1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giới thiệu và giải thích ý nghĩa một số tục thờ và tín ngưỡng truyền thống: hờ Mẫu, Đốt Vàng Mã, Lên Đồng, Hiến Sinh, Thờ cúng Cá Ông, Cưới Hỏi, Tang Ma, Tín ngưỡng thờ cúng Tổ Tiên.

81 32 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. TỤC THỜ MẪU (3)
    • 1.1 Khái niệm (3)
    • 1.2 Nguồn gốc của tục Thờ Mẫu (3)
    • 1.3 Các dạng thức thức thờ mẫu của người Việt (5)
    • 1.4 Ý nghĩa tục thờ mẫu của người Việt (15)
  • II. TỤC ĐỐT VÀNG MÃ (20)
    • 2.1 Khái niệm (20)
    • 2.2 Nguồn gốc của tục đốt Vàng Mã (20)
    • 2.3 Tục đốt Vàng Mã trong trong đời sống văn hóa người Việt (22)
    • 2.4 Ý nghĩa của tục đốt Vàng Mã (23)
  • III. TỤC LÊN ĐỒNG ( HẦU ĐỒNG) (25)
    • 3.1 Khái niệm (25)
    • 3.2 Nguồn gốc của tục Lên Đồng( Hầu Đồng) (25)
    • 3.3 Ý nghĩa của tục Lên Đồng (28)
  • IV. TỤC HIẾN SINH (30)
    • 4.1 Khái niệm (30)
    • 4.2 Nguồn gốc của lễ Đâm Trâu (30)
    • 4.3 Lễ đâm Trâu trong đời sống văn hóa đồng bào các dân tộc Tây Nguyên (32)
    • 4.4 Ý nghĩacủa lễ Đâm Trâu (36)
  • V. TỤC THỜ CÚNG CÁ ÔNG (38)
    • 5.1 Khái niệm (38)
    • 5.2 Nguồn gốc của tục thờ cúng Cá Ông (38)
    • 5.3 Tục thờ cúng Cá Ông trong đời sống văn hóa người Việt (39)
    • 5.4 Ý nghĩa của tục thờ cúng Cá Ông (43)
  • VI. CƯỚI HỎI (46)
    • 6.1 Khái niệm (46)
    • 6.2 Nguồn gốc, phong tục và nghi lế cưới hỏi (46)
    • 6.3 Lễ cưới của tín đồ tôn giáo (52)
    • 6.4 Ý Nghĩa của lễ cưới (53)
  • VII. TANG MA (56)
    • 7.1 Khái niệm (56)
    • 7.2 Nguồn gốchình thành (56)
    • 7.3 Nghi thức tang ma trong đời sống người Việt (56)
  • VIII. TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN (62)
    • 8.1 Khái niệm (62)
    • 8.2 Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (64)
    • 8.3 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống văn hóa người Việt (70)
    • 8.3 Ý nghĩa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (76)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (79)

Nội dung

1.3 Các dạng thức thức thờ mẫu của người Việt Năm 2001, trong hội thảo về Đạo Mẫu và các hình thức Shaman ở Việt Nam và các nước Châu Á, PGS.TS Ngô Đức Thịnh đã đưa ra một mô hình tổng

TỤC THỜ MẪU

Khái niệm

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến.

Nguồn gốc của tục Thờ Mẫu

Trong hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tục thờ Mẫu chỉ có ở Việt Nam, bắt nguồn từ thời kỳ mẫu hệ ở nước ta đã từng tồn tại cách đây cả ngàn năm Vì sao dân ta lại thờ Mẫu, tức thờ Mẹ? Mẹ đây không chỉ người sinh ra dân tộc mà còn là những nguồn sống nuôi dưỡng cả một dân tộc

Giải thích về sự có mặt của cả nam thần lẫn nữ thần trong các vị thần của Đạo Mẫu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng: Do xã hội Việt Nam cổ xưa theo chế độ mẫu hệ, nên phụ nữ có vị thế quan trọng trong xã hội Tuy nhiên, người phụ nữ chỉ có được quyền lực khi họ đã kết hôn Do đó, nam giới cũng được xem là có vai trò quan trọng trong cuộc sống, và họ cũng được thờ cúng.Chẳng riêng gì các đền chùa, miếu phủ ở đất Hà thành mà hầu hết các chùa chiền của người Việt đều trân trọng một ban thờ Mẫu Có những nơi còn dành riêng để thờ Mẫu như Phủ Giầy (Nam Định), Phủ Tây Hồ (Hà Nội)… Đầu năm mới, người người nô nức du xuân, đến các đình chùa, miếu phủ cầu an, thì tục thờ Mẫu của người Việt lại càng được trân trọng hơn

Trong điện thờ Mẫu thường thấy bày ba pho tượng: Một vị mặc áo xanh tượng trưng cho mẹ trời, một vị mặc áo vàng tượng trưng cho mẹ đất, một vị mặc áo trắng tượng trưng cho mẹ nước Trời, đất và nước là nguồn gốc của sự sống.Điều đó được giải thích rằng từ thời hoang sơ huyền sử con người đã phải dựa vào núi rừng, hang động, sông suối để tồn tại Ăn thì có lá cây, hoa quả, các loại củ rừng Ngủ phải làm chòi trên cành cây cao để phòng thú dữ

Vì vậy từ xa xưa dân ta đã tôn vinh rừng cây như một vị thần hộ mệnh Tới khi con người tiến hóa lại men theo các khe lạch ra các suối lớn để săn bắt cá kiếm ăn rồi lần hồi tới các dòng sông và các lưu vực bằng phẳng, dựa vào sông nước đất đai để canh tác, trồng tỉa lúa ngô khoai sắn làm lương thực Vì vậy người xưa tôn vinh các nguồn nuôi sống mình là Mẫu, là mẹ, là các vị thần linh cứu mệnh

Tục thờ ba Mẫu trời, nước và đất rừng gọi là thờ Tam phủ Sau này, không những đáp ứng nhu cầu về tâm linh của con người mà còn phải thỏa mãn nhu cầu về tri thức của người Việt nên tục thờ Mẫu được bổ sung thêm một Mẫu để nhớ về cội nguồn tổ tiên của dân tộc Đó là mẫu Liễu Hạnh

Thế nên trong các nơi thờ Mẫu, ngoài ba vị trên đã có thêm một vị nữa mặc áo đỏ đứng phía trước, và tục thờ Tam phủ trở thành Tứ phủ Đạo Mẫu thờ

Tứ phủ là thờ bốn mẹ: Mẹ trời (Mẫu Thượng thiên), mẹ đất (Mẫu Thượng ngàn), mẹ nước (Mẫu Thoải) và mẹ người (Mẫu Liễu Hạnh)

Theo truyền thuyết, Liễu Hạnh vốn là tiên nữ có tên Quỳnh Hoa ở thượng giới, vì làm vỡ chén quý của Ngọc Hoàng nên bị đày xuống trần gian đầu thai vào một nhà họ Lê ở thôn Vân Cát (huyện Vụ Bản, Nam Định ngày nay), đời vua Lê Anh Tông, thế kỷ 16 Bà lấy chồng ở làng Thiên Hương, sinh được hai người con thì viên tịch về trời Nhưng vì thương chồng con, thương nước nên bà đã hiển thánh để phù hộ cho dân, cho nước được yên bình thịnh trị

Hiện nay cả hai làng Vân Cát và Thiên Hương đều lập đền thờ bà Ngoài Phủ Giầy (tức Vân Cát) thì đền Sòng (Thanh Hóa) cũng thờ bà nhưng đền Sòng đã bị bom đạn chiến tranh tàn phá Nay chỉ còn Phủ Giầy (Nam Định) và Tây

Hồ (Hà Nội) là hai nơi lớn nhất thờ bà chúa Liều Hạnh

Còn khắp cả nước, đâu có đền chùa, miếu phủ có điện thờ Mẫu là có ban thờ Mẫu Liễu Hạnh Người dân ta dù giàu nghèo, sang hèn đều luôn tri ân, tôn vinh các Mẫu, thờ cúng Mẫu vì đó là hồn của đất, là sông suối ao hồ đầy nước, là cơm gạo ngô khoai, là cây rừng che phủ, là hoa trái bốn mùa tốt tươi, là cội nguồn dân tộc

Tục thờ Mẫu ở nước ta đã có từ ngàn xưa là một nét đặc trưng rất độc đáo, rất đẹp, theo đạo lý uống nước nhớ nguồn của văn hóa Việt, cần được tôn vinh, gìn giữ và duy trì mãi mãi.

Các dạng thức thức thờ mẫu của người Việt

Năm 2001, trong hội thảo về Đạo Mẫu và các hình thức Shaman ở Việt Nam và các nước Châu Á, PGS.TS Ngô Đức Thịnh đã đưa ra một mô hình tổng quát về Đạo Mẫu của người Việt ở Việt Nam, gồm ba lớp kế tiếp và có mối liên hệ hữu cơ với nhau, đó là: Nữ thần, Mẫu thần và Mẫu Tam phủ, Tứ Phủ

Vì đây là mô hình tổng quát, nên nó chưa chưá đựng được các sắc thái địa phương, do vậy cần có sự bổ sung cần thiết cho các dạng thờ Mẫu ở các vùng miền, ít nhất là với miền Trung Bộ và Nam Bộ

1.3.1Dạng thức thờ Mẫu Bắc Bộ

Có thể nói mô hình tổng quát kể trên là mô hình kinh điển, mô hình đầy đủ nhất mà tục thờ Mẫu ở Bắc Bộ là đại diện Đây cũng là mô hình có sự phát triển tuần tự và mang tính nội tại Tất nhiên, ở lớp thờ Nữ thần mang tính nguyên sơ, bản địa và do vậy nó phổ cập rộng rãi trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian Trong một số công trình nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã có dịp đề cập tới và lý giải các căn nguyên kinh tế, xã hội của chúng Lớp thờ Mẫu thần với các danh xưng, như Quốc Mẫu, Vương Mẫu hay Thánh Mẫu, thường là gắn với quá trình cung đình hoá, lịch sử hoá, như hiện tượng thờ Ỷ Lan Nguyên phi, Bà Chúa Kho, Mẹ Thánh Dóng, Tứ vị Thánh nương Và, tất nhiên, lớp thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ là một hệ thống phát triển cao hơn, trên cơ sở thờ Nữ thần, Mẫu thần bản địa và tiếp nhận các ảnh hưởng về quan niệm vũ trụ luận và hệ thống thần linh của Đạo giáo Trung Hoa

Mối quan hệ giữa ba lớp thờ Mẫu này là mối quan hệ hai chiều, một chiều theo hướng phát triển lịch sử, từ thờ Nữ thần, Mẫu thần đến Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Tuy nhiên, theo chiều ngược lại, khi Mẫu Tam phủ, Tứ phủ định hình và phát triển, thì nó lại Tam phủ, Tứ phủ hoá tục thờ mẫu thần và nữ thần theo hướng sắp đặt hệ thống thần linh, nghi thức thờ cúng Xu hướng này rất mạnh

6 mẽ không chỉ đối với việc thờ Nữ thần hay Mẫu thần, mà ngay cả với các tín ngưỡng khác, thí dụ như với tục thờ Cá voi ở Bắc Trung Bộ hay đền thờ Tam giáo ở động Nhị Thanh, Lạng Sơn

Không biết đã có đủ dữ kiện để có thể đưa ra những phán đoán về thời gian hình thành và định hình các lớp tín ngưỡng trong hệ thống thờ Mẫu của người Việt Tất nhiên tục thờ nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời nguyên thuỷ, còn lớp thờ nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần, thì có lẽ đã xuất hiện sau thời phong kiến tự chủ với việc phong thần của nhà nước phong kiến Còn lớp mẫu Tam phủ, Tứ phủ thì cũng phải sau thế kỷ XV, nhất là thế kỷ XVI, XVII mới thực sự định hình và phát triển mạnh mẽ Đây cũng là thời kỳ xuất hiện thánh mẫu Liễu Hạnh và thịnh hành Đạo giáo dân gian ở nước ta

1.3.2 Dạng thức thờ Mẫu ở Trung Bộ

Nói là Trung Bộ, nhưng thực ra dạng thức này phân bố chủ yếu từ phía nam Hải Vân cho tới Ninh Bình Thuận cực nam Trung Bộ, còn bắc Trung Bộ, như đã nói ở phần trên, tục thờ Mẫu cơ bản thuộc dạng thức Bắc Bộ Đặc trưng cơ bản của dạng thức này là tín ngưỡng thờ Mẫu không có sự hiện diện của Mẫu

Tam phủ, Tứ phủ, mà chỉ có lớp thờ Nữ thần và Mẫu thần

Tục thờ Mẫu ở Trung Bộ tuy thiếu bóng Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, nhưng lại hết sức phức tạp, tuy nhiên, với các tiêu chuẩn nêu trên, chúng ta có thể phân thờ Mẫu ở đây thành hai lớp chính, đó là thờ Nữ thần mà đại diện tiêu biểu là Bà Ngũ hành, Tứ vị Nương Nương và lớp thờ Mẫu thần mà đại diện là thờ Thiên

Ya Na.Huế có vị trí rất đặc biệt trong sự giao thoa và chuyển tiếp của tục thờ Mẫu Xét tổng thể cả về hệ thống thần linh và nghi thức thờ cúng, lễ hội, thì tục thờ Mẫu ở Huế vẫn thuộc hệ thống thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, tuy nhiên, trong điện thần, nhất là vị thần chủ thì không phải là Liễu Hạnh như ở Bắc Bộ, mà là Thiên Ya Na, vị thần Việt gốc Chăm

Tục thờ Tứ Vị Thánh Nương hiện rất phổ biến ở nhiều làng người Việt ven biển từ bắc vào nam, ngoài ra còn thấy ở các làng ven sông lớn nằm sâu trong đồng bằng Tuy nhiên, tục thờ này phổ biến nhất vẫn là ven biển Trung Bộ, mà trung tâm là Đền Cờn (Nghệ An) Theo Ninh Viết Giao, ngoài Đền Cờn còn có

30 làng khác nữa ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) thờ Tứ Vị Thánh Nương Riêng huyện Hoàng Hoá (Thanh Hoá) cũng có 20 làng thờ Tứ Vị Thánh Nương (3) Nhiều nơi ở ven biển Bắc Bộ thờ Tứ Vị Thánh Nương dưới dạng thờ Tống Hậu,

Thiên Hậu Ở Quảng Nam, Đà Nẵng, tục thờ Tứ Vị Thánh Nương rất phổ biến, hầu như làng nào cũng có, tuy nhiên, ít khi có miếu thờ riêng bà, như trường hợp làng Mỹ Khê có nơi thờ riêng Bà, gọi là Miếu Cả, còn phần lớn phối thờ với các vị thần khác và được gọi với cái tên là Bà Giàng Lạch, tức vị thần chủ của sông biển Theo Nguyễn Xuân Hương, người dân Thanh Nghệ, nơi phát nguồn tục thờ Tứ Vị Thánh Nương đã mang tục thờ này vào trung và nam Trung Bộ và gọi

Bà với danh thần mang tính dân gian - Bà Giàng Lạch hay Dàng Lạch Chúa

Nương Nương,(4) Trong các sắc phong của Bà thường mang tước hiệu Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương

Cũng giống như Quảng Nam, Đà Nẵng, ở Quảng Ngãi cũng không có nơi nào thờ phụng riêng Bà, mà thường phối thờ với Thiên ya Na, Bà Ngũ hành, Thiên Hậu

Với những tư liệu biết được hiện nay, chúng ta có được những dị bản huyền thoại khác nhau về tục thờ Tứ Vị Thánh Nương, như gắn với triều thời Vua Hùng, sự tích gỗ thần ở Phương Cần (Hà Tĩnh) Thậm chí, Tạ Chí Đại Trừng cho rằng có mối liên hệ xa hơn giữa huyền thoại và tục thờ cúng Tứ Vị Thánh Nương với tín ngưỡng cổ của người Chăm, đó là thần Po Riyak (Po Rayak) là vị thần sông biển

1.3.2.2 Tục thờ Ngũ Hành Nương Nương - Bà Ngũ Hành Ở miền Trung, Ngũ hành thường thờ ở miếu, gọi là miếu Ngũ hành Theo hồi cố của các bậc già cả, xưa kia gần như làng nào cũng có miếu ngũ hành, nay mất đi nhiều, chỉ còn một số nơi còn giữ được, như miếu Ngũ hành Nam Ô (Đà Nẵng), miếu Ngũ hành Cẩm Nam (Hội An), miếu Tân Hiệp (Cù Lao Chàm), miếu Ngũ Hành Tĩnh Thuỷ (Tam Kỳ) Còn lại đa phần phối thờ Ngũ hành với Thiên Ya Na, như trường hợp phối thờ Ngũ hành với Thiên Ya Na ở miếu Đại Điền (Núi Chúa) ở ngoại ô Nha Trang, Cổ Luỹ (Quảng Ngãi), Khuê Trung (Đà Nẵng)

Ý nghĩa tục thờ mẫu của người Việt

Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng mang đậm chất bản địa và nguyên thuỷ Bởi vì tín ngưỡng thờ Mẫu có nguồn gốc sâu xa từ chế độ mẫu hệ, trong đó người mẹ, người vợ giữ vị trí quan trọng trong gia đình

Do vậy, trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong văn chương nghệ thuật thì chữ “Mẫu”, chữ “Mẹ”, chữ “Cái” vẫn giữ nguyên giá trị như nó vốn có cho đến bây giờ

Cách bày biện của đền, phủ cũng khác với cách bày biện của chùa Nếu như ở chùa người ta bố trí theo thứ tự sự tu hành của đạo Phật thì ở đền người ta bài trí theo Tứ phủ, gồm có bốn cấp là Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Nhạc Mẫu và Mẫu Thoải Ở điện thờ Mẫu Thiên, người ta làm các cảnh sắc, mô hình thuộc về cõi trời Mẫu Địa thì đó là các cảnh núi non, bờ đất như ở đồng bằng rộng lớn Nhạc Mẫu thì họ làm các cảnh núi non, cây cỏ và các cô gái mặc áo chàm, còn ở điện thờ Mẫu Thoải thì họ làm các mô hình bờ sông và các bè trôi nổi trên sông đó Như vậy, cách bài trí trong điện thờ Mẫu của Tứ Phủ, đền đựợc mô tả theo tự nhiên của bốn hình thái cơ bản của địa lý và thiên văn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với cuộc sống con người

Cách bày biện của đền, phủ cũng khác với cách bày biện của chùa Nếu như ở chùa người ta bố trí theo thứ tự sự tu hành của đạo Phật thì ở đền người ta bài trí theo Tứ phủ, gồm có bốn cấp là Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Nhạc Mẫu và Mẫu Thoải Ở điện thờ Mẫu Thiên, người ta làm các cảnh sắc, mô hình thuộc về cõi trời Mẫu Địa thì đó là các cảnh núi non, bờ đất như ở đồng bằng rộng lớn Nhạc Mẫu thì họ làm các cảnh núi non, cây cỏ và các cô gái mặc áo chàm, còn ở điện thờ Mẫu Thoải thì họ làm các mô hình bờ sông và các bè trôi nổi trên sông đó

Như vậy, cách bài trí trong điện thờ Mẫu của Tứ Phủ, đền đựợc mô tả theo tự nhiên của bốn hình thái cơ bản của địa lý và thiên văn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với cuộc sống con người

Thường ra, đạo Mẫu cũng vẫn chịu ảnh hưởng của đạo Phật cho nên trên cùng của điện thờ Mẫu có tượng phật để thờ thêm Cũng cần phải nhấn mạnh thêm sự ảnh hưởng sâu rộng của tín ngưỡng thờ Mẫu-tín ngưỡng bản địa với các tín ngưỡng khác du nhập từ bên ngoài vào theo con đường khởi nguyên từ dân gian như Phật giáo-một tín ngưỡng đã được nhân dân lao động hồ hởi đón nhận ngay từ khi mới được truyền bá vào nước ta (khoảng thế kỷ thứ VI) để thấy được vai trò của người phụ nữ trong xã hội, đặc biệt là trong nền nghệ thuật của nước nhà Trong quá trình tín ngưỡng thờ Phật du nhập vào nước ta, các bộ phận quan trọng của tín ngưỡng này đã phát triển theo khuynh hướng dân gian hóa giữa tín ngưỡng thờ Phật và tín ngưỡng thờ Mẫu có sự thâm nhập và tiếp thu ảnh hưởng lẫn nhau Điều dễ nhận biết nhất là ở hầu hết các ngôi chùa hiện nay ở nông thôn đều có điện thờ Mẫu Trong đó phổ biến nhất là dạng “tiền Phật hậu Mẫu” Người ta đi chùa vừa để lễ Phật, vừa để cúng Mẫu Nhiều khi điện Mẫu đã tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi nhộn nhịp hơn cho các ngôi chùa làng Ở Bắc Giang, phần lớn các ngôi chùa đều có ban thờ Mẫu, tiêu biểu là khu thắng cảnh Suối Mỡ, huyện Lục Nam trong đó có các di tích nổi tiếng như đền Hạ, đền Trung, đền Thượng lại thờ Mẫu là chính, trong đền có những tượng Mẫu rất đẹp cả về mỹ thuật và nghệ thuật tạo hình

Không chỉ có con đường các điện Mẫu đi vào chùa, mà còn có con đường ngược lại Phật đi vào đền, phủ thờ Mẫu Trong điện thần cũng như cách thức phối tự ở các ngôi đền, phủ ta đều thấy sự hiện diện của Phật, mà đại diện cao nhất là Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh Cũng cần phải nhấn mạnh rằng: Quan Âm trong Phật giáo Ấn Độ vốn là một nam thần, nhưng khi qua Trung Quốc vào nước ta đã bị “nữ thần hóa”, thậm chí “Mẫu hóa” để trở thành Quan Âm Thánh Mẫu trong tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam Trong các ngày giỗ Mẫu, giỗ Mẹ đều có nghi thức rước Mẫu lên chùa để đón Phật về đền,

17 phủ cùng tham dự ngày hội Trong hệ thống các bài chầu văn thì có văn chầu nhị vị Bồ Tát… Điều đó chứng tỏ vai trò của người phụ nữ được khẳng định từ xưa Trong các truyền thuyết về Liễu Hạnh công chúa (tức Thánh Mẫu Liễu Hạnh) có truyền thuyết ghi rõ sự tích Sòng Sơn đại chiến Truyền thuyết kể rằng trong lúc Mẫu Liễu Hạnh đang ở vào tình thế nguy kịch bởi sự truy sát của các đạo sĩ phái Đạo Nội thì Phật Bà Quan Âm đã hiện ra và ra tay cứu độ, giải thoát cho Liễu Hạnh công chúa Từ đó Thánh Mẫu Liễu Hạnh quy Yên Dũng, nghe kinh tuân pháp, chuyển hóa từ bi theo gương Phật

Sự thâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau giữa đạo Phật và tín ngưỡng thờ Mẫu theo khuynh hướng dân gian hóa là điều dễ hiểu bởi lẽ, đó là tín ngưỡng dân dã của người dân, cùng hướng về cái từ bi bác ái, tinh thần cộng đồng, khuyến thiện trừ ác vốn là nền tảng trong nguyên tắc ứng xử của xã hội cổ truyền Hai thứ tín ngưỡng này bổ sung cho nhau đáp ứng nhu cầu tâm linh của người nông dân: Theo Phật để tu nhân tích đức cho đời, kiếp sau được lên cõi Niết Bàn để cuộc sống tươi sáng hơn, tự do hơn, còn theo đạo Mẫu là mong được sự phù hộ độ trì đem lại sức khỏe, tài lộc, may mắn cho đời sống thường ngày

Tính dân gian của tục thờ Thánh Mẫu ở nước ta thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, trong đó tranh thờ Mẫu là một trong những dạng thức biểu hiện sinh động về điều đó Ở Việt Nam, tranh thờ Mẫu phong phú về đề tài và nghệ thuật tạo hình Tuy nhiên, điều dễ nhận biết nhất ở thể loại tranh này là tính nhân dân vừa giản dị vừa gần gũi lại dễ hiểu Trong bộ tranh Tam Phủ, Tứ Phủ của tín ngưỡng thờ Mẫu, ngoài các vị Ngọc Hoàng Thượng Đế, các bà chúa là những người cai quản giang sơn riêng được đặt ở trung tâm bức tranh chiếm tỷ lệ vượt trội thì ở xung quanh và ở dưới còn thấy rất nhiều những “Cô”, những “Cậu” đứng hầu Những “Cô” và “Cậu” này có tỷ lệ nhỏ hơn Đây hẳn có mối quan hệ giữa tín ngưỡng thờ Mẫu với tục thờ gia tiên của người Việt từ ngàn xưa Trong đó, các “Cô”, các “Cậu” ấy cũng chính là các bà cô, ông mãnh, các thiện nam, tín nữ đã mất từ rất sớm mà chưa kịp làm phận sự của một con người mà ít gia đình nào không có Lại thấy trong các tranh này các “Cô”, các “Cậu” trên tay

18 cầm hoặc bưng các thứ đồ vật như khay trầu, gương, lược, hoa quả… là những thứ các bà, các cô ở Việt Nam dùng thường nhật hoặc sai các con, các cháu cầm giúp, điều đó đã tạo nên một không gian đầm ấm và thanh bình Tranh thờ Bà chúa Thượng Ngàn ở đồng bằng Bắc Bộ là một ví dụ điển hình Như vậy có thể thấy giá trị cơ bản nhất trong tranh tượng thờ Mẫu chính là ở sự dân gian hóa các bức tranh thờ, tượng thờ ở mức độ khái quát nhất, tiêu biểu nhất để trở thành sức mạnh tâm linh, sức mạnh tinh thần cho con người Bởi thế bất kỳ ai khi đến với các đền phủ thờ Mẫu, được chiêm bái trước tranh thờ, tượng thờ, các cảnh vật và hương sắc trong đền, phủ đều thấy rất gần gũi, ấm áp, thanh bình

Ngoài ra, các nghi thức của tín ngưỡng thờ Mẫu cũng rất gần với các nghi thức trang trí của dân gian Trong đền, phủ ta thấy có đủ các nón ba tầm, kiệu, võng đến các đồ dùng trong sinh hoạt thường ngày vẫn thấy trong các nhà dân Việt Nam xưa mà những người phụ nữ thường dùng như khay đựng trầu, cau, nón, quạt, ấm nước… Tất cả các đồ vật này chủ yếu được làm bằng giấy, đó là các thứ giấy tráng kim rực rỡ mà mềm mại, duyên dáng rất phù hợp với tính cách nữ Màu sắc trong đền, phủ thường dùng các màu sặc sỡ, chủ yếu là 5 màu chính: Xanh, trắng, vàng, đỏ, đen tức “Ngũ sắc” Năm màu này được thể hiện rõ nhất trong hình tượng Thánh Mẫu gắn với các chức năng của họ như Mẫu Thượng Thiên thường dùng y phục màu xanh, Mẫu Địa thì màu vàng… Tất cả các yếu tố ấy đều tương ứng với thuyết “Ngũ phương”, “Ngũ hành” là những thuyết mang đậm chất văn hóa của các dân tộc Á Đông Các hình thức này giúp người ta hình dung một không gian với những vẻ đẹp của trần gian và những hình thức của đền, phủ cũng là những hình thức quen thuộc trong sinh hoạt của người nông dân trong cộng đồng Việt Nam

Về các điệu múa được sử dụng trong các lễ hội đền, phủ thờ Mẫu cũng mang tính dân gian Việt Nam rất rõ, nhất là dạng múa của phụ nữ Có thể chỉ là bận các áo chàm, áo mớ bảy, mớ ba và họ múa những điệu múa giống như múa chèo nhưng nhịp điệu, lời ca lại hợp với nhạc cung văn Có những điệu múa mà người múa đội trên đầu cả một mâm hoa quả nhưng họ rất mềm mại uyển

19 chuyển không làm rơi, đổ các thứ lễ bày trên mâm đó Và những bước đi, nhưng nhịp điệu mềm mại, uyển chuyển của các động tác, lời ca hết sức cô đúc, nhuần nhị và gây ấn tượng hết sức mạnh mẽ của sự múa ấy lại được cung văn tấu lên các thứ nhạc có nhịp điệu vui nhộn làm cho không khí của các ngày lễ hội đền, phủ Mẫu thêm tưng bừng Mặt khác, nếu chúng ta hiểu sâu về đạo Mẫu chúng ta sẽ tìm thấy những giá trị mang tính nhân văn tốt đẹp trong phong tục tập quán của tổ tiên ta từ xa xưa truyền lại, đồng thời góp phần ngăn chặn kịp thời những biểu hiện sai lệch tín ngưỡng thờ Mẫu và làm ảnh hưởng không tốt đến nhiều người

Tín ngưỡng thờ mẫu là sự tôn vinh những vị nữ thần được cho là có khả năng siêu phàm, có thể điều khiển được tự nhiên vốn mang tính quy luật Trong quá trình mưu sinh tìm nguồn sống, con người luôn vẫn phải dựa vào thiên nhiên, vì thế họ đã tôn thờ các hiện tượng tự nhiên như đấng tối cao, là mẫu, và thờ mẫu với mong muốn mẫu sẽ bảo trợ và che chở cho sự sống con người, là cứu cánh của mọi khổ đau, bất hạnh

TỤC ĐỐT VÀNG MÃ

Khái niệm

Đồ mã là khái niệm chỉ chung những đồ làm bằng giấy và có thể đốt đi được Nó liên quan đến quan niệm, muốn người âm nhận được thì đồ lễ phải được đốt (hóa) sau khi dâng cúng, vì thế, đồ mã không thể làm bằng gỗ hay vật liệu khác Đồ mã chính là những thứ vật dụng như nhà, xe, voi, ngựa, đồ đạc, hình nhân bằng giấy Còn vàng mã là những thỏi vàng, bạc hay tiền địa phủ (sau này người ta in giống như tiền thật) Đốt vàng mã là nghi thức được thực hiện một cách trân trọng và thành kính trong tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam, hành động này được coi là phương tiện thể hiện “sự giao tiếp của con người với thế giới siêu nhiên ".

Nguồn gốc của tục đốt Vàng Mã

Tục lệ đốt giấy tiền vàng mã có nguồn gốc từ thời cổ đại trong xã hội Trung Hoa Nhà tư tưởng Vương Dư đời Đường cho rằng: “Từ thời nhà Hán, đã có tục chôn tiền và đời sau lấy giấy thay tiền” Theo niềm tin thuần phác của người Trung Hoa thuở xưa thì người chết không mất hẳn mà biến thành quỷ.Quan niệm “nhân tử viết quỷ” được hình thành từ thời Ngũ đại (khoảng hơn

2000 năm trước Công nguyên) Từ quan niệm này, hình thành tín ngưỡng người chết cũng giống như người sống, tức cần phải có những nhu yếu phẩm cần dùng trong cuộc sống Cho nên sau khi chết đi thì thân nhân người quá cố sẽ chôn theo nhưng vật dụng cần dùng mà trong đó có cả tiền bạc Khám phá từ các cuộc khai quật của các ngành khảo cổ đã xác quyết điều này Tuy nhiên, về sau, người ta thấy rằng chôn tiền và vật dụng thật thì quá lãng phí nên dần dần hình thành quan niệm đốt tiền và đồ dùng bằng giấy để cho người chết sử dụng Nguyên nhân đốt vàng mã vào ngày rằm tháng Bảy: Vào thời vua Đạt Tôn nhà Đường (762) bên Trung Hoa, nhằm lúc Phật giáo cực thịnh, một vị sư tên là Đạo Tăng muốn cho dân chúng theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của người dân, vào tâu với nhà vua rằng: rằm tháng Bảy là ngày của Diêm Vương ở

21 âm phủ xét tội phúc thăng trầm, nhà vua nên thông sức cho thiên hạ, trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày rằm tháng bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong nhân dùng.Vua Đạt Tôn đương muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lời tâu của Đạo Tăng, liền hạ chiếu cho thiên hạ Thế là nhân dân Trung Hoa lại được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày rằm tháng Bảy để kính biếu gia tiên Như vậy, chúng ta đã xác quyết tục lệ đốt vàng mã là tập tục của người Trung Hoa có nguồn gốc từ thời cổ đại Tục lệ này đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người dân Trung Hoa và các nước chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, trong đó có Việt Nam Căn nguyên của tục lệ này là niềm tin có một đời sống khác sau khi chết, cộng với lòng hiếu thảo, bổn phận và trách nhiệm, ước mong được đầy đủ, sung túc của người sống đối với người chết Khi Phật giáo truyền sang Trung Hoa và Việt Nam, với truyền thống hiếu đạo, uống nước nhớ nguồn, tri ân và báo ân của người con Phật cùng với sự tôn trọng tập tục của người dân bản địa cho nên trong nghi lễ hiếu sự của người bình dân và thậm chí với một số Phật tử tại gia thiếu chánh tín còn có tục lệ đốt vàng mã Ở Việt Nam, tập tục đốt vàng mã đã phát triển rất phổ biến ở miền Bắc trước khi diễn ra phong trào chấn hưng Phật giáo Đồ mã đương thời đa dạng về chủng loại, hiện đại về loại hình, tinh xảo về mỹ thuật Chi phí cho đồ mã phụ thuộc vào sự đa dạng, sự hiện đại và sự tinh xảo của đồ mã.Với quan niệm “trần sao âm vậy”, người ta đã đốt, đã hoá, đã gửi đủ loại đồ mã xuống cõi âm Phủ cho người thân, cho tổ tiên, trong đó chủ yếu là những vật dụng trong gia đình mà người thân khi còn sống thường dùng, chẳng hạn như: “ xe cao su, giường Hồng Kông, màn lan tiêu, đồ chè chén mẫu, chỗ ăn, chỗ ngồi đủ hết, không sót một thứ gì Mà làm giống như hệt, làm hàng tháng mới xong, tốn kể bạc nghìn”.Trong một số trường hợp, có lẽ là ở những gia đình giàu có, đồ mã gửi xuống Cõi Âm cho người thân, ngoài những vật dụng thông thường, còn cả vật nuôi trong nhà lẫn con sen người ở

Tục đốt Vàng Mã trong trong đời sống văn hóa người Việt

Tại Việt Nam, tục lệ đốt vàng mã trong các dịp cúng lễ đã và đang phát triển mạnh, thậm chí đốt vàng mã còn là một nghi thức không thể thiếu, trở thành hủ tục trong văn hóa tâm linh người Việt

Theo quan niệm dân gian, tháng 7 âm lịch là dịp để đốt vàng mã gửi cho người đã mất Việc đốt vàng mã đã trở thành tục lệ lâu đời trong đời sống tâm linh người Việt Từ cách nghĩ “trần sao âm vậy”, nhiều người tin rằng: những người đã chết không phải đã “mất” mà họ vẫn tồn tại trong một thế giới đâu đó như vẫn còn sợi dây liên hệ vô hình với người đang sống Tín ngưỡng đó cũng có tác dụng nhắc nhở con cháu nhớ về tổ tiên, “uống nước nhớ nguồn”

Như vậy, ý nghĩa sâu xa của tục đốt vàng mã, tự nó đã phản ánh tâm thức nhân sinh đáng trân trọng trong đời sống tinh thần người Việt Tuy nhiên, không phải lúc nào tục đốt vàng mã cũng được sử dụng với ý nghĩa tích cực

Có những người vì “phú quý sinh lễ nghĩa”, hoặc vì mù quáng tin vào những “ông thầy, bà cốt” mà đã đốt không biết bao nhiêu tiền vàng kim ngân, vô số ngựa tía, thuyền rồng, kiệu vàng hay hình nhân thế mạng để cúng tế, với một khát vọng ngây thơ rằng nhờ đó có thể thay đổi số phận hoặc hiện trạng cuộc sống của mình Và riêng tại Hà Nội, hàng trăm tỉ đồng đã được chi ra để mua ngựa, xe, nhà cửa,… để đốt trong dịp Xá tội vong nhân Người ta sẵn sàng đốt vàng mã ở khắp nơi, từ gia đình, đến chùa chiền, miếu, thậm chí ngay cả ở công sở, cơ quan … dẫn đến sự lãng phí tiền của một cách không cần thiết Lợi dụng sự mê tín của nhiều người mà bây giờ các nhà sản xuất hàng mã cho ra thị trường hàng mã các sản phẩm vô cùng phong phú và đa dạng từ nhà lầu, xe hơi, điện thoại di động, xe gắn máy…Theo số liệu thống kê, trung bình một năm có khoảng 50.000 tấn vàng mã được sử dụng và riêng Hà Nội đã tiêu tốn trên 400 tỷ đồng cho việc đốt vàng mã - những con số này đã khiến không ít người phải giật mình Số tiền đó đủ để 8.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng hoặc gia đình chính sách neo đơn có được ngôi nhà tình nghĩa, che mưa, che nắng Số

23 tiền đó đủ để xây hàng trăm cây cầu treo qua suối cho các cô, trò ở vùng sâu, vùng xa khỏi phải vật lộn giữa cái sống và chết trên đường tới trường Số tiền đó đủ để hàng chục nghìn em nhỏ có thuốc để giành lại sự sống từ những căn bệnh hiểm nghèo

Thượng tọa Thích Đức Thiện, Phó Tổng thư ký Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho biết: “Thực chất đốt vàng mã không phải là hành động báo hiếu mùa

Vu Lan mà là một sự lãng phí Xã hội hiện nay đang nghĩ rằng việc đốt vàng mã, nhà cửa, xe cộ là để thể hiện tình cảm và là sự trao đổi với người âm để phù hộ cho những mưu cầu của mình, đó là một cách hiểu sai”

Như vậy, từ một tín ngưỡng, với cội nguồn tâm linh nhân văn, giờ đây cuốn theo cơn lốc “tác dụng phụ” của kinh tế thị trường, tục đốt vàng mã đang trở thành một vấn nạn xã hội đang bị phê phán, ngăn chặn.

Ý nghĩa của tục đốt Vàng Mã

Tục đốt vàng mã được hình thành, phát triển cách đây hàng ngàn năm, đốt vàng mã đã trở thành tập quán mang ý nghĩa văn hoá - tinh thần, là nghi lễ không thể thiếu trong bất kỳ một hình thức tế lễ, thờ cúng nào của gia đình, của dân tộc Việc thể hiện tấm lòng, ngưỡng mộ, tôn kính đối tổ tiên, với người đã khuất, với những người có công đối với quê hương đất nước - chúng ta cần phải trân trọng Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay tập tục này phần nào đã vượt qua khỏi giới hạn của tín ngưỡng văn hoá và đang dần hướng về chủ nghĩa mê tín - sùng bái Để phong tục này phát huy giá trị của nó trong đời sống tinh thần của người dân thì cần phải có những điều chính đúng hướng, phù hợp với xu thế phát triển, như vậy mới tránh được lãng phí về kinh tế, hạn chế sự mê tín và góp phần củng cố, xây dựng một môi trường văn hoá lành mạnh, văn minh, ý nghĩa hơn

Và tục đốt vàng mã không chỉ còn nằm trong phạm vi nghi lễ tại gia đình, tế lễ ở chùa, đền mà đã vựợt ra khỏi khuôn khổ đó Hàng mã được sử dụng ngày càng nhiều, hàng mã được bán nhiều nơi và trở thành một mặt hàng có tính thương mại Nó không chỉ là vài đinh tiền vàng, mà đã có nhiều loại hình như:

24 nhà lầu, xe hơi, ti vi, xe máy, vi tính và những đồ cao cấp mang tính thời thượng.v.v Có một điều mà bất cứ ai cũng rõ việc mua hàng mã đều phụ thuộc hoàn toàn vào người bán và người chủ trì làm lễ (thầy cúng), họ bảo mua thứ hàng nào thì chủ nhân chỉ việc mua, người mua không mặc cả, nếu mặc cả thì thiếu lòng thành và sẽ bị người thuộc thế giới bên kia oán trách Việc đốt hàng mã còn tạo nên nhiều điều ảo tưởng, sự mơ hồ về những niềm tin không giới hạn… Điều này đã khiến cho những người không hiểu rõ ý nghĩa của tục đốt hàng mã thì thi đua nhau, gia đình nào eo hẹp kinh tế không đốt được nhiều vàng bạc, tài sản cho thần thánh, cha mẹ, người thân thì buồn tủi, do đó cố gắng sắm cho đủ các bộ hàng mã để đốt ngang bằng với bà con lối xóm Cũng không ít người đốt vàng mã tại các đền, chùa là những đồ mã đắt tiền nhưng chưa hẳn là thể hiện hết tấm lòng thành mà chỉ để cầu xin các vị thần linh phù hộ sắm được xe hơi đắt tiền, những ngôi nhà cao to và phúc, lộc sẽ về đầy…

Việc đốt vàng mã cho tổ tiên là không sai, nhưng nếu đốt vàng mã thái quá, cùng với những mong muốn được người âm trợ lực cho kinh tế hay thăng quan tiến chức lại trở thành hủ tục, không chỉ gây lãng phí tiền của mà còn gây ra sự ô nhiễm môi trường, gây mất trật tự an toàn xã hội

TỤC LÊN ĐỒNG ( HẦU ĐỒNG)

Khái niệm

Lên đồng hay còn gọi là hầu đồng, hầu bóng, đồng bóng là một nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng dân gian (dòng Saman giáo) của nhiều dân tộc, trong đó có tín ngưỡng dân gian Việt Nam Về bản chất, đây là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các tín đồ Saman giáo (ông đồng, bà đồng) Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ.

Nguồn gốc của tục Lên Đồng( Hầu Đồng)

Hầu đồng thực chất là một trong những tín ngưỡng văn hóa có từ lâu đời liên quan đến tục thờ Mẫu của người Việt cổ Người Việt quan niệm có bốn thế giới tồn tại: trên trời (Thiên Phủ); dưới đất (Địa Phủ); dưới nước (Thoải Phủ); trên rừng (Nhạc Phủ) Mỗi thế giới đều do một người đàn bà cai quản gọi là các Mẫu, các mẫu đều không có tên, duy mẫu Liễu Hạnh là mẫu Thượng Thiên danh tính đầy đủ.Người đứng giá hầu đồng gọi chung là Thanh Đồng, Thanh Đồng là nam giới thì được gọi là "cậu", nữ giới được gọi là "Cô hoặc Bà Đồng" "Cậu" thường mặc bộ quần áo lụa, mặt tô son điểm phấn (tóc có thể để dài như con gái) Thường có hai hoặc bốn phụ đồng (được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng) đi theo Thanh Đồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt Trong một buổi lên đồng thì có rất nhiều "giá" Mỗi lần thay giá, người ta lại phủ lên "cậu" một tấm khăn lụa đỏ, sau đó bỏ ra và lúc này Thanh Đồng đang ở một "giá" mới và phải thay bộ trang phục xống áo, khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng sao cho tương xứng với "giá" này Khi thì Thanh Đồng hóa thân thành một vị tướng, khi thì là một quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái đang tung tăng nhảy múa Điệu múa của Thanh Đồng cũng được thay đổi theo đặc điểm của

"giá" "Giá" quan thường múa cờ, múa kiếm, long đao, kích; giá các chầu bà thì

26 múa quạt, múa mồi, múa tay không; giá ông hoàng thì có múa khăn tấu, múa tay không, múa cờ; giá các cô múa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa, múa khăn lụa, múa đàn, múa tay không; giá các cậu thường múa hèo, múa lân Nghi lễ Thánh giáng phải theo thứ tự từ cao đến thấp từ Thánh Mẫu đến hàng Quan, Chầu, ông Hoàng, hàng Cô và Cậu Số lượng giá trong một buổi lên đồng có khi lên tới 36 giá

Trong lúc Thanh Đồng đang hoá thân thì bốn phụ đồng ngồi quỳ chân ở dưới cũng nghiêng ngả và múa may hưởng ứng Thanh Đồng theo nhịp câu hát.Những nắm tiền lẻ sau khi được Thanh Đồng tung ra, ban phát cho những người xung quanh được coi là tiền lộc và được những người dứng xem xung quanh nhặt lấy cất giữ để lấy may Nhạc hát thông thường là điệu chầu văn hoặc là hát nói có nội dung ca ngợi sự linh thiêng của thần thánh và vẻ đẹp tiên giới Nhạc khí chủ đạo là đàn nguyệt, bên cạnh nó là phách, cảnh, sênh, trống chầu,chuông, trống…Ở miền Bắc Việt Nam có Phủ Giầy là nơi hay tổ chức lên đồng nhiều nhất

Nếu múa trong Hầu bóng là múa của thần linh, biểu tượng của sự tái hiện của thần linh trong thân xác các ông đồng, bà đồng, vậy múa bóng là múa của thần linh hay múa của con người dâng lễ trước thần linh? Có hay không hình thức nhập hồn hay thoát hồn trong hát - múa bóng rỗi? Nguồn gốc của tục hát bóng rỗi ở Nam Bộ? Trong hoàn cảnh xã hội nào mà Hát bóng Nam Bộ phát triển theo hướng giảm dần tính nghi lễ, tính thiêng để trở thành diễn xướng mang tính tạp kỹ? Những giá trị văn hoá nghệ thuật của hát bóng rỗi là gì? Đó là những vấn đề đặt ra đòi hỏi chúng ta phải trả lời

Với các giá ông Hoàng thì nhóm đàn hát (được gọi là "Cung văn") sẽ ngâm các bài thơ cổ Lúc này, Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác thưởng tiền cho Cung văn và dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầu nước Tới giai đoạn cao trào của Thánh thì người đứng giá thường múa gươm hoặc bơi thuyền Do vậy, ở Việt Nam có câu hát "cậu bắn súng lục, cô bơi thuyền rồng" là để chỉ sự này

Hầu bóng, lên đồng khác hẳn gọi hồn Diễn xướng hầu bóng giống một chiếu chèo thuở xưa, chỉ có điều hầu bóng là tín ngưỡng tâm linh còn hát chèo là loại hình giải trí, văn nghệ.Hầu bóng có nhạc hát, múa (diễn), trang phục cho các giá cũng rất đặc biệt về nghệ thuật trang trí Trong 36 giá đồng điệu múa khác nhau, lời hát văn, y phục cũng khác nhau Một thầy đồng hoặc cô đồng độc diễn qua các giá cho thấy điều đó: Giá quan giá chầu chân bước nghiêm cẩn khép nép, giá cô bé nhí nhảnh chân sáo, giá ông hoàng thì khoáng hoạt Tất cả đều có qui phạm Một thầy đồng có thể diễn 36 vai khác nhau trong nhiều giờ Người theo cửa phủ phải nhiều năm hầu thánh rồi thuộc nằm lòng các vai quan, vai cô, vai cậu, vai ông hoàng bà chúa mới có thể ngồi đồng Có người phải mất 20 năm mới có thể ngồi giá Học là học theo lối dân gian như thế

Hầu đồng cũng có hội thân thiết với nhau dù chẳng có hội trưởng Trong giá hầu, tứ trụ là những người phục vụ cho thầy đồng, đều là người giỏi hầu đồng cả Tứ trụ gồm bốn người ngồi bốn bên- người lo thay xiêm y, người lo đốt nhang rót rượu sắp lễ, người lo tung khăn trùm đầu cho giá hồi cung, người lo việc ban phát lộc cho con nhang đệ tử Khi ông hoàng bà chúa cô cậu dùng trà thưởng rượu, hút thuốc thì nâng quạt che chắn kín đáo Cho nên có lúc thầy đồng lại làm tứ trụ cho người khác trong một lần hầu đồng khác

Các nhà nghiên cứu hầu như đã làm rõ được giá trị văn hóa trong tín ngưỡng hầu bóng, xem ra chẳng cần bàn lại Còn chuyện lợi dụng hầu bóng hành nghề mê tín lại là chuyện khác Cho nên bàn chuyện cấm hầu bóng lúc này xem ra hơi thừa? Nếu cấm hầu bóng, lên đồng trong các điện thờ nhưng lại ủng hộ hầu bóng, diễn xướng tại những khu vui chơi du lịch thì là chuyện lạ đời

Có câu “là người chứ có phải thánh đâu” Trong quan niệm đó, thánh là sự toàn mĩ Người được ví như thánh thì tốt đẹp từ lúc sinh ra đến khi khuất núi Thánh như vậy khác xa thánh trong tín ngưỡng dân gian

Trong hầu bóng, xem kĩ các giá hầu mới thấy thánh trong Tứ phủ thật sự rất đời Và qua các giá đồng từ giá chầu, giá quan, giá ông hoàng bà chúa, đến giá cô bé, chuyện các vị thánh dâng rượu, vểnh râu cáo dùng trà chuốc rượu,

28 thuốc xái diễn ra trong từng giá đồng Thánh cũng thích nghe nịnh Khi cung văn đàn ngọt, hát câu chầu lọt tai là thánh sướng rên, chau mày vỗ gối, rút tiền thưởng kịp thời

Trong tín ngưỡng hầu đồng, thánh giống như con người ngoài đời- ngoài công quả thì cũng đầy tật xấu, mà chẳng cần giấu diếm ai.Những người theo tín ngưỡng này thường có căn cốt tự nhiên Không phải ai cũng theo hầu đồng được Người có căn có cốt, nghe tiếng đàn, lời hát chầu là như bị thôi miên Những người như thế gọi là có căn đồng bóng.

Ý nghĩa của tục Lên Đồng

Hầu đồng (lên đồng) mang ý nghĩa tôn vinh công trạng của các nhân vật trong lịch sử dưới hình thức diễn xướng, thể hiện giá trị nghệ thuật qua phần nghi lễ và hát văn.Ca ngợi công tích, đức độ của Mẫu và thánh thần.Giữ gìn các hình thức diễn xướng trong dân gian

Ngày nay, lên đồng vẫn còn là nhu cầu tâm linh, là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của một bộ phận người Việt Các nghi lễ này thường được tổ chức nhiều lần trong một năm vào các dịp lễ tiết, thường là tại các lễ hội đền thánh, phủ mẫu Ngoài việc lên đồng để giao tiếp với thần linh, truyền thống tín ngưỡng Việt Nam còn tin tưởng rằng sau khi chết, linh hồn người chết vẫn còn và theo dõi cuộc sống của người thân đang sống Do đó, khi lên đồng, linh hồn của người chết có thể nhập vào đồng cô, đồng cậu (người gọi đồng) để trò chuyện với thân nhân đang sống Thông qua cuộc trò chuyện âm-dương này, người sống sẽ biết được những yêu cầu của người thân quá cố về mỗ mả để điều chỉnh và cúng xin cho phù hợp Đồng thời, thông qua cuộc đối thoại này, người sống cũng biết được vận mạng tương lai của mình

Một thực tế không thể phủ nhận: càng ngày hầu bóng càng nhiều trong đời sống văn hóa xã hội Đến nỗi ở nhiều làng quê, không có tiền mời cung văn người ta phải bật băng có thu 36 giá đồng lên để hầu Còn trong các đoàn nghệ thuật cổ truyền gần đây thường đưa thêm tiết mục “3 giá đồng vào” cuối các chương trình biểu diễn.Người xem luôn cảm thấy hứng thú, và đôi khi đó chính

29 là một tiết mục để nhiều dư vị nhất, nếu không thuộc phạm vi thưởng thức chuyên môn Có lẽ bên cạnh những ý nghĩa văn hóa cổ truyền của chuyện hầu bóng, mọi người cũng nên nhìn nhận thêm một khía cạnh giải tỏa stress của nó, trong cuộc sống hàng ngày vốn nhiều bức xúc

TỤC HIẾN SINH

TỤC THỜ CÚNG CÁ ÔNG

CƯỚI HỎI

TANG MA

TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN

Ngày đăng: 07/05/2021, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w