát lượng tiền dự trữ của các ngân hàng thương mại và điều tiết lượng tiền cung ứng Thị trường tiền tệ có một

số đặc điểm chú yếu sau: + Giai đoạn luân chuyển vốn ngắn hạn Các khoản vay hay các chứng khoán có kỳ hạn thanh toán dưới 1 năm đều được xem là công cụ cùa thị trường tiền tệ

+ Thị trường tiền tệ đặc trưng bởi hình thức tài chính gián tiếp, đóng vai trò trung gian tài chính giữa người vay và người cho vay là các ngân hàng thương mại + Các công cụ thị trường tiền tệ có độ an toàn tương đối cao

- Thị trư ờ n g vôn Thị trường vốn là thị trưừiig mua bán, trao đổi các cõng cụ tài chinh Irung và dài hạn Thị trường vốn là nơi diỗn ra các hoạt động cùa cung và cầu về vốn trung và dài hạn Thị trường này cung cấp tài chính cho các khoán đầu

tư dài hạn của chính phù, cùa các doanh iH iiệp và của các hộ gia (lình Thị trường vốn có một số đặc điểm sau:

+ Giai đoạn luân chuyển vốn dài hạn

+ Các công cụ chủ yếu của thị trường vốn gồm có các công cụ vay nợ và các chứng khoán có kỳ hạn thanh toán trên 1 năm Nhìn chung, so với các công cụ của thị trường tiền tệ, các công cụ của thị trường vốn có độ rủi ro cao hơn nhung lại mang lại mức lợi tức cao hơn cho các nhà đầu tư

Trong lịch sử hình thành và phát triển thị trường tài chính, thị trường tiền tệ được hình thành trước do ban đầu nhu cầu vốn cũng như tiết kiệm trong dân cư chưa cao

và ban đầu nhu cầu về vốn chủ yếu là vốn ngắn hạn Sau đó, cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu về vốn dài hạn cho đầu tư phát triển ngày càng cao và thị trường vốn đã ra đòi để đáp ứng các nhu cầu vốn này Đe huy động được các nguồn vốn

Trang 8

7

dài hạn, bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, chính phủ và một sô' công ty còn thực hiện huy động thông qua phát hành các chứng khoán Khi một bộ phận các chứng khoán có giá nhất định được phát hành thì tất yếu sẽ nảy sinh nhu cầu về mua bán, trao đổi các chứng khoán đó Vì vậy, thị trường chứng khoán đã ra đời với tư cách là một bộ phận của thị trường vôn nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi chứng khoán các loại Thị trường chứng khoán ban đầu phát triển một cách tự phát và sơ khai, xuất phát từ nhu cầu đơn lẻ Vào giữa thế kỷ XV, tại những thành phố trung tâm ở phương tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi, mua bán các vật tư hàng hóa, lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng Cuôì thế

kỷ XV, để thuận tiện hđn cho việc làm ăn, khu chợ trỏ thành “thị trường” với việc thống nhất các quy ước và dần dần các quy ưóc này được sửa đổi hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia thị trường Phiên chợ riêng đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ), tại đó có một báng hiệu hình ba túi da với một từ tiếng Pháp

là “Bourse” tức là “mậu dịch thị trường” hay còn gọi là sở giao dịch Vào năm

1547, thành phô' ở Bruges (Bỉ) m ất đi sự phồn thịnh do eo biển Even bị lấp cát nên mậu dịch thị trường ỏ đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trường Auvers (Bỉ), ở đây thị trường phát triển rấ t nhanh và vào giữa thê kỷ XVI, một quan chức đại thần Anh quốc đã đến quan sát để về thiết lập mậu dịch thị trường tại London (Anh), nơi mà sau này được gọi là sỏ giao dịch chứng khoán London Các mậu dịch thị trường khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu Sự phát triển thị trường ngày càng m ạnh cả về lượng và chất với sô' thành viên tham gia đông đảo với nhiều nội dung khác nhau Vì vậy, theo tính chất tự nhiên nó lại được phân ra thành nhiều thị trường khác nhau như: thị trường giao dịch hàng hóa, thị trường hối đoái, thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai, thị trường chứng khoán, với đặc điểm riêng của từng thị trường thuận lợi cho hoạt động giao dịch của những ngưòi tham gia thị trường Quá trình các giao dịch chứng khoán diễn ra

và hình thành như vậy một cách tự phát cũng tương tự ở Pháp, Hà lan, các nưóc Bắc Âu, các nưóc Tây Âu và Bắc Mỹ Các phương thức giao dịch ban đầu được

Trang 9

8

diễn ra ngoài tròi với những ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng Cho đến năm 1921, ở Mỹ, khu chợ ngoài trời được chuyển vào trong nhà, Sở giao dịch chứng khoán được chính thức thành lập

Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ, khoa học kỹ thuật, các phương thức giao dịch tại các sở giao dịch chứng khoán cũng được cải tiến theo tổc độ và khối lượng yêu cầu nhằm đem lại hiệu quà và chất lượng cho giao dịch Các sở giao dịch dần dần sử dụng máy vi tính đê truyền các lệnh đặt hàng và chuyển dần

từ giao dịch thủ công kết hợp với máy tính sang sử dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện tử Cho đến nay, trên thế giới đả có khoảng trẽn 160 sỏ giao dịch chửng khoán phân bố trên khắp các châu lục, bao gồm cả các nước phát triển trong khu vực Đông Nam Á vào những năm I960- 1970 và những nước như Ba lan, Hungari, Séc, Nga, Trung quốc vào những năm đầu 1990, Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán thê giới cho thấy giai đoạn đầu thị trường phát triển một cách tụ phát vối sự tham gia của các nhà đầu cơ Dần dần vê sau mới có

sự tham gia của công chúng đầu tư Khi phát triển đến mức độ nhất định, thị trường bắt đầu phát sinh những trục trặc dẫn đến phải thành lập cơ quan quản lý nhà nước và hình thành hệ thống pháp lý đê điều chỉnh hoạt động của thị trường

1.2 Khái niệm về thị trường chứng khoán:

Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lón tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và nhà nước để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành và â thị trường thứ cấp khi có

sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp Do vậy, thị trường chứng khoán là nơi các chứng khoán được phát hành và trao đổi Hàng hóa giao dịch trên thị trường chứng khoán là các cổ phiếu, trái phiếu và một số công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm Các trái phiếu có thòi hạn dưỏi 1 năm là hàng hóa của thị trường tiền tệ Vị trí của thị trường chứng khoán trong hệ

Trang 10

họ không có các tru n g gian tài chính

+ Thị trường chửng khoán là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo Tất cả mọi ngưòi đều được tự do tham gia vào thị trường Không có sự áp đặt giá

cả trên thị trường chứng khoán mà giá cả ở đây được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu cùa thị trường và phản ánh các thông tin có liên quan đến chứng khoán + Thị trường chứng khoán về cơ bàn là một thị trường liên tục, sau khi các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp nó có thể được mua bán nhiều lần trên thị trường thứ cấp Thị trường chứng khoán đảm bảo cho những người đầu tư có thể chuyển chứng khoán họ nắm giữ thành tiền mặt bất cứ lúc nào họ muốn

1.3 Cơ chế điều hành và giám sát thị trường chứng khoán

Điều hành thị trường là các hoạt động được tiên hành nhằm duy trì sự vận hành bình thường của thị trường, hoạt động này thường được tiên hành bởi các chủ thể có quyền lực nhất định

Giám sát thị trường là việc tiên hành theo dõi kiêm tra các hoạt động diễn ra trên thị trường, nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm, đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của thị trường

Thị trường chứng khoán luôn luôn tồn tại tính hai mặt của nó, đó là mặt tích cực và mặt tiêu cực Những mặt tiêu cực của nó có thể gây tác động xấu đến thị trường và các hoạt động kinh tế - xã hội Đó chính là các hành vi gian lận, lừa đảo trong giao dịch chứng khoán như đầu cơ, mua bán nội gián, thao túng giá cả Vì vậy cần phải có một cơ chế điều hành và giám sát chặt chẽ mọi mặt hoạt động của thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế, do đó có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung Mặt khác thị trường chứng khoán là một thị trường cao cấp, nơi tập trung của nhiều đối tượng tham gia với các mục đích, sự hiểu biết

Trang 11

10

và lợi ích khác nhau; các giao dịch các sản phẩm tài chính được thực hiện với giá trị rất lớn Đặc tính đó khiến cho thị trường chứng khoán cũng là môi trường dễ xảy ra các hoạt động kiếm lợi không chính đáng thông qua các hoạt động gian lận, không công bằng, gây tổn thất cho các nhà đầu tư; tổn thất cho thị trường và cho toàn bộ nền kinh tê

Xuất phát từ vai trò quan trọng cũng như tính chất phức tạp như vậy của thị trường chứng khoán, việc điều hành và giám sát thị trường là vô cùng cần thiết để đảm bảo được tính hiệu quả, công băng, lành mạnh trong hoạt động của thị trường, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà đầu tư, dung hoà lợi ích của tất cả những người tham gia thị trường, tận dụng và duy trì được các nguồn vốn để phát triển kinh tế Mỗi thị trường có cơ chế điều hành và giám sát thị trường riêng phù hợp với các tính chất và đặc điểm của riêng nó

Tại mỗi nước, việc điều hành và giám sát thị trường chứng khoán được tổ chức

ở nhiều cấp độ khác nhau Nhìn chung các tổ chức tham gia quản lý và giám sát thị trường chứng khoán gồm 2 nhóm: Các cơ quan quản lý của chính phủ và các tổ chức tự quản

a Các cơ quan quản lý của chính phủ

Đây là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động của thị trường chứng khoán Nhìn chung các cơ quan quản lý thị trường của chính phủ chỉ thực hiện các chức năng quản lý chung chứ không trực tiếp điều hành và giám sát thị trường Các cơ quan này có thẩm quyền ban hành các quy định điều chỉnh các hoạt động trên thị trường chứng khoán tạo nên cơ sở cho các tổ chức tự quản trực tiếp thực hiện các chức năng điều hành và giám sát thị trường của mình Nhìn chung các cơ quan quản lý thị trường của chính phủ gồm có uỷ ban chứng khoán

Trang 12

11

- Kiểm soát và giám sát các hoạt động trên thị trường như đăng ký, lưu ký chứng khoán, giám sát các công ty niêm yết, và phát hiện, xử lý các trường hợp gian lận trong hoạt động kinh doanh chứng khoán

- Quản lý trực tiếp các tổ chức tự quản, giám sát hoạt động của các tổ chức này,

xử lý các vi phạm nếu các tổ chức tự quản không tự xử lý được

- Thanh tra đối với các cá nhân hay tổ chức để bảo vệ lợi ích chung của công chúng trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật

Bên cạnh uỷ ban chứng khoán, một số bộ, ngành cũng có chức năng tham gia quản lý một số lĩnh vực có liên quan tới thị trường chứng khoán Ví dụ: bộ tài chính quản lý các vấn đề về kế toán, kiểm toán phục vụ phát hành và công khai thông tin công ty, phát hành trái phiếu quốc tế ; ngân hàng nhà nước quản lý các ngân hàng thương mại thực hiện kinh doanh chứng khoán, đề ra các nguyên tắc để phân tách nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ và kinh doanh chứng khoán; bộ tư pháp có liên quan tới việc xử lý các trường hợp gian lận trên thị trường chứng khoán

b Các tổ chức tự quản

Xét về mặt lịch sử, việc điều hành và giám sát thị trường chứng khoán được thực hiện bởi các tổ chức tự quản trước, rồi sau đó mới có sự can thiệp của chính phủ Các tổ chức tự quản là các tổ chức hình thành cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, thực hiện chức năng điều hành và giám sát thị trường chứng khoán nhằm bảo vệ lợi ích chung của toàn thị trường Các tố chức tự quản thực hiện quản lý và giám sát thị trường trên cơ sở tuân thủ các quy định của các tổ chức quản lý và giám sát thị trường của chính phủ

Một tổ chức tự quản hoạt động dựa trên 2 nguyên tắc:

- Các quyết định điều hành đưa ra phải đúng đắn, phù hợp hoàn cảnh thực tế, hoạt động giám sát thị trường phải có hiệu quả

- Chi phí điều hành, giám sát thị trường phải thu được từ các hoạt động trên thị trường chứ không phải do ngân sách cấp

Hoạt động điều hành và giám sát thị trường chứng khoán của các tổ chức tự quản bao gồm 3 bộ phận: quản lý và giám sát các hoạt động giao dịch (bao gồm cả việc phát hành), quản lý và giám sát công ty chứng khoán, giải quyết cá tranh chấp

Trang 13

12

và tiến hành xử lý các trường hợp vi phạm Nhìn chung, các tổ chức tự quản gồm có: sở giao dịch và hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

Sở giao dịch là tổ chức tự quản bao gồm các công ty chứng khoán thành viên,

trực tiếp điều hành và giám sát các hoạt động giao dịch chứng khoán thực hiện trên

sở Sở giao dịch thực hiện một số chức năng sau:

- Điều hành các hoạt động giao dịch diễn ra trên sở thông qua việc đưa ra và đảm bảo thực hiện các quy định cho các hoạt động giao dịch trên thị trường sở giao dịch

- Giám sát, theo dõi các giao dịch giữa các công ty thành viên và các khách hàng của họ Khi phát hiện các vi phạm sở giao dịch tiến hành xử lý, áp dụng các biện pháp cưỡng chế thích hợp Trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng đến các quy định của ngành chứng khoán, sở giao dịch có thể báo cáo lên uỷ ban chứng khoán để giải quyết

- Hoạt động điều hành và giám sát của sở giao dịch phải được thực hiện trên cơ

sở phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan đến ngành chứng khoán

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức của các công ty chứng

khoán được thành lập với mục đích tạo ra tiếng nói chung cho toàn ngành kinh doanh chứng khoán và đảm bảo các lợi ích chung của thị trường chứng khoán Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thực hiện các chức năng điều hành và giám sát thị trường chứng khoán như sau:

- Điều hành và giám sát thị trường giao dịch phi tập trung Các công ty muốn tham gia thị trường này phải đăng ký với hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

và phải thực hiện các quy định do hiệp hội đưa ra

- Đưa ra các quy định chung cho các công ty chứng khoán thành viên trong các lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và đảm bảo thực hiện các quy định này

- Thu nhận các khiếu nại của khách hàng và điều tra các công ty chứng khoán thành viên để tìm ra các vi phạm, sau đó chuyển các kết quả điều tra tới công ty chứng khoán đó để giải quyết

Trang 14

13

- Đại diện cho ngành chứng khoán, hiệp hội dưa ra các đề xuất và gợi ý với những cơ quan quản lý thị trường chứng khoán của chính phủ về các vấn để tổng quát trên thị trường chứng khoán

Các tổ chức của chính phủ và các tổ chức tự quản là hai hình thức điều hành và giám sát thị trường chứng khoán Ở các nước khác nhau, sự áp dụng các hình thức cũng khác nhau Tuy nhiên để đảm bảo cho thị trường chứng khoán được điều hành và giám sát có hiệu quả cần phải có sự kết hợp hai hình thức này trên cơ sở phù hợp với điều kiện của từng nước

1.4 Các thành phần tham gia trên thị trường chứng khoán

1.4.1 Nhà phát hành

Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán Nhà phát hành là người cung cấp chứng khoán – hàng hóa của thị trường chứng khoán

- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu chính phủ

và trái phiếu địa phương

- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty

- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng,… phục vụ cho hoạt động của họ

và ngược lại Chính vì vậy, các nhà đầu tư cá nhân luôn phải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như mức độ chấp nhận rủi ro của mình

b Các nhà đầu tư có tổ chức

Trang 15

14

Nhà đầu tư có tổ chức, hay còn gọi là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Các tổ chức này thường có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị

trường và đưa ra các quyết định đầu tư Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp chính trên thị trường chứng khoán là các công ty đầu tư, các công ty bảo hiểm, các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xã hội khác Đầu tư thông qua các tổ chức đầu tư

có ưu điểm nổi bật là có thể đa dạng hóa các danh mục đầu tư, và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm

1.4.3 Nhà môi giới – Công ty chứng khoán

Công ty chứng khoán là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, và tư vấn đầu tư chứng khoán

Để có thể thực hiện mỗi nghiệp vụ, các công ty chứng khoán phải đảm bảo được một số vốn nhất định và phải được phép của cơ quan có thẩm quyền

1.5 Cơ cấu thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán chính thức được thể hiện bằng sở giao dịch chứng khoán Thông thường một thị trường chứng khoán bao gồm hai thị trường cùng tham gia (cấu trúc thị trường chứng khoán) là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Thị trường sơ cấp

Là thị trường cấp một hay thị trường phát hành, hàm ý chỉ nơi diễn ra hoạt động giao dịch mua bán những chứng khoán mới phát hành lần đầu, kéo theo sự tăng thêm qui mô đầu tư vốn Nguồn cung ứng vốn chủ yếu tại thị trường này là nguồn tiết kiệm của dân chúng như của một số tổ chức phi tài chính Thị trường sơ cấp là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành

Thị trường thứ cấp

Còn gọi là thị trường cấp hai hay thị trường lưu thông, là nói đến nơi diễn ra hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán đến tay thứ hai, tức là việc mua bán tiếp thu sau lần bán đầu tiên Nói cách khác, thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã được phát hành qua thị trường sơ cấp

Trang 16

15

Điểm khác nhau căn bản giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp không phải là

sự khác nhau về hình thức mà là sự khác nhau về nội dung, về mục đích của từng loại thị trường Bởi lẽ, việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ở thị trường sơ cấp là nhằm thu hút mọi nguồn vốn đầu tư và tiết kiệm vào công cuộc phát triển kinh tế Còn ở thị trường thứ cấp, dù việc giao dịch rất nhộn nhịp có hàng chục, hàng trăm thậm chí hàng ngàn tỉ đô la chứng khoán được mua đi bán lại, nhưng không làm tăng thêm qui mô đầu tư vốn, không thu hút thêm được các nguồn tài chính mới

Nó chỉ có tác dụng phân phối lại quyền sở hữu chứng khoán từ chủ thể này sang chủ thể khác, đảm bảo tính thanh khoản của chứng khoán

Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp gộp lại được gọi là thị trường chứng khoán Hai thị trường này tồn tại quan hệ mật thiết với nhau được ví dụ như hai bánh xe của một chiếc xe, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề, thị trường thứ cấp là động lực Nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ chẳng có chứng khoán

để lưu thông trên thị trường thứ cấp và ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì việc hoán chuyển các chứng khoán thành tiền sẽ bị khó khăn, khiến cho người đầu tư sẽ bị thu nhỏ lại, hạn chế khả năng huy động vốn trong nền kinh tế

Việc phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết Trong thực tế tổ chức thị trường chứng khoán không có sự phân biệt đâu là thị trường sơ cấp và đâu là thị trường thứ cấp Nghĩa là, trong một thị trường chứng khoán vừa có giao dịch của thị trường sơ cấp vừa có giao dịch của thị trường thứ cấp Vừa có việc mua bán chứng khoán theo tính chất mua đi bán lại

Tuy nhiên, điểm cần chú ý là phải coi trọng thị trường sơ cấp, vì đây là thị trường phát hành là hoạt động tạo vốn cho đơn vị phát hành đồng thời phải giám sát chặt chẽ thị trường thứ cấp, không để tình trạng đầu cơ lũng đoạn thị trường để đảm bảo thị trường chứng khoán trở thành công cụ hữu dụng của nền kinh tế

Trang 17

16

Thứ nhất Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức theo hình thức "Câu lạc bộ" tự nguyện của các thành viên Trong hình thức này, các thành viên của sở giao dịch (hội viên) tự tổ chức và tự quản lý sở giao dịch chứng khoán theo pháp luật không

có sự can thiệp của nhà nước Các hội viên của Sở giao dịch bầu ra Hội đồng quản trị và Hội đồng quản trị bầu ra ban điều hành

Thứ haiSở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới hình thức một công ty cổ phần có các cổ đông là các công ty thành viên Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay Sở giao dịch chứng khoán tổ chức dưới hình thức này được hoạt động theo luật công ty cổ phần, phải nộp thuế cho nhà nước và chịu sự giám sát của một cơ quan chuyên môn do chính phủ lập ra Cơ quan chuyên môn này là cơ quan quản

lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Quản lý và điều hành sở giao dịch chứng khoán là Hội đồng quản trị do các công ty chứng khoán thành viên bầu ra và ban điều hành sở giao dịch chứng khoán do Hội đồng quản trị đề cử Thứ baSở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới dạng một công ty cổ phần nhưng có sự tham gia quản lý và điều hành của nhà nước Đây là hình thức phổ biến ở hầu hết các nước Châu á Cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành cũng tương

tự như hình thức trên nhưng trong thành phần Hội đồng quản trị có một số thành viên do uỷ ban chứng khoán quốc gia đưa vào, giám sát điều hành Sở giao dịch chứng khoán quốc gia bổ nhiệm

Quản lý và điều hành sở giao dịch chứng khoán

Uỷ ban chứng khoán quốc gia là cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán do chính phủ thành lập Uỷ ban chứng khoán quốc gia có nhiệm vụ xác định loại doanh nghiệp nào được phép phát hành chứng khoán và loại chứng khoán nào được mua bán Uỷ ban này cấp giấy phép và kiểm tra hoạt động của các công ty môi giới và thực hiện các công việc quản lý nhà nước khác

Hội đồng quản trị và ban điều hành sở giao dịch chứng khoán quản lý và điều hành

sở giao dịch chứng khoán Tất cả các quyết định đều được Hội đồng quản trị đưa

ra Hội đồng này bao gồm các công ty chứng khoán thành viên của sở giao dịch chứng khoán, các thành viên liên doanh thậm chí có một số không phải là thành viên của sở giao dịch chứng khoán do Uỷ ban chứng khoán quốc gia đưa vào Hội

Trang 18

17

đồng quản trị có quyền quyết định nhưng thành viên nào được phép buôn bán tại

sở giao dịch, những loại chứng khoán nào đủ tiêu chuẩn được phép niêm yết tại phòng giao dịch Hội đồng này có quyền đình chỉ hoặc huỷ bỏ việc niêm yết một chứng khoán nào đó Hội đồng quản trị có quyền kiểm tra quá trình kinh doanh của các thành viên sở giao dịch Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc kinh doanh của thành viên trong một thời gian nhất định hoặc trục xuất không cho phép mua bán trên sở giao dịch Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc kinh doanh của thành viên trong một thời gian nhất định hoặc trục xuất không cho phép mua bán trên sở giao dịch chứng khoán nữa

Thành viên sở giao dịch chứng khoán

Thành viên sở giao dịch chứng khoán có thể là các cá nhân hoặc các công ty chứng khoán Để trở thành thành viên của sở giao dịch chứng khoán trước hết công ty phải được công ty có thẩm quyền của nhà nước cấp giấy phép hoạt động Phải có

số vốn tối thiểu theo quy định, có chuyên gia kinh tế, pháp lý đã được đào tạo về phân tích và kinh doanh chứng khoán Ngoài ra công ty còn phải thoả mãn các yêu cầu của từng sở giao dịch chứng khoán cụ thể Một công ty chứng khoán có thể là thành viên của nhiều sở giao dịch chứng khoán khác nhau nhưng không được là thành viên của thị trường chứng khoán phi tập trung và ngược lại công ty chứng khoán có thể thực hiện một hay nhiều nghiệp vụ khác nhau trên thị trường chứng khoán

Giám sát thị trường chứng khoán

Để đảm bảo cho các giao dịch được công bằng đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư,

sở giao dịch chứng khoán có một bộ phận chuyên theo dõi giám sát các giao dịch chứng khoán để ngăn chặn kịp thời các vi phạm trong giao dịch chứng khoán Nhiệm vụ chủ yếu của các bộ phận giám sát là kiểm tra theo dõi và ngăn chặn kịp thời các hoạt động tiêu cực như gây nhiễu giá, giao dịch tay trong, giao dịch lòng vòng, giao dịch có dàn xếp trước

1.6 Quá trình hình thành phát triển thị trường chứng khoán

Trang 19

18

Lịch sử loài người đã ra đời và tồn tại hàng ngàn năm nay Trong đó lịch sử phát triển xã hội loài người đã trải qua các hình thái xã hội khác nhau từ thấp đến cao ứng với mỗi hình thái xã hội khác nhau thì có một lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất khác nhau tương ứng với chúng xã hội muốn tồn tại thì phải lao động sản xuất ra hàng hoá, của cải vật chất phục vụ nhu cầu con người

Trong đó thị trường chứng khoán là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá Thị trường chứng khoán nguyên thuỷ đã tồn tại hàng trăm năm nay Vào khoảng giữa thế kỷ XI ở tại những thành phố trung tâm buôn bán ở phương Tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán Cafe để thương lượng việc mua bán, trao đổi các loại hàng hoá (nông sản, khoáng sản, ngoại tệ và giá khoán động ) Điểm đặc biệt là tại các cuộc thương lượng này, các thương gia chỉ dùng lời nói để trao đổi với nhau, không có hàng hoá, ngoại tệ, giá khoán động sản, hay bất cứ một loại giấy tờ nào Những cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau, hợp đồng mua bán, trao đổi Không biết do sự phát triển của các thương gia hay hiệu quả của kiểu “thương lượng” này mà số lượng người tham gia ngày càng đông lên Đến cuối thời Trung cổ, phiên chợ riêng này trở thành một thị trường và khoảng cách các phiên chợ ngày càng rút ngắn Những qui ước trao đổi dần dần được tu bổ thành các qui tắc có giá trị bắt buộc đối với người tham gia Từ đó thị trường chứng khoán bắt đầu được hình thành

Đến 1986 ở một số nước, các giá trị động sản đã lần lượt được yết giá trên hệ thống vi tính các (yết giá liên tục) như vậy việc yết giá cổ phiếu, trái phiếu, không còn được tập trung nữa, không được giao dịch dưới dạng giao miệng Các nhà giao dịch sẽ truyền lệnh cho công ty chứng khoán của mình thông qua điểm cuối mạng

vi tính

Năm 1991, hệ thống RELIT đã tiêu chuẩn hoá tiến trình thanh toán tiền và giao dịch chứng khoán Sau khi đã giao dịch thương lượng trên thị trường

Thành lập các thị trường biến tướng: 1986 ở Pháp lập thị trường Matif, 1987 thị trường Monep Các thị trường này lập ra cho các nhà quản lý hồ sơ chứng khoán phòng ngừa các rủi ro liên quan đến biến động về cổ phiếu, tỉ lệ lãi suất, tỉ giá hối đoái Và thị trường này cũng có mục đích tăng vốn khả duy trên thị trường giao

Trang 20

2 Bản chất và đặc điểm của thị trường chứng khoán

là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá

2.2 Đặc điểm

- Được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp và người cần vốn, người cung cấp vốn đều trực tiếp tham gia vào thị trường và giữa họ không có trung gian tài chính

- Đặc điểm của thị trường chứng khoán cơ bản là một thị trường liên tục Sau

khi các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Nó có thể được mua

đi bán lại nhiều lần ở thị trường thứ cấp Thị trường chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của họ thành tiền mặt bất cứ lúc nào mà họ muốn

Trang 21

- Khả năng thanh khoản là một trong những đặc điểm của thị trường chứng

khoán, tạo nên sự hấp dẫn của thị trường chứng khoán đối với các nhà đầu tư

Việc kinh doanh tự do và minh bạch diễn ra trên thị trường chứng khoán dựa trên nguồn cung – cầu Bằng cách này, thì các nhà đầu tư có thể chuyển đổi những cổ phần họ sở hữu thành tiền mặt, cũng như các loại chứng khoán khác khi họ muốn thông qua cơ chế định giá đang được hoạt động

3 Chức năng và vai trò của thị trường chứng khoán

3.1 Chức năng của thị trưởng chứng khoán

3.1.1 Chức năng huy đông vốn dầu tư cho nên kinh tế

Sự hoạt động của thị trường chứng khoán tạo ra một cơ chế chuyển các nguồn vốn

từ nơi thừa đến nời thiếu Thị trường chứng khoán cung cấp phương tiện huy động

số vốn nhàn rỗi trong dân cư cho các công ty sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất mới, ế Chức năng này được thực hiện khi công ty phát hành chứng khoán và công chúng mua chửng khoán Nhò vào sự hoạt động của thị trường chứng khoán mà các công ty có thể huy động được một số lượng lớn vốn đầu tư dài hạn Khi các nhà đầu tư mua chửng khoán do các công ty phát hành, sỏ tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mờ rộng sản xuất xã hội Trong quá trình nny thị trường rhrtng klionn (tã ró nhĩìng tnc

Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

Trang 22

Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có TTCK mà nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hay các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặc điểm hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy được tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động, và có hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán được giao dịch trên thị trường

Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Thông qua những đặc điểm của thị trường chứng khoán về giá chứng khoán và

hoạt động của các doanh nghiệp được phản ảnh một cách tổng hợp, chính xác, giúp cho việc đánh giá, so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện Từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn và kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy

bén, chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng và nền kinh tế tăng trưởng Và ngược lại giá chứng khoán giảm cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế

Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và cũng là một công cụ quan trọng nhằm giúp chính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, chính phủ có thể mua, bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu nhằm

bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát

Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách và biện pháp tác động vào TTCK Nhằm định hướng đầu tư bảo đảm sự phát triển cân đối của nền kinh

tế

Trang 23

22

3.2 Vai trò của thị trường chứng khoán

Đối với nhà đầu tư

TTCK cung cấp cho công chúng các sản phẩm đầu tư phong phú, giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư và giảm thiểu rủi ro Các loại chứng khoán này khác nhau về tính chất, thời gian đáo hạn và độ rủi ro, bởi vậy, nó cho phép nhà đầu tư lựa chọn được loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình Ví dụ, nếu NĐT ưa thích rủi ro, kỳ vọng lãi suất sinh lời cao thì có thể chọn mua cổ phiếu và ngược lại, với những NĐT tìm kiếm sự an toàn, chấp nhận mức lãi suất thấp sẽ thiên về lựa chọn trái phiếu Chính phủ,…

Tham gia vào TTCK rất dễ dàng, thủ tục đơn giản, bất kể bạn là NĐT nhỏ lẻ với tài chính eo hẹp hay NĐT có tổ chức với nguồn vốn lớn Đây được coi là kênh đầu

tư tối ưu giúp tạo ra được lợi nhuận cao so với các kênh đầu tư án toàn khác

Đối với các doanh nghiệp

Đầu tiên, thị trường chứng khoán giúp các doanh nghiệp đa dạng hoá các hình thức huy động vốn bằng việc phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu, giúp doanh nghiệp tránh được các khoản vay ngân hàng với lãi suất cao Doanh nghiệp có chứng khoán được niêm yết trên TTCK chắc chắn có uy tín hơn đối với công chúng, và chứng khoán cũng có tính thanh khoản hơn Nhờ đó, doanh nghiệp có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn, sử dụng vốn tiết kiệm, linh hoạt và có hiệu quả hơn

Việc mở cửa TTCK còn giúp doanh nghiệp thu hút thêm nguồn vốn trên thị trường quốc tế Đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế và mở rộng các cơ hội kinh doanh của các công ty trong nước

Điều thuận lợi nữa là khi chưa có cơ hội sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có thể dự trữ chứng khoán như là một tài sản kinh doanh và các chứng khoán đó sẽ được chuyển nhượng thành tiền khi cần thiết thông qua TTCK

Thứ hai, TTCK là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp một cách tổng hợp và chính xác thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường Sự hình thành thị giá chứng khoán của một doanh nghiệp đã bao hàm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó ở hiện tại và dự đoán trong tương lai Nói cách khác, giá cổ phiếu của

Trang 24

Đối với Nền kinh tế

Thứ nhất, TTCK tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế Thêm vào đó, TTCK giúp tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân Nhờ có

TTCK, Chính phủ có thể huy động các nguồn lực tài chính mà không bị áp lực về lạm phát, đặc biệt khi nguồn vốn đầu tư từ khu vực nhà nước còn hạn chế

Thứ hai, TTCK được coi như “phong vũ biểu” của nền kinh tế, hay nói cách khác, TTCK có thể phản ánh một cách chính xác triển vọng nền kinh tế cho giai đoạn sắp tới Theo giới phân tích thì TTCK sẽ đi trước sự thay đổi của nền kinh tế 6 tháng

Cụ thể là, giá chứng khoán tăng sẽ cho thấy một nền kinh tế phát triển, còn ngược lại, giá chứng khoán giảm lại dự báo không mấy tốt đẹp về triển vọng của nền kinh

tế trong tương lai Ví dụ điển hình là sự sụp đổ của TTCK vào năm 1929- đây là nhân tố chính dẫn đến cuộc Đại khủng hoảng vào những năm 1930

Đối với Việt Nam, TTCK còn hỗ trợ tốt cho công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và cùng với hệ thống tín dụng của ngân hàng tạo ra một cơ cấu thị trường vốn Việt Nam cân đối hơn, hiệu quả hơn, hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế

4 Mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán với tài chính doanh nghiệp

Việc hình thành và phát triển Thị trường chứng khoán (TTCK) là bước phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường Việt Nam với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường cũng đòi hỏi phải có TTCK để làm cầu nối giữa một bên là các nhà đầu

tư (bao gồm các tổ chức kinh tế – xã hội và dân chúng) với bên kia là các doanh nghiệp cần vốn kinh doanh và Nhà nước cần vốn để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước (tiền để thỏa mãn các nhu cầu chung của đất nước)

Trang 25

24

Theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Chứng khoán thì: “Tổ chức phát hành khi niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện về vốn, hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính, số cổ đông hoặc số người sở hữu chứng khoán”

5 Những hạn chế (tiêu cực) của thị trường chứng khoán

5.1 Đầu cơ chứng khoán

Đầu cơ là gì?1

Trong lĩnh vực tài chính, đầu cơ là việc mua, bán, nắm giữ, bán khống các loại tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa, tiền tệ, bất động sản, chứng khoán phái sinh nhằm thu lợi từ sự biến động giá mạnh của chúng

Vì hoạt động đầu cơ áp dụng với các loại tài sản tài chính biến động như vậy cho nên đầu cơ là một kiểu kinh doanh có rủi ro rất cao Nếu như bạn là một nhà đầu

cơ không chuyên nghiệp thì dễ bị thua lỗ trong các vụ đầu cơ nhưng với những người dần biết kiếm lợi nhuận dần dần trở thành những tay đầu cơ chuyên nghiệp Tuy vậy, hoạt động đầu cơ vẫn mang lại những lợi ích cho cả người đầu cơ và cả thị trường Với người đầu cơ, họ có khả năng thu được món lợi lớn hơn nhờ việc biến động giá mạnh của chúng Với thị trường, hoạt động đầu cơ mang lại những lợi ích như:

+ Cung cấp cho thị trường một lượng vốn lớn

+ Làm tăng tính thanh khoản cho thị trường

+ Làm cho các nhà đầu tư khác dễ dàng sử dụng các nghiệp vụ như phòng vệ hay kinh doanh chênh lệch giá để loại trừ rủi ro

+Thế nào là đầu cơ chứng khoán?2

+ Đầu cơ chứng khoán là một kiểu đầu cơ mà đối tượng chịu tác động của nó là các loại cổ phiếu (mã chứng khoán)

+ Người đầu cơ sẽ lợi dụng tính tự phát của thị trường, nhanh thu lãi mà nhiều người đã thay đổi cuộc chơi bằng cách tạo sức ép về quan hệ cung cầu, đẩy hết số

cổ phiếu trên thị trường vào tay một vài người Khi đó, thị trường cổ phiếu đột ngột khan hiếm và giá cổ phiếu bắt đầu tăng lên (làm giá)

+ Chiến thuật đầu cơ chứng khoán3

Trang 26

25

Chiến thuật mua trước bán sau

- Đây là chiến thuật đơn giản đối với nhà đầu tư cá nhân có sẵn cổ phiếu và tiền mặt trong tài khoản Giả sử, hiện tại giá cổ phiếu đó đang giảm Bạn dự đoán trong phiên giao dịch ngày mai nó sẽ tăng giá thì thông thường, bạn sẽ quyết định mua thêm 1 lượng cổ phiếu tương đương với lượng cổ phiếu mà bạn đang có

- Trước khi phiên giao dịch ngày mai kết thúc, bạn sẽ bán cổ phiếu mà bạn đã mua hôm nay đi Như vậy, lượng cổ phiếu bạn nắm giữ vẫn giữ nguyên nhưng bạn lại hưởng được phần chênh lệch giá cả giữa giá lên và giá mua hôm trước

Chiến thuật lướt phiên giao dịch

- Vẫn giống như chiến thuật 1, bạn vẫn phải có một lượng cổ phiếu nhất định Chiến thuật này được áp dụng khi thị trường cổ phiếu đang ở giai đoạn tích lũy hay mức giá cổ phiếu giao động ở biên độ hẹp

Ví dụ: Cổ phiếu ABC giao động trong xu hướng tích lũy trong khoảng thời gian

gần đây, có thể áp dụng chiến này Ban đầu, xác định vùng kháng cự của cổ phiếu ABC, có nghĩa là giá cổ phiếu ABC sẽ điều chỉnh giảm khi chạm vùng này

Khi ABC chạm vùng giá 13,300 sẽ điều chỉnh giảm và về vùng 11,800 sẽ bật tăng

và trong phiên NTL dao động trong khoảng giá này Nhà đầu tư có thể mua ở vùng quanh 11,800 và trên một vài bước giá Nếu có sẵn cổ phiếu thì có thể bán ở vùng quanh 13,300 và dưới 1 vài bước giá

Chiến thuật bán khống

- Cụ thể, khi bạn đã xác định cổ phiếu đang có xu hướng giảm dần, thay vì bán số

cổ phiếu đi thì bạn sẽ nhờ người quen cũng nắm trong tay cổ phiếu đó, bán số cổ phiếu của họ với mức giá đã giảm Phần chênh lệch giữa cổ phiếu trước đó và lương cổ phiếu bạn mới mua vào chính là lượng tiền tăng lên Tuy nhiên, chiến thuật này khá rủi ro nếu không tính toán kỹ thì bạn có thể sẽ không có lời

5.2 Mua bán nội gián

Giao dịch nội gián là việc mua hoặc bán chứng khoán của một công ty đại chúng

bởi một người có thông tin bí mật, quan trọng về cổ phiếu đó Giao dịch nội gián

có thể là bất hợp pháp hoặc hợp pháp tùy thuộc vào thời điểm người trong cuộc thực hiện giao dịch

Trang 27

26

Ví dụ về giao dịch nội gián

Vào tháng 9 năm 2017, cựu nhân viên phân tích tài chính Brett Kennedy của công

ty Amazonđã bị buộc tội giao dịch nội gián Các nhà chức trách cho biết Kennedy

đã cung cấp thông tin Maziar Rezakhani về thu nhập quí đầu năm 2015 của

Amazon trước khi báo cáo này được phát hành Rezakhani đã trả cho Kennedy 10.000 USD cho thông tin này

(Theo investopedia.com)

Các qui định về xử lí vi phạm giao dịch nội gián ở Việt Nam

"Người biết rõ thông tin nội bộ hoặc người có thông tin nội bộ nếu mua, bán chứng khoán, tiết lộ thông tin này hoặc đề nghị người khác mua, bán chứng khoán thì bị phạt tiền, tịch thu các khoản thu trái pháp luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật"

Theo đó, tổ chức, cá nhân có hành vi sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán thì chịu mức phạt tiền từ 800 triệu đến 1 tỷ đồng và bị tịch thu toàn bộ các khoản thu trái pháp luật do thực hiện hành vi sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán

(Theo khoản 1, điều 26 Luật Giao dịch chứng khoán 2010)

" Người nào biết được thông tin liên quan đến công ty đại chúng hoặc quĩ đại chúng chưa được công bố mà nếu được công bố có thể ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán của công ty đại chúng hoặc quĩ đại chúng đó mà sử dụng thông tin này để mua bán chứng khoán hoặc tiết lộ, cung cấp thông tin này hoặc tư vấn cho người khác mua bán chứng khoán trên cơ sở thông tin này, thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư

từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm"

(Theo Điều 210 Bộ luật Hình sự năm 2015)

Như vậy đối với hành vi giao dịch nội gián có thể sẽ bị áp dụng các chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự tùy theo mức độ vi phạm của hành vi

5.3 Bán khống

Trang 28

27

Bán khống chứng khoán (Short Sales) là hình thức giao dịch chứng khoán mà

người bán không sở hữu Thay vào đó, họ mượn chứng khoán để bán với mong muốn kiếm lợi nhuận bằng cách mua và trả lại chứng khoán này khi giá chứng khoán giảm

Quá trình thực hiện bán khống chứng khoán2

Tuy nhiên, nếu giá cổ phiếu vẫn tiếp tục tăng thì người thực hiện bán khống bị lỗ

do phải mua lại cổ phiếu với giá cao hơn để hoàn trả lại khoản đã mượn để bán

Ví dụ về bán khống chứng khoán

Giả sử các cổ phiếu của công ty ABC có thị giá 10.000 đồng/cổ phiếu Người X dự báo giá cổ phiếu này tương lai sẽ giảm và muốn bán khống thông qua việc mượn 10.000 cổ phiếu của người B nhờ giới thiệu của nhân viên môi giới chứng khoán Tổng giá trị số cổ phiếu mượn về là 100.000.000 đồng, tuy nhiên, người X chưa phải bỏ ra khoản tiền nào cho việc này mà thay vào đó sẽ nhận được 100.000.000 đồng tiền mặt nhờ bán cổ phiếu trên thị trường

Sau đó, giá cổ phiếu công ty ABC rớt giá đúng như suy luận của người X còn 8.000 đồng/cổ phiếu Thời điểm này, người X thực hiện mua lại 10.000 cổ phiếu với tổng số tiền thực hiện là 80.000.000 đồng Như vậy, người X có lời 20.000.000 đồng từ việc bán khống cổ phiếu ABC

Ở một diễn biến khác, người X sẽ bị lỗ 20.000.000 đồng nếu cổ phiếu công ty ABC tăng lên 12.000 đồng/cổ phiếu

Trang 29

28

Chương 2: Hàng hoá và phân loại thị trường chứng khoán

1 Hàng hoá của thị trường chứng khoán

1.1 Khái quát chung

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế làm nẩy sinh nhu cầu về vốn ngày càng lớn manh, nhất là nhu cầu vốn dài hạn Để đáp ứng nhu cầu vốn các doanh nghiệp và nha nước đã phát hành loại chứng chỉ xác nhận nợ để vay vốn công chúng, loại chứng chỉ này được gọi là trái phiếu Mặt khác với sự ra đời của công ty cổ phẩn

đã nầy sinh một phương diện huy động vốn góp vào Công ty là Cổ phiếu Đây là chứng chỉ xác nhận phần sở hữu của công ty tương ứng với phần góp vốn vào công

ty Người nắm giữ cổ phiếu có quyền chủ sở hữu một phần công ty, nghĩa là công

Trang 30

Từ những vấn đề trên ta thấy: Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc

dữ liệu điện tử

1.2 Các loại chứng khoán

Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Theo Luật chứng khoán, hiện nay trên thị trường có các loại chứng khoán sau:

- Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành Cổ phiếu bao gồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Đây là loại chứng khoán phổ biến nhất trên thị trường;

- Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành Dựa vào những tiêu chí khác nhau mà trái phiếu được phân chia thành những loại khác nhau;

- Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng;

- Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành nhằm mang lại cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phần mới theo điều kiện đã được xác định;

Trang 31

30

- Chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định;

- Quyền chọn mua là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua một số lượng chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với mức giá được xác định trước;

- Quyền chọn bán là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyền bán một số lượng chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với mức giá được xác định trước;

- Hợp đồng tương lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số lượng và mức giá nhất định vào ngày xác định trước trong tương lai;

- Hợp đồng góp vốn đầu tư là hợp đồng góp vốn bằng tiền hoặc tài sản giữa các nhà đầu tư với tổ chức phát hành hợp đồng nhằm mục đích lợi nhuận và được phép chuyển đổi thành chứng khoán khác

2 Phân loại thị trường chứng khoán

2.1 Căn cứ vào quá trình lưu thông chứng khoán

Xét về quá trình luân chuyển chứng khoán thì thị trường chứng khoán được chia làm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

(1) Thị trường sơ cấp: Còn gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành, hàm

ý chỉ nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán mới phát hành lần đầu Thị trường sơ cấp là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành

(2) Thị trường thứ cấp: còn gọi là thị trường cấp hai hay thị trường lưu thông,là nói đến nơi diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán sau khi đã phát hành lần đầu Nói cách khác thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán

đã phát hành qua thị trường sơ cấp

2.2 Căn cứ vào loại hàng hoá

Căn cứ vào đặc điểm hàng hoá lưu hành thì thị trường chứng khoán còn chia thành thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ phái sinh

Trang 32

31

2.3 Căn cứ trên phương diện pháp lý

thị trường chứng khoán được chia thành thị trường tập trung và thị trường phi tập trung

(1) Thị trường chứng khoán tập trung: là thị trường hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được đăng biểu hay đặc biệt được biệt lệ

Chứng khoán đăng biểu là chứng khoán đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian các kinh kỷ và công ty kinh kỷ, tứ

là đã hội đủ tiêu chuẩn quy định

Chứng khoán biệt lệ là chứng khoán do chính phủ hoặc các cơ quan công quyền phát hành và bảo đảm Loại chứngkhoánnày được miễn giấp phép của cơ quan có

(2) Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC): Là thị trường mua bán chứng khoán nằm ngoài sở giao dịch, không có địa điểm tập trung những nhà môi giới, những người kinh doanh chứng khoán như tại sở giao dịch các giao dịch ở đây chủ yếu là dựa vào sự thoả thuận giữa người mua và người bán, không có sự kiểm soát

từ Hội đồng Chứng khoán Các loại chứng khoán mua bán ở đây thường những chứng khoán không được đăng biểu, ít người biết đến hoặc ít được mua bán

2.4 Căn cứ vào phương thức giao dịch

Nếu xét về phương thức giao dịch thì thị trường chứng khoán được chia là thị trường giao ngay và thị trường giao sau

(1) Thị trường giao ngay: là thị trường mua bán chứng khoán theo giá tại thời điểm giao dịch nhưng việc thực hiện thanh toán và giao hàng có thể diễn ra sau dó một vài ngày theo thoả thuận

(2) Thị trường giao sau: Là thị trường mua bán chứng khoán theo một loại hợp đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch , nhưng việc thanh toán

và giao hàng xảy ra trong một thời hạn ở tương lai

Trang 33

32

Chương 3 Thị trường chứng khoán sơ cấp và giá cả chứng khoán

1 Khái niệm và chức năng thị trường chứng khoán sơ cấp 1.1 Khái niệm

Thị trường chứng khoán sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát

hành Trong thị trường sơ cấp, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành

1.2 Chức năng và đặc điểm

* Thị trường chứng khoán sơ cấp là bộ phận cấu thành hữu cơ và không thể tách rời của thị trường chứng khoán Thị trường sơ cấp là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán

Trang 34

cư, trong các tổ chức kinh tế, xã hội được chuyển thành vốn đầu tư dài hạn cho người phát hành chứng khoán Thị trường sơ cấp là một kênh phân bổ vốn có hiệu quả Chính vì vậy, thị trường sơ cấp không những đóng vai trò tập hợp các nguồn vốn mà còn là công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh

* Tiền bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp thuộc về các nhà phát hành, do đó hoạt động ở thị trường này đã làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế

* Khối lượng và nhịp độ giao dịch ở thị trường sơ cấp thấp hơn nhiều so với thị trường thứ cấp

Trang 35

34

quan trọng, đòi hỏi lượng vốn ban đầu lớn, việc tăng nguồn thu của chính phủ từ thuế cũng không thể đáp ứng được nhu cầu về vốn ban đầu Bên cạnh đó, việc tăng thuế đột ngột cũng sẽ ảnh hưởng xấu không chỉ đối với nền kinh tế

2.1.2 Doanh nghiệp: Chỉ có một số loại hình doanh nghiệp được pháp luật cho phép được phát hành chứng khoán để huy động vốn Theo pháp luật Việt Nam (Luật Doanh nghiệp năm 2005), có 4 loại hình doanh nghiệp:

* Công ty trách nhiệm hữu hạn: Chỉ được phát hành trái phiếu;

* Công ty cổ phần: được phép phát hành cả cổ phiếu và trái phiếu;

2.2 Mục đích phát hành chứng khoán

Phát hành chứng khoán là hình thức đưa ra lưu hành chứng khoán mới để huy động vốn (tư bản) cần thiết cho người phát hành chứng khoán và trao cho người mua (chủ sở hữu chứng khoán) quyền nhận thu nhập dưới dạng lợi tức nhất định (nhận ngay khi mua phiếu hoặc sau một thời gian nhất định)

Chứng khoán được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với vốn hoặc tài sản của

tổ chức phát hành Tổ chức phát hành chứng khoán là doanh nghiệp cần huy động vốn cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh hay Chính phủ huy động vốn để trang trải nhu cầu chỉ tiêu của ngân sách nhà nước Việc phát hành các loại chứng khoán có thể chuyển nhượng được và lượng chứng

khoán phát hành bán cho những người mua (người đầu tư) ngoài tổ chức phát hành đạt mức pháp luật quy định gọi là phát hành chứng khoán ra công chúng Khác với quan hệ mua, bán lại chứng khoản, quan hệ phát hành chứng khoán được thiết lập

Trang 36

35

trực tiếp giữa người gọi vốn (tổ chức phát hành) và người đầu tư nên việc phát hành chứng khoán làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế Để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và bảo đảm thị trường phát triển lành mạnh, pháp luật quy định chặt chẽ các điều kiện bắt buộc đối với việc phát hành chứng khoán Ví dụ: tổ chức phát hành chứng khoán phải có mức vốn điều lệ đạt mức tối thiểu, thành viên hội đồng quản trị và giám đốc (tổng giám đốc) có kinh nghiệm quản lí kinh doanh (Xf Chứng khoán)

2.3 Điều kiện và phương thức phát hành chứng khoán

Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán rộng rãi cho các nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành để huy động vốn từ đông đảo công chúng đầu tư Hình thức huy động vốn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, khi mà một nguồn vốn nhàn rỗi rất lớn vẫn còn nằm trong dân, trong khi các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế luôn ở trong tình trạng đói vốn và khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước cũng như vay ngân hàng còn hạn chế

- Hiện nay trong bất kỳ thị trường nào, dù là đã phát triển hay đang phát triển, yêu cầu đầu tiên đối với hoạt động phát hành là phải có sự quản lý, giám sát của nhà nước để đảm bảo hiệu quả, công bằng và bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư Ở Việt Nam, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán, thực hiện chức năng giám sát và điều chỉnh việc phát hành chứng khoán ra công chúng để được niêm yết trên thị trường

- Mỗi nước có những quy định riêng cho việc phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng Tuy nhiên, để phát hành chứng khoán ra công chúng thông thường tổ chức phát hành phải đảm bảo năm điều kiện cơ bản sau

Về quy mô vốn: tổ chức phát hành phải đáp ứng được yêu cầu về vốn điều lệ tối

thiểu ban đầu và sau khi phát hành phải đạt được một tỷ lệ phần trăm nhất địnhvề vốn cổ phần do công chúng nắm giữ và do số lượng công chúng tham gia

Về tính liên tục của hoạt động sản xuất kinh doanh: Công ty được thành lập và

hoạt động trong vòng một thời gian nhất định( thường khoản từ 3-5 năm)

Trang 37

36

Về đội ngũ quản lý công ty: Công ty phải có đội ngũ quản lý tốt, có đủ năng lực và

trình độ quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty

Về hiệu quả sản xuất kinh doanh: công ty phải làm ăn có lãi với mức lợi nhuận

không thấp hơn mức quy định và trong một số năm liên tục nhất định ( thường từ 2- 3 năm)

Về tính khả thi của dự án: công ty phải có dự án khả thi trong việc sử dụng nguồn

vốn huy động được

Tuy nhiên, các nước đang phát triển thường cho phép một số trường hợp ngoại lệ, tức là có những doanh nghiệp sẽ được miễn giảm một số điều kiện nêu trên, Ví dụ: Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích, hạ tầng cơ sở có thể được miễn giảm về hoạt động sản xuất kinh doanh Ở Việt Nam, theo quy định của Nghị định 48/1998/-NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán và thông tư 01/1998/TT-UBCK hướng dẫn Nghị định 48/1998/-NĐ-CP, tổ chức phát hành cổ phiếu, Trái phiếu lần đầu ra công chúng phải đáp ứng được các điều kiện sau

Mức vốn điều lệ tối thiểu là 10 tỷ đồng Việt Nam

Hoạt động kinh doanh có lãi trong 2 năm liên tục gần nhất

Thành viên Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) có kinh nghiệm quản

lý kinh doanh

Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ phiếu, trái phiếu

Tối thiểu 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành phải được bán cho trên 100

người đầu tư ngoài tổ chức phát hành; trường hợp vốn cổ phần của tổ chức phát hành; trường hợp vốn cổ phần của tổ chức phát hành từ 100 tỷ đồng trở lên thì tỷ lệ tối thiểu này là 15% vốn cổ phần của tổ chức phát hành

Cổ đông sáng lập phải nắm giữ ít nhất 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành và phải nắm giữ mức này tối thiểu 3 năm kể từ ngày kết thúc đợt phát hành

Trường hợp cổ phiếu phát hành có tổng giá trị theo mệnh giá vượt 10 tỷ đồng thì phải có tổ chức bảo lãnh phát hành

3 Giá cả chứng khoán

3.1 Giá trị thời gian của tiền

Trang 38

37

Giá trị thời gian của tiền là khái niệm cho rằng khoản tiền sẵn có tại thời điểm

hiện tại có giá trị cao hơn số tiền tương tự trong tương lai do khả năng sinh lời tiềm năng của nó

Điều này hàm ý nói rằng: Tiền tệ có giá trị theo thời gian, 1 đồng mà ta nhận được tại thời điểm ngày hôm nay có giá trị hơn 1 đồng nhận được tại một thời điểm nào

đó trong tương lai (nếu lãi suất đầu tư > 0)

Ý nghĩa

Khi xem xét giá trị tiền tệ cần xét theo cả hai khía cạnh: số lượng và thời gian Trên góc độ tài chính, giá trị tiền ở các thời điểm khác nhau không thể cộng lại đơn giản với nhau được Đây là vấn đề hết sức quan trọng, chi phối nhiều đến quyết định đầu tư và các quyết định tài chính khác

Giá trần là mức giá cao nhất trong một phiên giao dịch mà cổ phiếu có thể tăng lên Nhà đầu tư muốn đặt lệnh cũng chỉ có thể giới hạn trong mức này

Tương tự, giá sàn là mức giá thấp nhất trong một phiên giao dịch mà một cổ phiếu

có thể giảm

Ngày đăng: 07/05/2021, 16:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w