1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Vai trò của mô hình 3 nhân tố Fama – French trong ước lượng tỷ suất sinh lời cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam

7 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 439,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày hệ thống hoá nội dung mô hình 3 nhân tố FAMA – FRENCH và việc áp dụng mô hình này khi ước lượng Tỷ suất sinh lời cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đánh giá vai trò của mô hình trong ước lượng tỷ suất sinh lời cổ phiếu so với các mô hình khác trên thị trường chứng khoán.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA MÔ HÌNH 3 NHÂN TỐ FAMA – FRENCH TRONG ƯỚC LƯỢNG TỶ SUẤT SINH LỜI CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Vũ Thị Phương Thảo

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên

Ngày tòa soạn nhận được bài báo: 15/10/2018 Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 02/11/2018 Ngày bài báo được duyệt đăng: 28/11/2018

Tóm tắt:

Tỷ suất sinh lời cổ phiếu là thông tin quan trọng đối với các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán

Để giúp xác định tỷ suất sinh lời và rủi ro trong đầu tư chứng khoán, trên thị trường có rất nhiều mô hình định giá tài sản Tuy nhiên, các nghiên cứu qua các năm chỉ ra rằng mô hình 3 nhân tố FAMA – FRECH là phù hợp hơn cả và giải thích tốt hơn về qui luật lợi suất sinh lời và rủi ro của cổ phiếu Cụ thể, ba nhân tố của mô hình cho thấy mối tương quan thuận chiều hoặc nghịch chiều với tỷ suất sinh lời của cổ phiếu, mô hình này giải thích tốt hơn sự ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu so với các mô hình khác như mô hình CAPM, mô hình 5 nhân tố FAMA – FRENCH…

Từ khóa: mô hình 3 nhân tố Fama – French, Tỷ suất sinh lời cổ phiếu.

1 Đặt vấn đề

Với sự phát triển nhanh chóng của TTCK

Việt Nam, việc đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán

trở thành một kênh đầu tư khá hấp dẫn đối với các

nhà đầu tư Tuy nhiên, với bản chất là thị trường

mới nổi, còn non trẻ và chứa nhiều biến động thì

việc đầu tư vào TTCK VN cũng chứa đựng không ít

rủi ro Điều này được thể hiện rõ qua tình hình biến

động chỉ số Vn-Index 18 năm qua Đo lường được

tỷ suất sinh lời và rủi ro thị trường của cổ phiếu luôn

là thông tin quan tâm hàng đầu với các nhà đầu tư

hiện nay nhằm đạt được kết quả đầu tư tốt nhất

Mô hình ba nhân tố của hai tác giả

Fama-French được giới thiệu vào năm 1993 để lượng hóa

mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi đã được

kiểm định là có hiệu quả tại các thị trường chứng

khoán phát triển cũng như mới nổi Theo mô hình

thì Tỷ suất sinh lời của cổ phiếu phụ thuộc vào ba

nhân tố là mức lợi nhuận kỳ vọng của toàn bộ thị

trường, bình quân chênh lệch trong quá khứ giữa

lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty nhỏ so với lợi

nhuận danh mục cổ phiếu công ty lớn, bình quân

chênh lệch trong quá khứ giữa lợi nhuận danh mục

cổ phiếu công ty có tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị

trường cao so với công ty có giá trị này thấp

Hiện tại, mô hình này còn thực sự hiệu quả

khi ước lượng tỷ suất sinh lời cổ phiếu và vai trò của

mô hình này trên thị trường chứng khoán Việt Nam,

từ đó nghiên cứu này làm rõ các vấn đề:

- Hệ thống hoá nội dung mô hình 3 nhân tố

FAMA – FRENCH và việc áp dụng mô hình này khi

ước lượng Tỷ suất sinh lời cổ phiếu trên thị trường

chứng khoán Việt Nam

- Đánh giá vai trò của mô hình trong ước lượng tỷ suất sinh lời cổ phiếu so với các mô hình khác trên thị trường chứng khoán

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu vai trò của mô hình 3 nhân tố FAMA – FRENCH trong ước lượng Tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu vai trò của mô hình 3 nhân tố FAMA – FRENCH trong ước lượng Tỷ suất sinh lời

cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn hiện nay

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích

và tổng kết kinh nghiệm, phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, phương pháp phân tích hồi qui kinh tế lượng

mô hình FAMA – FRENCH qua phần mềm Eview

3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Nội dung của mô hình ba nhân tố FAMA - FRENCH

Fama-French nghiên cứu dựa trên hai loại cổ phiếu có đặc tính như sau: (i) cổ phiếu của công ty

có quy mô nhỏ và (ii) cổ phiếu có hệ số giá trị sổ sách trên giá thị trường (BE/ME) cao (hay còn được gọi là những cố phiếu “giá trị”) Sau đó, hai ông đã thêm hai nhân tố vào mô hình CAPM để phản ảnh

sự nhạy cảm của danh mục đối với hai loại cổ phiếu này [1]:

Trang 2

E(Ri) = Rf + β.[(E(Rm) - Rf ] + si E(SMB) + hi E(HML)

Trong đó:

• E(Ri) là mức lợi nhuận cho danh mục i

• Rf là mức lợi nhuận không rủi ro

bộ thị trường

• SMB là bình quân chênh lệch trong quá

khứ giữa lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty nhỏ

so với lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty lớn

• HML là bình quân chênh lệch trong quá

khứ giữa lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty có tỷ

số giá trị sổ sách trên giá thị trường cao so với công

ty có giá trị này thấp

• β là hệ số hồi quy cho nhân tố phần bù rủi

ro của danh mục cổ phiếu

• si là hệ số hồi quy cho nhân tố SMB

• hi là hệ số hồi quy cho nhân tố HML

Mô hình Fama-French vẫn cho rằng tỷ suất

sinh lợi cao là phần thưởng cho sự chấp nhận rủi

ro cao Hệ số si và hi lần lượt đo lường mức độ

ảnh hưởng của hai nhân tố SMB và HML đến tỷ

suất sinh lợi của danh mục i Danh mục i bao gồm

những cổ phiếu giá trị sẽ có hệ số hi cao và ngược

lại đối với danh mục bao gồm những cổ phiếu tăng

trưởng sẽ có hi thấp Tương tự, danh mục i bao gồm

những cổ phiếu có vốn thị trường cao thì sẽ có hệ

số si thấp và ngược lại đối với những danh mục bao

gồm những cổ phiếu có vốn thị trường thấp thì hệ

số si cao

3.2 Áp dụng mô hình ba nhân tố FAMA –

FRENCH để ước lượng Tỷ suất sinh lời của cổ

phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trên thực tế, khi áp dụng mô hình ba nhân

tố Fama – French tại Việt Nam, nghiên cứu tỷ suất

sinh lời của cổ phiếu thường được chia thành các

bước sau:

- Phân chia danh mục đầu tư: Danh mục cổ

phiếu được xây dựng dựa trên hai yếu tố là quy mô

công ty và tỷ số BE/ME Ở đây, ta sử dụng giá trị

vốn hóa thị trường để đo quy mô công ty, cụ thể nếu

giá trị vốn hóa thị trường của một công ty nhỏ hơn

hoặc bằng 50% mức vốn hóa trung bình của toàn bộ

thị trường thì được xếp vào nhóm có quy mô nhỏ

(S) và ngược lại, thì được xếp vào nhóm có quy mô

lớn (B) Còn đối với yếu tố tỷ số BE/ME, giá trị này

sẽ được sắp xếp theo thứ tự tăng dần trong tập hợp

những cổ phiếu cần nghiên cứu Nếu cổ phiếu của

những công ty có tỷ số BE/ME thuộc nhóm 50% giá

trị thấp sẽ được xếp vào nhóm thấp (L) và phần còn

lại thì sẽ được xếp vào nhóm cao (H) Như vậy, ta sẽ

xây dựng bốn danh mục đầu tư cổ phiếu dựa trên hai

yếu tố phân loại của quy mô và hai yếu tố phân loại

của tỷ số BE/ME Bốn danh mục đó có thể được ký hiệu như sau S/L, S/H, B/L, B/H Chẳng hạn S/L là danh mục gồm cổ phiếu của những công ty có quy

mô nhỏ và tỷ số BE/ME thấp Cách lý luận tương tự cho những danh mục còn lại

- Tỷ suất sinh lợi thị trường của danh mục: Dựa vào giá trị đóng cửa hàng ngày của cổ phiếu, ta xác định suất sinh lợi cho từng cổ phiếu trong bốn danh mục trên thông qua chọn suất sinh lợi ngày vì

sẽ phản ánh được mức độ giao động giá hàng ngày của cổ phiếu Nếu gọi Pt là giá của cổ phiếu tại ngày

t, Pt-1 là giá của cổ phiếu tại thời điểm ngày t – 1, ta

có tỷ suất sinh lợi thị trường ngày cổ phiếu như sau:

r t P P P

t

1

1

Từ đó, tỷ suất sinh lợi ngày cho danh mục được tính là giá trị trung bình suất sinh lợi ngày của các cổ phiếu có trong danh mục

- Tính toán hai nhân tố SMB và HML: + Chênh lệch suất sinh lợi ngày của các nhóm công ty có quy mô nhỏ so với nhóm công ty

có quy mô lớn

SMB = (S/L+S/H)/2 – (B/L+B/H)/2 + Chênh lệch suất sinh lợi ngày của nhóm công ty có tỷ số BE/ME cao so với nhóm công ty có

tỷ số BE/ME thấp

HML = (S/H+B/H)/2 – (S/L+B/L)/2

- Tính toán Rm và Rf : Rf là tỷ suất sinh lợi thu được từ các khoản đầu tư không rủi ro được tính bằng lãi suất của trái phiếu Chính phủ có kỳ

thường giá trị này được chọn là chỉ số thị trường nơi mà cổ phiếu niêm yết Theo đó nếu tính toán cho các cổ phiếu niêm yết tại HoSE thì ta chọn chỉ

tuần t và VnIndext-1 là chỉ số VnIndex ở tuần t-1 thì suất sinh lợi ngày của VnIndex được tính như sau:

r VnIndex VnIndex VnIndex VnIndex

t

1

1

Sau đó, ta sử dụng các phương pháp phân tích kinh tế lượng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố và mối liên hệ giữa các nhân tố trong

mô hình như Phân tích tương quan (Corellation Analysis) [9, tr 615], Phân tích hồi quy tuyến tính (Linear Regression) [9, tr 600]

3.3 Đánh giá vai trò của mô hình ba nhân tố Fama – French trong tương quan với các mô hình khác

Cho đến thời điểm hiện nay, tại Việt Nam chưa có công bố chính thức nào liên quan đến việc các nhà đầu tư và các định chế tài chính như ngân

Trang 3

hàng sử dụng các mô hình đầu tư tài chính để xác

định lợi suất yêu cầu khi tham gia đầu tư chứng

khoán Vì vậy, để đưa ra được cái nhìn chung về

thực trạng ứng dụng các mô hình dự báo lợi suất

tại Việt Nam, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu từ

các bài định giá của các công ty chứng khoán sử

dụng tại nhiều thời điểm khác nhau Nhìn chung,

việc định giá thường sử dụng phương pháp định

giá tương đối như giá trên thu nhập P/E, giá trị thị

trường trên giá trị sổ sách P/B hay phương pháp

triết khấu dòng tiền như dòng tiền tự do trên vốn

công ty FCFF, dòng tiền tự do trên vốn chủ sở hữu

FCFF hay kết hợp các phương pháp đó Tại Việt

Nam, trong các báo cáo phân tích chuyên sâu được

công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng,

cổ phiếu của các doanh nghiệp thường được định

giá theo các phương pháp khác nhau và mức giá

xác định cuối cùng thường là mức giá trung bình

từ kết quả đạt được của mỗi phương pháp, tính đến

trọng số của mức giá khác chưa công ty nào công

bố chính thức sử dụng cho hệ số β được nhiều trang

web về tài chính đưa ra

Để đánh giá được tính chính xác và đúng

đắn của các phương pháp định giá trên trong việc

xác định lợi suất sinh lợi hợp lý, ta so sánh giá của

các cổ phiếu mà các công ty định giá đưa ra nhận

định nên mua, bán, tạm thời nắm giữ so với giá của

các cổ phiếu biến động thực tế trên sàn HOSE ngay

sau thời gian đó Ta thấy rằng có sự khác biệt đáng

kể giữa giá theo phương pháp định giá và giá của

thị trường qua các phiên giao dịch thậm chí chiều

hướng biến động ngược lại so với lời khuyên nên

mua hay nên bán từ phía các công ty định giá

Mặt khác tập hợp các kết luận, đánh giá từ

các công trình nghiên cứu được công bố trên thị trường tới thời điểm hiện tại gồm: Một nghiên cứu thực nghiệm đối với thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2008; Mô hình ba nhân tố Fama – French hoạt động như thế nào trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2010; Mô hình ba nhân tố Fama – French: Các bằng chứng thực nghiệm tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh năm 2014; Mô hình định giá tài sản hợp lý tại Việt Nam năm 2014; Áp dụng mô hình định giá tài sản để xác định lợi suất kỳ vọng của cổ phiếu: trường hợp các doanh nghiệp sản xuất thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2015; Hiệu quả đầu tư theo ngành tại Việt Nam năm 2015; Vận dụng mô hình Fama – French năm nhân tố để ước lượng tỷ suất lợi tức kỳ vọng của các cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh năm 2017 Tác giả đánh giá vai trò mô hình ba nhân tố FAMA – FRENCH như sau:

Thứ nhất, Theo kết quả nghiên cứu thị

trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 01/01/2006 đến 31/12/2012 của tác giả Trương Đông Lộc và Dương Thị Hoàng Trang chỉ ra rằng mô hình 3 nhân

tố Fama-French có khả năng giải thích tốt sự thay đổi tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu tại HOSE và kết quả thu được từ mô hình này sẽ phản ánh đầy đủ hơn sự thay đổi tỷ suất sinh lợi so với mô hình truyền thống CAPM, ba nhân tố của mô hình có tương quan tỷ lệ thuận với lợi nhuận của cổ phiếu Thông qua việc sử dụng mô hình Fama-French để đánh giá những yếu

tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi trong quá khứ sẽ giúp nhà đầu tư rút ra những bài học, kinh nghiệm

để hoạt động đầu tư trong tương lai được hiệu quả, giảm thiểu các rủi ro không đáng có [4, tr 67]

Bảng 1 Ảnh hưởng của các nhân tố lên tỷ suất sinh lời của 6 danh mục nghiên cứu

(Nguồn: nghiên cứu của tác giả Trương Đông Lộc và Dương Thị Hoàng Trang)

Trang 4

Bảng 2 Kết quả ước lượng lợi suất kỳ vọng của của cổ phiếu 10 doanh nghiệp ngành thép trong mối tương

quan với một số chỉ tiêu đo lường lợi suất thực tế

(Đơn vị: phần trăm)

(Nguồn: nghiên cứu của tác giả Lê Phương Lan)

1 : Bằng trung bình cộng của APT, APT’ và APT’’

Thứ hai, nghiên cứu cùng giai đoạn 2007

đến năm 2011, về các mô hình định giá tài sản hợp

lý tại Việt Nam nhóm tác giả Trần Viết Hoàng kết

luận thêm rằng kết quả hồi qui các mô hình CAPM,

mô hình FAMA – FRECNCH ba nhân tố (FF3), mô

hình FAMA – FRECNCH ba nhân tố kết hợp với

tính thanh khoản theo hai phương pháp GMS và

GMM cho thấy, mô hình FF3 là tốt hơn mô hình

CAPM và nếu kết hợp thêm biến thanh khoản thì

kết quả còn tốt hơn nữa [5, tr 69, tr 70]

Thứ ba, mô hình năm nhân tố FAMA –

FRENCH đưa thêm hai biến mới là biến lợi nhuận

và biến khuynh hướng đầu tư so với mô hình ba

nhân tố FAMA – FRENCH được tác giả Huỳnh

Ngọc Minh Trâm nghiên cứu trên thị trường chứng

khoán Việt Nam trong khoảng thời gian từ tháng

01/01/2014 đến 19/10/2016 Kết quả kiểm định hệ

số chặn α cho thấy năm nhân tố trên chưa giải thích hết được sự biến động của tỷ suất sinh lời trên thị trường chứng khoán Việt Nam hoặc còn có yếu tố nào khác ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu tại Việt Nam Mặt khác, nghiên cứu cũng khẳng định thêm rằng, trong năm nhân tố trên thì ba nhân tố thì

ba nhân tố ban đầu là nhân tố thị trường E(Rm), nhân

tố qui mô SMB và nhân tố giá trị HML là có ảnh hưởng đến tỷ suất lợi tức của các cổ phiếu tại Việt Nam Và trong ba nhân tố này thì nhân tố qui mô SMB tác động mạnh hơn đến tỷ suất lợi tức của cổ phiếu, cho thấy trước đây các nhà đầu tư nhìn vào

xu hướng thị trường để đầu tư thì hiện nay đã quan tâm nhiều hơn đến yếu tố qui mô trong việc ra quyết định đầu tư [8, tr 21]

Tuy nhiên theo nghiên cứu của tác giả Lê

Phương Lan khi xác định tỷ suất sinh lời của các cổ

phiếu ngành thép trên thị trường chứng khoán Việt

Nam trong khoảng thời gian từ 8/2010 đến tháng

8/2013 trong kết luận thứ ba chỉ ra mô hình APT là

hiệu quả và giải thích tốt hơn so với mô hình CAPM

và mô hình FAMA – FRENCH, lí do đưa ra là gặp khó khăn khi thống kê biến SMB và HML do điều kiện đặc thù của thị trường chứng khoán tại thời điểm nghiên cứu [6, tr 114]

Trang 5

Bảng 3 Kết quả hồi qui các danh mục đầu tư theo mô hình năm nhân tố FAMA - FRENCH

(Nguồn: Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Ngọc Minh Trâm)

Thứ tư, theo nghiên cứu của tác giả khi xử

lý chuỗi dữ liệu trên thị trường chứng khoán Việt

Nam trong khoảng thời gian từ tháng 8/2015 đến

tháng 11/2018, trong việc ước lượng tỷ suất sinh

lời của cổ phiếu STB thông qua mô hình FAMA

– FRENCH ba nhân tố cho thấy mô hình này giải

thích rất tốt sự ảnh hưởng của các nhân tố tới lợi

suất của cổ phiếu STB với mức ý nghĩa 5% thì giá

trị P –value là 0.000000 đạt yêu cầu Cụ thể, yếu tố thị trường và yếu tố giá trị công ty là tỷ lệ thuận với

tỷ suất sinh lời cổ phiếu, còn yếu tố qui mô công

ty cho thấy sự biến động ngược chiều So sánh hai

mô hình FAMA-FRENCH ba nhân tố và CAPM ta

chỉnh cho thấy mô hình nghiên cứu có mức độ giải thích cao hơn so với mô hình FAMA

Bảng 4 Kết quả hồi quy các biến theo mô hình FAMA - FRENCH

Dependent Variable: RI

Method: Least Squares

Date: 12/18/18 Time: 08:19

Sample: 1 39

Included observations: 39

(Nguồn: tính toán và hồi qui của tác giả dựa trên 39 quan sát của nghiên cứu)

Trang 6

Xét thêm thống kê F, ta tính được chỉ tiêu

này là -0,61379 nhỏ hơn Fc(2, 34) bằng 5,390 (tra bảng

phân phối Fisher), khẳng định mô hình FAMA–

FRENCH giải thích tốt hơn mô hình CAPM

Tuy nhiên, hạn chế của đề tài là nhân tố qui

mô công ty SMB chưa giải thích tốt cho sự thay đổi của tỷ suất sinh lời của cổ phiếu STB điều này tạm thời được lí giải do đặc thù ngành ngân hàng

Bảng 5 Kết quả phân tích thống kê sơ bộ mô hình ba nhân tố FAMA -FRENCH

Mean -0.004315 -0.007921 -0.002672 -0.002983 0.010407 0.010440 -0.000464 0.015344

Median -0.012879 -0.007750 0.002585 -0.003839 0.000881 0.013945 -0.002698 0.022647 Maximum 0.171572 0.125063 0.091465 0.059611 0.180803 0.099496 0.089423 0.098953 Minimum -0.191375 -0.070182 -0.135254 -0.077413 -0.144916 -0.116808 -0.082334 -0.107871 Std Dev. 0.081747 0.032975 0.043270 0.030181 0.065458 0.043600 0.042801 0.045285

Skewness 0.004281 1.387887 -0.684117 -0.516536 -0.002189 -0.480090 0.093136 -0.665655 Kurtosis 2.530314 8.318176 4.280160 3.483763 3.562674 3.589985 2.587600 3.435405

Jarque-Bera 0.358602 58.48036 5.705172 2.114554 0.514509 2.063797 0.332753 3.188193 Probability 0.835854 0.000000 0.057695 0.347401 0.773171 0.356330 0.846727 0.203092

Sum Sq Dev 0.253935 0.041320 0.071147 0.034614 0.162820 0.072235 0.069612 0.077928

Nguồn: Phân tích số liệu lợi suất bằng phần mềm Eview của tác giả)

Thêm vào đó theo nghiên cứu của Fama và

French quan sát và phát hiện ra rằng, có hai loại cổ

phiếu có xu hướng tốt hơn so với toàn bộ thị trường

đó là cổ phiếu của các công ty có quy mô (giá trị

vốn hóa thị trường) nhỏ và cổ phiếu của những

công ty giá trị (có tỷ lệ BE/ME cao) Tuy nhiên theo

bảng kết quả 5 ta thấy, cổ phiếu của 2 nhóm công

ty có giá trị thấp (có tỷ lệ BE/ME thấp) thì có lợi

suất trung bình cao hơn 2 nhóm công ty có giá trị

cao, điều này ngược lại với nhận định của Fama và

French, tuy nhiên nó phù hợp với tình hình trên thị

trường chứng khoán Việt Nam bởi vì hiện tại những

công ty có tỷ số BE/ME thấp là do ME cao, không

phải do BE thấp, có nghĩa thị trường đang trả giá rất

cao cho cổ phiếu của những công ty này và đánh giá

tiềm năng giá trị của những công ty này là tốt trong

tương lai điều này cần tiếp tục nghiên cứu thêm

Kết luận

Nghiên cứu này đã chỉ ra vai trò của mô hình

ba nhân tố FAMA – FRENCH trong việc ước lượng

tỷ suất sinh lời của chứng khoán vẫn hiệu quả và chiếm ưu thế hơn hẳn so với các mô hình CAPM sau khi kế thừa các kết luận từ các công trình nghiên cứu trước đó Tuy nhiên yếu tố SMB lại cho thấy tương quan tỷ lệ nghịch với tỷ suất sinh lời của cổ phiếu và có mức độ giải thích chưa tốt Mặt khác theo kết quả phân tích sơ bộ cho thấy nhóm công

ty có tỷ số BE/ME thấp lại có tỷ suất sinh lời cao hơn do yếu tố kỹ thuật Bên cạnh đó, mô hình cũng được tiếp tục nghiên cứu thêm để phát triển thêm các nhân tố mới nhằm giải thích tốt hơn sự phụ thuộc của Tỷ suất sinh lời của cổ phiếu vào các yếu

tố trên thị trường cũng như các yếu tố thuộc về nội tại doanh nghiệp

Lời cảm ơn

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên thông qua đề tài mã số UTEHY.T004.P1718.03

Tài liệu tham khảo

[1] Eugene F Fama, Kenneth R French, Common risk factors in the returns on stocks and bonds

[2] Vương Đức Hoàng Quân, Hồ Thị Huệ, Mô hình Fama-French, Một nghiên cứu thực nghiệm đối

[3] Trần Thị Hải Lý, Mô hình ba nhân tố Fama – French hoạt động như thế nào trên thị trường chứng

Trang 7

[4] Trương Đông Lộc, Dương Thị Hoàng Trang, Mô hình ba nhân tố Fama – French, Các bằng

chứng thực nghiệm tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học Trường

Đại học Cần Thơ, 2014, Số 32, tr 61- 68.

[5] Trần Viết Hoàng, Nguyễn Ngọc Huy, Nguyễn Anh Phong, Mô hình định giá tài sản hợp lý tại

[6] Lê Phương Lan, Áp dụng mô hình định giá tài sản để xác định lợi suất kỳ vọng của cổ phiếu:

trường hợp các doanh nghiệp sản xuất thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tạp chí

Kinh tế Đối ngoại, 2015, Số 71, tr 103 -115.

[7] Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Đình Thiên, Dương Như Hùng, Hiệu quả đầu tư theo ngành tại

[8] Huỳnh Ngọc Minh Châm, Vận dụng mô hình Fama – French năm nhân tố để ước lượng tỷ suất lợi tức kỳ vọng của các cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh, Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Đà Nẵng – Đại học Kinh tế, 2017, tr 21 – 24

[9] Ngô Văn Thứ, Giáo trình thống kê thực hành, Chương 6, 2015, tr 589-635

THE ROLE OF FAMA - FRENCH THREE FACTOR MODEL IN THE ESTIMATED RATIO OF

THE STOCK RETURNS IN THE VIETNAM SECURITIES MARKET

Abstract:

Stock returns are important information for investors in the stock market To help determine profitability and risk in securities investment, there are many asset valuation models on the market However, studies over the years show that the model of FAMA - FRECH is more suitable and better explains the rule

of profitability and risk of stocks Specifically, the three factors of the model show a positive or negative correlation with the profitability of the stock, which better explains the influence of factors on the stock return rate with other models such as CAPM model, 5-factor model FAMA - FRENCH

Keywords: Fama - French 3 factor model, stock market return rate.

Ngày đăng: 07/05/2021, 16:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm