Bài viết này phân tích tác động của việc thay đổi tỷ lệ đóng bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt Nam (trước và sau khi Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 có hiệu lực ngày 01/7/2009) bằng cách sử dụng bộ số liệu kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2006, 2017 của Tổng cục Thống kê. Để đánh giá sự thay đổi này, bài báo sử dụng cách tiếp cận khác biệt trong hồi quy tuyến tính để kiểm tra xem quy định mới về tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện có làm giảm nhu cầu về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của người dân hay không.
Trang 1Tác động của chia sẻ chi phí trong bảo hiểm y tế tại Việt Nam
The impact of sharing costs in medical insurance in Vietnam
Nguyễn Minh Tuấn, Phạm Thị Hồng Hoa
Email: minhtuancnsd@gmail.com
Trường Đại học Sao Đỏ Ngày nhận bài: 12/9/2019 Ngày nhận bài sửa sau phản biện: 26/12/2019
Ngày chấp nhận đăng: 31/12/2019
Tóm tắt
Tác động của chia sẻ chi phí đối với nhu cầu chăm sóc sức khoẻ (bảo hiểm y tế) mặc dù đã được ghi nhận tại nhiều nghiên cứu ở các nước phát triển, nhưng đối với các nước đang phát triển, các nghiên cứu trong lĩnh vực này không nhiều Bài báo này phân tích tác động của việc thay đổi tỷ lệ đóng bảo hiểm
y tế tự nguyện ở Việt Nam (trước và sau khi Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 có hiệu lực ngày 01/7/2009) bằng cách sử dụng bộ số liệu kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2006,
2017 của Tổng cục Thống kê Để đánh giá sự thay đổi này, bài báo sử dụng cách tiếp cận khác biệt trong hồi quy tuyến tính để kiểm tra xem quy định mới về tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện có làm giảm nhu cầu về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của người dân hay không Kết quả phân tích cho thấy, sự thay đổi này không có ý nghĩa thống kê đáng kể về số lượng người dân tham gia dịch vụ chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên, kết quả cũng cho thấy những người dưới 18 tuổi hoặc tại các hộ gia đình có thu nhập thấp, nhu cầu chăm sóc sức khỏe giảm sau khi tăng tỷ lệ cùng chi trả lên 20% chi phí khám, chữa bệnh
Từ khóa: Chi phí; bảo hiểm y tế.
Abstract
The impact of cost sharing on health care needs (health insurance) has been recognized in many studies in developed countries, but for developing countries research in this field is not much This article analyzes the impact of changing the rate of voluntary health insurance in Vietnam (before and after the Health Insurance Law No 25/2008/QH12 of November 14, 2008, takes effect on July 1, 2019) using the results of the survey of household living standards in 2006, 2010 of the General Statistics Office To assess this change, the article uses a different approach in linear regression to examine whether the new regulation on voluntary health insurance reduces the need for health care services The analysis shows that this change is not statistically significant for the number of people participating in health care services However, the results also show that people under 18 or in low-income households need health care to decrease after increasing the co-payment rate to 20% of the cost of medical examination and treatment
Keywords: Costs; health insurance.
Người phản biện: 1 PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh
2 TS Dương Công Doanh
1 GIỚI THIỆU
Hiện nay, các khoản thanh toán mà người tham gia
bảo hiểm y tế (BHYT) phải trả là nguồn tài chính
chủ yếu trong quỹ bảo hiểm y tế ở hầu hết các
quốc gia thu nhập thấp và trung bình [9] Khoản
thanh toán này là số tối đa mà người tiêu thụ dịch
vụ y tế phải bỏ ra trước khi tổ chức bảo hiểm chi
trả 80-100% các tổn phí chăm sóc y tế Các tổ
chức bảo hiểm không chi trả hết các dịch vụ y tế,
mà đòi hỏi người tiêu dùng cùng chia sẻ một phần
nào những chi phí đó Các chi phí đó được tổ chức bảo hiểm hoặc chính phủ ấn định một mức giới hạn, nghĩa là nếu tổng số tiền người dân sử dụng phải trả vượt quá giới hạn này, thì tổ chức bảo hiểm sẽ chi trả trọn vẹn những dịch vụ y tế sau đó Chi phí mà người dân tham gia phải chi trả được tính trong thời hạn một năm theo lịch và sẽ được tính lại từ đầu khi bước sang năm mới; đồng thời chi phí này không bao gồm chi phí cho các dịch
vụ ngoài hệ thống của tổ chức bảo hiểm, hoặc chi phí cho những dịch vụ nào đó được tổ bảo hiểm xác định trước như giải phẫu thẩm mỹ… Do vậy, không có gì ngạc nhiên khi các quốc gia đang phát triển thường mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm y
Trang 2tế để cung cấp cho người dân dịch vụ chăm sóc
sức khỏe Tuy nhiên, một thách thức lớn của việc
mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm y tế cho một hộ
gia đình chính là phí bảo hiểm mà người tham gia
phải chi trả vào đầu các năm, yếu tố này có thể
làm giảm mục tiêu chính sách về BHYT của các
chính phủ trong việc tăng cường mức độ tiếp cận
của người dân Theo lý thuyết, chia sẻ chi phí có
thể được sử dụng để đối phó với thách thức này vì
nó được xem như là một phương tiện để giảm bớt
gánh nặng cho ngân sách nhà nước và đảm bảo
tính ổn định của quỹ bảo hiểm
Đã có nhiều tài liệu đánh giá tác động của việc
chia sẻ chi phí đối với các dịch vụ y tế ở các nước
phát triển Quan điểm chính trong các nghiên cứu
về kinh tế y tế là chia sẻ chi phí nhằm làm giảm
nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm Ví dụ, ở châu Âu bằng
chứng cho thấy khả năng thanh toán của người
tiêu dùng dịch vụ y tế có ảnh hưởng trực tiếp quy
mô dân số tham gia bảo hiểm y tế như: Nghiên
cứu của Đức [12], Bỉ và Chile [2] cho thấy việc
người sử dụng dịch vụ y tế cùng tham gia thanh
toán các chi phí đã làm giảm việc sử dụng dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ; nghiên cứu tại Hà Lan [11]
cho thấy rằng, người tiêu dùng dịch vụ y tế cùng
thanh toán các chi phí sử dụng dịch vụ ít có hoặc
không ảnh hưởng gì đến số lượt bác sĩ tham gia
khám chữa bệnh ngoại trú
Tại Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về BHYT, tuy
nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về tác động của
việc chia sẻ chi phí trong sử dụng dịch vụ chăm
sóc sức khỏe Một số công trình đã chỉ ra rằng,
người Việt Nam tham gia BHYT đã được hưởng
lợi trong sử dụng các dịch vụ y tế tại các cơ sở
khám, chữa bệnh, đặc biệt là các bệnh nhân nội
trú có hưởng lợi lớn về chi phí thời gian lưu trú tại
cơ sở khám, chữa bệnh [3] Về bảo vệ tài chính,
BHYT tự nguyện đã làm giảm chi tiêu trung bình
khoảng 20% và 200% [10] Tuy nhiên, nghiên cứu
không tìm thấy bất kỳ tác động đáng kể nào của
việc tham gia chương trình BHYT tự nguyện làm
tăng tổng chi tiêu hộ gia đình Báo cáo đánh giá
tóm tắt Đoàn giám sát (Ủy ban Thường vụ Quốc
hội) năm 2013 cũng đã khẳng định các chính sách
về BHYT đã làm giảm xu hướng tự điều trị khi có
bệnh của người dân [10]
Tại Việt Nam, sau hơn 20 năm triển khai thực hiện chính sách BHYT, số người tham gia BHYT tăng nhanh và đạt được mục tiêu mở rộng các đối tượng tham gia BHYT, năm 2018 là 82,7 triệu người, tăng mới gần 23 triệu người (tức tăng 35,6%) so với năm 2012, đạt tỷ lệ bao phủ 87,25% dân số cả nước Quỹ BHYT trở thành nguồn tài chính quan trọng đối với công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, từ chỗ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng chi y tế, đến nay đã chiếm khoảng gần 1/3 ngân sách nhà nước dành cho y tế và chiếm tỷ trọng xấp xỉ 67% nguồn thu sự nghiệp của các cơ
sở khám, chữa bệnh Tuy nhiên, từ năm 2005 trở
về trước, quỹ BHYT luôn có kết dư, đến hết năm
2005 quỹ BHYT kết dư 2.900 tỷ đồng Bắt đầu từ năm 2006, quỹ BHYT bắt đầu bội chi, đến hết năm
2017 quỹ BHYT bội chi 8.847 tỷ đồng Mức độ bội chi trong năm 2017 có giảm hơn năm 2016 nhưng tình trạng này đã xuất hiện ở 59 trên 63 tỉnh, thành phố, trong đó một số tỉnh, thành phố bội chi tới hơn 1.000 tỷ đồng Năm 2018, tình trạng bội chi đã lan rộng tới 60 tỉnh, thành phố trên cả nước Trong
đó, có tới 13 tỉnh, thành phố ước bội chi quỹ BHYT
từ hơn 200 tỷ đồng, hai tỉnh lên tới con số hơn 700
tỷ đồng [1] Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bội chi quỹ BHYT, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do mức đóng BHYT không được điều chỉnh kịp thời
so với mức độ gia tăng chi phí khám bệnh, chữa bệnh; bỏ quy định cùng chi trả, mở cửa cho mọi người đang ốm đau được tham gia BHYT và với việc mở rộng phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT, đặc biệt là các dịch vụ kỹ thuật cao có chi phí lớn, tai nạn giao thông, trong khi đó mức đóng BHYT bắt buộc không thay đổi trong nhiều năm qua, đặc biệt mức đóng của nhóm người nghèo, người có thu nhập thấp,…
2 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y
TẾ CỦA VIỆT NAM 2.1 Lộ trình phát triển chính sách bảo hiểm y tế
Sau hơn hai thập kỷ thực hiện chính sách BHYT theo quy định của Nghị định số 299, Nghị định
số 58, Nghị định số 63 và hiện nay là Luật BHYT
2014, chính sách BHYT dần được sửa đổi, bổ sung nhằm mở rộng độ bao phủ tới người dân trong xã hội
Luật BHYT Thân nhân người lao động, xã viên HTX và các đối tượng khác
Nông dân
NĐ58 Trẻ em < 6 tuổi, Người cận nghèo
NĐ299 Người lao động trong DN ngoài nhà nước có từ 01 lao động trở lên, HTX, tổ chức hợp pháp; cựu chiến binh; người nghèo
ĐBQH, HĐND; Giáo viên mầm non, Nhóm chính sách xã hội; thân nhân sĩ quan
Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong DNNN; người lao động trong DN ngoài nhà nước có > 10 lao động; người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động
Hình 1 Lộ trình bao phủ các đối tượng có trách nhiệm tham gia BHYT từ 1992 - 2014 [1]
Trang 3Cùng với việc sửa đổi, bổ sung các quy định về
chính sách BHYT, các đối tượng tham gia BHYT
dần được bổ sung theo qua các giai đoạn, đến
nay theo Luật BHYT năm 2014, chính sách BHYT
lại được phân ra theo năm nhóm đối tượng đóng:
(i) Nhóm do người lao động và người sử dụng
lao động đóng: Mức đóng 4,5% tiền lương hàng
tháng, lương theo ngạch bậc, hợp đồng, trong
đó người lao động đóng 1,5%, người chủ sử dụng
lao động đóng 3% Đóng theo tháng, tại cơ quan,
đơn vị, nơi làm việc
(ii) Nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng: Mức
đóng 4,5% tiền lương hàng tháng, trợ cấp, lương
cơ sở do quỹ BHXH đóng hàng tháng
(iii) Nhóm do ngân sách nhà nước đóng: Mức
đóng 4,5% tiền lương hàng tháng, trợ cấp, lương
cơ sở do ngân sách nhà nước đóng hàng tháng
(iv) Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức
đóng: Mức đóng 4,5% tiền lương cơ sở, trong đó
người tham gia tự đóng 3%, ngân sách nhà nước
đóng 1,5%
(v) Nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình:
Mức đóng của tất cả các thành viên thuộc hộ gia
đình theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế như
sau: Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương
cơ sở; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt
bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ
nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức
đóng của người thứ nhất
Như vậy, chính sách BHYT hiện nay có hai nhóm
đối tượng tham gia, đó là BHYT bắt buộc (CHI) và
BHYT tự nguyện (VHI) và nó đã trở thành chính
sách xã hội mang ý nghĩa nhân đạo, có tính chia
sẻ cộng đồng được Việt Nam hết sức coi trọng
BHYT đã từng bước phát triển, đạt được một
số thành tựu quan trọng như số người tham gia
BHYT tăng, đặc biệt là người nghèo và các đối
tượng chính sách; sự tiếp cận dịch vụ y tế của các
đối tượng được cải thiện rõ rệt BHYT đã tạo ra
nguồn tài chính công đáng kể cho công tác khám,
chữa bệnh, góp phần thực hiện mục tiêu công
bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm
bảo an sinh xã hội
2.2 Quy định chia sẻ chi phí và thử nghiệm
chính sách năm 2007
Các chính sách điều chỉnh chia sẻ chi phí đã thay
đổi theo thời gian Từ năm 2003 đến tháng 9/2005,
20% chi phí điều trị được chia sẻ bởi người được
bảo hiểm Những lợi ích cho người được bảo hiểm
hưởng lợi hơn từ tháng 9/2005 đến tháng 4/2007
vì tất cả các khoản chi dưới 7 triệu đồng cho mỗi
lần điều trị đều do tổ chức bảo hiểm chi trả Đối với
chi phí điều trị trên 7 triệu đồng, khoản dự phòng
bảo hiểm 40% áp dụng cho khoản chi vượt quá
(hoặc khoản khấu trừ cho lần khám chữa bệnh tiếp theo trong năm) Yêu cầu về bảo hiểm 20% sau đó được áp dụng lại vào năm 2007, nhưng chỉ
áp dụng cho các nhóm đối tượng tham gia VHI
Do thay đổi chính sách này không ảnh hưởng đến các nhóm đối tượng tham gia chương trình CHI,
do vậy, nhóm này được sử dụng như một nhóm kiểm soát cho phân tích của bài viết để đánh giá hiệu quả của những thay đổi từ tháng 4/2007 các lợi ích mà bảo hiểm tự nguyện mang lại
3 TÁC ĐỘNG CỦA CHIA SẺ CHI PHÍ TRONG BẢO HIỂM Y TẾ TẠI VIỆT NAM
3.1 Dữ liệu
Để có cơ sở phân tích tác động của chia sẻ chi phí trong bảo hiểm y tế, tác giả sử dụng bộ số liệu Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (Result of the Viet Nam Household Living Standards Survey
- VHLSS) của Tổng cục Thống kê năm 2006 và
2017 VHLSS là kết quả điều tra toàn quốc dựa trên thông tin của hơn 10 nghìn hộ gia đình Cả hai cuộc khảo sát đều chứa thông tin về nhân khẩu học, giáo dục, y tế, việc làm (ở cấp độ cá nhân), thu nhập, tài sản, chi tiêu (cấp hộ gia đình)
và một loạt các biến cơ sở hạ tầng và thể chế cộng đồng (chỉ dành cho các xã nông thôn) Hai bộ số liệu VHLSS này cung cấp thông tin chi tiết về các chương trình bảo hiểm, theo đó các cá nhân được bảo hiểm và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ, đây là cơ sở cho phân tích của tác giả Mặt khác, thời gian của hai cuộc khảo sát phù hợp với mục đích của nghiên cứu này Trong cả hai cuộc khảo sát, các cuộc phỏng vấn diễn ra từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm Do đó, số lượng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe năm 2006 đã được báo khoảng thời gian 12 tháng trước đó
3.2 Mẫu phân tích
Mẫu phân tích bao gồm những người từ 7 tuổi trở lên vào năm 2006 Trẻ em dưới 7 tuổi không nằm trong mẫu phân tích vì đối tượng này được miễn viện phí theo chính sách của Chính phủ Việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe được đo trong khoảng thời gian 12 tháng trước thời gian khảo sát Nếu cá nhân thay đổi hình thức BHYT (chuyển từ VHI sang CHI hoặc không tham BHYT) trong vòng
12 tháng trước thời điểm điều tra VHLSS 2017, tác giả không thể xác định chính xác họ thuộc nhóm nào vì họ không bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng chi phí tham gia bảo hiểm cho cả 12 tháng Để giải quyết sự khác biệt về thời gian đo lường trạng thái BHYT và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tác giả sử dụng dữ liệu bảng tóm tắt của VHLSS
3.3 Biến kiểm soát
Những người không có BHYT không bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng của chi phí bảo hiểm Do vậy,
Trang 4nghiên cứu chỉ sử dụng người được bảo hiểm
theo CHI làm biến kiểm soát
3.4 Phương pháp đánh giá kết quả
Mức tăng 20% trong chi phí BHYT áp dụng cho
cả điều trị ngoại trú và điều trị nội trú cho nhóm tự
nguyện Do đó, nghiên cứu trực tiếp đánh giá tác
động của việc tăng chi phí bảo hiểm bằng cách
phân tích phản ứng giá với số lượng người tham
gia điều trị tại các cơ sở y tế Vì mô hình đặt ra các
biện pháp có khác nhau về điều trị ngoại trú và điều
trị nội trú nên nghiên cứu đánh giá tác động chính
sách riêng biệt đối với hai loại điều trị này [2]
Ngoài nội dung trên, nghiên cứu sử dụng số lần
người tham gia bảo hiểm sử dụng thẻ BHYT để
chi trả cho việc điều trị như là một kết quả ngẫu
nhiên bổ sung trong mô hình, vì thực tế cho thấy,
bệnh nhân được bảo hiểm ở Việt Nam không
phải lúc nào cũng sử dụng thẻ BHYT để yêu cầu
điều trị
4 MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM
4.1 Mô hình ước lượng
Mô hình thực nghiệm để đánh giá tác động của
việc tăng chi phí BHYT trong năm 2007 như sau:
- Tại thời điểm t = 2006, không có cá nhân nào
được bảo hiểm phải chia sẻ chi phí điều trị (Nhà
nước bao cấp hoàn toàn)
- Tại thời điểm t = 2017, người được bảo hiểm
theo chương trình BHYT tự nguyện phải chia sẻ
20% chi phí điều trị và được chỉ định cho nhóm
được điều trị, những người khác tạo thành nhóm
đối chứng
- Số người tham gia BHYT tự nguyện i là một chỉ
số nhị phân bằng 1 chỉ số nếu cá nhân i được
bảo hiểm theo chương trình VHI năm 2017 và 0
nếu có
Do đó, một mô hình hồi quy nhu cầu chăm sóc sức
khỏe không được đáp ứng đề xuất là:
Trong đó:
VHI: bảo hiểm y tế tự nguyện;
d2: một biến giả bằng 1 nếu t = 2017 và 0 nếu
t = 2006;
ci: một biến cá thể bất biến
Biến giả thời gian d2, là kiểm soát xu hướng thời
gian trong nhu cầu chăm sóc sức khỏe không liên
quan đến sự gia tăng chi phí như thay đổi về khả
năng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoặc
môi trường sống Tính không đồng nhất riêng lẻ
của ci trong phương trình (1) cho thấy rằng việc
tham gia VHI có thể tương quan với các đặc điểm
riêng lẻ cũng ảnh hưởng đến chính sách chăm
sóc sức khỏe Xit là một vectơ của tất cả các đặc điểm kinh tế - xã hội khác được kiểm soát trong hồi quy và Uit Giả định rằng E(Uit/Xi, VHIi, ci) = 0,
t = 2006, 2017
Để loại bỏ hiệu ứng không được quan sát ci, phương trình khác biệt đầu tiên (1) là:
Hiệu ứng của sự gia tăng chi phí sau có thể thu được bằng cách lấy lại sự thay đổi trong Y về sự thay đổi trong các biến Xi và biến giả VHI Với dữ liệu của hai thời kỳ như trong nghiên cứu, ước tính
a3 từ phương trình (2) là ước tính khác biệt (DID)-
nó đo lường hiệu quả của việc giới thiệu khoản
dự phòng rủi ro cho những người được bảo hiểm theo VHI Bộ ước lượng sai lệch đầu tiên (FD) ước tính các ước tính DID giống như một ước lượng hiệu ứng cố định trong khi cả hai đều tận dụng lợi thế của các phương pháp dữ liệu cho trước với các yếu tố bất biến về thời gian và không gian quan sát Cách tiếp cận khác biệt sẽ nghiên cứu tác động của việc chia sẻ chi phí bảo hiểm tương
tự như trong nghiên cứu của Hà Nguyễn (2012) Phép hồi quy khác biệt đầu tiên giúp loại bỏ sai lệch
vị nội sinh do đặc điểm bất biến về thời gian, không gian quan sát có ảnh hưởng đến việc đăng ký VHI
và sử dụngdịch vụ chăm sóc sức khỏe Để tránh tính đồng nhất số lượng người tham gia chương trình VHI, nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp biến công cụ (IV) để ước lượng phương trình (2) Tuy nhiên, khó trong phương pháp này là tìm một công cụ hợp lệ có liên quan đến việc số lượng người đăng ký tham gia chương trình VHI nhưng không phải với nhu cầu chăm sóc sức khỏe Đối với mỗi cá nhân, biến này được tính bằng tỷ
lệ người từ 7 tuổi trở lên sống trong các hộ khác trong cùng xã có tham gia vào chương trình VHI Biến dựa trên xã này sau đó được sử dụng kết hợp với biến giả dựa trên hộ gia đình cho biết bất
kỳ thành viên hộ gia đình nào trên 7 tuổi đã tham gia chương trình CHI để dự đoán xác suất đăng
ký của một thành viên trong gia đình tham gia chương trình VHI Vì biện pháp này dựa trên cơ
sở xã nên được cho là vượt quá tầm ảnh hưởng của cá nhân Nếu ước lượng là các công cụ hợp
lệ cho phương trình VHI, thì các ước tính DID của
mô hình khác biệt đầu tiên sử dụng các phương pháp biến công cụ sẽ nhất quán
4.2 Biến giải thích
Do đặc điểm của các mẫu trong nhóm tham gia chương trình VHI có thể khác với các nhóm tham gia chương trình CHI, nên tác giả đã đưa biến giải thích bổ sung (X) vào mô hình Mô hình đã đưa biến tuổi và giới tính để giải thích số lần đi khám tại bệnh viện của người dân sẽ tăng theo độ tuổi
và phụ nữ có xu hướng có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao hơn Ngoài ra, mô hình đã đưa biến thu
(2)
∆𝑦𝑦!$=∝#+∝%𝑉𝑉𝑉𝑉𝑉𝑉!$+ ∆𝑋𝑋!$𝛾𝛾 + ∆𝑢𝑢!"
(1)
𝑦𝑦!" = ∝#𝑑𝑑2"+∝$𝑉𝑉𝑉𝑉𝑉𝑉!"+∝%𝑑𝑑2"
∗ 𝑉𝑉𝑉𝑉𝑉𝑉!"+ 𝛾𝛾𝑋𝑋!"+ 𝑐𝑐!+ 𝑢𝑢!"
Trang 5nhập của hộ gia đình vào để xem xét giả thuyết
nhu cầu chăm sóc sức khỏe có thể tăng theo thu
nhập (thu nhập của hộ gia đình sử dụng dữ liệu
chi tiêu bình quân đầu người) Đồng thời, dữ liệu
về loại gia đình (tài sản của hộ gia đình) được đưa
vào mô hình phân tích hồi quy để đo lường sự
tác động đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe Nghiên
cứu sử dụng cả chỉ số tình trạng sức khỏe dài hạn
và ngắn hạn: Chỉ số trạng thái sức khỏe dài hạn là
cá nhân mắc bệnh mãn tính hoặc hạn chế về khả
năng chức năng; tình trạng sức khỏe ngắn hạn là
biến giả định cá nhân đã bị bệnh trong 12 tháng
trước thời gian điều tra Ngoài ra, số lượng ngày
các cá nhân có bất kỳ bệnh trong 12 tháng trước
đó cung cấp một chỉ số về tình trạng sức khỏe
Nghiên cứu cũng sử dụng thông tin về hành vi hút
thuốc lá, thuốc lào như một đại diện cho lối sống
cũng có thể ảnh hưởng đến nhu cầu chăm sóc
sức khỏe Các biến kiểm soát cũng bao gồm trình
độ học vấn cao nhất, tình trạng hôn nhân, dân tộc
và quy mô hộ gia đình Việc đưa các biến khu vực
và nông thôn, thành thị vào hồi quy là kiểm soát
tính không đồng nhất trong việc sử dụng dịch vụ y
tế giữa các vùng
5 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 5.1 Thống kê mô tả
Bảng 1 minh họa cách sử dụng chăm sóc sức khỏe cho nhóm VHI và nhóm CHI từ năm 2006 đến
2017 Trong cả hai năm, các cá nhân được bảo hiểm bởi CHI có mức sử dụng chăm sóc sức khỏe cao hơn khi cả bệnh nhân ngoại trú và bệnh nhân nội trú Đối với điều trị ngoại trú, số lượt khám năm
2017 tăng so với năm 2006 và xu hướng này có
ý nghĩa thống kê đối với nhóm VHI Một mô hình tương tự (nhưng không có ý nghĩa thống kê) được quan sát khi kết quả được đo bằng số lần những người được bảo hiểm sử dụng BHYT của họ để trả tiền điều trị Bảng 1 cũng cho thấy sự khác biệt
về sự thay đổi kết quả giữa nhóm được điều trị và nhóm đối chứng trong giai đoạn 2006-2017 (DID) Các số liệu của DID cho thấy việc giới thiệu lại khoản dự phòng rủi ro trong nhóm VHI đã giảm số lượt đăng ký ngoại trú của họ xuống còn 0,27, so với nhóm CHI Mức giảm này có ý nghĩa thống kê
Bảng 1 Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe theo nhóm VHI - CHI
Loại điều trị Kết quả (được điều trị) Nhóm VHI (kiểm soát) Nhóm CHI DID (a)
2006 2017 17-06 (a) 2006 2017 17-06 (a)
Bệnh nhân ngoại trú AB 1.170.55 0.880.54 -0.29***-0.03 1.320.88 1.290.86 -0.02-0.02 -0.27***-0.01 Bệnh nhân nội trú AB 0.090.05 0.110.08 0.020.02 0.140.12 0.140.11 -0.010.00 0.020.03
Ghi chú: A - Số lần điều trị; B - Số lần thẻ bảo hiểm y tế được sử dụng để chi trả cho việc điều trị DID - Sự khác biệt về kết quả giữa nhóm đối chứng được điều trị và nhóm đối chứng tương ứng sau và trước khi tăng mức chi trả khám, chữa bệnh (a) kiểm tra được thực hiện trên mức ý nghĩa của sự khác biệt giữa mẫu trung bình giữa hai năm trong nhóm và giữa các nhóm đối chứng được điều trị và tương ứng trong hai năm (* mức ý nghĩa 10%, ** mức ý nghĩa 5% và *** mức ý nghĩa 1%).
Bảng 2 Tác động của việc tăng chi phí cùng chi trả sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe - Phương pháp
FD so với IV-FD
Kết quả Ước lượng Điều trị ngoại trú Điều trị nội trú
5.2 Kết quả hồi quy
Bảng 2 trình bày ước tính của DID về tác động
của sự gia tăng đồng bảo hiểm lên nhu cầu chăm
sóc sức khỏe bằng cách sử dụng CHI làm nhóm kiểm soát Các kết quả được trình bày riêng biệt theo loại điều trị (nội trú, ngoại trú) và ước lượng (FD và IV-FD)
Trang 6Kết quả Ước lượng Điều trị ngoại trú Điều trị nội trú
Ghi chú: FD là ước tính thu được bằng phương pháp hồi quy OLS của sự thay đổi kết quả trên điều trị giả và thay đổi trong X's IV là ước tính thu được bằng phương pháp hồi quy khả năng tối đa của sự thay đổi kết quả trên điều trị giả (biến nội sinh) và thay đổi trong X's X bao gồm tuổi, tình trạng hôn nhân, số ngày bị ốm năm trước, trình độ học vấn, tình trạng hộ gia đình, loại nhà, quy mô hộ gia đình, thu nhập hộ gia đình Thống kê t (t-statistics) được điều chỉnh để phân cụm ở cấp hộ gia đình *** p < 0,01, ** p < 0,05, * p < 0,1 Rho là ước lượng tương quan giữa sai số trong phương trình Giá trị P từ phép thử LR cho giả thuyết không tương quan (Rho = 0).Chi squared 1: Chi bình phương giá trị của các phép thử cho ý nghĩa chung Chi squared 2: Chi bình phương giá trị của các phép thử đối với các sai sót P value: Giá trị xác suất cho phép thử Kết quả: A - Số lần điều trị; B - Số lần thẻ bảo hiểm y tế được sử dụng để thanh toán điều trị.
Bảng 2 cho thấy rằng trước khi sử dụng IV, kết
quả phân tích cho thấy việc gia tăng chi phí bảo
hiểm có tác động không đáng kể đối với người
tham gia điều trị ngoại trú và số lần bệnh nhân có
BHYT sử dụng thẻ để thanh toán cho việc điều trị
Số lượng người tham gia VHI có tác động rõ rệt
lên các ước tính Cụ thể, nó làm giảm tác động
của chi phí bảo hiểm đối với số lượng người tham
gia điều trị ngoại trú Ngoài ra, số lượng người
tham gia VHI còn được thể hiện bằng số lần người
bệnh sử dụng thẻ BHYT để thanh toán cho điều trị
Do vậy, cả hai kết quả các ước tính IV đều không
có ý nghĩa thống kê đáng kể
Để xác định số người tham gia điều trị nội trú có
ảnh hưởng không đáng kể đến phương trình ước
lượng, tác giả đã đo số lần điều trị hoặc số lần
thẻ BHYT được sử dụng cho việc thanh toán quá
trình điều trị của người bệnh tại các cơ sở y tế Kết
quả ước lượng cho thấy những người tham gia
chương trình VHI có tác động không đáng kể về
mặt thống kê đến số lần điều trị Tuy nhiên, cũng
lý rằng ước tính OLS đã được đẩy lên và điều này
phù hợp với ước tính tích cực về mối tương quan
(Rho) giữa các lỗi trong phương trình xử lý và kết
quả Kích thước của độ lệch không đáng kể nhưng
tỷ lệ khả năng ở dưới cùng của ước tính DID chỉ ra
rằng trong hầu hết các trường hợp, không thể bác
bỏ giả thuyết các lỗi không tương thích trong mô
hình Trong trường hợp này, một mối tương quan
tích cực và có ý nghĩa giữa thay đổi sai số trong
phương trình kết quả và sai số trong phương trình
xử lý được quan sát
Để đánh giá sự thay đổi trong ước tính liên quan
đến việc cung cấp dịch vụ bảo hiểm trong các hồi
quy, tác giả đã kiểm tra độ bền của các biến bằng
cách sử dụng phép thử tỷ lệ khả năng sinh kế (LR)
của người dân Các kết quả trong bảng 2 cho thấy
các biến này có tác động mạnh; đồng thời, tác giả
kiểm tra giả định rằng các biến không tương quan
với các lỗi trong phương trình (2) bằng cách sử
dụng thử nghiệm nhận dạng Trong mọi trường hợp, kiểm tra thống kê Chi bình phương (Chi squared 1) trong bảng 2 cho thấy, không thể bác
bỏ giả thuyết lỗi không tương thích với các biến Ngoài ra, tác giả sử dụng tỷ lệ người dân trong xã tham gia chương trình VHI là biến duy nhất, kết quả gần giống như khi sử dụng hai biến trên Sau
đó, tác giả triển khai bộ ước lượng hai giai đoạn
và so sánh các kết quả với các kết quả thu được
từ trình ước lượng ban đầu và đều có ước tính gần như giống nhau Tóm lại, tác giả không tìm thấy tác động dự kiến tiêu cực của việc tăng quy định về chi phí cùng chi trả trong khám chữa bệnh đối với người tham gia BHYT với số lượng người được chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu của các cá nhân người tham gia VHI
5.3 Biến thể giữa các nhóm phụ
Tuy nhiên, tính không đồng nhất để đáp ứng với chi phí bảo hiểm bỏ ra và tình trạng sức khỏe của
cá nhân là khó đo lường, do vậy, có hai khả năng
có thể xảy ra là những người có sức khỏe kém hơn có thể nhạy cảm về giá hơn vì các hiệu ứng thu nhập tiềm năng lớn hơn hoặc những người có sức khỏe kém có thể ít nhạy cảm về giá vì họ có thể coi trọng sức khỏe hơn
Kết quả trong bảng 3 - Panel 1 chỉ ra rằng không
có sự khác biệt đáng kể trong phản ứng với sự gia tăng chi phí bảo hiểm (đối với cả điều trị ngoại trú
và điều trị nội trú) và tình trạng bệnh (đối với điều trị nội trú) Tuy nhiên, có một số khác biệt đáng kể trong phản ứng khi tình trạng sức khỏe được đo bằng cách có bất kỳ bệnh nào để điều trị ngoại trú (bảng 4 - Panel 2) Đặc biệt, những người có sức khỏe tốt hơn (tức là không có bệnh) dường như giảm số lượng điều trị ngoại trú của họ bằng 0,13 trong khi những người có sức khỏe kém thì không
Sự khác biệt này không có ý nghĩa ở mức 10% Một xu hướng tương tự khi kết quả được đo bằng
số lần sử dụng thẻ BHYT để thanh toán cho điều trị ngoại trú
Trang 7Bảng 3 Tác động của việc tăng đồng bảo hiểm lên việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, theo tình trạng sức khỏe và giới tính
Kết quả bảng 3 - Panel 3 cho thấy không có sự
khác biệt đáng kể về giới tính đối với điều trị ngoại
trú khi gia tăng chi phí BHYT Ngược lại, có sự
khác biệt đáng kể về tác động của chi phí bảo
hiểm theo giới tính đối với bệnh nhân tham gia
điều trị nội trú Điều này cho thấy có ý nghĩa thống
kê của mối tương quan giữa phương trình điều trị
và kết quả cho thấy kết quả IV-FD
Ngoài ra, kết quả bảng 4 - Panel 1 còn cho thấy
rằng khi có chung một quyền lợi trong BHYT thì
những người dưới 18 tuổi có nhiều khả năng giảm
Bảng 4: Tác động của việc tăng đồng bảo hiểm lên việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, theo độ tuổi và thu nhập
Panel 1
Theo tuổi
số lần điều trị hơn là những người lớn tuổi hơn Đặc biệt, những người dưới 18 tuổi đã giảm số lần điều trị ngoại trú của họ xuống 0,6 (kết quả FD-IV) trong khi những người lớn tuổi thì không Những người dưới 18 tuổi cũng giảm tần suất sử dụng thẻ BHYT để thanh toán các chi phí khám, chữa bệnh (điều trị ngoại trú là 0,3, FD-IV và điều trị nội trú là 0,4, FD-IV) trong khi những người lớn tuổi thì không Phát hiện này phù hợp với với nghiên cứu của Bộ Y tế khi đánh giá những người lớn tuổi ít có khả năng chia sẻ chi phí trong khám, chữa bệnh hơn người trẻ tuổi
Trang 8Panel 1
Theo tuổi
Panel 2 Theo
Ngoài ra, kết quả trong bảng 4 - Panel 2 cũng cho
thấy một số khác biệt đáng kể về tác động của
việc tăng chia sẻ chi phí bảo hiểm lên nhu cầu
chăm sóc sức khỏe của các nhóm thu nhập (các
nhóm được chia theo mức chi tiêu bình quân đầu
người) So với CHI được bảo hiểm, bảo hiểm VHI
giảm số lượng điều trị ngoại trú của họ khoảng 0,9
sau khi mức chia sẻ chi phí bảo hiểm nếu họ ở
nhóm thu nhập thấp nhất Tương tự, họ cũng giảm
số lần sử dụng thẻ BHYT của họ để thanh toán
tiền cho điều trị ngoại trú một Ngược lại, kết quả
phân tích còn cho thấy sự gia tăng về số lần các
quyền lợi bảo hiểm y tế được sử dụng cho người
được bảo hiểm theo VHI ở các nhóm thu nhập
cao hơn Như vậy, có thể khẳng định sự khác biệt
trong phản ứng với mức gia tăng chia sẻ chi phí
trong khám chữa bệnh có tham gia BHYT có tác
động về mặt tài chính lớn đối với các cá nhân có
thu nhập thấp
6 KẾT LUẬN
Bài báo đã xem xét tác động của những người
tham gia chương trình VHI phải chia sẻ 20% (bảo
hiểm thanh toán tối đa 80%) chi phí khám, chữa
bệnh tại các cơ sở y tế Nghiên cứu áp dụng biến
công cụ (khác biệt) phù hợp cho dữ liệu VHLSS
2006 và 2017 bằng cách sử dụng số lượng người
tham gia bảo hiểm y tế theo chương trình bắt buộc
làm nhóm kiểm soát Kết quả cho thấy không có
sự giảm đáng kể nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho
nhóm tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện (phát hiện
này cho cả điều trị ngoại trú và điều trị nội trú)
Kết quả phân tích cũng cho thấy việc quy định
người tham gia bảo hiểm y tế phải chi trả 20%
chi phí khám, chữa bệnh không có tác động đối
với nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân
Theo phân nhóm, tác giả nhận thấy sự khác biệt
không đáng kể trong phản ứng về nhu cầu chăm
sóc sức khỏe của nam và nữ Tuy nhiên, kết quả phân tíchcũng thấy rằng những người dưới 18 tuổi hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấp đã giảm sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ sau khi tăng tỷ lệ người bệnh đồng chi trả khi sử dụng dịch
vụ chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế
Quy định người tham gia bảo hiểm y tế phải chi trả 20% chi phí khám, chữa bệnh không làm giảm số lượng người yêu cầu được chăm sóc y tế là không phù hợp ở các nước phát triển Mặc dù vậy, quy định này lại phù hợp với điều kiện chăm sóc sức khỏe ở các nước đang phát triển, mọi người chỉ đi khám bác sĩ khi nó rất cần thiết [8] Sự thiếu tác động này cũng có thể là do sự hiện diện của các chi phí tiền tệ và phi tiền tệ khác liên quan đến điều trị y tế ở các nước đang phát triển như chi phí các dịch vụ y tế không nằm trong chính sách do tổ chức bảo hiểm chi trả, nhưng người sử dụng dịch
vụ y tế vẫn phải thanh toán Điều này là đúng đối với Việt Nam, vì đối với những người được điều trị miễn phí (thuộc nhóm tham gia bảo hiểm bắt buộc) trong năm 2017 vẫn phải thanh toán hơn một nửa tổng chi phí điều trị Với việc đồng chi trả 20% chi phí trong quá trình sử dụng dịch vụ y tế đã tác động đến sự thay đổi nhỏ so với tổng chi phí người sử dụng phải bỏ ra và khó tạo nên sự thay đổi lớn trong thói quen tiêu dùng của người Việt Nam Ngoài ra, do hệ thống thiếu chính sách chăm sóc sức khỏe đầy đủ, đặc biệt là ở mức độ cao và các cơ sở y tế không đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân cũng có thể giải thích
sự tác động không đáng kể của việc người dân
sử dụng bảo hiểm y tế cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe của mình
Kết quả phân tích phù hợp với tình trạng của quỹ
y tế thâm hụt hiện nay và phù hợp với các nghiên cứu khác về tác động của phí sử dụng đối với nhu cầu chăm sóc khỏe ở các nước đang phát triển
Trang 9[6] Ngân hàng Thế giới (2015), Cập nhật tình hình
phát triển kinh tế Việt Nam, 7-2015, Hà Nội.
[7] Nguyen (2012), The impact of voluntary health
insurance on health care tilization and out-of-pocket payments: New evidence for Vietnam Health Economics 21, 946-966.
[8] O'Donnell (2007), Access to health care
in developing countries: Breaking down
publica/Ministerio da Saude, Fundacao Oswaldo Cruz,Escola Nacional de Saude Publica 23, 2820-2834.
[9] Tổng cục Thống kê (2006, 2017), Kết quả khảo
sát mức sống hộ gia đình Việt Nam, Hà Nội.
[10] Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2013), Báo cáo
tóm tắt kết quả giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật bảo hiểm y tế giai đoạn
2009-2012, Hà Nội.
[11] Van Dijk, C.E., van den Berg, B., Verheij, R.A., Spreeuwenberg, P., Groenewegen, P.P., de
Bakker, D.H (2013), Moral hazard and
supplier-induced demand: Empirical evidence in general
[12] Winkelmann (2004), Health care reform and
the number of doctor visits - an conometric
455-472.
Những phát hiện trong quá trình phân tích và một
số nghiên cứu khác cho thấy chia sẻ chi phí là một
công cụ tối ưu Chính phủ điều chỉnh chính sách an
sinh xã hội, ngoài ra nó còn có ý nghĩa quan trọng
trong chính sách tài chính ở dịch vụ chăm sóc sức
khỏe Do đó, thiết lập các quy định đồng thanh
toán theo khả năng chi trả là một cách để mở rộng
quỹ bảo hiểm y tế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Y tế (2011), Báo cáo kết quả nghiên cứu khả
năng thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, Hà Nội
[2] Duarte (2012), Price elasticity of expenditure
Economics 31, 824-841.
[3] Ha Nguyen and Luke B Connelly (2017),
Cost in health insurance and its impact in a
[4] Đào Lan Hương và cộng sự (2014), Tiến tới
bao phủ bảo hiểm y tế ở Việt Nam: Đánh giá
và giải pháp, The World Bank, Washington DC
20433.
http://nhandan.com.vn/xahoi/item/38217402-can-quan-ly-hieu-qua-quy-bao-hiem-y-te.html
THÔNG TIN TÁC GIẢ
Nguyễn Minh Tuấn
- Tóm tắt quá trình đào tạo, nghiên cứu (thời điểm tốt nghiệp và chương trình đào tạo, nghiên cứu):
+ Năm 1999: Tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Quản lý kinh tế và xã hội, Tài chính - Ngân hàng
+ Năm 2005: Tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh + Năm 2015: Tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Tài chính - Ngân hàng
- Tóm tắt công việc hiện tại: Giảng viên, Trưởng Phòng Tổ chức - Hành chính, Trưởng Khoa Kinh tế
- Lĩnh vực quan tâm: kinh tế, xã hội
- Điện thoại: 0912795162
Phạm Thị Hồng Hoa
- Tóm tắt quá trình đào tạo, nghiên cứu (thời điểm tốt nghiệp và chương trình đào tạo, nghiên cứu):
+ Năm 2000: Tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Chính trị + Năm 2005: Tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh + Năm 2017: Tốt nghiệp Tiến sĩ kinh tế chính trị quốc tế
- Tóm tắt công việc hiện tại: Giảng viên, Trưởng Khoa Giáo dục chính trị và thể chất
- Lĩnh vực quan tâm: kinh tế, xã hội
- Điện thoại: 0384080136