Bài viết khai thác đề tài này thông qua khảo sát các nhân tố tác động tới kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp tại các SME ở Lý Nhân, Hà Nam- một huyện đồng bằng Bắc Bộ có kinh tế tư nhân phát triển nhờ lợi thế từ các làng nghề truyền thống và điều kiện giao thông thuận lợi.
Trang 1Nghiên cứu điển hình tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
Đào Nam Giang
Học viện Ngân hàng
Vũ Thị Thu Hằng
Chi cục Thuế khu vực Duy Tiên- Lý Nhân, Hà Nam
Ngày nhận: 25/09/2020
Ngày nhận bản sửa: 05/11/2020
Ngày duyệt đăng: 25/11/2020
Tóm tắt: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) đóng vai trò lớn trong phát triển kinh
tế tư nhân và tạo công ăn việc làm, nhưng việc phát huy vai trò của kế toán trong quản trị thuế tại các đơn vị này chưa cao Hiện mới có một số ít nghiên cứu đi sâu vào kế toán thuế tại SME với đối tượng khảo sát chủ yếu tại các đô thị lớn Nghiên cứu này sẽ tiếp tục khai thác đề tài này thông qua khảo sát các nhân tố tác động tới
kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) tại các SME ở Lý Nhân, Hà Nam- một huyện đồng bằng Bắc Bộ có kinh tế tư nhân phát triển nhờ lợi thế từ các làng nghề truyền thống và điều kiện giao thông thuận lợi Kết quả khảo sát ở SME và cán bộ
Factors affecting to accounting for income tax in SMEs - a case study of a rural province with
flourishing SMEs in Vietnam
Abstract: Small and medium enterprises (SMEs) play an important role in economic development
and job creation, but the effectiveness of accounting for tax and tax management in these entities is still limited Recently, just some research, which surveys maily on SME in big cities, dicsusses deeply into tax accounting in SMEs This study will continue to explore this topic through examining the factors affecting corporate income tax accounting in SMEs in Ly Nhan, Ha Nam- a Northern Delta district with a flourishing SMEs thanks to advantages from traditional craft villages and favorable traffic conditions Survey carried out among SMEs and tax officers demonstrates the effect of some main factors, including: Pressure from the desire to avoid tax of business owners; The inconsistency and unclearness in policies on corporate income tax as well as tax accounting, and the ineffectiveness
of tax authorities’ consultation and propaganda about these policies SMEs tend not to use outside consulting services, not yet pay enough attention to investment in information technology, while the understanding of regulations and tax regimes of the accounting staff is limited.
Keywords: income tax, SME, tax accounting, tax regulations.
Giang Nam Dao
Email: namgiangriver@gmail.com; giangdn@hvnh.edu.vn
Banking Academy of Vietnam
Hang Thi Thu Vu
Email: vuhang00@gmail.com
Duy Tien- Ly Nhan area Tax Department
Trang 2thuế cho thấy nhân tố chính ảnh hưởng đến công tác kế toán thuế là: Áp lực từ mong muốn tránh thuế của các chủ doanh nghiệp; Sự thiếu nhất quán và cụ thể trong chính sách thuế TNDN và kế toán, hiệu quả của việc tư vấn và tuyên truyền về các chính sách này của cơ quan thuế chưa cao SME có xu hướng ít sử dụng dịch vụ tư vấn bên ngoài, chưa chú trọng đến đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, trong khi hiểu biết về các quy định và chế độ thuế của đội ngũ kế toán còn hạn chế.
Từ khóa: kế toán thuế, chính sách thuế, doanh nghiệp nhỏ và vừa, thuế thu nhập
doanh nghiệp.
1 Giới thiệu
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME)
thường được xác định theo quy mô vốn, lao
động hoặc doanh thu Ở Việt Nam, trong
lĩnh vực sản xuất, xây dựng, SME là doanh
nghiệp (DN) có quy mô lao động tham gia
bảo hiểm đến 200 hoặc doanh thu đến 200
tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn đến 100 tỷ
đồng (theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP
của Chính phủ) Các SME đóng góp gần
50% GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế,
tạo ra hơn 50% việc làm cho xã hội. Tuy
nhiên, hoạt động của các SME còn tồn tại
không ít vấn đề: Hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh chưa cao, môi trường kinh
doanh còn nhiều khó khăn Những văn bản
thay đổi về chính sách thuế được các SME
đánh giá là khó tiếp cận, có đến 56% DN
siêu nhỏ, 52% DN nhỏ và 45% DN quy mô
vừa cho biết “thỏa thuận về các khoản thuế
phải nộp với cán bộ thuế là công việc quan
trọng trong kinh doanh (theo Báo cáo về
môi trường kinh doanh đối với các SME
Việt Nam của VCCI và USAID, 2016)
Theo khảo sát của Nguyễn Ý Nguyên Hân,
Đàm Thị Hải Âu và Nguyễn Thị Minh Đức
(2019), phần lớn các SME không nhận diện
được rủi ro về thuế hoặc chỉ nhận diện được
ở mức độ ban đầu Do đặc điểm và quy mô
hoạt động cũng như chủ sở hữu, nên nhóm
DN này thường chưa có sự quan tâm thích
đáng đến công tác kế toán nói chung và kế
toán thuế nói riêng Đồng thời với những hạn chế về nhân lực và thông tin, SME cũng thường gặp khó khăn hoặc lúng túng trong việc thực thi và tuân thủ các quy định của thuế, chưa thích nghi kịp thời với những thay đổi trong cơ chế chính sách kế toán và thuế Nói cách khác, hoạt động kế toán thuế nói chung (ghi chép, tổng hợp và phân tích thông tin) và thuế TNDN nói riêng tại các SME chưa thực sự phát huy được vai trò của nó và có thể ảnh hưởng không nhỏ tới
sự phát triển lâu dài của các SME
Kế toán thuế TNDN là một vấn đề cũng đã được khá nhiều các nghiên cứu trước quan tâm Tuy nhiên, các nghiên cứu này thường xem xét ở các DN nói chung hoặc trong một ngành hoặc lĩnh vực nhất định (Trần Thị Hương, 2019, Nguyễn Thị Thu Hoàn,
2016, hay Bùi Thị Mai Hoài và Nguyễn Thị Tuyết Hoa, 2015…) Một số ít nghiên cứu khảo sát cụ thể về kế toán thuế TNDN tại SME, điển hình là Đinh Quang Hòa (2016)
và Trần Thị Kim Dung (2013) nhưng cả
2 tác giả đều khảo sát ở nhóm SME hoạt động trên một quận của thành phố HCM với đặc điểm kinh tế đô thị lớn và sôi động
ở Việt Nam
Do đó, kế toán thuế TNDN tại các SME vẫn là một hướng nghiên cứu sâu cần được khai thác thêm Nghiên cứu này tiếp tục phát triển hướng tập trung vào kế toán thuế
Trang 3TNDN ở các SME, với đối tượng khảo sát
là các DN hoạt động ở nông thôn với thế
mạnh là các làng nghề truyền thống Cụ
thể, bài viết sử dụng kết quả khảo sát qua
bảng hỏi để đánh giá tác động của 5 nhóm
nhân tố (chế độ, chính sách, chất lượng
nhân lực kế toán, chủ doanh nghiệp, hoạt
động tư vấn hỗ trợ và mức độ ứng dụng
công nghệ thông tin) đến công tác kế toán
thuế TNDN tại các SME trên địa bàn huyện
Lý Nhân, Hà Nam
Huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam là một huyện
đồng bằng Bắc Bộ, có điều kiện giao thông
thuận tiện, cách Hà Nội khoảng 60 km,
với sự phát triển của nhiều ngành nghề
truyền thống Tại địa phương, tính đến
thời điểm 31/12/2019, có tất cả 433 DN
đang hoạt động, trong đó toàn bộ là SME
Tổng nguồn vốn toàn bộ DN đến thời điểm
31/12/2019 là 3.399,24 tỷ đồng, trong đó
tổng nguồn vốn tư nhân đạt 99,98% Ngành
nghề kinh doanh của các DN trên địa bàn
khá đa dạng, chủ yếu là dệt may (khoảng
20%), xây dựng (khoảng 15%) (tác giả
tự tổng hợp từ cơ sở dữ liệu quản lý trên
phầm mềm quản lý thuế tập trung TMS
của Chi cục Thuế khu vực Duy Tiên- Lý
Nhân, Hà Nam) Do đặc điểm là các DN
trên địa bàn chủ yếu xuất phát từ các hộ
kinh doanh trong các làng nghề thủ công
phát triển thành doanh nghiệp, do đó nhiều
DN còn hạn chế trong công tác kế toán và
chưa chú trọng nhiều vào công tác kế toán
của đơn vị mình
Kết quả của nghiên cứu này hy vọng góp
phần làm phong phú hơn hướng nghiên
cứu về kế toán TNDN và giúp các nhà làm
chính sách cũng như các bên có liên quan
có cái nhìn rõ hơn về hoạt động kế toán và
các vấn về thuế tại các SME
2 Tổng quan nghiên cứu
Các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán tại các DN nói chung và các SME nói riêng đã được khá nhiều nghiên cứu khai thác
Komala, A R (2012) phân tích thông tin của 31 tổ chức quản lý ở Bandung, Indonesia và cho thấy kiến thức của các nhà quản lý và kế toán ảnh hưởng đáng kể đến
hệ thống thông tin kế toán Tuy nhiên, phần lớn các công ty được khảo sát đều sử dụng dịch vụ kế toán thuê ngoài Mkonya và các cộng sự (2018) nghiên cứu ở các tổ chức phi chính phủ hoạt động ở Tanzania trong các lĩnh vực khác nhau và khẳng định tác động của sự hỗ trợ từ các nhà quản lý cấp cao, yếu tố con người đến hệ thống thông tin kế toán và chất lượng thông tin kế toán Trần Đình Khôi Nguyên (2010) xây dựng
mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chuẩn mực kế toán trong các SME tại Đà Nẵng Kết quả khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người, trong khi đó, các yếu tố về chính sách như văn bản hướng dẫn, hay đặc điểm tài chính của doanh nghiệp,… không có tác động đáng
kể Đồng thời, tác giả nhấn mạnh về giá trị thông tin báo cáo tài chính (BCTC) của các SME đối với cộng đồng kinh doanh đang không thực sự có ý nghĩa
Tương tự, Trần Đình Khôi Nguyên (2013) phân tích về thang đo các nhân tố phi tài chính ảnh hưởng tới vận dụng chuẩn mực
kế toán trong SME ở Việt Nam Theo đó xác định bốn nhân tố phi tài chính với các thuộc tính của nó có thể ảnh hưởng đến vận dụng chuẩn mực kế toán, gồm: chất lượng nguồn nhân lực kế toán, tài liệu hướng dẫn thực hành, tư vấn cộng đồng kế toán và nhận thức của chủ DN, trong đó chất lượng nguồn nhân lực là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất
Trang 4Tiếp nối nghiên cứu trên, Nguyễn Thị
Giang (2020) thực hiện nghiên cứu về các
nhân tố ảnh hưởng đến công tác kế toán
trong SME Tác giả cho rằng có 6 nhân tố
là nguyên nhân khiến việc tổ chức công tác
kế toán không được SME coi trọng: (1) Đối
tượng sử dụng thông tin kế toán, (2) Nhận
thức của chủ DN, (3) Quy mô DN, (4)
Yêu cầu và khả năng ứng dụng công nghệ
thông tin, (5) Trình độ của kế toán viên, (6)
Các dịch vụ tài chính kế toán Mặc dù bài
nghiên cứu đưa ra các nhân tố ảnh hưởng
dựa trên cơ sở lý thuyết và các tài liệu tham
khảo, không có kiểm định cụ thể, nhưng lý
luận đưa ra đều phù hợp với thực tế và các
nghiên cứu trước đó
Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước cũng
phân tích sâu về các nhân tố ảnh hưởng đến
kế toán thuế TNDN Nguyễn Thị Thu Hoàn
(2016) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến việc thực thi và tuân thủ chuẩn mực kế
toán thuế TNDN ở Việt Nam Bằng phương
pháp phân tích nhân tố khám phá để kiểm
định mối liên hệ giữa việc thực thi, tuân
thủ Chuẩn mực kế toán thuế TNDN và lợi
ích áp dụng cho các DN, tác giả xác định
5 nhân tố và mức độ tác động của lần lượt
từng nhân tố như sau: tài liệu thực hành
(24,9%); trình độ chuyên môn (23,3%), tư
vấn bên trong, bên ngoài (23%), công tác
thanh tra kiểm tra (14,4%), hệ thống chính
sách thuế (14%)
Bùi Thị Mai Hoài và Nguyễn Thị Tuyết Hoa
(2015) nghiên cứu các nhân tố quyết định
hành vi điều chỉnh thu nhập làm giảm thuế
TNDN phải nộp ở Việt Nam Tác giả xây
dựng mô hình gồm 9 nhân tố ảnh hưởng:
Giám đốc muốn để lại danh tiếng trước khi
nghỉ, chuyển việc (có sự thay đổi CEO hay
không); nhà quản lý nắm giữ cổ phiếu (tỷ lệ
% sở hữu cổ phiếu của CEO); loại thu nhập
ưu đãi; thay đổi chính sách thuế TNDN;
chính sách giảm thuế tháo gỡ khó khăn của nhà nước; quy mô DN; chủ trương của nhà quản lý về tối đa hóa lợi nhuận; công ty
có dự định phát hành cổ phiếu; và chính sách kế toán Kết quả kiểm định dựa trên mẫu gồm 211 công ty cho thấy, 2 nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê là thu nhập
ưu đãi và chính sách thuế (ghi nhận doanh thu chưa thực hiện, doanh thu theo tiến độ, ghi nhận số lượng các khoản dự phòng, ghi nhận chi phí thuế TNDN hoãn lại)
Đinh Quang Hòa (2016) và Trần Thị Kim Dung (2013) khảo sát về kế toán thuế thu nhập DN tại các DN nhỏ và vừa trên địa bàn 2 quận của thành phố Hồ Chí Minh (lần lượt là quận 6 và quận 7) Các tác giả xây dựng bảng hỏi đi sâu vào khảo sát tại các SMEs trên địa bàn bao gồm nội dung về: các quy định về thuế TNDN, chế độ kế toán thuế TNDN, Chuẩn mực kế toán thuế TNDN và cải cách thủ tục hành chính về thuế TNDN hiện nay có ảnh hưởng như thế nào đến công tác kế toán thuế TNDN Kết quả thu được qua nghiên cứu: còn tồn tại nhiều hạn chế trong việc vận dụng chuẩn mực, chế độ kế toán, luật thuế TNDN cũng như thực hiện kế toán thuế TNDN tại các SME trên địa bàn; từ đó tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện phù hợp
Tóm lại, tổng quan nghiên cứu trên đã chỉ
ra những nhân tố ảnh hưởng đến công tác
kế toán, thuế TNDN ở cả bên trong và bên ngoài DN Theo đó, trong bài viết này nhóm nghiên cứu xác định 5 nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN nói chung và tại SME nói riêng là:
Hệ thống chính sách pháp luật, cụ thể
là hệ thống chính sách pháp luật về thuế, chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán
Nhà quản lý doanh nghiệp: Phần lớn
Trang 5các nhà quản lý, đặc biệt trong các SME,
thường có tư tưởng không tích cực về tuân
thủ nghĩa vụ thuế, thậm chí tìm mọi cách
để giảm thiểu tối đa chi phí thuế TNDN,
điều này ảnh hưởng trực tiếp đến công tác
kế toán thuế TNDN Một số khác thì vì
mục tiêu khác nhau của DN mà nhà quản
lý muốn điều chỉnh thông tin về lợi nhuận
sau thuế trên BCTC, điều này đương nhiên
sẽ ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN Mặt
khác, nhà quản lý hiểu biết càng nhiều về
công tác kế toán và thuế thì càng chú trọng
kiểm tra, giám sát chặt chẽ đảm bảo tính
tuân thủ và ngược lại
Chất lượng nhân lực kế toán: Kế toán
thuế TNDN được thực hiện bởi kế toán
viên, do đó trình độ, năng lực, hiểu biết của
kế toán sẽ tác động trực tiếp đến việc hoàn
thiện kế toán thuế TNDN Nếu trình độ
chuyên môn không cao, ý thức trách nhiệm
thấp sẽ dẫn đến việc vận dụng sai lệch các
quy định về kế toán thuế TNDN
Chất lượng các hoạt động kiểm tra, tư
vấn, hỗ trợ: Bao gồm việc tư vấn hỗ trợ từ
cơ quan thuế cho các SME và chất lượng
dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp bên ngoài
Công nghệ thông tin: Việc thực hiện công
việc kế toán nói chung và kế thuế nói riêng
trên phần mềm kế toán sẽ khắc phục được
những sai sót do con người gây ra, nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống, tránh trùng lắp giữa các phần hành kế toán, hạn chế sử dụng giấy tờ, giúp tiết kiệm chi phí
3 Phương pháp nghiên cứu và mẫu khảo sát
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trên, bài viết sẽ sử dụng phương pháp điều tra qua bảng hỏi với đối tượng khảo sát là những người tham gia hoặc có liên quan trực tiếp đến công tác kế toán thuế TNDN Bảng hỏi được thiết kế theo thang đo likert với 2 phần: Phần 1 ghi nhận các thông tin chung về DN và thông tin về người trả lời, tên DN, địa chỉ, số điện thoại, email, ngành nghề kinh doanh… Nội dung khảo sát chính được thiết kế ở phần 2 với 24 câu hỏi nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của 5 nhân tố: Chính sách pháp luật, Nhà quản lý doanh nghiệp, chất lượng nhân lực kế toán, chất lượng các hoạt động kiểm tra tư vấn hỗ trợ và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin Các câu hỏi này được xây dựng trên cơ
sở kế thừa và tổng hợp từ các nghiên cứu trước (Bảng 1)
Phiếu khảo sát được gửi tới 2 nhóm chính
là các SME và các cán bộ thuế trực tiếp làm việc với các SME trên địa bàn Thời gian khảo sát: Tháng 12/2019 Tình hình phiếu gửi đi, thu về và cơ cấu của 2 nhóm khảo sát trong mẫu nghiên cứu cụ thể như sau:
Bảng 1 Cơ sở xây dựng bảng hỏi
Hệ thống chính sách Trần Thị Hương (2019), Trần Đình Khôi Nguyên (2010)
Nhà quản lý doanh nghiệp Trần Thị Hương (2019), Trần Đình Khôi Nguyên (2010)
Chất lượng nhân lực kế toán Trần Thị Hương (2019), Trần Đình Khôi Nguyên (2010)
Kiểm tra, tư vấn, hỗ trợ Đặng Ngọc Hùng (2015), Trần Thị Hương (2019)
Công nghệ thông tin Trần Thị Hương (2019)
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Trang 6Nhóm 1 - các SME: Phiếu khảo sát được
gửi tới 100 trong tổng số 433 SME đang
hoạt động trên địa bàn Nhóm tác giả gửi
tới mỗi đơn vị 1 phiếu khảo sát và đề nghị
giám đốc hoặc kế toán trực tiếp xử lý phần
hành về thuế trả lời phiếu để có được cái
nhìn khách quan hơn từ cả 2 phía là chủ
DN và người làm kế toán Kết quả thu về
được 55 phiếu, trong đó có 1 phiếu không
đủ thông tin nên việc phân tích được thực
hiện với 54 phiếu Trong 54 phiếu này có
19 phiếu do giám đốc DN trả lời (chiếm
35%) và 35 phiếu do kế toán thuế của đơn
vị trả lời (65%) Một số thông tin phản ánh
các đặc điểm của mẫu khảo sát và tổng thể
433 SME tại địa phương được tổng hợp
trong Bảng 2
Căn cứ vào Bảng 2 có thể thấy, cơ cấu
theo loại hình DN cũng như ngành nghề
của mẫu khảo sát và tổng thể khá tương
đồng với nhau Cũng theo số liệu tài chính
mà nhóm nghiên cứu đã tổng hợp, xét về
qui mô, tổng tài sản của 55 SME tham gia
khảo sát là 1.965 tỷ đồng, tương đương
với 27,5% tổng tài sản của tất cả 433 SME (7.157 tỷ đồng)
Bảng 3 cho thấy các DN được khảo sát chủ yếu có thời gian hoạt động tương đối lâu,
từ trên 4 năm Kết quả khảo sát đến từ các
DN đã hoạt động tương đối ổn định, quy trình kế toán đã có nhiều năm thực hiện và điều chỉnh phù hợp hoạt động sản xuất kinh doanh Người trả lời câu hỏi cũng phần lớn
là người có thời gian dài hoặc làm quản
lý công ty hoặc làm công tác kế toán, đây đều là những đối tượng có kinh nghiệm và nhiều năm tiếp xúc với kế toán thuế TNDN
Nhóm 2 - các cán bộ thuế: tác giả gửi
phiếu khảo sát cho 3 bộ phận: kiểm tra, kê khai, tuyên truyền, hỗ trợ- đây là các bộ phận làm việc trực tiếp với người nộp thuế
và liên quan đến kê khai, quyết toán thuế TNDN từ tiếp nhận hồ sơ đầu vào, giải đáp chính sách và thanh tra, kiểm tra Tổng số phiếu khảo sát gửi đi là 25 phiếu (tương ứng với tổng số cán bộ thuế ở 3 bộ phận trên ở chi cục thuế khu vực Duy Tiên- Lý
Bảng 2 Cơ cấu ngành nghề và loại hình DN của các SME
Cơ cấu doanh nghiệp khảo sát 433 SME đang hoạt động tại Lý Nhân (%) 54 SME tham gia khảo sát (%)
Cơ cấu theo ngành nghề
Cơ cấu theo loại hình doanh nghiệp
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả và Chi cục thuế khu vực Duy Tiên- Lý Nhân, Hà Nam,
tháng 12/2019
Trang 7Nhân) và số phiếu nhận về là 20 phiếu với
cơ cấu cụ thể như trong Bảng 4
Bảng 4 cho thấy, cán bộ thuế được khảo sát
đều là những người lâu năm trong nghề, có
cơ hội tiếp xúc với nhiều loại hình DN
4 Kết quả khảo sát và thảo luận
Các kết quả khảo sát phân tích dưới đây
được tổng hợp từ 74 phiếu khảo sát ở cả các
SME (54 phiếu tại 54 đơn vị) và các cán bộ
thuế (20 phiếu ở 3 bộ phận) của Lý Nhân,
Hà Nam
4.1 Ảnh hưởng của chính sách pháp luật đến kế toán thuế TNDN tại các SME
Khảo sát ảnh hưởng của chính sách pháp luật đến công tác kế toán thuế TNDN tại các SME được tóm tắt trong Bảng 5, theo
đó khoảng 60% phản hồi đồng ý rằng những nội dung khó hiểu, sự thiếu nhất quán trong các quy định của chuẩn mực,
Bảng 3 Thời gian hoạt động của các SME và thời gian làm việc
của đối tượng khảo sát
Số lượng (DN) Phần trăm (%)
Thời gian hoạt động của
các SME tham gia gia
khảo sát
Thời gian làm việc của
đại diện đơn vị trả lời
khảo sát
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả, tháng 12/2019
Bảng 4 Vị trí và kinh nghiệm làm việc của các cán bộ thuế tham gia khảo sát
Số lượng Tỷ lệ (%)
Vị trí công việc
Thời gian làm việc
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả, tháng 12/2019
Trang 8chế độ kế toán liên quan đến thuế TNDN,
sự thiếu rõ ràng và nhất quán trong chính
sách thuế TNDN sẽ gây khó khăn cho công
tác kế toán thuế TNDN ở các SMEs
Phản hồi cao nhất là đối với các vấn đề
liên quan đến VAS17- Kế toán thuế TNDN
(khoảng 80%), điều này là hoàn toàn phù
hợp khi mà phần lớn kế toán và giám đốc
của SME không đặt cao việc áp dụng VAS
vào công tác kế toán, chủ yếu họ thực hiện
theo chế độ kế toán đã ban hành Và vì
không thực sự quan tâm đến áp dụng VAS
nên cho kế toán không bỏ nhiều thời gian
nghiên cứu VAS17, trong khi đây là một
chuẩn mực khó
4.2 Ảnh hưởng của nhà quản lý DN đến
kế toán thuế TNDN tại SME
Nhà quản lý DN là người đưa ra mọi quyết
định của DN Ảnh hưởng của các quyết
định nhà quản lý DN đến kế toán thuế
TNDN thu được kết quả tại Bảng 6
Kết quả khảo sát cho thấy, khoảng 60% người được hỏi (bao gồm chủ DN, kế toán viên và cán bộ thuế) đồng ý rằng, những yếu tố từ các chủ DN như chưa coi trọng vai trò của thông tin kế toán và muốn che giấu thông tin lãi/lỗ thực để đối phó với chính sách pháp luật sẽ tác động tiêu cực đến kết quả công tác kế toán thuế của các SMEs trên địa bàn huyện Lý Nhân, Hà Nam Kết quả khảo sát riêng đối với nhóm cán bộ thuế cho thấy nhóm này tin tưởng rằng có
sự can thiệp của chủ DN đến việc che dấu thông tin lỗ/lãi từ đó tác động đến số thuế phải nộp (65% người được hỏi đồng ý)
4.3 Ảnh hưởng của chất lượng nhân lực
kế toán đến kế toán thuế TNDN
Phản hồi về tác động của nhân lực kế toán của các SME trên địa bàn Lý Nhân Hà Nam đến kế toán thuế TNDN được tóm tắt trong Bảng 7
Hầu hết người được hỏi đều cho rằng chất
Bảng 5 Ảnh hưởng của chính sách pháp luật đến thuế TNDN Nội dung khảo sát Tổng số phiếu
Kết quả khảo sát
Không đồng
ý (mức 1, 2) Trung lập (mức 3) Đồng ý (mức 4,5)
Chuẩn mực kế toán thuế TNDN (VAS 17)
VAS 17, Thông tư, chế độ kế toán hướng
dẫn kế toán thuế TNDN chưa thống nhất 74 0 0,0 32 43,2 42 56,8 Chính sách thuế TNDN chưa phù hợp với
hệ thống pháp luật chuyên ngành liên quan 74 14 18,9 17 23,0 43 58,1 Các quy định TNDN chưa đầy đủ, rõ ràng 74 6 8,1 24 32,4 44 59,5 Chính sách thuế TNDN liên tục thay đổi 74 15 20,3 16 21,6 43 58,1
Các quy định của VAS 17 chưa phù hợp
với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại DN 74 3 4,1 34 45,9 37 50,0
Cơ sở tính thuế của VAS17 với chính sách
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả, tháng 12/2019
Trang 9lượng nhân lực kế toán có ảnh hưởng rõ
rệt đến công tác kế toán thuế, khoảng
70% người được khảo sát đồng ý rằng kế
toán thuế TNDN bị ảnh hưởng do người
làm kế toán chưa hiểu rõ các quy định về
thuế TNDN của pháp luật thuế Tương tự
khoảng 60% người được hỏi cho rằng kế
toán thuế TNDN bị ảnh hưởng khi “Người
làm kế toán chưa hiểu rõ các quy định của
chuẩn mực, chế độ kế toán về thuế TNDN”
và ‘kế toán ở SME chỉ chú trọng vào ghi
chép cho mục đích tính thuế hơn là mục đích kế toán” Khoảng 40% đồng ý với nhận định kinh nghiệm của kế toán và trách nhiệm kế toán có ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN
Kết quả khảo sát thu được từ 2 nhóm DN
và cán bộ thuế cũng khá tương đồng với nhau Tuy nhiên, trong khi nhóm DN cho rằng hạn chế về mặt kinh nghiệm và thiếu trách nhiệm trong công việc không phải là
Bảng 6 Ảnh hưởng nhà quản lý DN đến kế toán thuế TNDN
Nội dung khảo sát Tổng số
phiếu
Kết quả khảo sát
Không đồng
ý (mức 1,2) Trung lập (mức 3) Đồng ý (mức 4,5)
Chưa nhận biết được lợi ích mang lại cho DN
từ việc cung cấp thông tin hữu ích về thuế
Giảm TNCT để tiết kiệm chi phí thuế TNDN 74 7 9,50 16 21,60 51 68,90 Che dấu thông tin lỗ/ lãi để đối phó với chính
Nhận thức về vai trò thông tin kế toán theo
các chuẩn mực của chủ DN hạn chế (chỉ
khảo sát đối với các DN) 54 3 5,60 12 22,20 39 72,20
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả, tháng 12/2019
Bảng 7 Ảnh hưởng của nhân lực kế toán đến kế toán thuế TNDN
Nội dung khảo sát Tổng số
phiếu
Kết quả khảo sát
Không đồng
ý (mức 1, 2) Trung lập (mức 3) Đồng ý (mức 4,5)
Kế toán chưa hiểu rõ các quy định của
chuẩn mực, chế độ kế toán về thuế
Kế toán chưa hiểu rõ các quy định về
thuế TNDN của pháp luật thuế 74 7 9,46 15 20,27 52 70,27
Kế toán ít kinh nghiệm về kế toán thuế
Kế toán còn thiếu trách nhiệm trong công
Kế toán ở DNVVN chỉ chú trọng vào ghi
chép cho mục đích tính thuế hơn là mục
đích kế toán (chỉ khảo sát đối với các DN) 54 4 7,41 17 31,48 33 61,11
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả, tháng 12/2019
Trang 10nhân tố có ảnh hưởng quá nhiều đến kế toán
thuế (chỉ có 31% đồng ý kinh nghiệm của
kế toán và 37% đồng ý trách nhiệm kế toán
có ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN), thì
nhóm cán bộ thuế lại cho rằng đây cũng là
2 nhân tố gây ảnh hưởng nhiều đến công
tác kế toán thuế TNDN, tỷ lệ phản hồi đồng
ý với nhận định này khá cao (70% cán bộ
thuế được hỏi đồng ý kinh nghiệm của kế
toán và 60% đồng ý trách nhiệm của kế toán
có ảnh hưởng đến kế toán thuế TNDN)
4.4 Ảnh hưởng của hoạt động kiểm tra
tư vấn hỗ trợ đến kế toán thuế TNDN tại
SME
Phần lớn người được hỏi, đồng ý rằng tư vấn
của cơ quan thuế cho công tác thuế TNDN
còn hạn chế (62% đồng ý) Tuy nhiên, điều
đáng ghi nhận là chỉ có 24% đồng ý với ý
kiến về việc kết luận của các cuộc thanh
tra, kiểm tra thuế, kiểm toán, chưa cụ
thể, riêng đối với nhóm cán bộ thuế, có tới
85% người được hỏi cho rằng các kết luận
được ban hành sau các cuộc thanh tra, kiểm
tra khá cụ thể Đây là một yếu tố tác động
tích cực tới việc định hướng để hoàn thiện
và giảm thiểu các sai sót trong công tác kế
toán thuế tại các SMEs
Về nhận định “Ý kiến chuyên gia tư vấn
trong lĩnh vực kế toán thuế TNDN còn yếu (kiểm toán, kế toán dịch vụ)”, khoảng 38% người được hỏi có ý kiến trung lập với vấn
đề này, 47% đồng ý Riêng đối với nhóm khảo sát là DN, có tới 44% trung lập, chỉ
có 37% đồng ý với vấn đề này Điều này có thể do các DN được khảo sát trên địa bàn không sử dụng chuyên gia tư vấn, nên họ đưa ra ý kiến trung lập Kết quả khảo sát riêng đối với nhóm cán bộ thuế về vấn đề này, có 75% đồng ý Rõ ràng ý kiến chuyên gia tư vấn là một vấn đề có ảnh hưởng nhiều đến kế toán thuế TNDN tại các SME
4.5 Ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến kế toán thuế TNDN tại các SME
Công nghệ thông tin là một trong những công cụ quan trọng cho kế toán, tác giả đánh giá ảnh hưởng của công nghệ thông tin thu được kết quả như Bảng 9
Hầu hết người được hỏi đều đồng ý rằng việc sử dụng phần mềm kế toán sẽ giúp tiết kiệm thời gian cho DN (73% đồng ý), cũng như tiết kiệm thời gian cho hoạt động kiểm tra, kiểm soát, cố vấn từ bên ngoài (89% đồng ý) Với các phần mềm kế toán hiện nay, kế toán chỉ cần nhập dữ liệu đầu vào
hệ thống sẽ tự hạch toán và trả ra báo cáo,
do đó sẽ tiết kiệm rất nhiều thời gian so với
Bảng 8 Ảnh hưởng của kiểm tra, tư vấn hỗ trợ đến kế toán thuế TNDN
Nội dung khảo sát Tổng số
phiếu
Kết quả khảo sát
Không đồng
ý (mức 1, 2) Trung lập (mức 3) Đồng ý (mức 4,5)
Tư vấn của cơ quan thuế cho công tác thuế
Kết luận của các cuộc thanh tra, kiểm tra
thuế, kiểm toán, chưa cụ thể 74 42 56,76 14 18,92 18 24,32
Ý kiến chuyên gia tư vấn trong lĩnh vực kế
toán thuế TNDN còn yếu (kiểm toán, kế toán
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả, tháng 12/2019