1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bài giảng Bảo hiểm - Bài 1: Tổng quan về quản trị rủi ro và bảo hiểm

24 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Bảo hiểm - Bài 1: Tổng quan về quản trị rủi ro và bảo hiểm trình bày các vấn đề cơ bản và chung nhất về bảo hiểm. Đây là bài nhập môn, trình bày cơ sở của bảo hiểm, các khái niệm, các loại hình bảo hiểm và vai trò của bảo hiểm, hỗ trợ cho việc tiếp tục nghiên cứu cụ thể và chi tiết về bảo hiểm để vận dụng vào việc quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế.

Trang 1

BÀI 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ BẢO HIỂM

Hướng dẫn học

Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:

 Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn

 Đọc tài liệu:

1 Nguyễn Văn Định (chủ biên), 2012, Giáo trình Bảo hiểm, Nhà xuất bản Đại học

Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

2 Nguyễn Văn Định (chủ biên), 2009, Giáo trình Quản trị Kinh doanh Bảo hiểm,

Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

3 C Arthur Williams, JR Richard M Heins, 1989, Risk Management and

Insurance, McGrawn-Hill International Editions, Singapore

 Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email

 Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học

 Rủi ro và quản trị rủi ro;

 Khái niệm và bản chất của bảo hiểm;

 Các loại bảo hiểm;

 Vai trò kinh tế và xã hội của bảo hiểm

Mục tiêu

Sau khi học xong bài này, sinh viên cần:

 Hiểu được khái niệm rủi ro và phân biệt được các loại rủi ro;

 Nắm vững các công cụ quản trị rủi ro;

 Hiểu được khái niệm và bản chất của bảo hiểm;

 Phân biệt được các loại bảo hiểm;

 Hiểu rõ vai trò kinh tế và xã hội của bảo hiểm

Trang 2

T ình huống dẫn nhập

Con tàu huyền thoại Titanic

Tàu Titanic, con tàu nổi tiếng nhất trong lịch sử, rời cảng

Southampton, Anh Quốc, hướng về New York, Hoa Kỳ ngày

10/04/1912 Ngày 11/04, Sau khi đón khách ở Cherbourg, Pháp

và ở Queenstown (nay gọi là Cobh), Ai Len, tàu Titanic hướng

về Đại Tây Dương Ngày 14/4, khoảng 11h40 tối, tàu Titanic

va vào một tảng băng trôi Ngày 15/04, lúc 2h20 sáng,

tàu Titanic chìm Trên tàu có 16 thuyền cứu đắm và 4 thuyền

gập lại được với sức chứa tối đa khoảng 1.170 người Nhưng có khoảng 2.200 hành khách và những người làm việc trên tàu Trong vụ đắm tàu Titanic chỉ có 705 người được cứu, khoảng 1.500 người thiệt mạng Toàn bộ con tàu Titanic chìm xuống đáy đại dương

http://wol.jw.org/vi/wol/d/r47/lp-vt/102012124

Tàu Titanic có được bảo hiểm bồi thường không?

Trang 3

1.1 Rủi ro và quản trị rủi ro

1.1.1 Khái niệm và phân loại rủi ro

1.1.1.1 Khái niệm rủi ro

Trong cuộc sống cũng như trong sản xuất, chúng ta

luôn có thể gặp các sự kiện nằm ngoài dự kiến Có

những sự kiện ngoài dự kiến mang lại những tốt đẹp,

thuận lợi cho cuộc sống con người Nhưng cũng có thể

là những biến cố không mong muốn với các thiệt hại

có thể là rất lớn Các biến cố không mong đợi này

được gọi là rủi ro Nhiều ý kiến cho rằng, rủi ro là sự

cố không may bất ngờ xảy ra gây thiệt hại về người hoặc tài sản

Rủi ro có đặc điểm rõ nét là sự không chắc chắn, bất ngờ, ngẫu nhiên hay còn gọi là tính bất định của một biến cố nào đó Nghĩa là rủi ro có khả năng xảy ra hay không xảy ra, và rủi ro có thể xảy ra ở bất kỳ thời gian và không gian nào với quy mô thiệt hại lớn hay nhỏ mà ta không xác định trước được

Để làm rõ khái niệm rủi ro, cần phân biệt rủi ro với nguy cơ và hiểm họa

 Rủi ro (risk): là từ chung để chỉ một biến cố gây ra tổn thất Ví dụ, một vụ cháy

thiêu trụi kho hàng của một doanh nghiệp kinh doanh hóa chất, gây thiệt hại về tài chính cho chủ doanh nghiệp

 Hiểm họa (peril): là nguyên nhân chính gây tổn thất Trong ví dụ trên, “cháy” là

hiểm họa

 Nguy cơ (hazard): là một hay nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tổn thất Nguy cơ

không phải là nguyên nhân gây ra tổn thất nhưng có thể làm tăng hoặc giảm khả năng tổn thất khi hiểm họa xảy ra Việc “kho hàng chứa hóa chất” là một nguy cơ

vì khả năng xảy ra cháy của hóa chất cao hơn nhiều mặt hàng khác Có 2 loại nguy

cơ là nguy cơ vật chất và nguy cơ đạo đức Trong vụ cháy kho hóa chất nói trên, nguy cơ vật chất là loại hàng hóa chứa trong kho hoặc kết cấu ngôi nhà, nguy cơ đạo đức là ý thức trách nhiệm của thủ kho và các biện pháp phòng cháy chữa cháy của doanh nghiệp

1.1.1.2 Phân loại rủi ro

Rủi ro được phân thành nhiều loại tùy theo các tiêu thức phân loại khác nhau

 Căn cứ vào vào khả năng kiếm lời trong kết cục của rủi ro: rủi ro thuần và rủi ro đầu cơ (rủi ro suy đoán)

o Rủi ro thuần túy chỉ liên quan đến việc có bị tổn thất hay không Ví dụ kho

hàng bị cháy, thiệt hại về hàng hóa là 10 tỷ đồng Nếu không bị cháy, doanh nghiệp sẽ không bị thiệt hại 10 tỷ đồng

o Rủi ro đầu cơ (rủi ro suy đoán) liên quan đến 3 kết quả có thể xảy ra: tổn thất,

có lãi hoặc không thay đổi Ví dụ: mua cổ phiếu là rủi ro đầu cơ, người mua cổ

phiếu có thể có lãi hoặc bị thua lỗ do giá cổ phiếu tăng hoặc giảm, và cũng có thể không được cũng như không mất gì do giá cổ phiếu đó không thay đổi

Trang 4

 Căn cứ vào việc đo lường hậu quả của rủi ro: rủi ro tài chính và rủi ro phi tài chính

o Rủi ro tài chính là rủi ro có thể xác định hậu quả bằng tiền hoặc quy được

thành tiền

o Rủi ro phi tài chính là những rủi ro không xác định bằng tiền mà liên quan

đến tâm sinh lý con người

Ví dụ bị tai nạn giao thông làm tinh thần hoảng hốt, cảm giác bất an là rủi ro phi

tài chính Chi phí y tế phải trả là rủi ro tài chính

 Căn cứ vào cả nguyên nhân và hậu quả của rủi ro: rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt

o Rủi ro cơ bản là những rủi ro có nguyên nhân nằm ngoài tầm kiểm soát của

con người và gây ảnh hưởng đến nhiều người Nguyên nhân dẫn đến các rủi ro

cơ bản thường do thiên nhiên, như bão lụt, động đất, hạn hán… Hoặc do các biến động trong môi trường kinh tế – chính trị – xã hội như thất nghiệp

o Rủi ro riêng biệt có nguyên nhân và hậu quả mang tính cá biệt, xảy ra với một

hoặc một số ít người Tai nạn giao thông, tai nạn lao động là những ví dụ điển hình về rủi ro riêng biệt

1.1.2 Quản trị rủi ro

Trong mọi hoạt động, con người luôn có nguy cơ gặp

phải rủi ro vì những nguyên nhân khác nhau, như: bão

lụt, hạn hán, ốm đau, bệnh tật tai nạn… Mỗi khi gặp

phải rủi ro thường gây nên những hậu quả khó lường

làm ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất và đến sức khoẻ

của con người Bởi vậy, ngay từ khi xã hội loài người

xuất hiện thì nhu cầu an toàn đối với con người cũng

xuất hiện và nó là một trong những nhu cầu vĩnh cửu

Lúc nào con người cũng tìm cách bảo vệ chính bản

thân và tài sản của mình trước những rủi ro trong cuộc sống cũng như trong sản xuất Phương pháp bảo vệ lúc đầu là rất đơn giản và đôi khi là mù quáng, bằng cách họ luôn luôn cầu xin các đấng thần linh và chúa trời phù hộ dể được yên ổn, an toàn Và chẳng bao lâu con người đã tìm ra cách thức bảo vệ một cách có tổ chức Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những vết tích chứng minh sự tồn tại của các tổ chức cứu hộ tương hỗ đối với các thợ tạc đá Ai Cập cổ đại từ 4.500 năm trước công nguyên Hay người Ba-Bi-Lon đã đưa ra những quy tắc trong việc tổ chức các phương tiện vận tải bằng xe kéo và đặc biệt đã quy định phân chia các thiệt hại do mất cắp và bị cướp cho các thương gia cùng gánh chịu Thời La Mã cổ đại đã có những hội đoàn kết tương trợ của các tập đoàn lính có cùng nhu cầu, bằng cách người ta đã dùng quy chế của toàn tang

lễ Lanuvium tổ chức tang lễ cho tất cả các thành viên đã có tiền đóng góp cho hội từ khi họ còn sống Đến thời Trung cổ, các quy tắc về bảo hiểm hàng hải đã được hình thành và phát triển với bằng chứng là người ta đã tìm thấy các bản hợp đồng bảo hiểm

cổ xưa nhất ở các cảng biển Địa Trung Hải và Đại Tây Dương…

Khi cuộc sống và sản xuất ngày càng phát triển thì nhu cầu an toàn cũng được con người ngày càng quan tâm nhiều hơn Đặc biệt là khi khoa học, kỹ thuật và công nghệ phát triển, một mặt đã làm tăng năng suất lao động và tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc

Trang 5

sống của con người, nhưng mặt khác, nguy cơ gặp rủi ro của con người cũng ngày càng nghiêm trọng Để đối phó với rủi ro và khắc phục hậu quả tổn thất, lúc này con người đã tìm ra nhiều cách thức khác nhau để phòng vệ Từ góc độ quản trị rủi ro, theo mục đích và các biện pháp xử lý rủi ro, những cách thức này thể hiện chủ yếu ở hai nhóm biện pháp là kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro

1.1.2.1 Kiểm soát rủi ro

Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm biện pháp tránh né rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro

 Tránh né rủi ro: Đây là biện pháp được sử dụng phổ biến trong cuộc sống Mỗi

cá nhân, mỗi tổ chức đều có thể lựa chọn những biện pháp thích hợp để né tránh rủi ro có thể xảy ra nhằm loại trừ nguy cơ dẫn đến bị tổn thất Chẳng hạn, để né tránh tai nạn giao thông người ta đã hạn chế việc đi lại, hay để phòng tránh tai nạn lao động, người ta sẽ chọn những ngành nghề ít nguy hiểm hơn… Tuy vậy, trong cuộc sống mà nhất là cuộc sống hiện đại như ngày nay, biện pháp này rất khó thực hiện và thậm chí là không thể thực hiện được

 Ngăn ngừa tổn thất: Đây là biện pháp khá chủ

động bằng cách thực hiện các hành vi và hành động

cụ thể mà các cá nhân và tổ chức đưa ra nhằm giảm

mức độ thiệt hại khi gặp rủi ro Chẳng hạn, để giảm

bớt tai nạn lao động, các khoá học cho người lao

động về an toàn, vệ sinh lao động được tổ chức

Hay để phòng chống hoả hoạn, người ta đã thực

hiện tốt công tác phòng cháy chữa cháy…

 Giảm thiểu tổn thất: Cho dù khi đã gặp phải rủi ro, người ta vẫn có thể có các

biện pháp làm giảm thiểu tổn thất Ví dụ, khi hoả hoạn xảy ra, để giảm thiểu tổn

thất người ta đã sử dụng biện pháp cứu hoả Hay khi bị tai nạn, để giảm thiểu các thiệt hại về người, người ta đã đưa những người bị thương đi cấp cứu kịp thời và điều trị…

Các biện pháp kiểm soát rủi ro nhìn chung đều mang tính chủ động và có tác dụng trong việc ngăn chặn hoặc giảm thiểu rủi ro tổn thất nhưng vẫn không ngăn được rủi ro xảy ra cũng như ngăn cản xảy ra thiệt hại Hơn nữa, chi phí thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro có thể là rất lớn và nằm ngoài khả năng tài chính của các doanh nghiệp

1.1.2.2 Tài trợ rủi ro

Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm chấp nhận rủi ro và bảo hiểm

 Chấp nhận rủi ro: Đây là biện pháp mà con người tự chấp nhận tổn thất khi gặp

phải rủi ro, điều đó cũng có nghĩa là họ tự bảo hiểm Chẳng hạn, người ta có thể tự lập ra quỹ dự trữ, dự phòng và quỹ này chỉ được sử dụng để bù đắp tổn thất khi gặp phải rủi ro Hoặc khi rủi ro xảy ra, để khắc phục hậu quả cho người ta có thể đi vay mượn tiền bạc để khắc phục hậu quả

 Bảo hiểm: Đây là biện pháp chuyển giao rủi ro rất có hiệu quả Có nghĩa là, nhiều

người cùng có khả năng gặp phải rủi ro đóng góp tiền bạc để hình thành quỹ bảo

Trang 6

hiểm và quỹ này được dùng chủ yếu vào mục đích bồi thường hoặc chi trả khi một hay một số người tham gia đóng góp gặp phải rủi ro tổn thất

Theo đà phát triển của lịch sử và của các hình thái kinh tế xã hội cho thấy, trong số tất

cả các biện pháp thuộc hai nhóm biện pháp nêu trên, biện pháp bảo hiểm mà con người áp dụng là phổ biến và có hiệu quả nhất Bởi lẽ, hậu quả của rủi ro thông qua bảo hiểm sẽ được phân tán cho nhiều người cùng gánh chịu Hơn nữa, bảo hiểm không chỉ thuần tuý là sự chuyển giao, sự chia sẻ rủi ro, mà nó còn là sự giảm thiểu rủi ro, giảm thiểu tổn thất, thông qua các chương trình quản lý rủi ro được phối hợp giữa các cá nhân, các tổ chức kinh tế – xã hội với các tổ chức bảo hiểm

Từ thực tế diễn ra nêu trên đã chứng minh rằng, bảo hiểm ra đời là một đòi hỏi khách quan của cuộc sống và sản xuất Xã hội càng phát triển và văn minh thì hoạt động bảo hiểm cũng ngày càng phát triển và không thể thiếu được đối với mỗi cá nhân, tổ chức

và mỗi quốc gia

1.2 Khái quát về bảo hiểm

1.2.1 Bản chất của bảo hiểm

1.2.1.1 Khái niệm bảo hiểm

Mặc dù ra đời từ khá sớm, song cho đến nay vẫn chưa

có một khái niệm thống nhất về bảo hiểm, bởi vì người

ta đã đưa ra khái niệm về bảo hiểm ở nhiều góc độ

khác nhau

 Dưới góc độ tài chính, người ta cho rằng: “Bảo

hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân

phối lại những chi phí mất mát không mong đợi”

 Dưới góc độ pháp lý, giáo sư Hemard đưa ra khái niệm: “Bảo hiểm là một nghiệp

vụ, qua đó, một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (phí bảo hiểm hay đóng góp bảo hiểm) cho chính mình hoặc cho một người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một khoản tiền bồi thường từ một bên khác là người được bảo hiểm, người chịu trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền

bù những thiệt hại theo Luật Thống kê”

 Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các công ty, các tập đoàn bảo hiểm thương mại trên thế giới lại đưa ra khái niệm: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm

vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”

Có thể nói, các khái niệm trên ít nhiều đã lột tả được bản chất của bảo hiểm trên các khía cạnh về rủi ro, sự chuyển giao rủi ro giữa người được bảo hiểm và người bảo hiểm thông qua phí bảo hiểm và số tiền bồi thường hoặc chi trả khi người được bảo hiểm gặp phải rủi ro tổn thất Cũng trên cơ sở các khía cạnh đó, khái niệm về bảo hiểm có thể được hiểu như sau: “Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính, thông qua đó một cá nhân hay một tổ chức có quyền được hưởng bồi thường hoặc chi trả

Trang 7

tiền bảo hiểm nếu rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra nhờ vào khoản đóng góp phí bảo hiểm cho mình hay cho người thứ ba Khoản tiền bồi thường hoặc chi trả này do một

tổ chức đảm nhận, tổ chức này có trách nhiệm trước rủi ro hay sự kiện bảo hiểm và bù trừ chúng theo quy luật thống kê”

Đây là khái niệm mang tính chung nhất của bảo hiểm, bởi vì nó đã bao quát được phạm

vi và nội dung của tất cả các loại hình bảo hiểm (BHTM, BHXH, BHTN và BHYT)

1.2.1.2 Bản chất của bảo hiểm

Mục đích chủ yếu của bảo hiểm là góp phần ổn định cuộc sống và sản xuất cho những người tham gia, và kiến tạo nguồn vốn để phát triển kinh tế và xã hội của đất nước Chính vì vậy, bản chất của bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm quốc nội giữa những người tham gia bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu về tài chính phát sinh khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm Tuy nhiên, phân phối trong bảo hiểm chủ yếu là phân phối không đều, và phần lớn không mang tính bồi hoàn trực tiếp (loại trừ một số loại hình bảo hiểm, như: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tiền hưu trí) Ngoài ra, bản chất của bảo hiểm còn được thể hiện ở các khía cạnh cụ thể sau đây:

 Rủi ro và sự tồn tại của rủi ro là nguồn gốc của bảo hiểm Có nhiều cách tiếp cận khái niệm rủi ro, song theo nghĩa thông dụng nhất thì rủi ro là biến cố gây thiệt hại

và không mong đợi Để đối phó với rủi ro, con người luôn phải tìm cách phòng vệ Trong bảo hiểm hiện đại, bên cạnh rủi ro còn có các sự kiện liên quan đến bảo hiểm, như: sự kiện sinh đẻ của lao động nữ, người lao động đến tuổi nghỉ hưu hay người được bảo hiểm còn sống đến một thời điểm xác định trên hợp đồng BHNT…

 Cơ chế chuyển giao rủi ro trong bảo hiểm được thực

hiện giữa bên tham gia bảo hiểm và bên bảo hiểm

thông qua các cam kết bảo hiểm Theo cơ chế này,

bên tham gia phải nộp phí bảo hiểm và bên bảo

hiểm cam kết bồi thường hay chi trả tiền bảo hiểm

khi đối tượng bảo hiểm hay người được bảo hiểm

gặp phải rủi ro hay sự kiện bảo hiểm Tất nhiên, rủi

ro hay sự kiện bảo hiểm phải là ngẫu nhiên, khách quan mà hai bên đã thoả thuận

 Phí bảo hiểm mà bên tham gia nộp cho bên bảo hiểm phải được thực hiện trước khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra Ngược lại, khoản tiền mà bên bảo hiểm trả cho bên tham gia hay cho người thứ ba chỉ được thực hiện sau khi sự kiện bảo hiểm hay rủi ro xảy ra gây tổn thất Khái niệm người thứ ba trong bảo hiểm thường được pháp luật quy định trong loại hình BHTM

 Việc san sẻ rủi ro, bù trừ tổn thất trong bảo hiểm được bên bảo hiểm tính toán và quản lý dựa vào số liệu thống kê rủi ro và tình hình tổn thất, cũng như quỹ bảo hiểm mà họ thiết lập được dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít

 Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính chứ không phải là hoạt động sản xuất Chính vì vậy, lợi ích của các bên phải được luật hoá rất cụ thể và vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này là rất quan trọng và không thể thiếu được đối với mỗi

quốc gia

Trang 8

1.2.2 Các loại hình bảo hiểm

Hiện nay trên thế giới có 4 loại hình bảo hiểm, đó là: Bảo hiểm thương mại (BHTM); Bảo hiểm xã hội (BHXH); Bảo hiểm y tế (BHYT) và Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) Tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội và mô hình tổ chức ngành bảo hiểm mà mỗi nước

có thể triển khai tất cả hoặc chỉ triển khai một số loại hình trong số 4 loại hình bảo hiểm nói trên

1.2.2.1 Bảo hiểm xã hội

BHXH là loại hình bảo hiểm đóng vai trò hết sức quan trọng, liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động Hoạt động BHXH không nhằm mục đích kiếm lời và chịu sự chi phối chủ yếu của Luật BHXH cũng như định hướng chính sách kinh tế – xã hội của từng quốc gia BHXH có tính cộng đồng xã hội, tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc và là trụ cột chính của hệ thống ASXH của mỗi nước

BHXH ra đời từ giữa thế kỷ 19 Năm 1850 một số bang của nước Phổ (Cộng hoà liên bang Đức ngày nay) lần đầu tiên đã thành lập quỹ trợ giúp nỗi đau Năm 1883, họ lại tiếp tục ban hành Luật BHYT và bảo hiểm TNLĐ, sau đó là đạo luật về hưu trí Người khởi xướng đạo luật này là Tể tướng Bismark, với cơ chế 3 bên (nhà nước – giới chủ – giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo vệ cho người lao động trong các trường hợp gặp rủi ro Ở Pháp, ý tưởng về bảo hiểm TNLĐ cho công nhân ngành đường sắt đã được Klaves taing đề xuất năm 1850 nhưng đã bị giới thượng lưu từ chối, bác bỏ Đầu năm

1860, ông buộc phải chuyển sang Bỉ để thành lập một công ty của mình là Dveservatrice Nửa đầu thế kỷ 20, BHXH phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước Châu Âu và cả ở Bắc Mỹ Tại Mỹ, năm 1935 đã ban hành đạo luật về ASXH với nội dung đều tương tự như các chế độ BHXH ngày nay Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Liên Hợp quốc được thành lập (1945) và một loạt các công ước, các khuyến nghị về BHXH đã được khuyến cáo Ngày 04 tháng 6 năm 1952, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thuộc Liên Hợp quốc đã ký công ước Giơ ne vơ (Công ước số 102) về “BHXH cho người lao động” và khuyến nghị các nước thực hiện BHXH cho người lao động tuỳ theo khả năng và điều kiện kinh tế – xã hội của mình Từ đó, hầu hết các nước trên thế giới tham gia công ước đã vận dụng và ban hành chính sách BHXH cho người lao động và BHXH đã không ngừng phát triển cho đến ngày nay

1.2.2.2 Bảo hiểm y tế

BHYT có thể được triển khai độc lập với các loại hình

bảo hiểm khác và cũng có thể chỉ là một chế độ trong

hệ thống các chế độ BHXH Về cơ bản, loại hình bảo

hiểm này mang đầy đủ tính chất của BHXH Xã hội

càng phát triển và văn minh thì BHYT cũng ngày càng

phát triển, bởi nhu cầu được bảo vệ, được chăm sóc

sức khoẻ, được khám chữa bệnh một cách bình đẳng là

những nhu cầu chính đáng và có tính xã hội rất cao – đối với mọi tầng lớp dân cư BHYT ra đời vào cuối thế kỷ 19 ở Cộng hoà liên bang Đức và một số nước Châu Âu Trong giai đoạn đầu của sự phát triển (1883 – 1914), BHYT chỉ được tổ chức mang

Trang 9

tính đơn lẻ nhằm giúp đỡ lẫn nhau khi người lao động và gia đình họ gặp những rủi ro

về sức khoẻ Sau đó, BHYT đã được một số nước Châu Âu ban hành những đạo luật riêng Năm 1941, BHYT đã được luật hoá tương đối chặt chẽ ở CHLB Đức và sau đó phát triển sang các nước Bắc Mỹ, Châu Á và vùng Caribê Từ khi có công ước 102 về BHXH đến nay, có một số nước triển khai BHYT độc lập và cũng có khá nhiều nước coi BHYT chỉ là chế độ chăm sóc y tế ban đầu nằm trong hệ thống các chế độ BHXH

1.2.2.3 Bảo hiểm thất nghiệp

BHTN cũng có thể được triển khai độc lập với các loại hình bảo hiểm khác và cũng có thể triển khai kết hợp với BHXH Khi triển khai kết hợp, nó chỉ là một chế độ trong hệ thống các chế độ BHXH Vì thế, mục đích, đối tượng và tính chất của BHTN cũng tương tự như BHXH Có thể nói, Châu Âu là cái nôi của tất cả các loại hình bảo hiểm, trong đó có cả BHTN BHTN ra đời năm 1883 tại Thuỵ Sỹ và xuất phát nghề thuỷ tinh và gốm sứ Năm 1990 và 1910 Na Uy và Đan Mạch lần đầu tiên ban hành các đạo luật về BHTN, tiếp đến là Anh, Mỹ và Canada Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, BHTN cũng được một số nước triển khai độc lập và khá nhiều nước coi BHTN chỉ là một chế độ BHXH thuần tuý Mặc dù vậy, nội dung, tính chất và cách thức quản lý đều tương tự nhau Theo số liệu của ILO năm 2005, trên thế giới có 72 nước triển khai BHTN và trợ cấp thất nghiệp cho người lao động

Các nội dung chi tiết về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp sẽ được trình bày chi tiết trong bài 2

1.2.2.4 Bảo hiểm thương mại

a Khái niệm bảo hiểm thương mại

Bảo hiểm thương mại (BHTM) còn được gọi là bảo hiểm rủi ro hay bảo hiểm kinh doanh, được hiểu là sự kết hợp giữa hoạt động kinh doanh với việc quản lý các rủi

ro của các cá nhân và các tổ chức trong xã hội Manh nha của hoạt động này có từ rất lâu trong lịch sử văn minh nhân loại, từ thủa con người biết săn bắn tìm kiếm thức ăn, đồ mặc, rồi tích trữ phòng khi không kiếm được hay khi có chiến tranh… Khi xã hội phát triển hơn, nhu cầu được bảo đảm an toàn cũng lớn hơn Với những tác dụng vô cùng thiết thực đối với các cá nhân, các tổ chức và toàn cộng đồng, hoạt động BHTM càng khẳng định sự có mặt không thể thiếu được trong cuộc sống của con người

BHTM là loại hình bảo hiểm kinh doanh với mục

tiêu chính là lợi nhuận Hoạt động kinh doanh

BHTM chịu sự chi phối chủ yếu của Luật Kinh

doanh Bảo hiểm, các điều ước và tập quán quốc tế

Phạm vi hoạt động kinh doanh BHTM rất rộng do

đối tượng của nó chi phối BHTM là loại hình bảo

hiểm chủ yếu và rất phát triển Đã từ lâu, BHTM không chỉ xâm nhập vào các hoạt động kinh tế – xã hội ở phạm vi một nước mà nó còn phát triển và mở rộng ra phạm vi thế giới thông qua hoạt động tái bảo hiểm và đồng bảo hiểm…

Cho đến nay, câu hỏi “bảo hiểm thương mại là gì?” có thể được trả lời theo nhiều

cách tiếp cận khác nhau Nếu xét từ góc độ pháp lý, “bảo hiểm là một thoả thuận,

Trang 10

qua đó bên tham gia bảo hiểm cam kết trả cho doanh nghiệp bảo hiểm một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm; Ngược lại, doanh nghiệp bảo hiểm cũng cam kết sẽ chi trả hoặc bồi thường một khoản tiền khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra gây tổn thất” Nhìn nhận bảo hiểm dưới góc độ quản lý rủi ro, một tập đoàn bảo hiểm lớn

của Mỹ cho rằng: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một người, một doanh

nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho doanh nghiệp bảo hiểm, công ty

đó sẽ chi trả bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm” (AIG)

Dưới góc độ kỹ thuật bảo hiểm, có thể hiểu BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất

của một hay một số ít người khi gặp một loại rủi ro dựa vào một quĩ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người cùng có khả năng gặp rủi ro đó thông qua hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm Bằng cách chia nhỏ tổn thất như

vậy, hậu quả lẽ ra rất nặng nề, nghiêm trọng với một hoặc một số người sẽ trở nên không đáng kể có thể chấp nhận được đối với cả cộng đồng những người tham gia bảo hiểm BHTM, ở một phương diện khác, chính là tổng thể các mối quan hệ kinh tế giữa các đơn vị và các cá nhân tham gia bảo hiểm với các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm khắc phục hậu quả do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra để ổn định đời sống và khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh

b Sơ lược lịch sử phát triển của bảo hiểm thương mại

Sự ra đời và quá trình phát triển của BHTM được thể hiện ở những loại hình bảo hiểm chủ yếu dưới đây:

 Bảo hiểm hàng hải Bảo hiểm mà chúng ta biết tới hôm nay bắt đầu từ loại hình

bảo hiểm hàng hải Tại Genor và Venice tỉnh Lombardy nước Italia người ta đã tìm thấy bản HĐBH đầu tiên ký kết giữa các thương gia, các chủ tàu với các nhà bảo hiểm vào ngày 23/10/1347 Đến năm 1385, người ta lại tìm thấy một bản HĐBH nhằm bảo hiểm cho những tổn thất của hàng hoá và tàu thuyền do các nguyên nhân bất khả kháng, tai nạn trên biển, hoả hoạn, hàng hoá bị vứt bỏ xuống biển, bị chính quyền hoặc các cá nhân tịch thu, bị trả đũa hay do gặp phải bất kỳ rủi ro nào (CLayton, Bảo hiểm Anh 1971) Tại nước Anh, HĐBH đầu tiên được tìm thấy và còn lưu giữ đến ngày nay được ký kết năm 1547 Đây cũng là một HĐBH hàng hải

 Bảo hiểm nhân thọ Đây là loại hình bảo hiểm rất thông dụng và phát triển khá

nhanh trên thế giới Hợp đồng BHNT đầu tiên được ký kết tại nước Anh vào năm

1583 Các công ty BHNT cũng xuất hiện lần đầu tại nước Anh vào giữa thế kỷ 17 Ngày nay BHNT đã được triển khai ở hầu hết các nước trên thế giới

 Bảo hiểm hoả hoạn Các nhà bảo hiểm trên thế

giới đều cho rằng, BHHH xuất hiện lần đầu tại

Hamburg (CHLB Đức) Tuy nhiên, điều làm cho

BHHH phát triển nhanh chóng cho đến ngày nay là

vụ cháy lớn tại Luôn Đôn năm 1666 Sau vụ cháy

này các thương gia, các tổ chức bắt đầu quan tâm

đến rủi ro bảo hiểm Vào năm 1670, ông Barbon người Anh đã thành lập công ty BHHH đầu tiên trên thế giới Công ty chỉ bảo hiểm cho các căn nhà xây bằng gạch Tại Mỹ, Công ty BHHH đầu tiên ra đời năm 1732 Công ty này bảo hiểm

Trang 11

cho cả nhà cửa và bất động sản trong dân chúng Với cái tên lúc đầu chỉ là “Tổ chức thân thiện” Năm 1752 Benjamin Franklin thành lập Công ty BHHH với cái tên “Đóng góp bảo hiểm cho nhà cửa do hoả hoạn Philadephia”

 Bảo hiểm tai nạn Loại hình này chính thức ra đời vào đầu thế kỷ 19 Năm 1848

tờ thời báo nước Anh đưa tin rằng, hầu như ngày nào cũng xảy ra tai nạn đường sắt Những tai nạn này thường dẫn đến thương tật hoặc tử vong Năm 1849 công ty bảo hiểm hành khách đường sắt đã được thành lập tại Anh quốc để bảo hiểm cho mọi hành khách đi trên tàu hoả

 Bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 cho đến nay, còn có rất nhiều loại hình BHTM khác đã

ra đời, như: bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm vệ tinh… Và cũng từ cuối thế kỷ 19 đến nay, BHTM đã thực sự trở thành một ngành kinh doanh phát triển và không thể thiếu được đối với mỗi quốc gia

c Nguyên tắc hoạt động bảo hiểm thương mại

Với tính chất của một hoạt động kinh doanh, BHTM đáp ứng cho các nhu cầu an toàn của con người và đồng thời nhằm đạt tới mục tiêu cao nhất là lợi nhuận Bởi vậy, việc tiến hành hoạt động BHTM phải tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản sau

ro xảy ra đối với một hoặc một số ít người sẽ được bù đắp bằng số tiền huy động được từ rất nhiều người có khả năng cùng gặp rủi ro như vậy

o Thông qua việc huy động đủ số phí cần thiết để giải quyết chi bồi thường cho các tổn thất có thể xảy ra trong cộng đồng những người tham gia bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm đã thực hiện việc bù trừ rủi ro theo qui luật số lớn Theo nguyên tắc này, càng nhiều người tham gia bảo hiểm thì quĩ bảo hiểm tích tụ được càng lớn, việc chi trả càng trở nên dễ dàng hơn, rủi ro được san sẻ cho nhiều người hơn Thông thường, một sản phẩm bảo hiểm chỉ có thể được triền khai khi có nhiều nhu cầu về cùng một loại bảo đảm đó

 Nguyên tắc 2: Rủi ro có thể được bảo hiểm

o Hoạt động BHTM cung cấp các dịch vụ bảo hiểm cho những cá nhân và tổ chức có nhu cầu Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp, doanh nghiệp bảo hiểm đều chấp nhận các yêu cầu bảo đảm Hiếm có doanh nghiệp bảo hiểm nào đồng ý thoả thuận bồi thường cho các trường hợp tổn thất gây ra do sự cố ý của người được bảo hiểm Cũng vậy, doanh nghiệp bảo hiểm thật khó chấp nhận bảo đảm cho những thiệt hại vật chất của một chiếc xe ôtô ở trong tình trạng không an toàn về kỹ thuật hay không được phép lưu hành

Trang 12

o Đây là một nguyên tắc không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm Theo nguyên tắc này, các rủi ro đã xảy ra, chắc chắn hoặc gần như chắc chắn sẽ xảy ra thì bị từ chối bảo hiểm: hao mòn vật chất tự nhiên, hao hụt thương mại tự nhiên, xe vi phạm nghiêm trọng luật giao thông, cố

ý tự tử… Nói cách khác, những rủi ro có thể được bảo hiểm phải là những rủi ro bất ngờ, không lường trước được Với rủi ro bị chết là rủi ro chắc chắn xảy ra thì yếu tố ngẫu nhiên được xem xét để bảo hiểm là thời điểm chết Thêm vào đó, nguyên nhân gây ra rủi ro có thể được bảo hiểm phải là nguyên nhân khách quan, không cố ý Tính đồng nhất của rủi ro là một yếu tố khác giúp doanh nghiệp bảo hiểm có thể xem xét rủi ro có thể được bảo hiểm hay không Trên cơ

sở tính đồng nhất của rủi ro doanh nghiệp bảo hiểm có thể tính toán được phí bảo hiểm một cách chính xác và khoa học dựa vào các phương pháp toán học

o Để bảo đảm nguyên tắc này, trong đơn bảo hiểm luôn có các rủi ro loại trừ tuỳ thuộc vào từng nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau Đối với các rủi ro được nhận bảo hiểm lại có thể xem xét để phân loại, sắp xếp theo từng mức độ khác nhau (nếu cần thiết) và áp dụng các mức phí thích hợp Đối với các rủi ro có xác suất xảy ra lớn hơn thì mức phí phải nộp cao hơn Chẳng hạn trong bảo hiểm nhân thọ (BHNT), những người không ở cùng độ tuổi sẽ có xác suất tử vong khác nhau do

đó phải đóng mức phí khác nhau Chính vì vậy, một yêu cầu đặt ra đối với người tham gia bảo hiểm là phải trung thực tuyệt đối khi khai báo rủi ro để doanh nghiệp bảo hiểm có thể xác định chính xác rằng rủi ro đó có thể chấp nhận bảo hiểm hay không, nếu có thì với mức phí như thế nào

o Nguyên tắc rủi ro có thể bảo hiểm nhằm tránh cho doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho những tổn thất thấy trước mà với nhiều trường hợp như vậy chắc chắn sẽ dẫn đến phá sản Đồng thời nguyên tắc này cũng giúp các doanh nghiệp bảo hiểm có thể tính được các mức phí chính xác, lập nên được một quĩ bảo hiểm đầy đủ để bảo đảm cho công tác bồi thường Không chỉ bảo đảm quyền lợi cho các doanh nghiệp bảo hiểm mà ngay chính những người tham gia bảo hiểm cũng thấy công bằng hơn khi nguyên tắc này được áp dụng

 Nguyên tắc 3: Phân tán rủi ro

o Là người nhận các rủi ro được chuyển giao từ

người tham gia bảo hiểm, nhà bảo hiểm lúc này

sẽ là người phải đối mặt với những tổn thất có thể rất lớn nếu rủi ro xảy ra Mặc dù quĩ bảo hiểm là một quĩ tài chính lớn, được lập ra bởi sự đóng góp của nhiều người theo nguyên tắc số đông và như vậy, với tư cách là người huy động

và quản lý quĩ, các doanh nghiệp bảo hiểm có khả năng thực hiện nhiệm vụ chi trả bảo hiểm Nhưng trên thực tế, không phải lúc nào doanh nghiệp bảo hiểm cũng luôn đảm bảo được khả năng này Điều này có thể thấy rất rõ với những trường hợp quĩ bảo hiểm huy động được còn chưa nhiều (doanh nghiệp bảo hiểm mới thành lập hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có qui mô nhỏ) trong khi đó giá trị bảo hiểm (GTBH) lại rất lớn hoặc với những trường hợp có rủi ro liên tiếp xảy ra gây tổn thất lớn

Ngày đăng: 07/05/2021, 15:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w