Bài giảng Kiểm toán - Bài 1: Tổng quan về kiểm toán tài chính thông qua bài học này các bạn sẽ nắm được bản chất và đặc trưng của kiểm toán tài chính; phương pháp của kiểm toán tài chính; cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán.
Trang 1Nội dung
Bản chất và đặc trưng của kiểm toán tài chính
Phương pháp của kiểm toán tài chính
Cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán
Sau khi học bài này, học viên sẽ:
Hiểu được bản chất của kiểm toán
tài chính
Nắm được đối tượng của kiểm toán tài
chính từ đó hiểu được những đặc trưng
cơ bản của kiểm toán tài chính
Hiểu cách thức tiếp cận đối tượng trong
kiểm toán tài chính từ đó nắm được
phương pháp của kiểm toán tài chính
Hiểu được cơ sở dẫn liệu trong kiểm toán
tài chính
Nắm được mục tiêu kiểm toán
8 tiết
BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH
Trang 2TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI
Tình huống dẫn nhập
Việt là chủ một công ty chuyên kinh doanh các mặt hàng văn
phòng phẩm Khi bắt đầu kinh doanh, anh thấy hài lòng với lợi
nhuận của công ty vì quy mô công ty nhỏ nhưng tỷ suất lợi
nhuận tương đối cao
Tuy nhiên thời gian gần đây, nhiều công ty có vốn đầu tư nước
ngoài kinh doanh mặt hàng văn phòng phẩm kết hợp với kinh
doanh thiết bị nội thất và thiết bị văn phòng đã bắt đầu chiếm
lĩnh thị trường
Việt nhận thấy với số vốn nhỏ và quy mô kinh doanh như hiện
nay, công ty của anh có nguy cơ sụt giảm nghiêm trọng thị phần
và lợi nhuận Chính vì vậy, anh quyết định chuyển hình thức hoạt động của công ty từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang công ty cổ phần để kêu gọi thêm cổ đông nhằm tăng cường sức mạnh tài chính cho công ty
Một trong các cổ đông tiềm năng của công ty yêu cầu anh phải kiểm toán báo cáo tài chính trước khi họ đưa ra quyết định góp vốn Việt cho rằng việc này là không cần thiết vì trước khi mở công
ty anh cũng từng làm kế toán và đã tự lập báo cáo tài chính cho chính công ty của mình Anh cho rằng việc thuê ngoài kiểm toán báo cáo tài chính là không cần thiết vì anh tin vào khả năng của mình và của các nhân viên trong phòng tài chính kế toán
Câu hỏi
Theo anh chị, Công ty của anh Việt có cần thuê kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán không? Tại sao?
Trang 31.1 Bản chất và đặc trưng của kiểm toán tài chính
1.1.1 Bản chất của kiểm toán tài chính
Thuật ngữ tính minh bạch (transparency) ngày nay
được biết đến nhiều hơn và được quan tâm đến nhiều
hơn cả ở khu vực tài chính công và khu vực kinh tế
tư nhân Nền kinh tế ngày càng phát triển, đòi hỏi về
tính minh bạch của thông tin ngày càng được đề cao
Kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng
đóng vai trò không thể thiếu để tạo được tính minh
bạch của thông tin trong nền kinh tế
Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng của kiểm toán và chứa đựng các sắc thái khác nhau của kiểm toán
Câu hỏi 1.1:
Khi đề cập đến kiểm toán tài chính, người ta sử dụng tiêu thức gì để phân loại? Còn có những loại hình kiểm toán nào khác khi phân biệt theo tiêu thức này?
Trả lời: Thực chất kiểm toán tài chính được gọi tên một cách đầy đủ là kiểm toán bảng
khai tài chính Cách gọi tên này chỉ rõ đối tượng của kiểm toán tài chính là các bảng khai tài chính
Cũng cần lưu ý là không thể đồng nhất bảng khai tài chính với báo cáo tài chính Bảng khai tài chính mang nghĩa rộng hơn và bao hàm cả báo cáo tài chính Hệ thống bảng khai tài chính bao gồm hai phân hệ: phân hệ thứ nhất là các báo cáo tài chính và phân hệ thứ hai là các bảng khai khác theo luật định.
Câu hỏi 1.2:
Có những loại báo cáo tài chính nào doanh nghiệp bắt buộc phải lập khi kết thúc kỳ kế toán? Anh chị hãy nêu những đòi hỏi quan trọng đối với báo cáo tài chính
Trả lời:
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200: “Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận phản ánh các thông tin kinh tế chủ yếu của đơn vị” Báo cáo tài chính có thể bao gồm nhiều loại theo quy định của các quốc gia khác nhau Theo Luật Kế toán của Việt Nam, các báo cáo tài chính bắt buộc của đơn vị bao gồm 4 loại là Bảng Cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính Các báo cáo này được lập cho những thời điểm nhất định như cuối mỗi kỳ kinh doanh (quý, năm)
Thông tin trên các báo cáo này thường mang tính thời điểm và bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các yếu tố khách quan và chủ quan Chính vì vậy, đòi hỏi về tính thích hợp (relevant) và tin cậy (relibility) là hai yếu tố chất lượng cơ bản được người sử dụng thông tin kế toán quan tâm nhằm có được cơ sở vững chắc cho các quyết định của mình
Ngoài các báo cáo tài chính, đối tượng của kiểm toán tài chính còn bao gồm những bảng khai
có tính pháp lý khác như Bảng dự toán các công trình xây dựng cơ bản; Bảng kê khai tài sản của các doanh nghiệp làm thủ tục cổ phần hóa hoặc làm thủ tục phá sản, thay đổi hình thức sở hữu; các bảng kê khai theo yêu cầu của ngân hàng hay chủ đầu tư.
Trang 41.1.2 Đặc trưng của kiểm toán tài chính
Kiểm toán tài chính là hoạt động cơ bản và ra đời sớm nhất của kiểm toán do đó loại hình này khắc họa rõ nét những đặc trưng của hoạt động kiểm toán Có thể xem xét các đặc trưng cơ bản của kiểm toán tài chính dựa trên các khía cạnh sau:
Kiểm toán tài chính cũng hướng đến chức năng chung của kiểm toán là xác minh
và bày tỏ ý kiến Tuy nhiên, chức năng này được cụ thể hóa trong từng điều kiện và mục đích quản lý cụ thể Kiểm toán báo cáo tài chính hướng đến mục đích lớn nhất là đưa ra ý kiến về
sự trình bày trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính và sự tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán có liên quan
Kiểm toán tài chính hướng đến tính trung thực, hợp lý và hợp pháp của bảng khai tài chính Do đó, thước đo của bảng khai tài chính là các chuẩn mực kế toán được chấp nhận và chế độ kế toán hiện hành Các chuẩn mực này có thể bao gồm cả chuẩn mực quốc tế được công nhận và chấp nhận phổ biến và chuẩn mực quốc gia Việc lựa chọn cơ sở pháp lý cho kiểm toán báo cáo tài chính hoàn toàn phụ thuộc vào mục tiêu và phạm vi của cuộc kiểm toán
Kết quả kiểm toán báo cáo tài chính phục vụ cho cả đối tượng bên trong và bên ngoài đơn vị Các đối tượng quan tâm đến kết quả của kiểm toán tài chính bao gồm:
o Nhà quản lý
o Nhà nước
o Bên thứ ba: được hiểu là các nhà đầu tư, cổ đông, các định chế tài chính
Tuy nhiên, đối tượng sử dụng thông tin chủ yếu của kiểm toán tài chính lại ở bên ngoài doanh nghiệp Sự “hướng ngoại” của kết quả kiểm toán đã ràng buộc kiểm toán tài chính vào khuôn mẫu nhất định trong việc trình bày kết quả kiểm toán
Kết quả của kiểm toán tài chính thường được trình bày bằng báo cáo kiểm toán và được quy định rõ về nội dung và hình thức trong chuẩn mực kiểm toán Sự quy chuẩn về nội dung và hình thức đối với báo cáo kiểm toán của kiểm toán tài chính giúp người sử dụng đánh giá được mức độ tin cậy của thông tin từ đó đưa ra ứng xử phù hợp
Cũng chính vì đối tượng sử dụng thông tin của kiểm toán tài chính chủ yếu ở bên ngoài doanh nghiệp nên loại hình này đòi hỏi chủ thể thực
hiện phải đảm bảo được tính khách quan Điều này
dẫn đến chủ thể chủ yếu thực hiện kiểm toán tài
chính thường chỉ có kiểm toán viên nhà nước và
kiểm toán viên độc lập Kiểm toán nội bộ chỉ thực
hiện kiểm toán tài chính theo các yêu cầu đặc biệt từ
nhà quản lý của doanh nghiệp khi cần thiết
Kiểm toán tài chính thường được cân đối trong mối quan hệ giữa kết quả kiểm toán và chi phí thực hiện Chính vì vậy, kết quả kiểm toán của cùng một đối tượng và khách thể do các chủ thể khác nhau thực hiện có thể sẽ có nhiều khác biệt Điều này đòi hỏi các chủ thể thực hiện phải tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán như một đòi hỏi tối thiểu trong quá trình thực hiện
Lịch sử kinh tế thế giới đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng lớn nhỏ khác nhau ở nhiều khu vực khác nhau Sau nhiều cuộc khủng hoảng, người ta đã khẳng định tính
Trang 5thiết yếu của hoạt động kiểm toán tài chính, đặc biệt là ở thị trường chứng khoán và các định chế tài chính Đó là những nơi có số lượng người quan tâm đến thông tin ở diện rộng Kiểm toán tài chính sẽ trở thành một công cụ bảo vệ hữu hiệu sự ổn định của nền kinh tế
Hơn thế nữa, kiểm toán tài chính sẽ giúp các đơn vị được kiểm toán cải thiện hoạt động từ những đề xuất của kiểm toán viên Điều này làm cho kiểm toán tài chính có thể làm gia tăng giá trị cho đơn vị được kiểm toán chứ không chỉ thuần túy là hoạt động kiểm tra, kiểm soát
Câu hỏi 1.3:
Hãy phân biệt kiểm toán tài chính và kiểm toán hoạt động?
Trả lời:
Mục tiêu
động kinh doanh và hiệu năng của quản lý
Trình tự khái quát thực hiện
Kết luận kiểm toán
chấp nhận từng phần, bác bỏ và từ chối cho ý kiến
kiểm toán
1.2 Phương pháp của kiểm toán tài chính
1.2.1 Đặc điểm phương pháp tiếp cận trong kiểm toán tài chính
Kiểm toán tài chính là loại hình mang nhiều đặc trưng nhất của kiểm toán, do đó loại hình này cũng sử dụng những kỹ thuật của kiểm toán theo ba giai đoạn cơ bản: Chuẩn
bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán
Trong kiểm toán, đối tượng chủ yếu của loại hình này là các bảng khai tài chính Kiểm toán viên khi tiến hành kiểm toán với các bảng khai tài chính này phải chia nhỏ đối tượng thành các phần hành kiểm toán
Có hai cách chia nhỏ đối tượng kiểm toán tài chính (phân đoạn đối tượng): Chia theo khoản mục hoặc chia theo chu kỳ (cycle) Cách thứ nhất phân chia theo khoản mục được hiểu là việc thực hiện kiểm toán được tiến hành theo từng khoản mục (item) hoặc nhóm các khoản mục vào một phần hành kiểm toán
Ví dụ như kiểm toán khoản mục tiền, kiểm toán khoản mục khoản phải thu, kiểm toán khoản mục tài sản cố định Cách này tương đối đơn giản trong phân chia phần hành nhưng lại gây khó khăn trong tổng hợp thông tin và xem xét mối liên hệ của các khoản mục ở các vị trí khác nhau trên một bảng khai hoặc các khoản mục trên các bảng khai khác nhau
Để khắc phục nhược điểm này, kiểm toán hiện đại có xu hướng thực hiện phân chia theo chu kỳ Các phần hành được phân chia theo chu kỳ thường bao gồm:
Trang 6 Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền
Kiểm toán chu kỳ mua hàng và thanh toán
Kiểm toán chu kỳ tiền lương và nhân sự
Kiểm toán chu kỳ huy động và hoàn trả
Kiểm toán chu kỳ hàng tồn kho và giá vốn
Kiểm toán chu kỳ vốn bằng tiền
Cách phân chia này căn cứ chủ yếu vào các mối quan hệ tài chính dựa trên chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp được xây dựng theo mô hình T-H-T’ (tiền – hàng – tiền) hoặc T-H-H’-T’ (tiền – hàng – hàng – tiền)… Bản thân các chu kỳ kiểm toán này có mối quan hệ qua lại lẫn nhau do đó cách thức phân chia ranh giới từng phần hành lại phụ thuộc vào đặc điểm của từng cuộc kiểm toán cụ thể Trong từng cuộc kiểm toán
cụ thể có thể tách nhỏ hoặc gộp các phần hành được đề cập ở trên để phù hợp với nhân sự và các điều kiện cần thiết khác của cuộc kiểm toán
Câu hỏi 1.4:
Nêu ưu, nhược điểm của cách phân đoạn đối tượng kiểm toán theo chu kỳ
Trả lời:
Ưu điểm:
Nhược điểm:
Không dễ làm, khó để phân chia công việc, đặc biệt khi bị giới hạn bởi chi phí, nhân sự kiểm toán.
Một vấn đề quan trọng của kiểm toán tài chính là cách thức tiếp cận đối tượng kiểm toán Khi bắt đầu hình thành và phát triển, kiểm toán tài chính thường sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống Cách thức tiếp cận này được hiểu là thông qua việc đánh giá
hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên sẽ đưa ra quyết định lựa chọn các thử nghiệm trong kiểm toán, tương ứng với việc đánh giá hiệu lực của hệ thống kế toán và
hệ thống kiểm soát nội bộ
Tuy nhiên, trong quá trình kinh doanh, các công ty
phải đối mặt với nhiều loại rủi ro nhất định Các rủi
ro này có thể ảnh hưởng đến độ tin cậy của thông
tin do công ty cung cấp Vì vậy, kiểm toán viên có
thể nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm toán bằng cách
quan tâm nhiều hơn đến rủi ro kinh doanh của công
ty khách hàng và cách thức quản lý rủi ro của công
ty khách hàng Cách tiếp cận này giúp cho kiểm toán viên:
Có cái nhìn rộng hơn về báo cáo tài chính, đánh giá được khu vực gây ra rủi ro Đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm cải thiện hoạt động của công ty khách hàng với nhiều hoạt động khác nhau chứ không chỉ riêng hoạt động kế toán
Trang 71.2.2 Các trắc nghiệm áp dụng trong kiểm toán tài chính
Trong kiểm toán tài chính, trắc nghiệm (test) là việc vận dụng các kỹ thuật của kiểm toán đối với các nghiệp vụ, số dư của tài khoản hoặc khoản mục cấu thành bảng khai tài chính
Thông thường, trong kiểm toán tài chính có ba loại trắc nghiệm: Trắc nghiệm nghiệp
vụ (test of transaction), trắc nghiệm phân tích (analytical test) và trắc nghiệm số dư (test of balance)
Trắc nghiệm nghiệp vụ
Là cách thức rà soát các nghiệp vụ hay hoạt động cụ thể Trắc nghiệm này thường được sử dụng để xác định tính đúng đắn trong tổ chức hệ thống kế toán Nó được thực hiện theo hai hướng: Thứ nhất là mức đạt yêu cầu của thủ tục; thứ hai là độ tin cậy của các thông tin và con số
Ở hướng thứ nhất, trắc nghiệm này hướng chủ yếu đến việc tuân thủ các quy định về lập, xét duyệt và kiểm tra sử dụng chứng từ kế toán Trắc nghiệm này có thể thực hiện thông qua nhiều kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán khác nhau tùy thuộc thủ tục kiểm soát của doanh nghiệp có để lại dấu vết hay không
Trong trường hợp có để lại dấu vết (chữ ký, đóng dấu kiểm tra…) kiểm toán viên
có thể kiểm tra lại dấu vết trên chứng từ
Ví dụ, trong nghiệp vụ xuất kho, thủ kho phải thực hiện kiểm soát về số lượng chủng loại hàng hóa xuất Sau khi kiểm soát, anh ta sẽ xác nhận sự kiểm soát của mình bằng chữ ký trên phiếu xuất kho Chữ ký này được hiểu là dấu vết của thủ tục kiểm soát Để rà soát thủ tục này, kiểm toán viên có thể tiến hành kiểm tra chữ
ký trên phiếu xuất kho hoặc kiểm tra chức trách và nhiệm vụ của những người ký trên phiếu xuất kho Những trình tự rà soát này được gọi là trắc nghiệm tuân thủ của nghiệp vụ
Trong trường hợp thủ tục kiểm soát không để lại dấu vết, kiểm toán viên có thể quan sát hoặc phỏng vấn công việc của những
người có liên quan đến nghiệp vụ
Ví dụ, trong nghiệp vụ xuất kho kể trên, khi hàng hóa xuất khỏi kho phải có sự kiểm soát của thủ kho Tuy nhiên, sự kiểm soát của thủ kho là chưa
đủ mà cần có sự kiểm soát của bảo vệ doanh nghiệp khi hàng hóa qua cổng doanh nghiệp
Thủ tục kiểm soát này đôi khi không để lại dấu về việc ghi chép hay ký nhận vào các chứng từ Trường hợp này đòi hỏi kiểm toán viên phải quan sát quá trình xuất hàng hoặc phỏng vấn những người liên quan đến nghiệp vụ như bảo vệ doanh nghiệp hay người áp tải hàng hóa
Ở hướng thứ hai, kiểm toán tiến hành rà soát các thông tin về giá trị trên chứng từ và
sổ sách kế toán Kiểm toán viên phải tính toán lại, đối chiếu số liệu, gửi thư xác nhận
để khẳng định mức độ tin cậy của thông tin Trắc nghiệm này được gọi là trắc nghiệp
cơ bản của nghiệp vụ (substantive test of transaction)
Ví dụ kiểm toán viên có thể gửi thư xác nhận cho ngân hàng để kiểm chứng số dư tài khoản tiền gửi ngân hàng
Trang 8Trắc nghiệm số dư
Là việc kiểm tra và rà soát độ tin cậy của số dư cuối kỳ hoặc số phát sinh của các tài khoản Kiểm toán viên có thể thực hiện gửi thư xác nhận hoặc quan sát kiểm kê và đối chiếu sổ sách để thực hiện trắc nghiệm này Trắc nghiệm này thường đòi hỏi chi phí kiểm toán lớn do đó, trắc nghiệm này thường được áp dụng kết hợp với các trắc nghiệm khác của kiểm toán để đảm bảo tính hiệu quả của cuộc kiểm toán
Trắc nghiệm phân tích
Là việc so sánh các thông tin trong đó chủ yếu là các thông tin tài chính để xem xét mối quan hệ kinh tế và xu hướng biến động từ đó nghiên cứu phát hiện các bất thường Trắc nghiệm phân tích có thể được thực hiện thông qua:
So sánh thông tin tài chính bao gồm các số dư, số phát sinh, các tỷ lệ giữa các kỳ, các niên độ tài chính hoặc so sánh thông tin tài chính của đơn vị với các đơn vị khác trong cùng ngành
Ví dụ, so sánh tỷ lệ chi phí quảng cáo trong doanh thu giữa đơn vị khách hàng với các đơn vị khác cùng ngành
Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin tài chính và thông tin phi tài chính hay mối quan hệ giữa các yếu tố của thông tin tài chính hay thông tin phi tài chính
Ví dụ, nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí tiền lương, số lượng lao động và trình
độ học vấn của người lao động trong doanh nghiệp khách hàng
Trắc nghiệm này chủ yếu hướng tới việc nghiên cứu và so sánh các mối quan hệ
để giúp kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán về tính hợp lý chung của số liệu và dữ liệu từ đó phát hiện các khả năng sai lệch thông tin
Trắc nghiệm phân tích được sử dụng trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm toán tài chính: chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán
Câu hỏi 1.5:
Hãy nêu những tỷ suất thường sử dụng để đánh giá khả năng thanh toán
Hãy nêu những tỷ suất thường sử dụng để đánh giá cấu trúc tài chính
Trả lời:
Nhóm tỷ suất thường được sử dụng để đánh giá khả năng thanh toán:
Nhóm tỷ suất thường được sử dụng để đánh giá cấu trúc tài chính:
Cả ba trắc nghiệm đề cập ở trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Việc sử dụng kết hợp các trắc nghiệm này trong cuộc kiểm toán tài chính theo hướng nào hoàn toàn phụ thuộc vào đánh giá ban đầu của kiểm toán viên về rủi ro kinh doanh, hệ thống kế toán
và hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 91.3 Cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán
1.3.1 Cơ sở dẫn liệu
Cơ sở dẫn liệu quản lý (management assertions) là sự giải trình hoặc khẳng định một cách công khai hoặc ngầm định của nhà quản lý về việc trình bày dữ liệu trên báo cáo tài chính
Cơ sở dẫn liệu được hình thành xuất phát từ trách nhiệm của nhà quản lý đối với việc soạn thảo, trình bày và công bố báo cáo tài chính theo đúng các chuẩn mực và chế độ
kế toán Chính vì vậy, cơ sở dẫn liệu sẽ liên quan trực tiếp đến việc trình bày các khoản mục trên bảng khai tài chính Hơn nữa, cơ sở dẫn liệu cũng có liên quan đến các vấn đề khác như trạng thái của các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Ví dụ về bản giải trình của ban giám đốc (cơ sở dẫn liệu về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của doanh nghiệp)
CÔNG TY ABC
Địa chỉ, điện thoại, fax
Ngày… tháng … năm
Kiểm toán viên công ty Kiểm toán AVG Bản giải trình này được lập ra trong phạm vi công tác kiểm toán của ông (bà) cho báo cáo tài chính năm tài chính kết thúc ngày 31/12/200N của công ty chúng tôi - công ty ABC Chúng tôi chịu trách nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý các báo cáo tài chính của đơn vị phù hợp với chuẩn mực
và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận theo Quyết định số…ngày … tháng … năm của
Bộ Tài chính Trong pháp vi trách nhiệm và sự hiểu biết của mình chúng tôi xin xác nhận các giải trình sau:
Công ty là chủ sở hữu tất cả các tài sản trên báo cáo tài chính và không có bất kỳ một tài sản nào đang được cầm cố, thế chấp hoặc bị cầm giữ, ngoại trừ những tài sản được nêu trong trang … của phần thuyết minh báo cáo tài chính
Tất cả các khoản nợ, cam kết vay và các khoản bảo lãnh của công ty với bên thứ ba được công ty hạch toán hoặc giải trình trong phần thuyết minh báo cáo tài chính trang số…
Hiện tại công ty không có vụ kiện nào phát sinh sau ngày kết thúc niên độ có ảnh hưởng tới báo cáo tài chính hoặc phải giải trình trong phần thuyết minh
Giám đốc
(Chữ ký, họ và tên, đóng dấu)
Ví dụ trên chỉ rõ cơ sở dẫn liệu báo cáo tài chính chính là nguồn giúp kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán đối với các khoản mục nghiệp vụ liên quan đến báo cáo tài chính Các cơ sở dẫn liệu thường bao gồm 5 nhóm:
Sự hiện hữu hoặc phát sinh (Existence or Occurrence)
Cơ sở dẫn liệu này là sự khẳng định về tính có thật của các con số trình bày trên bảng khai tài chính Nghĩa là mọi tài sản và công nợ tồn tại thực tế tại ngày lập Bảng cân đối kế toán, mọi nghiệp vụ kinh tế được phản ánh đều phát sinh thực tế
Về mặt bản chất, đây chính là sự khẳng định về việc không khai khống của nhà quản trị đối với thông tin trình bày trên Bảng khai tài chính
Khi thực hiện kiểm tra cơ sở dẫn liệu về sự hiện hữu hoặc phát sinh, kiểm toán viên cần thu thập bằng chứng kiểm toán để khẳng định tài sản và công nợ thực sự tồn tại, nghiệp vụ thực sự phát sinh
Trang 10Ví dụ, kiểm toán viên có thể quan sát kiểm kê hàng tồn kho nhằm thu được bằng chứng về sự hiện hữu của hàng tồn kho
Cơ sở dẫn liệu về tính trọn vẹn
Cơ sở dẫn liệu này nhằm đưa ra khẳng định mọi tài sản và nghiệp vụ cần phải được khai báo đều đã bao hàm trong bảng khai tài chính Kiểm toán viên kiểm toán trên cơ sở dẫn liệu này nhằm hướng đến khẳng định đơn vị đã không bỏ sót bất kỳ khoản mục hay nghiệp vụ nào
Ví dụ kiểm toán viên kiểm tra xem mọi hàng mua đang đi đường và hàng gửi bán đã được phản ánh đầy đủ trong số dư của hàng tồn kho sẽ liên quan đến cơ sở dẫn liệu này
Cơ sở dẫn liệu về quyền và nghĩa vụ (right and obligation)
Cơ sở dẫn liệu này nhằm khẳng định đơn vị có quyền đối với tài sản và nghĩa vụ đối với nguồn vốn Quyền đối với tài sản được hiểu là quyền
sở hữu hoặc quyền định đoạt lâu dài, nghĩa vụ đối với nguồn vốn được hiểu là nghĩa vụ phải thanh toán đối với nợ phải trả và nghĩa vụ bảo toàn, sử dụng hợp lý và phát triển đối với nguồn vốn chủ sở hữu
Khi tiến hành kiểm toán liên quan đến cơ sở dẫn liệu này, kiểm toán viên phải lưu
ý đến các trường hợp tài sản tồn tại tại doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp không
có quyền sở hữu (ví dụ như các tài sản doanh nghiệp thuê ngắn hạn…) hoặc tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhưng được đặt tại các đơn vị khác (ví dụ như hàng gửi bán, tài sản cố định cho thuê ngắn hạn…)
Ví dụ về cơ sở dẫn liệu về quyền và nghĩa vụ: “Công ty là chủ sở hữu tất cả các tài sản trên báo cáo tài chính và không có bất kỳ tài sản nào đang được cầm cố thế chấp ngoại trừ những tài sản được nêu trong phần thuyết minh báo cáo tài chính của công ty”
Cơ sở dẫn liệu về tính giá và đo lường
Cơ sở dẫn liệu này nhằm khẳng định mọi tài sản, giá phí được phản ánh đúng và đầy đủ theo nguyên tắc hoạt động liên tục Đây là cam kết của nhà quản lý về số tiền phản ánh tài sản và nghiệp vụ được tính toán đúng cả về nội dung, phương pháp và kỹ thuật tính toán
Ví dụ nhà quản lý đưa ra xác nhận tài sản của doanh nghiệp được ghi nhận theo giá phí lịch sử (historical cost) hay xác nhận giá trị hàng tồn kho được ghi theo giá trị hợp lý (giá thấp hơn giữa giá thực tế và giá trị thực hiện thuần NRV)
Ví dụ về cơ sở dẫn liệu về tính giá và đo lường: “Chúng tôi không có bất kỳ một
kế hoạch hay dự tính nào có thể làm sai lạc đáng kể giá trị kế toán đã được phản ánh trong báo cáo tài chính Chúng tôi không có bất kỳ một kế hoạch nào nhằm ngừng sản xuất một loại sản phẩm đang được sản xuất, cũng không có một kế hoạch hay dự tính nào có thể dẫn đến tình trạng hàng tồn kho ứ đọng hoặc lạc hậu, không có bất kỳ một khoản hàng tồn kho nào được hạch toán với giá trị cao hơn giá trị thực hiện thuần”
Cơ sở dẫn liệu về phân loại và trình bày
Cơ sở dẫn liệu này là sự khẳng định về việc phân loại và trình bày các yếu tố của bảng khai tài chính phù hợp với quy định hiện hành trong chuẩn mực và chế độ