1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Giáo trình môn học Kế toán quản trị (Nghề: Kế toán doanh nghiệp): Phần 2

37 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nối tiếp nội dung phần 1, phần 2 của giáo trình môn học Kế toán quản trị cung cấp cho người học những nội dung chính sau: Phân tích mối quan hệ chi phí-khối lượng-lợi nhuận và thông tin thích hợp với quyết định ngắn hạn; dự toán sản xuất kinh doanh; xác định chi phí và định giá sản phẩm. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

Chương 3: Phân tích mối quan hệ chi phí khối lượng lợi nhuận và thông tin

vị sản phẩm mà luôn ứng xử nó là tổng số và là chi phí thời kì Tổng chi phí cố

định ở kì nào phải được bù đắp đầy đủ trong kì đó

Nếu gọi x: số lượng, g: giá bán, a: chi phí khả biến đơn vị, b: chi phí bất biến Ta

có báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí như sau:

Từ báo cáo thu nhập tổng quát trên ta xét các trường hợp sau:

– Khi xn không hoạt động sản lượng x = 0 ⇒ lợi nhuận doanh nghiệp : P = -b

nghĩa là doanh nghiệp lỗ bằng chi phí bất biến

– Tại sản lượng xh mà ở đó số dư đảm phí bằng chi phí bất biến ⇒ lợi nhuận doanh nghiệp: P = 0, nghĩa là doanh nghiệp đạt được điểm hoà vốn

Trang 2

– Tại sản lƣợng x1 > xh ⇒ lợi nhuận xn P1 = (g-a) x1 – b

– Tại sản lƣợng x2 > x1 > xh ⇒ lợi nhuận xnP2 = (g- a) xx -b Nhƣ vậy khi sản lƣợng tăng 1 lƣợng là Δx = x2 – x1

⇒ Lợi nhuận tăng 1 lƣợng là ΔP = P2 – P1

Chênh lệch doanh thu XXX

Trang 3

Định nghĩa

Kết cấu chi phí trong tiếng Anh là Cost structure Kết cấu chi phí là mối quan hệ

về tỉ trọng của chi phí cố định và chi phí biến đổi của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp có kết cấu chi phí khác nhau thì sẽ có kết quả kinh doanh là khác nhau mặc dù có cùng mức độ tăng doanh thu

Mối quan hệ giữa kết cấu chi phí và lợi nhuận

- Kết cấu chi phí có quan hệ với lợi nhuận

- Doanh nghiệp nào có kết cấu chi phí với phần định phí cao hơn thì sẽ đem lại lợi nhuận nhiều hơn khi doanh thu gia tăng và ngược lại trong trường hợp doanh thu suy giảm thì sẽ gặp rủi ro nhiều hơn

Kết cấu chi phí như thế nào thì được coi là hợp lí?

- Điều này không có câu trả lời chung

- Kết cấu chi phí tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm, chính sách và chiến lược kinh doanh của từng doanh nghiệp

Trong điều kiện ổn định và phát triển kinh tế, doanh nghiệp nào có kết cấu chi phí với phần chi phí cố định lớn hơn, tức là có qui mô tài sản cố định lớn hơn, thì sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn trong việc chiếm lĩnh thị trường

Nhưng trong nền kinh tế không ổn định, việc tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn thì doanh nghiệp nào có kết cấu chi phí với chi phí biến đổi nhiều hơn, tức là qui mô tài sản cố định nhỏ hơn, thì doanh nghiệp đó sẽ dễ dàng và linh hoạt hơn trong việc chuyển đổi cơ cấu mặt hàng và ít gặp rủi ro kinh doanh hơn

1.4 Đòn bẩy kinh doanh

Khái niệm

Đòn bẩy kinh doanh trong tiếng Anh là Operating Leverage, viết tắt là OL

Đòn bẩy kinh doanh hay còn gọi là đòn bẩy hoạt động là khái niệm được sử dụng

để phản ánh mức độ ảnh hưởng của kết cấu chi phí kinh doanh của doanh nghiệp (kết cấu giữa chi phí kinh doanh cố định và chi phí kinh doanh biến đổi) đến lợi nhuận trước thuế và lãi vay khi doanh thu thay đổi

Trang 4

Với một kết cấu chi phí kinh doanh không thay đổi, độ lớn của đòn bẩy kinh doanh cho chúng ta biết phần trăm thay đổi của lợi nhuận trước thuế và lãi vay khi doanh thu thay đổi 1% Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh còn gọi là độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh hoặc mức độ tác động của đòn bẩy kinh doanh, thường được kí hiệu

là DOL (Degree of Operating Leverage)

Đo lường mức độ đòn bẩy kinh doanh

Mức độ tác động của đòn bẩy kinh doanh đo lường mức độ thay đổi của lợi nhuận trước lãi vay và thuế do sự thay đổi của doanh thu hoặc khối lượng hàng bán

Nếu gọi:

F: là chi phí cố định kinh doanh (không bao gồm lãi vay)

v: chi phí biến đổi 1 đơn vị sản phẩm

p: giá bán đơn vị sản phẩm

Q: số lượng sản phẩm bán ra

EBIT: lợi nhuận trước lãi vay và thuế

Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh tại một mức doanh thu gốc được tính theo công thức sau:

Trong đó:

ΔEBIT = EBIT 1 - EBIT0: là độ gia tăng của lợi nhuận trước thuế và lãi vay

ΔQ = Q1 - Q0: là độ gia tăng doanh thu

Sau một số biến đổi, chúng ta có công thức sau:

Trang 5

Từ công thức trên ta thấy, doanh nghiệp nào trong kết cấu chi phí kinh doanh có

phần chi phí cố định lớn hơn thì có DOL lớn hơn, khi đó lợi nhuận trước thuế và

lãi vay tăng nhiều hơn khi doanh thu tăng, ngược lại sẽ có lợi nhuận trước thuế và lãi vay giảm nhiều hơn khi doanh thu giảm

Rủi ro giảm lợi nhuận trước thuế và lãi vay được gọi là rủi ro kinh doanh Một doanh nghiệp có kết cấu chi phí kinh doanh với phần chi phí kinh doanh cố định lớn hơn sẽ có nhiều cơ hội thu được lợi nhuận trước thuế và lãi vay lớn hơn nhưng gắn liền với nó là rủi ro kinh doanh cũng lớn hơn

2 Phân tích điểm hoà vốn

Phân tích điểm hòa vốn (break-even analysis) là phương pháp phân tích để xác

định mức sản lượng hòa vốn, tức mức sản lượng đem lại tổng doanh thu vừa đủ

để bù đắp tổng chi phí Chi phí sản xuất của một hàng hóa có thể tách ra thành

những bộ phận cấu thành như chi phí cố định, chi phí biến đổi Theo quan điểm kế toán, sản lượng hòa vốn là mức sản lượng bán ra đảm bảo bù đắp cả chi phí cố định và biến đổi tại một mức giá nào đó

Vì chi phí cố định không biến đổi cùng với sản lượng nên đường chi phí cố định là đường nằm ngang FC Tổng chi phí bao gồm cả chi phí cố định (FC) và chi phí biến đổi (VC) và được biểu thị bằng đười TC Tổng doanh thu tăng lên khi sản lượng hàng hóa gia tăng và được biểu thị bằng đường TR Khi sản lượng đạt mức thấp, chẳng hạn Q, tổng chi phí cao hơn tổng doanh thu và nhà cung cấp phải chịu mức lỗ bằng đoạn AB Khi sản lượng cao hơn, chẳng hạn bằng Q, tổng chi phí cao hơn tổng doanh thu và nhà cung cấp phải chịu mức lỗ bằng đoạn AB Khi sản lượng cao hơn, chẳng hạn bằng Q2, doanh thu cao hơn chi phí và nhà cung cấp thu

Trang 6

được khoản lợi nhuận bằng DE Khi sản lượng bằng mức Q, tổng doanh thu đúng bằng tổng chi phí (tại điểm C) và nhà sản xuất hòa vốn

a Phương pháp phương trình dựa vào biểu thức thể hiện mối quan hệ CVP

Lợi nhuận - (Doanh thu - Biến phí) - Định phí

hoặc:

Doanh thu - Biến phí + Định phí + Lợi nhuận (1)

Tại điểm hòa vốn, lợi nhuận bằng 0, nên biểu thức (1) được viết lại như sau:

Doanh thu - Biến phí + Định phí (2)

Biểu thức (2) được gọi là biểu thức hòa vốn

Từ biểu thức hòa vốn, chúng ta có thể tính số lượng sản phẩm tiêu thụ hòa vốn và doanh thu hòa vốn

SL sản phẩm tiêu thụ hòa vốn = Định phí / (Đơn giá bán - Biến phí đơn vị)

Doanh thu hòa vốn = Đơn giá bán x SL sản phẩm tiêu thụ hòa vốn

Chúng ta đã biết :

Số dư đảm phí - Định phí = Lợi nhuận (3)

Tại điểm hòa vốn, lợi nhuận bằng 0, biểu thức (3) trở thành:

Số dư đảm phí - Định phí = 0

Trang 7

hay Số dư đảm phí = Định phí (4)

Biểu thức (4) có thể viết lại như sau:

Số lượng sản phẩm tiêu thụ hòa vốn x Số dư đảm phí đơn vị = Định phí (5)

Từ biểu thức (5), ta có công thức tính số lượng sản phẩm tiêu thụ hòa vốn như sau:

Số lượng sản phẩm tiêu thụ hòa vốn = Định phí / (Đơn giá bán - Biến phí đơn vị) Biểu thức (4) có thể viết lại như sau:

Doanh thu hòa vốn x Tỷ lệ số dư đảm phí = Định phí (6)

Từ biểu thức (6), ta có công thức tinh Doanh thu hòa vốn như sau:

Doanh thu hòa vốn = Định phí / Tỷ lệ số dư đảm phí

Chúng ta dễ dàng nhận thấy, về mặt toán học, kết quả tính toán số lượng sản phẩm tiêu thụ hòa vốn và doanh thu hòa vốn không thay đổi, dù chúng ta áp dụng phương pháp phương trình hay phương pháp số dư đảm phí

4 Một số ứng dụng của việc phân tích mối quan hệ chi phí khối lượng và lợi nhuận vào việc lựa chọn dự án

Khái quát về chi phí – khối lượng – lợi nhuận

Kế toán quản trị không chỉ cung cấp những thông tin chi tiết, cụ thể theo yêu cầu quản lý mà còn phát hiện nhiều khả năng tiềm ẩn của doanh nghiệp (DN) chưa khai thác như: Tình hình tiết kiệm chi phí, sử dụng hiệu quả nguồn nhân, tài, vật lực của DN Một trong những đối tượng mà kế toán quản trị nghiên cứu là mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận (Cost – Volume – Profit (CVP) Mối quan hệ CVP là một trong những mối quan hệ kinh tế cơ bản thể hiện sự liên quan giữa các nhân tố giá bán, sản lượng, chi phí Thông qua việc nghiên cứu và nắm

Trang 8

vững mối quan hệ CVP, nhà quản trị có thể khai thác tối đa các khả năng tiềm tàng của DN, sử dụng và phát huy có hiệu quả mọi nguồn lực trong DN nhằm thực hiện tốt hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là cơ sở cho việc đưa ra các quyết định lựa chọn hay điều chỉnh phương thức sản xuất kinh doanh… nhằm tối đa hóa lợi

nhuận

Các khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích CVP

Số dư đảm phí

Tổng số dư đảm phí (SDĐP): Là số dư biểu hiện bằng số tuyệt đối tổng số tiền còn

lại của doanh thu bán hàng sau khi đã trừ đi tổng biến phí (Hay là số chênh lệch giữa doanh thu và tổng biến phí) SDĐP có thể tính cho tất cả loại sản phẩm, một sản phẩm và một đơn vị sản phẩm

Tổng SDĐP được sử dụng trước hết để trang trải định phí, phần còn lại đó là lãi thuần trong kỳ Nếu tổng số dư đảm phí không trang trải đủ định phí công ty sẽ bị

lỗ, nếu trang trải vừa đủ định phí thì công ty sẽ hòa vốn Khi tổng số dư đảm phí lớn hơn tổng định phí, có nghĩa rằng công ty hoạt động có lợi nhuận Lợi nhuận được tính bằng cách lấy tổng số dư đảm phí trừ định phí

SDĐP đơn vị: Là số dư đảm phí tính cho 1 đơn vị sản phẩm Khi tính cho một đơn

vị sản phẩm, số dư đảm phí còn gọi là “phần đóng góp”, vậy phần đóng góp là phần còn lại của đơn giá bán sau khi trừ đi biến phí đơn vị

Trang 9

Sản lượng hòa vốn = Chi phí bất biến/SDĐP đơn vị

Khi DN hoạt động tại sản lượng X1> Xo, lợi nhuận của DN = (P-b)X1 – A

Khi DN hoạt động tại mức sản lượng X2> xX1> X0, lợi nhuận DN = (P-b)X2 – A Như vậy, khi sản lượng tăng một lượng ∆X = X2 - X1

Lợi nhuận tăng một lượng ∆P = (P-b)(X2-X1) = (P-b)∆X

Thông qua khái niệm về SDĐP, có thể thấy, mối quan hệ giữa sự thay đổi về sản lượng tiêu thụ và lợi nhuận Nếu sản lượng tăng thêm thì lợi nhuận tăng thêm bằng chính sản lượng tăng thêm đó nhân với SDĐP đơn vị Điều này chỉ đúng khi DN vượt qua điểm hòa vốn

Việc sử dụng khái niệm SDĐP cũng có nhược điểm là: Không giúp nhà quản lý có được cái nhìn tổng quát ở giác độ toàn bộ doanh nghiệp nếu công ty sản xuất và kinh doanh nhiều loại sản phẩm bởi vì sản lượng cho từng sản phẩm không thể tổng hợp ở toàn DN; Làm cho nhà quản lý dễ nhầm lẫn trong việc ra quyết định bởi vì tưởng rằng tăng doanh thu của những sản phẩm có SDĐP lớn thì lợi nhuận tăng lên nhưng điều này có khi hoàn toàn ngược lại

Tỷ lệ số dư đảm phí

Tỷ lệ SDĐP là tỷ lệ phần trăm của SDĐP tính trên doanh thu hoặc giữa phần đóng góp với đơn giá bán Chỉ tiêu này có thể tính trên tất cả các loại sản phẩm, một loại sản phẩm (cũng bằng một đơn vị sản phẩm)

Tỷ lệ SDĐP = P-b/P x 100%

Ý nghĩa của Tỷ lệ SDĐP đối với các nhà quản trị:

Tỷ lệ SDĐP cho biết khi doanh thu tăng lên 1 đồng thì trong mức tăng đó có bao nhiêu đồng thuộc về tổng SDĐP Khi DN hòa vốn, tỷ lệ SDĐP cũng chính là tỷ lệ tăng lợi nhuận khi doanh thu tiêu thụ tăng lên

Tỷ lệ SDĐP cho phép DN xác định khả năng sinh lời của từng loại sản phẩm; Tỷ lệ SDĐP là một kênh thông tin quan trọng khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của các sản phẩm, dịch vụ, phương án đầu tư, được dùng để so sánh với các chỉ tiêu khác khi đưa ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu

Trang 10

Kết cấu chi phí

Kết cấu chi phí là một chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ tỷ lệ định phí và biến phí của một tổ chức DN Phân tích kết cấu chi phí là nội dung quan trọng của phân tích hoạt động kinh doanh, vì kết cấu chi phí có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận khi mức độ hoạt động thay đổi

Thông thường DN sẽ hoạt động theo 2 dạng kết cấu chi phí sau:

Định phí chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí thì biến phí chiếm tỷ trọng nhỏ,

từ đó suy ra tỷ lệ SDĐP lớn, nếu tăng (giảm) doanh thu thì lợi nhuận tăng

(giảm) nhiều hơn DN có định phí chiếm tỷ trọng lớn thường là DN có mức đầu

tư lớn, vì vậy nếu gặp thuận lợi thì tốc độ phát triển của những DN này sẽ rất nhanh và ngược lại nếu gặp rủi ro doanh thu giảm thì lợi nhuận sẽ giảm nhanh hoặc sẽ nhanh chóng phá sản nếu sản phẩm không tiêu thụ được

Định phí chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí thì biến phí chiếm tỷ trọng lớn,

từ đó suy ra tỷ lệ SDĐP nhỏ, nếu tăng (giảm) doanh thu thì lợi nhuận tăng (giảm) ít hơn Những DN có định phí chiếm tỷ trọng nhỏ thường là những DN

có mức đầu tư thấp do đó tốc độ phát triển chậm, nhưng nếu gặp rủi ro, lượng tiêu thụ giảm hoặc sản phẩm không tiêu thụ được thì thiệt hại sẽ lớn hơn

Hai dạng kết cấu chi phí trên đều có ưu và nhược điểm Tùy theo đặc điểm kinh doanh và mục tiêu kinh doanh của mình mà mỗi DN xác lập một kết cấu chi phí cho riêng mình Tuy vậy, khi dự định xác lập một kết cấu chi phí, cần phải xem xét các yếu tố tác động như: kế hoạch phát triển dài hạn và trước mắt của DN, tình hình biến động của doanh số hàng năm, quan điểm của các nhà quản trị đối với rủi ro

Đòn bẩy kinh doanh

Đòn bẩy kinh doanh (ĐBKD) là một chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng định phí trong tổ chức DN Do vậy, ĐBKD sẽ lớn ở các DN có tỷ lệ định phí cao hơn biến phí trong tổng chi phí và nhỏ ở các DN có kết cấu chi phí ngược lại Điều này cũng có nghĩa là DN có ĐBKD lớn thì tỷ lệ định phí trong tổng chi phí lớn

Trang 11

hơn biến phí, do đó lợi nhuận của DN sẽ rất nhạy cảm với thị trường doanh thu biến động, bất kỳ sự biến động nhỏ nào của doanh thu cũng sẽ gây ra biến động lớn về lợi nhuận

Độ lớn của ĐBKD ở một mức doanh thu nhất định của DN được xác định theo công thức sau:

Độ lớn của ĐBKD = (Tổng SDĐP)/(Lãi thuần)=(Tổng SDĐP)/(Tổng Định phí)

SDĐP-Độ lớn ĐBKD là một công cụ đo lường ở mức doanh thu nhất định, khi có 1% doanh thu thay đổi thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận

Mặc dù có những hạn chế nhất định, song lý thuyết về mối quan hệ CVP nói chung, điểm hòa vốn nói riêng vẫn có những ý nghĩa to lớn trong nghiên cứu lý luận và ứng dụng thực tiễn Việc nghiên cứu mối quan hệ CVP là phần không thể thiếu trong tác nghiệp của nhà quản lý nhưng cũng cần phải thận trọng khi

sử dụng kết quả phân tích mối quan hệ này

Giải pháp ứng dụng phân tích CVP trong doanh nghiệp thương mại

Hiện nay, việc phân tích mối quan hệ CVP trong các DN thương mại ngày càng trở nên quan trọng Thực tế cho thấy, nếu các DN vận dụng linh hoạt mối quan

hệ đó sẽ thu được lợi ích kinh tế như mong muốn, tận dụng được tối đa nguồn lực kinh doanh của mình Tuy nhiên, hiện nay việc phân tích mối quan hệ CVP truyền thống mà các DN thương mại hiện đang sử dụng có nhiều hạn chế vì: Không xem xét đến chi phí sử dụng vốn, chi phí chìm, chi phí khác mà kế toán quản trị không xét đến của mỗi quyết định kinh doanh; Không xem xét đến cấu trúc tài sản cần cho mỗi quyết định; Không xem xét đến rủi ro của mỗi quyết định; Chưa xem xét đến chi phí cơ hội của từng phương án kinh doanh

Với các lý do trên, việc tính lợi nhuận chưa phải là con số chính xác, vì vậy tác giả đề xuất một số giải pháp sau:

Về việc áp dụng hệ thống kế toán quản trị

Tại nhiều quốc gia, việc áp dụng kế toán quản trị trong DN không hề mới

Trang 12

nhưng tại Việt Nam, kế toán quản trị mới chỉ được ghi nhận chính thức trong Luật Kế toán và Thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp Chính vì vậy, để phát huy hết thế mạnh, khắc phục những hạn chế của mình, các DN cần tiến hành xây dựng một hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh cũng như áp dụng công tác kế toán quản trị và áp dụng như một hệ thống thiết yếu trong quá trình kinh doanh

DN cần nhanh chóng phát phát triển và kiện toàn hệ thống xử lý thông tin hoạt động kinh doanh tự động hóa Đây là điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật tiền để áp dụng kế toán quản trị và kế toán quản trị chỉ có thể, tác động tích cực, hiệu quả với điều kiện xử lý thông tin hiện đại

Về việc tăng doanh thu

Để tăng doanh thu, DN cần nắm vững nhu cầu thị trường, đánh giá vòng đời phát triển của sản phẩm; Tích cực khai thác nguồn hàng tốt, phương thức mua bán thuận tiện

Về việc kiểm soát và giảm chi phí

Để quản trị chi phí hiệu quả, DN cần tập trung làm tốt việc: Tiến hành phân tích và đưa ra một cơ cấu chi phí và nguồn vốn huy động tối ưu cho từng đơn vị trong toàn

DN trong từng thời kỳ; Thiết lập một chính sách phân chia chi phí cùng các mức lợi nhuận hợp lý; Kiểm soát về việc sử dụng tài sản trong DN, tránh tình trạng sử dụng lãng phí, sai mục đích; Thu nhập thông tin về chi phí thực tế và lập định mức chi phí; Phân tích biến động giá cả trên thị trường định kỳ

Để cắt giảm chi phí được hiểu quả, DN cần, phân tích quy trình tạo nên giá trị gia tăng để biết đâu là chi phí tốt, chi phí xấu; Xác định mức tồn kho hợp lý, dự toán tình hình thị trường, tránh sự gia tăng giá quá cao sẽ gây ảnh hưởng nhiều đến chi phí, lợi nhuận; Lập dự toán chi phí ngắn hạn; Thực hiện công khai chi phí và đề ra những biện pháp cụ thể tiết kiệm chi phí.Ngoài ra định kỳ, DN nên tiến hành phân tích tình hình lợi nhuận để thường xuyên thấy được những biến động của lợi

Trang 13

nhuận, qua đó thấy được nguyên nhân tăng, giảm lợi nhuận, từ đó đề ra những biện pháp khắc phục kịp thời những hạn chế, đồng thời phát huy tối đa những điểm mạnh sao cho mang lại hiệu quả cao nhất

5 Thông tin thích hợp cho việc ra quyết định kinh doanh ngắn hạn

Thông tin được xem là thích hợp cho việc ra quyết định (the relevant information)

là những thông tin sẽ chịu ảnh hưởng bởi quyết định đưa ra Nói rõ hơn, đó là các khoản thu nhập hay chi phí mà sẽ có sự thay đổi về mặt lượng (hạn chế một phần hoặc toàn bộ) như là kết quả của quyết định lựa chọn giữa các phương án trong một tình huống cần ra quyết định, do đó nó còn được gọi là thu nhập hay chi phí chênh lệch (differential revenues hay differential costs) Rõ ràng là những khoản thu nhập hay chi phí độc lập với các quyết định, không chịu ảnh hưởng bởi các quyết định thì sẽ không có ích gì trong việc lựa chọn phương án hành động tối ưu Thông tin về các khoản thu nhập và chi phí này phải được xem là thông tin không thích hợp cho việc ra các quyết định (the irrelevant information)

Trong chương 2, khi nghiên cứu về các cách phân loại chi phí, chúng ta đã được biết các chi phí lặn là một dạng thông tin không thích hợp, cần phải nhận diện và loại trừ trong tiến trình phân tích thông tin để ra quyết định Phần tiếp theo, chúng

ta cũng sẽ biết thêm là thông tin về các khoản thu nhập và chi phí như nhau ở các phương án cũng được xem là thông tin không thích hợp Nhưng vấn đề đặt ra là vì sao chúng ta cần thiết phải nhận diện và loại trừ thông tin không thích hợp trong tiến trình ra quyết định? Có ít nhất hai lý do để trả lời câu hỏi này:

Thứ nhất, trong thực tế, các nguồn thông tin thường là giới hạn, do vậy việc thu thập một cách đầy đủ tất cả các thông tin về thu nhập và chi phí gắn liền với các phương án của các tình huống cần ra quyết định là một việc rất khó khăn, đôi khi là không có khả năng thực hiện Trong tình trạng luôn đói diện với sự khan hiếm về các nguồn thông tin như vậy, việc nhận diện được và loại trừ các thông tin không thích hợp trong tiến trình ra quyết định là hết sức cần thiết Có như vậy, các quyết định đưa ra mới nhanh chóng, bảo đảm tính kịp thời

Trang 14

Thứ hai, việc sử dụng lẫn lộn các thông tin thích hợp và thông tin không thích hợp trong tiến trình ra quyết định sẽ làm phức tạp thêm vấn đề, làm giảm sự tập trung của các nhà quản lý vào vấn đề chính cần giải quyết Hơn thế nữa, nếu sử dụng các thông tin không thích hợp mà có độ chính xác không cao thì rất dễ dẫn đến các quyết định sai lầm Do vậy, cách tốt nhất là tập trung giải quyết vấn đề chỉ dựa trên các thông tin thích hợp, góp phần nâng cao chất lƣợng của các quyết định đƣa ra

Trang 15

Chương 4: Dự toán sản xuất kinh doanh

1 Khái quát về dự toán sản xuất kinh doanh

1.1 Khái niệm và vai trò của dự toán

Mục tiêu hoạt động của một doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận nhưng để tối đa hóa được lợi nhuận doanh nghiệp cần có kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu đó

Dự toán chính là các kế hoạch cụ thể để doanh nghiệp có thể đạt được những mục tiêu của mình Dự toán là những dự kiến chi tiết về tình hình huy động và sử dụng các yếu tố sản xuất, các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp diễn ra một cách bình thường, góp phần nâng cao hiệu quả của mọi hoạt động

Dự toán có ý nghĩa quan trọng trong bất kỳ một tổ chức hoạt động nào, các ý nghĩa

đó thường cụ thể như sau: • Trước tiên dự toán giữ vai trò là thước đo đánh giá kết quả hoạt động thực tế Từ sự so sánh giữa dự toán và thực tế nhà quản trị mới phát hiện ra ngững nguyên nhân ảnh hưởng và đề xuất những giải pháp phù hợp • Dự toán chính là bức tranh kinh tế mô tả doanh nghiệp như một chỉnh thể Do đó dự toán chính là cơ sở để các nhà quả trị phối hợp hoạt động giữa các bộ phận trong doanh nghiệp

Dự toán có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Chính vì vậy để đảm bảo tính khả thi của dự toán thì chúng cần được xây dựng trên các cơ sở khoa học nhất định như sau:

- Định mức chi phí (đây được coi là vấn đề then chốt của dự toán)

- Thông tin từ kết quả hoạt động thực tế và dự toán của kỳ trước

- Những biến động về giá của các yếu tố liên quan đến chi phí

- Dựa trên các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách thuế, ngoại tệ

- Căn cứ vào trình độ chuyên môn của các chuyên gia lập dự toán

1.2 Hệ thống dự toán sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp

Muốn lập được một bản dự toán sản xuất kinh doanh tốt, doanh nghiệp cần dựa vào một số chỉ tiêu làm cơ sở căn cứ, dưới đây là danh sách các chỉ tiêu đó

Trang 16

Dự toán tiêu thụ sản phẩm

Cơ sở để xác định dự toán tiêu thụ là khối lượng sản phẩm, hàng hóa và đơn giá bán của sản phẩm hàng hóa dự kiến sẽ tiêu thụ

Dự toán sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ và tồn kho cuối kỳ

Đây chính là công việc dự kiến số sản phẩm cần phải sản xuất hoàn thành để đáp

ứng yêu cầu tiêu thụ Để lên được dự toán này cần phải dựa trên các căn cứ như:

dự toán tiêu thụ về khối lượng sản phẩm tiêu thụ, sản phẩm tồn kho đầu kì và tồn kho cuối kỳ theo dự kiến

Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Lượng nguyên vật liệu mua vào, tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ cùng với những yếu tố ảnh hưởng nói trên chính là các vấn đề cần lưu ý khi lập dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Dự toán nhân công trực tiếp

Doanh nghiệp cần dự toán được tổng số lượng thời gian cần thiết để hoàn thành khối lượng sản phẩm sản xuất và đơn giá thời gian lao động trực tiếp (đơn giá giờ công) Đây chính là công việc cần làm khi dự toán chi phí nhân công trực tiếp

Lưu ý: khi lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp phải chú ý đến kết cấu công nhân, trình độ thành thạo của từng loại thì mới lập được dự toán chính xác

Dự toán chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung gồm nhiều khoản chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí Cách lập dự toán này đó là tính toán riêng biến phí và định phí, sau đó tổng hợp lại

Dự toán thành phẩm tồn kho cuối kỳ

Thành phẩm tồn kho cuối kỳ là số thành phẩm dự trữ chuẩn bị cho việc tiêu thụ của kỳ sau Việc dự toán chính xác và hợp lý thành phẩm tồn kho cuối kỳ là cơ sở quan trọng để đáp ứng yêu cầu bán ra, phục vụ khách hàng một cách kịp thời, nâng cao uy tín doanh nghiệp

Dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp

Trang 17

Đây là những khoản dự toán có thể tính trước được, dựa vào các tiêu chí về bán hàng hay quản lý doanh nghiệp của từng đơn vị

Dự toán vốn bằng tiền

Để phòng tránh những rủi ro và chuẩn bị cho mọi tình huống có thể xảy ra, doanh nghiệp cần dự toán vốn bằng tiền của mình

Dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Đây là loại dự toán mang tính tổng hợp nhất Dự toán báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cần dựa trên căn cứ của dự toán tiêu thụ, dự toán giá vốn hàng bán (gồm giá vốn hàng xuất kho, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp)

1.3 Trình tự lập dự toán sản xuất kinh doanh

Tùy theo đặc điểm tổ chức quản lý của từng doanh nghiệp mà các nhà quản trị có thể lập dự toán theo trình tự áp đặt hoặc trình tự không áp đặt Song lập dự toán theo cách nào cũng cần tuân thủ các bước cơ bản sau:

- Dự toán thường được bộ phận có chức năng xây dựng dựa trên những cơ sở khoa học thu thập từ các đơn vị cấp cơ sở

- Sau đó dự toán được chuyển cho các bộ phận chức năng như các phòng, ban kỹ thuật thẩm định, phân tích tính khả thi của dự toán, sau đó bổ sung những mặt còn hạn chế để cho dự toán hoàn thiện hơn

- Cuối cùng dự toán được chuyển cho cấp quản trị cao phê duyệt và cuối cùng chuyển tới các bộ phận cơ sở thực hiện

2 Xây dựng định mức chi phí sản xuất kinh doanh

2.1 Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

• Chi phí nguyên vật liệu được cấu thành từ hai yếu tố là số lượng vật liệu tiêu hao cho một sản phẩm (định mức tiêu hao) và đơn giá của một đơn vị vật liệu đó • Định mức tiêu hao nguyên vật liệu thường phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm cũng như tay nghề của người lao động • Định mức giá (đơn giá) của vật liệu phụ thuộc vào sự biến động của giá cả thị trường cũng như những

Trang 18

chi phí phát sinh trong quá trình thu mua vật liệu như chi phí về hao hụt, chi phí vận chuyển

Định mức chi phí nguyên vật liệu cho 1 sản phẩm = Số lượng vật liệu tiêu hao cho

1 sản phẩm  Đơn giá thực tế nguyên vật liệu

2.2 Định mức chi phí nhân công trực tiếp

Chi phí nguyên vật liệu được cấu thành từ hai yếu tố là thời gian lao động cần thiết

để tạo ra một sản phẩm (định mức thời gian) và đơn giá của một đơn vị thời gian lao động (giờ hoặc ngày công) • Định mức thời gian lao động là thời gian cần thiết

để tạo ra một sản phẩm trong điều kiện sản xuất bình thường có tính đến thời gian nghỉ ngơi, thời gian bảo dưỡng máy móc Định mức thời gian lao động phụ thuộc rất nhiều vào tay nghề của lao động • Định mức giá (đơn giá) thời gian lao động phụ thuộc vào trình độ của người công nhân và các khoản phụ cấp đi kèm

Định mức chi phí nhân công trực tiếp 1 sản phẩm = Thời gian sản xuất cho 1 sản phẩm  Đơn giá thời gian lao động

2.3 Định mức chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung là chi phí hỗn hợp bao gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tố của chi phí thường bao gồm phần định phí và biến phí Do vậy xây dựng định mức chi phí sản xuất chung cần gắn với từng yếu tố chi phí cụ thể Chi phí sản xuất chung biến đổi thường phát sinh một cách tỷ lệ với các chi phí trực tiếp nên các định mức của chi phí này thường được xác định dựa trên các định mức chi phí trực tiếp như thời gian lao động trực tiếp hoặc, định mức tiêu hao nguyên vật liệu trực tiếp Định mức biến phí SXC cho 1 sản phẩm = Định mức chi phí trực tiếp cho 1 sản phẩm  Tỷ lệ phân bổ biến phí SXC

3 Lập dự toán sản xuất kinh doanh

3.1 Dự toán tiêu thụ

• Tiêu thụ là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh tuy nhiên khi lập dự toán thì đây là là khởi nguồn của cả hệ thống

Ngày đăng: 07/05/2021, 16:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm