Bài giảng Kiểm toán nội bộ - Bài 1: Tổng quan về kiểm toán nội bộ giúp người học nắm được bản chất của kiểm toán nội bộ; nội dung của kiểm toán nội bộ; tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ; lịch sử phát triển của kiểm toán nội bộ.
Trang 1PHẦN I: KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG HỆ THỐNG KIỂM TOÁN
BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ
Nội dung
Bản chất của kiểm toán nội bộ;
Nội dung của kiểm toán nội bộ;
Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ;
Lịch sử phát triển của kiểm toán nội bộ
Trang 2TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP
Tình huống:
Bạn đang băn khoăn rất nhiều khi bước chân vào nghề kế toán, kiểm toán Lựa chọn của bạn liệu đã đúng chưa? Làm kế toán hay làm kiểm toán? Làm kiểm toán viên nhà nước, kiểm toán viên độc lập hay chọn một nghề nghiệp mới ở Việt Nam là kiểm toán viên nội bộ? Trước hết, bạn cần cân nhắc mình có tố chất làm kiểm toán viên nội bộ không? Trên một tạp chí về kế toán kiểm toán, người ta đưa ra quan điểm:
“Tố chất cần phải có để trở thành một kiểm toán viên nội bộ
(KTVNB) chuyên nghiệp:
Thông minh, nhạy bén nhưng cũng phải kiên nhẫn, cẩn thận;
Thận trọng nhưng quyết đoán, có óc phân tích và phê phán;
Đam mê nghề nghiệp, đặc biệt là thích khám phá rủi ro, sai
và pháp luật là vô cùng cần thiết
Ngoài ra, KTV nội bộ phải có kiến thức về nhiều lĩnh vực, am hiểu chi tiết nhưng có tầm nhìn tổng quan, khả năng nhìn thấy “cái bất thường trong cái tưởng như bình thường”
Tiếp cận được những kiến thức nghề nghiệp cốt lõi, cập nhật, là những tinh hoa, chắt lọc từ những chương trình đào tạo kiểm toán quốc tế Những kiến thức này cùng với những trải nghiệm nghề nghiệp bản thân sẽ là hành trang cần thiết cho sự thành công
Dù không có những tiêu chuẩn ngành về yêu cầu trình độ nghề nghiệp của một KTVNB Nhưng thực tế cho thấy, các KTVNB quốc tế thường xuất thân từ các công ty kiểm toán độc lập, có bằng cử nhân tài chính hay quản trị và chứng chỉ Kiểm toán viên Công chứng (CPA) hay chứng chỉ KTVNB (CIA)
Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố về trình độ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, một yếu tố cực
kỳ quan trọng để có thể trở thành một KTVNB chuyên nghiệp, đó là phải có cái “dũng” và cái
“tâm”, để bền lòng, vững bước trước mọi nguy nan cám dỗ khi mà người KTVNB phải đối diện với những hành vi gian lận và phạm pháp” (Theo Tạp chí Kế toán)
Câu hỏi
1 Bạn có cho rằng mình đủ tố chất để trở thành kiểm toán viên nội bộ không?
2 Theo bạn kiểm toán viên nội bộ thực hiện những công việc gì? Sau khi học xong bài này, hãy đưa ra vai trò của kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp
Trang 31.1 Bản chất của kiểm toán nội bộ
1.1.1 Khái niệm về kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nói chung và kiểm toán nội bộ (KTNB) nói riêng có lịch sử phát triển lâu đời trên thế giới Kiểm toán có lịch sử phát triển vào khoảng hơn 5500 năm trước đây với những dấu hiệu thể hiện sự kiểm tra đơn giản thông qua việc đánh dấu bên cạnh các con
số ghi nhận các giao dịch trên các vật để ghi chép của con người trong nền văn minh Mesopotamian cổ đại Một người ghi nhận giao dịch và một người khác kiểm tra việc ghi nhận các giao dịch Sau này, hoạt động kiểm tra này được sử dụng rất nhiều tại Ai Cập cổ đại, Ba Tư và La Mã cổ đại Ở La Mã cổ đại, công việc kiểm tra được giao cho các "auditus" (tiếng Latin có nghĩa là nghe) Những người được kiểm tra gọi là các
"quaestors" (có nghĩa là những người được kiểm tra) Kiểm toán là hoạt động xác minh
và bày tỏ ý kiến về đối tượng được kiểm toán do các kiểm toán viên (KTV) có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực KTNB là một trong ba loại hình kiểm toán khi phân loại theo bộ máy tổ chức và chủ thể thực hiện Chính vì vậy, xu hướng phát triển và bản chất của KTNB mang những đặc trưng chung của kiểm toán
Ở giai đoạn phát triển ban đầu của KTNB, có thể xem xét đến khái niệm này trong phần Giải thích Thuật ngữ trong Chuẩn mực Kiểm toán của Liên đoàn Kế toán quốc tế
(IFAC), khái niệm về KTNB được đưa ra như sau : “KTNB là một hoạt động đánh giá
được lập ra trong doanh nghiệp như là một dịch vụ cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát tính phù hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”
Khái niệm này có thể xem xét trên các góc độ sau:
Chức năng: KTNB có chức năng là đánh giá, kiểm tra, kiểm soát tính hợp lý và
hiệu quả của hệ thống thông tin và quản lý trong doanh nghiệp
Vai trò: KTNB có vai trò là một dịch vụ trợ giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp
Đối tượng: Là tính phù hợp và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ
Cách giải thích này tương tự như giải thích thuật ngữ
KTNB trong tài liệu của Hiệp hội Kế toán viên công
chứng Anh (ACCA): "KTNB là hoạt động kiểm tra và
đánh giá được thiết lập trong một tổ chức nhằm mục
đích quản trị nội bộ đơn vị KTNB có chức năng kiểm
tra, đánh giá sự phù hợp và hiệu lực của hệ thống kế
toán và hệ thống kiểm soát nội bộ”
Tháng 6 năm 1999, nhằm đáp ứng được yêu cầu cao hơn của quản lý do sự thay đổi liên tục của môi trường kinh doanh, Viện Kiểm toán viên nội bộ của Mỹ (IIA) đã đưa ra
một định nghĩa toàn diện hơn về KTNB: "KTNB là hoạt động đánh giá, tư vấn độc lập
trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và làm tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó KTNB giúp tổ chức đạt được các mục tiêu bằng việc đánh giá một cách hệ thống và cải tiến tính hiệu lực của quy trình quản trị, kiểm soát và quản
lý rủi ro” [73, tr725]
Khái niệm này có thể được xem xét trên những khía cạnh sau:
Trang 4 Chức năng: KTNB là hoạt động với hai chức năng đánh giá và tư vấn Như vậy,
KTVNB nếu chỉ có năng lực chuyên môn về kiểm toán là chưa đủ mà phải am hiểu sâu sắc về hoạt động được kiểm toán mới có thể đưa ra tư vấn cho khách thể kiểm toán
Yêu cầu trong thực hiện kiểm toán: KTNB là hoạt động nội kiểm nhưng phải
đảm bảo được tính độc lập
Mục tiêu: cải tiến và gia tăng giá trị hoạt động của tổ chức
Phương pháp thực hiện của KTNB: là đánh giá hoạt động và kiến nghị nhằm cải
thiện tính hiệu lực của hoạt động quản trị, kiểm soát quản lý rủi ro
Như vậy, có thể khái quát một định nghĩa về KTNB như sau: KTNB là một hoạt động
độc lập có chức năng kiểm tra, đánh giá, xác nhận và tư vấn nhằm trợ giúp cho nhà quản lý, cải thiện các hoạt động của một tổ chức bằng một cách tiếp cận có hệ thống trong phạm vi tổ chức đó Các tổ chức có thể là các đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh vì lợi nhuận nhưng cũng có thể là đơn vị phi lợi nhuận Mục tiêu của KTNB là
đánh giá về độ tin cậy của thông tin tài chính và các thông tin phi tài chính về việc chấp hành luật pháp và quy định, đánh giá khả năng nhận diện, xử lý và phòng tránh rủi ro của tổ chức, đánh giá tính hiệu lực của các hoạt động kiểm soát; đánh giá tính hiệu quả trong quá trình sử dụng các nguồn lực và hiệu năng của quản lý trong quá trình thực hiện các hoạt động và tư vấn thiết kế nhằm tăng giá trị và cải thiện hoạt động
1.1.2 Đặc trưng của kiểm toán nội bộ
KTNB phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của quản lý Môi trường kinh doanh càng thay đổi thì hoạt động KTNB càng phải hướng đến những yêu cầu của quản lý hiện đại Như vậy, có thể xem xét đến các đặc trưng của kiểm toán nội bộ hiện đại trên các góc độ sau:
Mục tiêu: KTNB trước hết là một bộ phận của
kiểm toán nên nó cũng hình thành từ yêu cầu của quản lý và phục vụ cho yêu cầu này KTNB có chức năng đo lường, đánh giá các hoạt động của đơn vị kể cả hoạt động kiểm soát Như vậy, KTNB
là một loại kiểm soát được sử dụng phục vụ yêu cầu quản lý như một chức năng của quản lý
Chức năng: Là kiểm tra, đánh giá, xác nhận và tư
vấn Chức năng này sẽ được cụ thể và chú trọng trong từng loại hình kiểm toán khác nhau, với từng tổ chức khác nhau Quá trình thực hiện chức năng của KTNB có thể được thực hiện đối với các hoạt động tài chính và hoạt động phi tài chính
Phương thức thực hiện: KTNB là hoạt động nội kiểm có tính độc lập tương đối
trong một tổ chức Các tổ chức này không chỉ là các đơn vị hoạt động kinh doanh
mà có thể là các đơn vị phi lợi nhuận Theo xu hướng hiện đại, hoạt động này có thể được thực hiện thông qua thuê ngoài các chuyên gia kiểm toán
Chủ thể thực hiện: Người thực hiện KTNB phải có trình độ nghiệp vụ tương
xứng và không những am hiểu về kiểm toán mà còn am hiểu các lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ của đơn vị được kiểm toán
Trang 5 Khách thể: Khách thể của kiểm toán nội bộ tương đối đa dạng, có thể là những
thực thể kinh tế độc lập, cũng có thể là các đơn vị phụ thuộc Khách thể của kiểm toán nội bộ có thể là các đơn vị thành viên, các bộ phận, phòng ban hoặc thậm chí
là các cá nhân thực hiện các nghiệp vụ, tác nghiệp
Cách thức tiếp cận: Cách thức tiếp cận của KTNB
là cách thức tiếp cận có hệ thống; các phương pháp thực hiện công việc theo đúng các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp trong việc nhận định, phân tích đánh giá, ghi chép và thông báo kết quả
Tuy nhiên, có một điểm thay đổi lớn trong kiểm toán nội bộ hiện đại, đó là việc chuyển hướng tiếp cận kiểm toán Cách tiếp cận truyền thống của KTNB là cách tiếp cận tuân thủ nay được chuyển thành tiếp cách theo phương pháp dựa trên đánh giá rủi ro Khi tiếp cận theo phương pháp kiểm toán tuân thủ, nhà quản lý thường kỳ vọng các kiểm toán viên nội bộ ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa các hoạt động vi phạm quy chế của đơn vị Hơn thế nữa, nhà quản lý cũng kỳ vọng kiểm toán viên nội bộ có thể phát hiện ra những lỗ hổng của các quy chế của đơn vị
Tuy nhiên phương pháp này chỉ phù hợp khi môi trường kinh doanh ít thay đổi Khi môi trường kinh doanh thay đổi, kiểm toán viên nội bộ sử dụng phương pháp dựa trên đánh giá rủi ro Kiểm toán viên nội bộ cần đánh giá tính hiệu lực và tin cậy của môi trường kiểm soát trong việc quản lý rủi ro Kiểm toán viên nội bộ cũng cần xác định liệu sự tuân thủ các quy chế nội bộ, các quy định về tài chính có
đủ để hóa giải các rủi ro không Nếu không, kiểm toán viên nội bộ sẽ kiến nghị theo hướng sửa đổi các quy chế nội bộ
Cơ sở pháp lý: KTNB đo lường và đánh giá các hoạt động dựa trên hệ thống pháp
lý có hiệu lực, các nội quy, quy chế chung, các quy chế tài chính và các quy chế khác Như vậy, cơ sở pháp lý của kiểm toán nội bộ tương đối linh hoạt, tùy thuộc vào loại hình kiểm toán mà kiểm toán nội bộ thực hiện
1.1.3 Vai trò của kiểm toán nội bộ trong quản lý
Kiểm toán nội bộ với thông tin tài chính của doanh nghiệp
Hoàn toàn lặng im khi nghe bồi thẩm đoàn đọc cáo trạng, Bernard Ebbers, cựu giám đốc điều hành tập đoàn viễn thông WorldCom, Mỹ đã bị buộc tội gian lận và cung cấp các số liệu không chính xác tại các báo cáo tài chính liên quan đến khoản tiền 11 tỷ USD trong vụ phá sản của một trong những tập đoàn viễn thông lớn nhất nước Mỹ
Với các tội danh trên, Ebbers có thể phải chịu hình phạt lên đến 85 năm tù giam Lúc đó, phản ứng duy nhất của mọi người trong phiên toà là từ phía vợ Ebbers, bà ngồi khóc lặng lẽ với sự an ủi của cô con gái Ebbers và gia đình đã rời khỏi toà mà không có bình luận gì Với họ những sai phạm tài chính đã quá rõ ràng
Bernie Ebbers, một cựu huấn luyện viên bóng rổ, đã góp công lớn trong việc đưa Worldcom từ một công ty nhỏ tại vùng Mississippi hẻo lánh trở thành một trong những tập đoàn viễn thông lớn nhất trên thế giới trong vòng chưa đầy 15 năm Ông chỉ là một trong 6 cựu thành viên ban lãnh đạo của Worldcom bị truy tố sau những bê bối tài chính dẫn đến sự sụp đổ Worldcom, một thời là biểu tượng của ngành viễn thông Mỹ Đã có thời điểm, giá trị của Worldcom trên thị trường chứng khoán vượt qua con số 100 tỷ USD
Trang 6Điều đáng ngạc nhiên là mặc dù được đánh giá như một trong những thành viên năng động
và nhạy bén nhất của Worldcom trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh vào thập kỷ 90 nhưng tại toà án Ebbers luôn nói là mình không biết gì về các chi tiết tài chính của tập đoàn Và khi công việc kinh doanh sa sút, Worldcom đã che dấu khó khăn với các cổ đông bằng những gian lận kế toán trong báo cáo tài chính lên
đến trên hàng chục tỷ USD
Suốt thời gian xét xử, Ebbers luôn bác bỏ các tội danh do
tòa đưa ra và tự bào chữa rằng chỉ ông nắm được rất ít tin
tức về tình hình tài chính của Worldcom, những sai phạm
trong báo cáo tài chính chủ yếu thuộc về cựu giám đốc tài
chính Worldcom, Scott Sullivan Trước khi quyết định
rằng Ebbers có phạm tội hay không, bồi thẩm đoàn đã cân
nhắc rất kỹ lời khai của Ebbers và Scott Sullivan, người
luôn cho rằng những gian lận của mình là làm theo lệnh của Ebbers
Trong khi những gian lận tại Enron liên quan tới các thủ thuật kế toán tinh vi thì tại Worldcom các gian lận diễn ra rất đơn giản Worldcom khi đó đã tăng giả mạo các chỉ số
kế toán hiện hành và bỏ đi các số liệu về vốn theo thời gian mà nhẽ ra phải công bố công khai Về bản chất, Worldcom đã chuyển dịch một loạt các con số từ cột này sang cột khác trong báo cáo tài chính Theo ước tính thì Worldcom bị phá sản đã khiến các cổ đông của hãng chịu thiệt hại khoảng 180 tỷ USD và trên 20000 nhân viên bị mất việc làm Sau khi chính thức tuyên bố phá sản, Worldcom đã đổi tên thành MCI… Bản án được tuyên đã khiến rất nhiều công tố viên thở phào nhẹ nhõm bởi gần 2 năm nay việc xét xử các thành viên của Worldcom luôn được xem là khó khăn nhất trong lịch sử ngành toà án Mỹ Và việc tuyên bố Ebbers phạm tội sẽ làm nền tảng cho việc xét xử ba thành viên khác của Worldcom trong thời gian tới với nhiều chứng cứ và đánh giá phức tạp hơn nhiều Nhiều chuyên gia kinh tế Mỹ nhận định rằng việc xét xử “thẳng tay” các thành viên ban lãnh đạo Worldcom là một trong những thành công lớn nhất của ngành tòa án Mỹ trong cuộc chiến chống tham nhũng và gian lận tài chính
Theo Stephen Culter, giám đốc Ban hoà giải của SEC – Securites Exchange Commission (Ủy ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán Mỹ) thì “ngày nay, các hành động che dấu thua lỗ trong báo cáo tài chính của các công ty Mỹ bị phanh phui đã chứng tỏ rằng chẳng có một sự thiết lập tài chính nào hay bất kể một nhà điều hành nào có thể che dấu các giao dịch tài chính mang đầy tính chất phức tạp và gian lận của các ông chủ giàu có” Có thể nói rằng, báo cáo tài chính của mỗi công ty sẽ chứng minh rằng công ty đang hoạt động bình thường và cung cấp những thông tin cần thiết cho các cơ quan quản lý, các nhà đầu tư hiện tại và tương lai, các chủ nợ,… về tình hình tài chính của công ty Vì vậy, tính trung thực trong báo cáo tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Tiếc thay, hiện nay tính trung thực trong các báo cáo tài chính không còn được trung thực!
(Theo www.bwportal.com)
Câu hỏi: Vì sao xảy ra tình trạng trên và cần làm gì để khắc phục? Một kết cục hoàn toàn
khác sẽ xảy ra nếu kiểm toán nội bộ của Worldcom phát hiện và ngăn chặn ngay những hành vi sai phạm này?
KTNB giữ vai trò là phương thức quản lý hiệu quả nhằm hỗ trợ việc thực
hiện trách nhiệm của nhà quản lý
Nhà quản lý ở các cấp độ khác nhau thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình với mức độ trách nhiệm khác nhau Tổng giám đốc là người định hướng các hoạt động, đưa ra các quyết định mang tính chiến lược và đề ra các mục tiêu tổng quát trong doanh nghiệp Đồng thời, tổng giám đốc cũng phải chịu trách nhiệm về
Trang 7kết quả công việc của cấp dưới của mình Các giám đốc đơn vị thành viên, giám đốc các lĩnh vực theo
đó cũng phải chịu trách nhiệm đối với phạm vi công việc của mình Công việc quản lý thường được tiến hành theo nguyên tắc quản lý cấp dưới luôn phải báo cáo công việc cho cấp quản lý cao hơn Tuy nhiên, các báo cáo này thường được thực hiện theo cách nhìn nhận của người quản lý cấp dưới chứ không theo cách nhìn nhận của nhà quản lý cấp cao Hơn nữa, xung đột về lợi ích tiềm ẩn trong bản thân mối quan hệ giữa chủ sở hữu với người quản lý, giữa nhà quản lý cấp cao với cấp thấp hơn dẫn đến việc quản lý cấp thấp hơn luôn không báo cáo một cách toàn diện về công việc thực hiện Chủ sở hữu hay nhà quản lý cấp cao thường không có
đủ thời gian để thực hiện công tác kiểm tra và giám sát quá trình hoạt động Vì vậy, chủ sở hữu hoặc các nhà quản lý cấp cao cần phải có một người đóng vai trò
là "người tham mưu” nhằm mục đích đánh giá về quy trình thực hiện, thủ tục kiểm soát và hiệu quả hoạt động Người tham mưu đó không ai khác chính là các KTVNB KTVNB sẽ được coi như một trợ lý nhằm hỗ trợ về mặt trách nhiệm cho các nhà quản lý ở tất cả các cấp độ quản lý khác nhau
KTNB là phương thức giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu trong hệ
thống quản lý của doanh nghiệp
Thông qua phương thức này, Ban giam đốc và Hội đồng quản trị có thể kiểm soát hoạt động tốt hơn, quản lý rủi ro tốt hơn KTNB luôn phải đánh giá tính hiệu quả của hoạt động và đánh giá năng lực của nhà quản lý trong từng hoạt động KTNB được coi như một nhà quan sát mà trong từng bước đi của doanh nghiệp, KTNB chỉ ra những kết quả cũng những hạn chế trong hệ thống quản lý và đưa
ra các đề xuất nhằm hoàn thiện
KTNB giúp cân bằng và điều hoà những xung đột về lợi ích thường có giữa
các cổ đông với các nhà quản lý doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh càng phát triển càng dẫn đến sự chuyên nghiệp trong điều hành hoạt động của các doanh nghiệp Hiện nay, có thể coi giám đốc doanh nghiệp
là một nghề chứ không chỉ là một vị trí quản lý cao nhất nữa Sự tách rời giữa chủ
sở hữu và nhà quản lý chắc chắn không tránh khỏi những mâu thuẫn và xung đột
về lợi ích giữa họ Sự tách rời này dẫn đến một thuật ngữ mới trong kiểm tra kiểm soát đó là "lý thuyết về đại diện” (agency theory) trong đó chủ sở hữu được coi là người ủy quyền (principal) còn nhà quản lý là người thừa hành (agent) Vấn đề phát sinh trong quan hệ này là người thừa hành không phải lúc nào cũng hành động vì quyền lợi của người ủy quyền Nhà quản lý sẽ có những mục tiêu riêng, thông thường mục tiêu đó thường đặt họ trong sự cân nhắc giữa lợi ích của cá nhân
và lợi ích của doanh nghiệp hay tổ chức Khi đó, KTNB bằng cách nhìn nhận, đánh giá một cách chuyên nghiệp và khách quan sẽ cung cấp thông tin cho nhà quản lý về mức độ hoàn thành công việc của nhà quản lý
Trang 8 KTNB làm tăng niềm tin của người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính và
báo cáo kế toán quản trị
Thông thường, một doanh nghiệp có KTNB sẽ làm tăng niềm tin cho các cổ đông, nhà đầu tư về thông tin của doanh nghiệp cung cấp và về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Các thống kê trên thế giới cho thấy các công ty có bộ phận KTNB thường có báo cáo đúng hạn và báo cáo tài chính có độ chính xác cao hơn, mức độ minh bạch cao hơn và hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng cao hơn so với những công
ty không có KTNB Có thể mô tả KTNB như một bức tường lửa (firewall) dùng để phát hiện, ngăn chặn
và sửa chữa kịp thời cả gian lận và sai sót có thể xảy ra trong doanh nghiệp Sau khi qua bức tường lửa đó, khả năng tồn tại gian lận và sai sót trong các thông tin được ghi nhận và công bố sẽ giảm đi Tuy nhiên, mức độ tin tưởng của người sử dụng thông tin lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiệu quả của KTNB
Có thể minh chứng cho vai trò trên bằng số liệu khảo sát của PWC (Một trong bốn hãng kiểm toán lớn nhất thế giới “Big 4“) với các doanh nghiệp lớn trên toàn cầu, trong hai năm 2005-2006, gian lận đã xuất hiện ở 45% công ty được khảo sát (tăng 8% so với 2 năm trước) Bên cạnh số vụ tham nhũng và hối lộ tăng 71%, số vụ rửa tiền tăng 133% thì gian lận về báo cáo tài chính được phát hiện tăng nhiều nhất với 140% Bình quân về thiệt hại tài chính cho một vụ gian lận là 1,7 triệu USD Đóng vai trò lớn nhất trong việc phát hiện gian lận này là bộ phận KTNB, chiếm 26%
KTNB là công cụ hữu hiệu nhằm giảm thiểu chi phí cho đơn vị
Việc đánh giá hiệu quả của các hoạt động, các tác nghiệp cụ thể thường giúp doanh nghiệp giảm thiểu được sự lãng phí nguồn lực Các nguồn lực bao gồm cả vốn, lao động và tài nguyên luôn bị hạn chế chứ không phải là vô hạn Tuy nhiên, có một thực
tế là không phải doanh nghiệp nào cũng thấy hết thực trạng này và có biện pháp để hiện thực hoá các lợi ích của doanh nghiệp một cách tối ưu Nhiều doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nóng và đã không cân bằng được ba mục tiêu bắt buộc của phát triển bền vững đó là tăng trưởng, hiệu quả và kiểm soát KTNB sẽ là một bộ phận có vai trò to lớn trong việc điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp luôn nằm trong tam giác đều với các góc là tăng trưởng, hiệu quả và kiểm soát Thực tế cho thấy, rất nhiều doanh nghiệp lớn trên thế giới thậm chí là những tập đoàn hàng đầu như hãng hàng không lớn nhất của Italia là Alitalia cũng đang trong bờ vực phá sản hay hãng năng lượng hàng đầu thế giới là Enron cũng đã phải tuyên bố phá sản vì tăng trưởng nóng mà không tính đến hiệu quả và kiểm soát
Như vậy, có thể nói KTNB có vai trò như một phương thức hữu hiệu của nhà quản lý, một chức năng của quản lý nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh và tăng cường năng lực của hoạt động quản lý và kiểm soát Với vai trò này, KTNB là yếu tố cần có đối với
Trang 9mọi loại hình doanh nghiệp ở mọi quy mô hoạt động Đối với các tập đoàn kinh tế, KTNB càng thể hiện rõ hơn vai trò của mình
1.2 Nội dung của kiểm toán nội bộ
Tùy thuộc vào mục đích và đối tượng kiểm toán, KTNB có những nội dung chính: Kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán tài chính
1.2.1 Kiểm toán hoạt động
Trong suốt những năm 1960, có một xu hướng mạnh
mẽ sử dụng thuật ngữ kiểm toán hoạt động thay thế
cho thuật ngữ KTNB Sở dĩ như vậy là do người ta
muốn nhấn mạnh sự khác biệt cơ bản giữa công việc
của KTV bên ngoài với KTVNB Các KTV bên ngoài
chú trọng vào việc xác nhận và bày tỏ ý kiến đối với
các báo cáo tài chính và các hoạt động kiểm soát hoạt
động tài chính còn KTNB chú trọng vào việc tăng
cường hiệu năng của quản lý và hiệu quả của hoạt động kinh doanh Trong nhiều năm, kiểm toán hoạt động chỉ giới hạn ở việc kiểm soát tài chính sau đó phát triển theo hướng điều tra, xác minh, đánh giá đối với tất cả các hoạt động khác kể cả hoạt động phi tài chính
Theo Viện Kiểm toán viên nội bộ (IIA – Institute of Internal Auditor): “Kiểm toán
hoạt động là quá trình đánh giá mang tính hệ thống về tính hiệu quả, hiệu lực và tính kinh tế của các hoạt động của một tổ chức dưới góc độ kiểm soát quản lý và báo cáo cho các nhà quản lý về quá trình đánh giá cùng với những kiến nghị để cải tiến hoạt động” Như vậy, kiểm toán hoạt động có những yếu tố cơ bản sau:
Đánh giá mang tính hệ thống: Kiểm toán hoạt động đánh giá theo trình tự từng
bước của các quá trình, các hoạt động
Tiêu chuẩn để đánh giá: Việc đánh giá được dựa vào đặc điểm riêng của từng
hoạt động Các tiêu chuẩn để đánh giá hoàn toàn phụ thuộc vào mục tiêu của cuộc kiểm toán và ý muốn chủ quan của nhà quản lý
Nội dung của kiểm toán hoạt động: xoay quanh ba khía cạnh đó là tính kinh tế
(Economy), tính hiệu quả (Efficiency) và hiệu lực (Effectiveness) nhằm đưa ra những biện pháp để cải tiến hoạt động Có thể xem đây là những tiêu chuẩn quan trọng dùng
để xem xét kết quả của hoạt động được kiểm toán Vì vậy, trong một số trường hợp người ta còn gọi loại kiểm toán này bằng thuật ngữ đơn giản là kiểm toán 3ES
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các yếu tố của kiểm toán hoạt động
Kiểm toán hoạt động
Đầu ra Kinh tế
Hiệu lực Hiệu quả
Trang 10 Yêu cầu đối với chủ thể thực hiện: Để thực hiện kiểm toán hoạt động, KTVNB
phải am hiểu sâu sắc về lĩnh vực hoạt động, Hơn nữa, KTV phải độc lập với các chức năng hay hoạt động được kiểm toán
Kết luận của kiểm toán: Kiểm toán hoạt động có
hình thức kết luận kiểm toán không theo khuôn mẫu máy móc Nội dung của kết luận kiểm toán hướng đến việc cải thiện các hoạt động, hình thức của kết luận kiểm toán cũng không nhất thiết phải được trình bày bằng báo cáo kiểm toán theo mẫu định sẵn như các loại hình khác
Xu hướng phát triển: KTNB hiện đại có xu
hướng chú trọng nhiều hơn vào kiểm toán hoạt động Kiểm toán hoạt động được thực hiện với cả các hoạt động tài chính và các hoạt động phi tài chính Nội dung của kiểm toán hoạt động có thể là kiểm toán việc huy động, sử dụng các nguồn lực có hiệu quả và tiết kiệm, kiểm toán hiệu quả của các giai đoạn sản xuất kinh doanh, kiểm toán tính hiệu quả và tiết kiệm của việc thực hiện các chính sách nhân sự,… Kiểm toán hoạt động có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như kiểm toán chức năng, kiểm toán tổ chức hay kiểm toán chuyên
đề đặc biệt Kiểm toán hoạt động có thể do KTVNB tiến hành nhưng cũng có thể
do các KTV bên ngoài thực hiện
1.2.2 Kiểm toán tài chính
Mặc dù tên gọi của loại hình này là kiểm toán tài chính song trong kiểm toán nội bộ loại hình này bao gồm cả kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị Đây
là điểm khác biệt lớn nhất khi kiểm toán nội bộ thực hiện kiểm toán tài chính so với các loại hình khác
Có thể xem xét đến loại hình kiểm toán tài chính trong phạm vi của kiểm toán nội bộ như sau: Kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị là việc kiểm tra, xác nhận tính trung thực và tính hợp lý của các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị cũng như xem xét sự phù hợp giữa báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và yêu cầu quản lý
Như vậy, kiểm toán tài chính do kiểm toán nội bộ thực hiện mang những đặc trưng cơ bản sau:
Mục tiêu của kiểm toán tài chính: Mục tiêu tổng quát của kiểm toán báo cáo tài
chính có thể hiểu là việc xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hay không, có tuân thủ pháp luật liên quan, có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không Mục tiêu kiểm toán tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn
vị Mục tiêu này được đề cao khi KTNB tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính Mục tiêu kiểm toán báo cáo kế toán quản trị nhằm khẳng định mức độ phù hợp của thông tin, tính kịp thời và đầy đủ của thông tin phục vụ cho việc quản trị nội bộ đơn vị
Trang 11 Nội dung của kiểm toán báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị, thường
gồm hai nội dung chủ yếu sau:
o Kiểm tra và xác nhận tính kịp thời, đầy đủ, khách quan và tin cậy của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trước khi được phê duyệt và công bố;
o Kiểm tra và đánh giá các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị, đưa ra những kiến nghị và tư vấn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo sự hợp lý và hiệu quả
Tiêu chuẩn để đánh giá: Kiểm toán báo cáo tài chính hay báo cáo kế toán quản
trị đều dựa trên cơ sở pháp lý là các chuẩn mực
Yêu cầu đối với chủ thể thực hiện: Mặc dù hoạt
động kiểm toán nội bộ bị bó hẹp trong phạm vi đơn vị, song kiểm toán viên vẫn phải độc lập với đơn vị được kiểm toán Điều này đòi hỏi địa vị pháp lý của kiểm toán nội bộ phải phù hợp mới đảm bảo được tính độc lập
Kết luận của kiểm toán: Đối với kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải
đưa ra nhận định theo từng loại ý kiến đã được quy định theo chuẩn mực Đối với kiểm toán báo cáo kế toán quản trị, kiểm toán viên đưa ra kết luận về tính hợp lý, tính kịp thời của thông tin làm cơ sở cho nhà quản lý đưa ra quyết định
Xu hướng phát triển: Kiểm toán tài chính được thực hiện bởi kiểm toán viên nội
bộ sẽ tập trung nhiều hơn đến báo cáo kế toán quản trị chứ không chú trọng vào báo cáo tài chính Xu hướng này là tất yếu khi các báo cáo tài chính đã được kiểm toán bởi kiểm toán bên ngoài, đảm bảo tính khách quan của việc đưa ra nhận định
1.2.3 Kiểm toán tuân thủ
Kiểm toán tuân thủ là loại hình kiểm toán để xác định
các hoạt động của đơn vị được kiểm toán có được thực
hiện theo đúng luật pháp, đúng quy định hay nội quy
của đơn vị, đúng với hợp đồng hay chính sách của Ban
quản trị hay không
Cơ sở pháp lý của kiểm toán tuân thủ thường rất rộng
Cơ sở đó có thể là hệ thống luật pháp của Nhà nước
hoặc nội quy, quy chế của đơn vị hoặc chỉ là những hợp đồng Kiểm toán tuân thủ thường chú trọng vào các nội dung sau:
Kiểm toán việc tuân thủ các quy định của Nhà nước: Những cuộc kiểm toán
này thường có liên quan đến những quy định về thuế, về môi trường, về bảo vệ sức khỏe con người…
Kiểm toán việc tuân thủ các chính sách của công ty: Những cuộc kiểm toán này
tập trung vào việc đánh giá mức độ tuân thủ các qui chế, nội quy của công ty và các chính sách cụ thể cho từng hoạt động
Kiểm toán việc tuân thủ các cam kết hay hợp đồng: Trong trường hợp này, các
điều kiện hợp đồng hay cam kết sẽ được coi là cơ sở để đánh giá mức độ tuân thủ của đơn vị hay bộ phận được kiểm toán