Với các phương pháp đánh giá có tính khoa học và đã được kiểm nghiệm như: phương pháp phỏng đoán, phương pháp đánh giá nhanh, phương pháp nghiên cứu phân tích môi trường vật lý (nước, không khí), phương pháp thống kê, phương pháp so sánh,... để đưa ra các đánh giá đáng tin cậy làm cơ sở cho việc tư vấn các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường cả trong quá trình xây dựng và hoạt động của dự án...
Trang 2
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Did T OG Ml TROON
CAC O AN HAT TREN
(Quy trình và hướng dẫn kỹ thuật)
BIÊN TẬP:
GS Luc Hens
GS Lé Thạc Cán
TS Nguyén Ngoc Sinh
NHA XUAT BAN THONG KE
HA NOI - 2006
Trang 3Lời giới thiệu
Luật Bảo vệ môi trường (LBVMT) của nước ta được Quốc hội thông qua Ngày 27 tháng 12 năm 1993 bat buộc các đự án phát triển quan trọng phải tiến hành đánh giá tác động môi trường (ĐGTĐMT) Sau khi LBVMT được phê chuẩn, nhiều Nghị định, Thông tư của Chính phủ và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường trước đây và Bộ Tài nguyên và Môi trường hiện nay được ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện công tác ĐGTĐMT Sau hơn
10 năm triển khai, công tác ĐGTĐMT đã có những đóng góp đáng
kể cho quản lý môi trường của đất nước Nhiều văn ban pháp lý mới (Nghị quyết về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Bộ Chính trị, Dang Cộng sản Việt Nam; Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam của Chính phủ; Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia của Bộ Tài nguyên và Môi trường được ban hành); chức năng quản lý môi trường được chuyển giao từ Bộ Khoa học và Công nghệ sang Bệ Tài nguyên và Môi trường và công tác đào tạo về tác động môi trường tại các trường đại học, các lớp ngắn hạn ngày càng được
mở rộng Đặc biệt, tại kỳ họp từ ngày 18 tháng 10 đến ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ môi trường mới, trong đó DGTDMT theo luật năm 1993 được mở rộng bao gồm đánh giá môi trường chiến lược (DBGMTCL), ĐGTĐMT
và cam kết bảo vệ môi trường Trong bối cảnh đó, việc xuất bản
cuốn sách “Đánh giá tác động môi trường chung các dự án phát triển (quy trình và hướng dẫn kỹ thuật)” nhằm diễn giải các công
cụ luật pháp về ĐGTĐMT một cách khoa học và nhất quán, cũng
như cung cấp các công cụ kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng và trợ giúp cho công tác lập và thẩm định báo cáo ĐGTĐMT là một việc làm thiết thực
Các nội dung chính của cuốn sách này được biên soạn và xuất bản
năm 2000 đưới dạng “$6 tay hướng dẫn đánh giá tác động môi trường chung các dự án phát triển” là một kết quả của Để án
"Xây dựng năng lực quân lý môi trường ở Việt Nam" (VNM/B7- 6200/1B/96/05) hợp tác giữa Viện Địa lý (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và Khoa Môi trường (Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) với Bộ môn Sinh thái Nhân văn (Đại
Trang 4ii Lời nói đầu
hoc Ty do Bruxel VUB, Bi) do Uy ban Châu Âu tài trợ)
ĐGTĐMT là một công cụ phòng ngừa và kiểm soát các tác động
môi trường do việc triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội
tạo ra Sỗ tay hướng dẫn ĐGTĐMT chung cúc dự án phát triển được soạn với mục đích góp phần chỉ tiết hóa công tác ĐGTĐMT
ở Việt Nam và làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan và cá nhân tham gia vào quá trình ĐGTĐMT, các chủ đầu tư và chủ dự án; những người thực hiện ĐGTĐMT ở các viện nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức xã hội và phi Chính phủ; các cán bộ và cơ quan quản lý môi trường từ cấp trung ương đến địa phương Hai nguyên tắc chỉ đạo được sử dụng để biên soạn, đó là: thứ nhất, Số
tay hướng dẫn phải phù hợp với cơ sở pháp luật, thể chế và trình
độ hiểu biết hiện hành về môi trường ở Việt Nam; thứ hai, gop
phan nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác ĐGTĐMT ở Việt Nam, từng bước hội nhập với xu thế của Khu vực và Thế giới
về ĐGTĐMT
Trong quá trình biên soạn cuốn Số #ay hướng dẫn sác tác giả đã
nhận được sự góp ý bằng van ban See aah , GS Lê
Thac Can, PGS, Ding Kim Chi, PGS Hoang Xuan Co, 1S, Phạm Ngọc Đăng, KS Nguyễn Vinh Hà, TS Lê Minh Hồng, GS§ Nguyễn Thượng Hùng, PGS Phan Thu Hương, PGS Nguyễn Ngọc Khanh, PGS Lé Tran Lam, GS „Nguyễn Quang Mỹ, Th.S Trần Văn Phương, KS Nguyễn Quốc Quyển, KS Trần Văn Quỳnh, KS Nguyễn Văn Siêm, TS Nguyễn Xuân Tặng, GS Đặng
Trung Thuận, TS Hoàng Ngọc Tuần Nhân địp này, một lần nữa chúng tôi xin pay tỏ lời cảm ơn đến các nhà khoa học và quản lý
môi trường về những đóng góp quý báu cho việc nâng cao chất
lượng của cuốn sách
Xuất bản cuỗn “Đánh giá tác động môi trường chung các dự dn phát triển (quy trình và hướng dẫn kỹ thuật)” lần này nhằm đáp ứng yêu cầu của đông đảo bạn đọc, chủ yếu thừa kế các nội dung cudn Sé tay hướng dẫn đánh giá tác động môi trường chung các
dự án phát triển xuất bản năm 2000 cd bd sung và điều chỉnh một
số điểm cho phù hợp với những thay đổi trong quản lý môi ¡ trường
ở nước ta, cũng như xu thế phát triển của ĐGTĐMT trên thế giới
Í pê án về phía Việt Nam do GŠ Lê Đức An chủ trì, TS Trân Văn Ý là điều phải viên, với sự tham gia thực hiện
của TS Trấn Tỷ, TS Liông Đình Khanh, The Lê Trịnh Hỏi, và các công tác viên.
Trang 5tời nói đầu iii
Đánh giá tác động môi trường các dự án phác triển (quy trình và hướng dẫn kỹ thuật) được biên soạn cho nhiều đối tượng lại rất
ngắn gọn cho nên chỉ có thể trình bày vừa đủ các vấn để liên quan dén DGTDMT Muốn công cụ đánh giá tác động môi trường góp phần tốt hơn nữa vào việc phòng ngừa và giảm thiểu các tác động
bat loi, phát huy cao độ các tác động tích cực của các hoạt động, phát triển cần thiết phải tham khảo thêm nhiều loại tài liệu chuyên sâu khác
Nội dung của cuốn sách được GS Luc Hens, GS Lê Thạc Cán và
TS Nguyễn Ngọc Sinh, những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm
về nghiên cứu và quản lý môi trường biên tập, hy vọng sẽ đáp ứng
được một phần yêu cầu nâng cao chất lượng công tác ĐGTĐMT ở
nước ta
Cuối cùng, mặc dù các tác giả đã có nhiều cố ging song cũng khó
tránh khỏi những sai sót cần phải sửa chữa và bổ sung Chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của bạn đọc cho cuốn
Đánh giá tác động môi trường cúc dự án phát triển (quy trình và
hướng dẫn kỹ thuật)
Hà Nội, ngày 2 tháng 5 năm 2006
PGS Pham Huy Tién
Nguyên Chủ tịch Hội đồng Có vẫn Đề án
Trang 6Asian Development Bank
(Ngân hàng Phát triển Châu Á)
Directorate General /B
(Tổng cục /B: Hợp tác Nam Địa Trung Hải, Trung
Cận Đông, Mỹ La Tinh, Nam và Đông Nam Á, Hợp
tác Bắc Nam của Uỷ ban Châu Âu)
Đánh giá môi trường chiến lược
(Uy ban Chau Au)
Environmental Impact Assessment (Đánh giá tác động môi trường)
European Union (Liên hiệp Châu Âu) Geographical Information System
(Hệ thông tin địa lý)
Hệ thông tin địa lý Initial Environmental Examination
(Kiểm tra môi trường sơ bộ)
International Union for the Conservation of ‘Nature
(Hiệp hội Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên)
Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Trang 7Kiểm tra sức khỏe sơ bộ
Tiêu chuẩn môi trường
(Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc)
World Bank
(Ngân hàng Thế giới)
Trang 8trường
Nội dung cơ bản của đánh giá tác động môi trường
Vai trò và trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân tham gia vào quá trình đánh giá tác động môi
trường
Những hạn chế hiện nay và phương hướng hoàn
thiện công tác đánh giá tác động môi trường Biên soạn cuỗn chuyên khảo đánh giá tác động môi trường (quy trình và hướng dẫn kỹ thuật) ở Việt
Nam
Xây dựng báo cáo đánh giá tác động môi trường
Sang loc dự án Mục đích của sảng lọc dự án
Nội dung của bước sàng lọc dự án
Các cơ quan và cá nhân có trách nhiệm sảng lọc dự
án và thời điểm thực hiện sàng lọc dự án
Xác định phạm vi đánh giá tác động môi trường - lập đề cương đánh giá tác động môi trường chỉ tiết
Mục tiêu của bước xác định phạm vi đánh giá tác động môi trường
Nội dung của bước xác định phạm vi đánh giá tác động môi trường
Các cơ quan và cá nhân có trách nhiệm xác định
phạm vi đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường chỉ tiết
Nội dung đánh giá tác động môi trường chỉ tiết
Trang 9Mục lục vii
2.3.2 Nhận dạng các tác động 48
234 Dự bảo quy mô và cường độ tác động s9
243.6 Giảm thiểu va quản lý các tác động, 70
23.7 Chuẩn bị báo cáo đánh giá tác động môi trường 72
2.3.8 Các cơ quan và cá nhân có trách nhiệm thực hiện 75
đánh giá tác động môi trường chỉ tiết
Chương HH Thẩm định báo cáo và giám sát tác động môi T7
trường 3.1 Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường 77 3.1.1 Quy trình thẩm định đánh giá tác động môi trường 77
3.12 Co quan có trách nhiệm thẩm định báo cáo đánh 70
giá tác động môi trường
3.22 Nguyên tắc và yêu cầu giám sát 81
Trang 1012/7/2004 về việc sửa đổi bổ sung điều 14 Nghị
định số 175/CP ngày 18 tháng 10 năm 1994 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ
môi trường
Thông tư của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường sé 490/1998/TT-BKHCNMT ngay 29 tháng 4 năm 1998 hướng dẫn lập và thâm định Báo cáo Đánh giá tác động môi trường đối với
các dự án đầu tư Chương 3 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 Danh mục các dự án sàng lọc của Uỷ ban Châu
Âu (DGIB, 1997)
Sảng lọc môi trường theo quy định thực hiện của
Ngân hàng thế giới, 1991 (OD 4 00)
Mẫu nội dung (TOR) đánh giá tác động môi trường sơ bộ của Uý ban Châu Âu (DGIB, 1997)
Danh mục kiểm tra dùng cho đánh giá tác động
môi trường sơ bộ các dự án dùng thuốc bảo vệ
thực vật và phân bón (Hướng dẫn đào tạo nguồn
ĐGTĐMT, UNEP, 1996)
Hướng dẫn chuẩn bị báo cáo đánh giá môi trường
sơ bộ của Malaixia, (Chính phủ Malaixia,1987)
Mẫu nội dung (TOR) ĐGTĐMT chỉ tiết của Uỷ
ban Châu Âu (DGIB, 1997)
Nội dung đánh giá môi trường của các dự án viện
trợ phát triển của Hội đồng giúp đỡ Phat trién
thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD / DAC, 1994)
Ma trận đánh giá vị trí xây dựng (Hướng dẫn đào
tạo nguồn đánh giá tác động môi trường,
UNEP,1996)
Ma trận đánh giá đối với khai khoáng (Hướng
dẫn đảo tạo nguồn đánh giá tác động môi trường,
Trang 11Giảm thiểu đối với các dự án xây dựng các khu nhà
lớn (Sách nguồn đánh giá tác động môi trường,
Ngân hàng thế giới, 1991)
Giảm thiểu đối với các dự án xây dựng đường giao
thông và đường cao tốc (Sách nguồn đánh giá tác
động môi trường, Ngân hàng thế giới, 1991)
Chuẩn bị kế hoạch quản lý tác động (Hướng dẫn
đào tạo nguồn đánh giá tác động môi trường,
UNEP,1996)
Hướng dẫn chuẩn bị báo cáo Đánh giá chỉ tiết của Malaixia (Chính phủ Malaixia, 1987)
Nội dung của báo cáo Đánh giá môi trường cấp dự
án theo quy định thực hiện của Ngân hàng thế giới,
1991 (OD 4.00)
Danh mục kiểm tra dùng để đánh giá thông tin (báo
cáo) môi trường (Uỷ ban Châu Âu, 1994)
Tài liệu tham khảo chính
Các tài liệu tham khảo khác
Trang 12CHUONG |
NHUNG VAN DE CHUNG VE DANH
GIÁ TÁC DONG MOI TRUONG
1.1 Nội dung cơ bản của đánh giá tác động môi trường
1.1.1 Định nghĩa về đánh giá tác động môi trường
Mục đích của việc Đánh giá tác động môi trường (ĐGTĐMT) là đánh giá các tác động (tích cực và tiêu cực) của các hoạt động phát
triển đến môi trường và xã hội ĐGTĐMT được tiến hành trước
khi ra quyết định về dự án (tại nhiều nước trên thể giới đây là điều
bắt buộc) ĐGTĐMT liên quan đến các mục tiêu kinh tế, xã hội và
môi trường của dự án nhằm đưa ra những quyết định đúng dn hướng tới phát triển bền vững ĐGTĐMT là một quá trình nghiên cứa nhằm nhận dạng, dự báo và phân tích những tác động môi
trường có ý nghĩa quan trọng của một dự án và cung cấp thông tin
cân thiết để nâng cao chất lượng của việc ra quyết định DGTDMT
được sử dụng để phòng ngừa và làm giảm thiểu những tác động
tiêu cực, phái huy các tác động tích cực, đồng thời hỗ trợ cho việc
sử dụng hợp lý tiềm năng tài nguyên và qua đó làm tăng t6i đa lợi
ích của các dự án phát triển kinh tế - xã hội, góp phân vào phát
triển bền vững của một quốc gia
1.1.2 Vai trò và lợi Ích của ĐGTĐMT
Các dự án phát triển, ngoài việc mang lại các lợi ích kinh tế cho xã
hội, còn gây ra những tác động tiêu cực cho con người và (ài nguyên thiên nhiên Nhiều nước trong quá trình phát triển thường
quan tâm đến những lợi ích kinh tế trước mắt, vì thế trong quá trình lập kế hoạch phát triển công tác bảo vệ môi trường chưa được
Trang 132 Trân Văn Ý, Lê Đức An, Trượng Quang Hải, Eddy Nierynek, Trần Ty, Chu Thi Sang
quan tâm đến một cách đúng mức Sự yếu kém của việc lập kế
hoạch phát triển đã gây ra các tác động tiêu cực cho chính các hoạt
động này ở các nước Việc đầu tiên của công tác bảo vệ môi trường trong quá trinh lập kế hoạch thực hiện một dự án là triển
khai ĐGTĐMT Vì vậy, cho đến nay hau hết các nước đã thực hiện ĐGTĐMT để ngăn ngừa và giảm thiểu các hậu quả tiêu cực
và phát huy các kết quả tích cực về môi trường và xã hội của các
dự án phát triển
Sự tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển đã góp phần xoá
đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân Nếu có một kế hoạch phát triển hợp lý thì sức ép của sự phát triển sau này lên môi
trường ngày càng ít hơn Sự tăng trưởng kinh tế nếu không được quản lý một cách hợp lý có thể gây nên những ảnh hưởng tiêu cực,
sự bền vững của hệ sinh thái và thậm chí của cả nền kinh tế có thể
bị phá vỡ (hình 1.1)
Phát triển bền vững có mục đích gắn kết các nhu cầu về phát triển
kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường để đạt được những mục tiêu
Sau:
+ _ Nâng cao mức sống của người dân trong một thời gian ngắn;
® - Đạt được lợi ích thực sự, đảm bảo sự cân bằng giữa con người,
tự nhiên và các nguồn lợi kinh tế không những cho thể hệ hôm
nay mà cả cho các thế hệ mai sau
Đối với các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, hai đặc
điểm chính quyết định sự phát triển bên vững là:
» _ Có hầu hết các hệ sinh thái năng suất cao và các vùng sinh thái
nhạy cảm của thế giới, đó là rừng nhiệt đới, rừng ngập mặn, hệ
thông các đảo nhỏ và ám tiêu san hô VV
* Sy yéu kém trong qué trình phát triển vẫn còn là trở ngại chủ
yếu tiếp tục gây nên suy thoái môi trường
Trong quá trình phát triển hiện nay, các vấn đề môi trường vẫn
chưa được ưu tiên đúng mức Đông Nam Á đang đứng trước
những thách thức về phát triển Xoá đói giảm nghèo thông qua
phát triển có xem xét đầy đủ các vấn đề môi trường và xã hội là nhiệm vụ hết sức cấp bách và quan trọng Những vấn đề môi
Trang 14Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỆ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỌNG MỖI TRƯỜNG 3
trường bao gồm sự thoái hoá đất, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên,
các khu dan cư không đảm bảo yêu cầu về vệ sinh môi trường cho một cuộc sống bình thường (nhà ở; vệ sinh và cấp nước; không
khí, đất và nước bị ô nhiễm) và những vấn đề môi trường quan
trọng chung của toàn cầu như sự ấm lên của Trái đất, suy thoái tầng ôzon, suy giảm đa dạng sinh học Sức ép về dân số, sự lạc hậu
về kinh tế - xã hội đã góp phần đưa môi trường đến tình trạng hiện
nay Để khắc phục tình trạng nêu trên, ĐGTĐMT cần được sử
dụng như một công cụ pháp lý để góp phần quản lý môi trường và
phát triển bền vững
ĐGTĐMT có các lợi ích trực tiếp và gián tiếp Đóng góp trực tiếp
của ĐGTĐMT là mang lại những lợi ích môi trường, như giúp chủ
dự án hoàn thiện thiết kế hoặc thay đổi vị trí của dự án Đóng góp
gián tiếp có thể là những lợi ích môi trường do dự án tạo ra, như
việc xây dựng các đập thuỷ điện kéo theo sự phát triển của một số ngành (nông nghiệp, du lịch, nuôi trồng hải sản ) Triển khai quá
trình ĐGTĐMT càng sớm vào chu trình dự án, lợi ích của nó mang,
Xod đói, giảm nghèo Lồng ghép môi trường vào
« Kiểm soát tất cả các nguồn 1 ng i ae thị và
tài nguyên chung của xã nông, thế
HOLE cach hep Ty « Đổi mới các vấn đề năng
Hình 1.1 Mối quan hộ giữa môi trường, sự nghèo đói và phát triển
Trang 154 -Trân Văn Ý, Lê Đức An, Trương Quang Hải, Eddy Nierynck, Trần Tý, Chụ Thị Sàng
Nhìn chung, những lợi ích của ĐGTĐMT hao gồm:
+ _ Hoàn thiện thiết kế và lựa chọn ví trí dự án;
+ _ Cung cấp thông tin chuẩn xác cho việc ra quyết định;
» _ Tăng cường trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình
phát triển;
» _ Đưa dự án vào đúng bối cảnh môi trường và xã hội của nó;
» _ Giảm bớt những thiệt hại môi trường;
+ _ Làm cho dự án có hiệu quả hơn về mặt kinh tế và xã hội;
« _ Đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững
1.1.3 Chi phí cho ĐGTĐMT
Chỉ phí cho công tác ĐGTĐMT gồm kinh phí nghiên cứu, lập báo
cáo, thâm định báo cáo, thực hiện các biện pháp giảm thiêu và
giảm sát ĐGTĐMT được lấy từ nguồn vốn dự án Chỉ phí này có tính chất trước mắt, trong thời gian ngắn và chủ yếu do chủ dự án
chịu Tuy nhiên, cần nhận rõ rằng chỉ phí đầu tư cho ĐGTĐMT sẽ
tiết kiệm kinh phí chung của việc thực hiện dự án và làm tăng hiệu
quả hoạt động kinh tế thông qua những lợi ích lâu dài và phố biến
của nó Đó là việc ngăn ngừa những hiểm họa môi trường (nếu
không được ngăn ngừa xã hội phải khắc phục chúng trong các giai
đoạn sau) và hướng tới sự phát triển bền vững Các hoạt động kinh
tế của dự án được tăng cường (có lợi cả cho chủ đự án và cho quốc
Bìa), bởi vì các dự án sẽ được thiết kế tốt hơn và phê duyệt kịp thời
hơn
1.1.4, Tinh téng hop trong ĐGTĐMT
Trước đây, ĐGTĐMT tập trung nghiên cứu các tác động đến môi
trường tự nhiên là chủ yếu, ví dụ như việc xem xét hậu quả của các hoạt động phát triển đến chất lượng nước và không khí, hệ thực vật
và động vật, khí hậu và hệ thống thuỷ văn Hiện nay, các kiểu tác
động khác như các tác động đến môi trường kinh tế - xã hội, sức
khoẻ cộng đồng, quan hệ giới được ưu tiên phân tích và đánh giá
giúp cho việc ra quyết định đầy đủ và toàn điện hơn Những nỗ lực
đó đã thúc đây sự phát triển liên ngành của ĐGTĐMT về cả lý
thuyết và thực hành Thuật ngữ “Môi trường” được hiểu là bao
Trang 16Chwong |: NHONG VAN DE CHUNG VE DANH GIA TAC DONG MOI TRUONG 5
gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Phạm vị của
ĐGTĐMT được mở rộng cho nhiều kiểu tác động khác nhau VÌ
vậy, cuốn sách này không thể hướng dẫn chỉ tiết cho tất cả kiểu tác động trong ĐGTĐMT Tuy nhiên, để có khái niệm chung về các tác động có liên quan đến môi trường kinh tế xã hội, phụ lục 1.2 giới thiệu ngắn gọn về các tác động kinh tế, xã hội, sức khoẻ, giới
phát triển bền vững, không thê chỉ sử đụng một công cụ quản lý môi trường mà phải sử dụng, kết hợp nhiều công cụ và nhiều cách tiếp cận khác nhau ĐGTĐMT là một trong các công cụ đó Tron; tương lai ĐGTĐMT được sử dụng kết hợp với các công cụ khác để đánh giá các dự án theo các tiêu chuẩn bên vững
Vi dụ về các công cụ và kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển bền vững:
„ Kiểm toán môi trường;
« - Đánh giá công nghệ;
„ _ Đánh giá chu trình sản xuất ra một sản phẩm
1.1.5 Kết hợp đánh giá tác động môi trường với quy hoạch phát
triển - Đánh giá môi trường chiến lược
Nội dung của việc lập kế hoạch phát triển khác nhau về quy mô
của lãnh thổ (quốc gia, vùng v.v.) và về loại hình (ngành hay tổng
hợp) cho nên nội dung của việc cân nhắc các vấn đề môi trường trong mỗi loại hình lập kế hoạch cũng phải được tiến hành một cách tương xứng Trước đây, ĐGTĐMT chỉ mới tiến hành cho cấp
dự án Hiện nay quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải mở rộng ĐGTĐMT và sử dụng các công cụ khác bổ sung cho quy trình ĐGTĐMT Trong 35 năm qua, ĐGTĐMT trở thành một quá
trình đồng bộ và linh hoạt phục vụ cho việc lập quy hoạch và quản
Trang 176 Trần Văn Ý, Lé Đức An, Trượng Quang Hải, Eddy Nierynck, Trân Tý, Chu Thi Sang
lý dự án Tuy nhiên, ĐGTĐMT chưa đóng vai trò xứng đáng trong
việc làm giảm bớt sự nghiêm trọng của các vấn để môi trường khu
vực và toàn cầu do nguyên nhân tăng trưởng kinh tế của mỗi nước
Hiện nay, quy mô và tốc độ suy thoái môi trường vả cạn kiệt tài
nguyên lớn hơn trong những năm 70, vì thế sự ra đời DGTDMT
cho các dự án, chỉ mới thể hiện một phần trách nhiệm của xã hội
đối với những vấn đề môi trường
Hiện nay, ĐGTĐMT chỉ mới tập trung chủ yếu làm thế nào để một dự án ít gây tác động tiêu cực đến môi trường nhất, trong
khi đó các nhà hoạch định chính sách cần có một công cụ môi
trường ở cấp cao hơn cấp dự án (như quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ v.v) để phục vụ cho việc ra quyết định (các quyết định thường được đưa ra với những phân tích môi trường rất sơ lược) Đánh giá môi trường chiến lược (ĐGMTCL) ra
đời bể sung cho ĐGTĐMT cấp dự án, đưa các vấn đề môi
trường tương xứng vào quá trình ra quyết định cho những hoạt
động phát triển cao hơn cấp dự án (chính sách, chương trình và
kế hoạch/quy hoạch phát triển ngành và lãnh thổ) và được xem
như là một cách tiếp cận đầy triển vọng ĐGMTCL là việc vận
dụng các nguyên tắc ĐGTĐMT trong việc hoạch định chính
sách, kế hoạch, chương trình và các cấp quy hoạch phát triển
khác cao hơn cấp dự án ĐGMTCL là cách tiếp cận thực tế nhất, đặc biệt nếu biết kết hợp việc ra quyết định với các chỉ tiêu phát triển bền vững thì ĐGMTCL sẽ trở thành một công
cụ hiệu quả góp phần ngăn chặn xu hướng tiếp tục suy giảm
môi trường trong từng quốc gia cũng như toàn cầu
ĐGMTCL là một quá trình đang hoàn thiện, đảm bảo để đưa các cân nhắc môi trường vào những giai đoạn thích hợp của
quá trình hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch và chương
trình phát triển ĐGMTCL và ĐGTĐMT cấp dự án có mỗi quan hệ chặt chế và phân cấp, tương tự như việc phân cấp từ chính sách xuống đến dự án (chính sách đặt ra mục tiêu chung
cho việc xây dựng kế hoạch, các kế hoạch là khung chung cho việc hình thành các chương trình, và các chương trình định
hướng cho việc lập các dự án phát triển cụ thể) Trong thực tế,
sự phân cấp như thế thường mang tính chất tương đối (xem phụ lục L3).
Trang 18Chueng bi NHONG VAN DE CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MỖI TRƯỜNG 7
Theo cách tiếp cận phân cấp này, các đạng và nội dung của thông
tin môi trường được cung cấp theo nhu cầu cụ thể của người đưa ra
quyết định Để hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển
cần những thông tin môi trường khái quát và định tính nhằm xác
định các vấn đề môi trường lớn, không đi vào những tác động cụ
thé Sau đó, khi thực hiện ĐGTĐMT cấp dự án (các dự án được triển khai trực tiếp từ cáệ chính sách và kế hoạch) cần phải xác
định những tác động cụ thể và những thông tin về công nghệ của
dự án
Hiện nay, ĐGMTCL là một khái niệm tương đối mới, kinh nghiệm
và lý luận đang ngày càng trở nên phong phú một cách nhanh
chóng
Luật Bảo vệ Môi trường 1993, Nghị định của Chính phủ số
175/CP @&em phụ lục 1.4) và Thông tư của Bộ KHCN&MT số
kế hoạch phát triển kinh tê - xã hội cấp tinh, vùng; quy hoạch sử
dụng đất, bảo vệ rừng, khai thác và bảo vệ các nguồn tài nguyên
thiên nhiên khác trên phạm vì liên tinh, liên vùng; quy hoạch phát
triển vùng kinh tế trọng điểm; và quy hoạch tổng hợp lưu vực sông
quy mô liên tỉnh phải được ĐGMTCL (xem phụ lục 1.7) Tuy nhiên, cho đến nay ở nước ta vẫn chưa có các hướng dẫn cho
ĐGMTCL
1.1.6 ĐGTĐMT và chu trình dự án
Luật pháp của nhiều nước châu Á yêu cầu thực hiện ĐGTĐMT đối
với tất cả các dự án phát triển quan trọng Tại nhiều nước, pháp luật quy định ĐGTĐMT là một phần của nghiên cứu tiền kha thi, khả thi và những kết quả của nó được thực hiện trong tất cả các
bước của chu trình dự án Vì vậy, khi đã có hiệu lực những quy
định luật pháp về ĐGTĐMT có ý ngiĩa to lớn, thúc đây sự phát
triên bên vững Một vấn đề khác liên quan đến ĐGTĐMT, đó là tài
chính của dự án ĐGTĐMT được tiến hành bằng kinh phí của
chính dự án Một số các ngân hàng và các nhà đầu tư khi thực hiện
Trang 198 Trân Văn Ý, Lệ Đức An, Trương Quang Hài Eddy Nieymck, Trin Ty, Chu Thi Sang
dự án không chú ý đến các tiêu chuẩn môi trường cho nên đã gặp
rủi ro trong đầu tư, Vì thế, nếu lỗng ghép (triển khai đồng bộ đánh
giá môi trường cùng các bước của chụ trình dự án) thì việc cấp tài
chính sẽ dễ dang hơn
Chu trình dự án được khái quát theo 6 bước chính:
+ Hình thành dự án;
« _ Nghiên cứu tiền khả thi;
+ - Nghiên cứu khả thi;
« — Thiết kế và công nghệ;
« Thực hiện;
» - Giám sát và đánh giá:
Vai trò của ĐGTĐMT trong các giai đoạn của chu trình đự án
cũng khác nhau (hình 1.2) Các hoạt động ĐGTĐMT được tiến hành chú yếu trong giai đoạn tiền khả thị, khả thì và thiết kế công
nghệ, ít tập trung hơn cho giai đoạn thực hiện, giám sát và đánh giá dự án
Trong những giai đoạn đầu của chu trình dự án ứng với các bước
nghiên cứu tiền khả thi, ĐGTĐMT tập trung vào việc đánh giá lựa
chọn vị trí thực hiện dự án, sàng lọc môi trường của dự án, xác
định phạm vi tác động môi trường của dự án Tiếp theo, trong bước nghiên cứu khả thi thực hiện đánh giá các tác động môi trường chỉ tiết Sau đó, các biện pháp bảo vệ và giảm thiểu môi
trường được đẻ xuất, kế hoạch quản lý môi trường và chương trình
giảm sát môi trường được soạn thảo Bước cuối cùng của
ĐGTĐMT là tiến hành thâm định báo cáo ĐGTĐMT
KẾ hoạch quản lý môi trường được đề xuất trong báo cáo
ĐGTĐMT đã được thẩm định phải có hiệu lực trong suốt thời gian thực hiện đự án (kể cả xây dựng, vận hành, duy tu và thanh lý dự
án) Kế hoạch này bao gồm cả biện pháp giảm thiểu các tác động
môi trường sinh ra trong suốt quá trình thực hiện dự án Chương
trình giám sát môi trường được xây dựng nhằm cung cấp thông tin
về các tác động môi trường xảy ra trong thực tế, diễn biến môi
trường, hiệu lực của các biện pháp giảm thiểu Sự đánh giá các kết
quả giám sát môi trường là tht cần thiết để đạt được các mục tiêu
Trang 20Chueng |: NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VỀ ĐÁNH GIA TAC BONG MOI TRƯỜNG 9
về môi trường của dự án và thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường bổ sung nếu thấy cần thiết Nhận thức được thm quan trọng
của ĐGTĐMT, nhiều nước và tổ chức quốc tế đã đòi hỏi chủ đầu
tư đành một phần kinh phí cho việc thực hiện các kế hoạch quản lý
và chương trình giám sát môi trường
Đánh giá chỉ tiết các tác động có ý nghĩa, xác định Thiết kế
sự cần thiết giảm thiểu, phân tích chỉ phí lợi ích cụ thể
Giám sát, kiểm toán các tác động, rút
ra các bài học cho các dự án tiếp theo
Hình 1.2 ĐGTĐMT và chu trình dự án
4.2 Vai trò và trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân tham
gia vào quá trình đánh giá tác động môi trường
Trong quá trình ĐGTĐMT, có nhiều bên hữu quan cùng tham gia
vào việc quản lý và thực hiện Mỗi bên tham gia đều có những vai trò quan trọng nhất định của mình
1.2.1 Cơ quan quản lý đánh giá tác động môi trường
Cơ quan quản lý ĐGTĐMT có trách nhiệm tổ chức quá trình ĐGTĐMT Nhiệm vụ của cơ quan này là sàng lọc tác động môi
trường của dự án và tư vấn về quy trình đánh giá cho chủ dự án
Cơ quan quản lý ĐGTĐMT thông qua đề cương (kế hoạch)
Trang 2110 Tran Van Ý, Lê Đức An, Truong Quang Hải, Eddy Nieryrnck, Trên Tý, Chu Thi Sang
ĐGTĐMT, điều hành việc thẩm định các báo cáo ĐGTĐMT và chịu trách nhiệm về việc phê chuẩn và các kiến nghị có liên quan
đến ĐGTĐMT Về nguyên tắc, cơ quan quản lý ĐGTĐMT còn có
trách nhiệm thẩm tra việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường
Ở nước ta, phụ thuộc vào kiểu, quy mô, ý nghĩa kinh tế và
mức độ nghiêm trọng của các tác động môi trường của dự
án, báo cáo ĐGTĐMT sẽ được trình cho Quốc hội xem xét,
Hội đồng Thâm định cấp trung ương (Bộ TN&MT) hoặc cấp
địa phương (các sở TN&MT) thấm định Bộ TN&MT có trách nhiệm trình Chính phủ danh sách các đự án có báo cáo
ĐGTĐMT sẽ được Quốc hội xét duyệt
Nghị định 175 ban hành ngày 18-10-1994 về hướng dẫn thi
hành Luật Bảo vệ môi trường và Nghị định 143 ban hành
ngày 12-7-2004 về sửa đổi bố sung Điều 14 Nghị định 175
của Chính phủ đã quy định thẩm quyển thẩm định và phê
duyệt báo cáo ĐGTĐMT (phụ lực 1.4 và 1.5) Vụ Thắm định
và ĐGTĐMT thay mặt Bộ TN&MT điều hành công tác DGTDMT và thâm định báo cáo ĐGTĐMT trên phạm vi cả nước
Dựa vào kết luận của Hội đồng thẩm định ĐGTĐMT, Bộ
trưởng Bộ TN&MT hoặc Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh phê duyệt dự án Thành phần của Hội đồng Thẩm định gồm có
các nhà khoa học, cán bộ quản lý, và có thể có đại diện của
các tổ chức xã hội và nhân dan ving dự án Số thành viên
trong Hội đồng đánh giá thường được giới hạn là 9 người
1.2.2 Chủ dự án
Chủ dự án (tư nhân, Nhà nước, liên doanh, đầu tư của nước
ngoài) có trách nhiệm toàn diện và trực tiếp đối với dự án Chủ
dự án cung cấp các thông tin khoa học và kỹ thuật cần thiết cho
tất cả các bước của quá trình ĐGTĐMT Chủ dự án thường hợp
đồng với các chuyên gia để thực hiện ĐGTĐMT Khi thẩm định
báo cáo ĐGTĐMT, chủ dự án phải trả lời được các câu hỏi về
những tác động môi trường và các biện pháp bảo vệ Chủ dự án
Trang 22Chương !: NHỮNG VĂN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MỖI TRƯỜNG 11
cũng có trách nhiệm về việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu và
nếu cần thì tiến hành giám sát môi trường
1.2.3 Các chuyên gia môi trường
Các chuyên gia môi trường giúp chủ dự án thực hiện DGTDMT Chuyên gia môi trường là cán bộ của các viện nghiên cứu, các
trường đại học, các bộ, ngành, cơ quan tư vấn, cơ quan phi chính
phủ
Chủ dự án giao cho các chuyên gia thực hiện toàn bộ công việc
ĐGTĐMT: từ chuẩn bị đề cương (kế hoạch) ĐGTĐMT chỉ tiết;
nghiên cứu môi trường; đề xuất thiết kế các biện pháp giảm thiểu;
chuẩn bị báo cáo ĐGTĐMT; đến lập kế hoạch quản lý và giám sát
môi trường
Thông thường, các chuyên gia môi trường tư vấn cho các cơ quan
quân lý ĐGTĐMT Một số cơ quan có tiêm lực về khoa học và kỹ thuật có thể nghiên cứu và giải quyết được những vẫn đề môi trường lớn Nếu cần thiết, các cơ quan quản lý ĐGTĐMT sử dụng
các cộng tác viên để thực hiện sàng lọc môi trường của dự án,
thẩm định kế hoạch chỉ tiết và thực hiện ĐGTĐMT
1.2.4 Các cơ quan quản lý Nhà nước khác
Các cơ quan Nhà nước khác như các Bộ và sở Công nghiệp, Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, là những cơ quan có trách nhiệm quản lý, bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội Các cơ quan quản lý Nhà nước đó có trách nhiệm tham
gia vào quá trình ĐGTDMT của các dự án do Bộ, ngành mình
quản lý Các nhóm ĐGTĐMT khi chuẩn bị báo cáo thường hợp tác với những cơ quan này Các cơ quan nhà nước trên có thể cử đại diện của mình tham gia vào Hội đồng thấm định theo yêu cầu của cơ quan quản lý môi trường
1.2.6 Cộng đồng
Hầu hết các dự án phát triển đều gây ra những tác động đến các
cộng đồng dan cu séng trong vùng có dự án Vì vậy, các cộng
Trang 2312 Trần Văn Ý,_ Là Đức An, Trừơng Quang Hải, Eddy Nierynck, Trin Ty, Chu Thi Sang
đồng dân cư có quyền được tham gia vào ĐGTĐMT của dy án Sự
tham gia của cộng động vào ĐGTĐMT cho phép nhận dạng các vấn để xã hội và môi trường quan trọng Hiệu quả của công tác
ĐGTĐMT là giải quyết các vấn để môi trường do cộng đồng phát
hiện bằng cách sửa chữa thiết kế dự án, hoặc thông qua các biện
pháp bảo vệ môi trường thích hợp Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng
phan lớn các dự án bị thất bại đu do chưa xem xét đúng mức
quyền lợi của các cộng đồng bị ảnh hưởng, do không phù hợp với
các điều kiện kinh tế xã hội, hoặc chưa tính đến quyển lợi của người đân nơi dự án được xây dựng Nếu thiếu sự ủng hộ của cộng
đồng, dự án sẽ gặp khó khăn trong thực hiện và có thể dẫn đến sự
thất bại hoàn toàn Sự tham gia của cộng động là vấn để mới, có
tầm quan trọng mang tính pháp lý góp phần đảm báo sự thành công của dự án Ở nước ta, việc tham gia của cộng đồng vào công
tác ĐGTĐMT còn nhiều hạn chế,
1.2.8 Các tỗ chức tài trợ quốc tế
Hầu hết các TCTTQT đầu tư cho các dự án đều yêu cầu thực
hiện ĐGTĐMT, TCTTQT có trách nhiệm đầu tư cho việc
chuẩn bị báo cáo ĐGTĐMT, còn thắm định báo cáo thuộc về
trách nhiệm của các nước nhận tai trợ Thông thường, các yêu
cầu về môi trường của các TCTTQT như Ngân hàng Thế giới,
hay Ngân hàng Châu Á nghiêm ngặt hơn so với chính nước được tài trợ Điều quan trọng là cả hai bên đều yêu cầu tiến
hành ĐGTĐMT Trong một số trường hợp các TCTTQT, còn
trợ giúp cả về mặt kỹ thuật cho công tác ĐGTĐMT của dự án
1.2.7 Các trường đại học và các viện nghiên cứu
Các trường đại học và các viện nghiên cứu đảm nhận vai trò nhất
định trong quá trình ĐGTĐMT Các cơ quan này có một đội ngũ
các nhà chuyên môn thuận lợi cho việc thành lập các nhóm thực
hiện ĐGTĐMT Với trình độ chuyên môn cao, các chuyên gia có thể có vai trò quyết định trong việc xem xét các bản thảo của báo cáo ĐGTĐMIT Điều quan trọng nhất là các trường đại học và các
viện nghiên cứu độc lập với các dự án cho nên sự đánh giá của các
cơ quan này mang tính khách quan Các trường Đại học là những
Trang 24Chương |: NHỮNG VĂN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRUONG 13
trung tâm chính đảo tạo các cán bộ ĐGTĐMT, cung cấp các kiến
thức mới, các phương pháp phân tích thích hợp cho quá trình đánh giá môi trường
1.3 Những hạn chế hiện nay và phương hướng hoàn thiện công tác đánh giá tác động môi trường
Sự phân tích mới đây của Chương trình Môi trường | Liên hợp quốc
về hiệu quả của ĐGTĐMT đã chỉ rõ những hạn chế và đưa ra các nguyên tắc nhằm hoàn thiện công tác ĐGTĐMT tại các nước đang,
phat trién
Cac khiếm khuyết của công tác ĐGTĐMT hiện nay, bao gồm cả
về nội dung và phương pháp thực hiện, có thể tóm lược như sau:
Về nội dung ĐGTĐMT
« _ Chỉ tập trung cho các dự án phát triển, việc ứng dụng đối với
các kế hoạch phát triển quy mô quốc gia, vùng và ngành còn
rất Ít;
„ Những dự án quy mô nhỏ thường không phải thực hiện ĐGTĐMT, tuy nhiên những tác động nhỏ này được tích luỹ và
theo thời gian chúng có thê trở nên rất quan trọng;
« Không được áp dụng cho chính sách kinh tế vĩ mô, như ngân sách / chính sách thuê;
« _ Không được ứng dụng cho các hiệp ước trao đổi mậu dịch giữa
các quốc gia
Về thực hiện ĐGTĐMT
„ Chưa lôi cuốn và đảm bảo sự tham gia một cách hữu ich
và đầy đủ của cộng đồng vào công tác ĐGTĐMT;
„ Việc lồng ghép các kết quả ĐGTĐMT vào nghiên cứu khả thi và ra quyết định chưa tương xứng;
« Danh mục các dự án cần phải tiến hành ĐGTĐMT chưa đầy đủ;
Trang 2514 Trần Văn Ý, Lê Đức An, Trương Quang Hải, Eddy Nierynck, Trin Ty, Chu Thi Sang
« _ Nhận thức về mô tả môi trường nền và dự báo các tác động còn phiến diện; ,
« Thiếu sự liên kết giữa các tác động vật lý và sinh học với
những tác động xã hội, kinh tế và sức khoẻ;
+ _ Báo cáo ĐGTĐMT còn khó hiểu đối với người ra quyết định
và cộng đồng do văn bản đải đòng và sự phức tạp của các phương pháp sử dụng trong ĐGTĐMT;
« _ Thiếu cơ chế yêu cầu các cấp có thẩm quyền xem xét các báo
cáo ĐGTĐMT;
- _ Quan hệ giữa những kiến nghị về giảm thiểu và giám sát tác
động môi trường trong các báo cáo ĐGTĐMT với việc triển
khai thực hiện còn một khoảng cách khá xa;
+ Năng lực kỹ thuật và xuân lý đối với công tác ĐGTĐMT ở
nhiều nước còn hạn chế
Công tác ĐGTDMT tại các nước đang phát triển còn gặp
nhiều khó khăn Vai trò của công tác ĐGTĐMT đối với sự phát triển rất quan trọng, góp phần xây dựng một thế giới bền vững (kết quả của ĐGTĐMT phục vụ công tác bảo vệ môi trường); nghiên cứu môi trường một cách nhất quán, có
hệ thống (quá trình ĐGTĐMT tuân thủ theo một quy trình đã lựa chọn) và thiết thực (quá trinh ĐGTĐMT cung cấp những thông tin đúng đắn và đáng tin cậy cần thiết cho việc ra quyết định) Vì vậy, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
đã đưa ra những nguyên tắc chỉ đạo và thực hiện công tác ĐGTĐMT đối với các nước đang phát triển như sau
Bảy nguyên tắc chỉ dao trong DGTDMT
1, Sự tham gia: Sự tham gia hợp lý và đúng lúc của các bên hữu quan vào quá trình ĐGTĐMT;
2 Tính công khai: Đánh giá và cơ sở để đánh eid các tác động cần được công khai và kết quả đánh giá có thể được tham khảo
một cách dé dang;
Trang 26Chương l: NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VẺ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 15
3 Tính chắc chắn: Quá trình và thời gian biểu của công tác đánh
giá được thông qua trước và được các bên tham gia thực hiện
một cách đầy đủ;
Tính trách nhiệm: Những người ra quyết định phải có trách nhiệm với các bên hữu quan về quyết định của mình tuân theo kết quả của quá trình đánh giá;
Sự tín nhiệm: Sự đánh giá được bảo đảm về chuyên môn và tính khách quan;
Chi phi/higu quả: Quá trình đánh giá và kết quả của nó phải đảm bảo cho việc bảo vệ môi trường với chỉ phí xã hội nhỏ nhất;
Tính linh hoạt: Quy trình đánh giá phải phù hợp để tạo ra hiệu
quả và có hiệu lực cho mọi dự án và trong mọi hoàn cảnh,
Mười chín nguyên tắc thực hiện ĐGTĐMT
ĐGTĐMT được áp dụng:
Cho tất cả các hoạt động của dự án phát triển gây ra các tác
động tiêu cực đáng kế cho môi trường và xã hội, hoặc những
tác động tích luỹ;
Như là một công cụ quản lý môi trường cơ bản nhằm phòng
ngừa, giảm thiểu các tác động tiêu cực của đự án và tạo điều
kiện để môi trường tự phục hồi;
Sao cho công tác thắm định ĐGTĐMT đánh giá đúng bản chất
tác động môi trường do các hoạt động của dự án gây ra;
Để làm cơ sở cho việc xác định đúng đắn vai trò và trách
nhiệm của các bên tham gia
ĐGTĐMT được tiễn hành:
Trong suốt chu trình dự án, bắt đầu càng sớm càng tốt, có thể
ngay từ khi dự án mới được hình thành;
Theo những yêu cầu rõ ràng để chủ dự án thực biện kể cả việc
quản lý tác động;
Trang 2716 Trần Văn Ý, Lê Đức An, Trương Quaág Hải, Eddy Niarynok, Trần Tý, Chu Thị Sàng
+ Phu hgp với trình độ khoa học và công nghệ giảm thiểu tác
động môi trường hiện tại;
+ Tương xứng với thủ tục hiện tại Và kế hoạch thực hiện
ĐGTĐMT;
+ Dé tu van cho cộng đồng, các nhóm, các bên bị ảnh hưởng trực
tiếp, hoặc các bên được hưởng lợi từ đự án nhằm giải quyết các
mâu thuẫn một cách én thỏa
DGTDMT can thiét va phải phù hợp với:
„ _ Tất cả các vấn để về môi trường, bao gồm cả các tác động xã
hội và rủi ro về sức khỏe;
« Tác động tích luỹ, xảy ra lâu dài và trên diện rộng;
« _ Việc lựa chọn các phương án thiết kế, vị trí triển khai và công
nghệ của dự án;
+ Sy quan tâm về tính bền vững, bao gồm năng suất tài nguyên,
khả năng đồng hóa của môi trường và đa đạng sinh học
ĐGTĐMT phải hướng tới:
« _ Việc lựa chọn các phương án thiết kế, vị trí triển khai và công
nghệ của dự án;
« _ Thông tin chính xác về bản chất của các tác động, cũng như
cường độ, ý nghĩa của chúng, những rủi ro và hậu quả môi trường do dự án gây ra;
„ _ Sự rõ rằng trong các báo cáo ĐGTĐMT, dễ hiểu và phù hợp
với việc ra quyết định, trong đó có các luận cứ về chất lượng,
độ tin cậy và giới hạn của các dự báo tác động môi trường;
« Giải quyết những vấn dé môi trường diễn ra trong quá trình
thực hiện dự án,
DGTDMT tao co sé dé:
» _ Ra quyết định có luận cứ về môi trường;
« _ Thiết kế, lập kế hoạch và thực hiện các dự án phát triển sao cho
thỏa mãn các tiêu chuẩn môi trường và mục đích quản lý tài
nguyên,
Trang 28Chyeng I: NHONG VAN BE CHUNG VE BANH GIA TAC DONG M01 TRUONG 17
„ _ Phù hợp với những yêu cầu về giám sát, quản lý, kiêm toán và
đánh giá các tác động môi trường; việc hoàn thiện về thiết kế
và thực hiện những thiếu sót trong dự báo và giảm thiểu của các dự án trong tương lai
1 4 Biên soạn cuốn chuyên khảo đánh giá tác động môi
trường (quy trình và hướng dẫn kỹ thuật) ở Việt Nam
14.1 Các nguyên tắc chính được sử dụng trong việc biên soạn
cuồn đánh giá tác động môi trường các dự án phát trién
Các nguyên tắc cơ bản của công tác soạn thảo các hướng dẫn ĐGTĐMT được Chương trình Môi trường Liên hợp quốc tổng
kết trên cơ sở các hướng dẫn ĐGTĐMT, số tay, sách tra cứu và
thực tiễn ĐGTĐMT bao gồm: :
„ ĐGTĐMT là công cụ để thực hiện mục tiêu phát triển bền
vững;
+ Quy trinh DGTDMT phai được lồng ghép, sao cho ít gây
xáo trộn nhất cho thể chế môi trường (hệ thống các cơ quan,
tổ chức quản lý và nghiên cổ môi trường) hiện hành;
‹ _ Phù hợp với luật pháp hiện hành về môi trường;
„ ĐGTĐMT là một công cụ quản lý cho nên phải rõ ràng,
được kết hợp một cách chặt chế với chu trình dự án và điều
quan trọng nhất là cung cấp kịp thời các thông tin môi
trường thích hợp Nhất thiết phải có sự phối hợp chặt chế
giữa nhóm ĐGTĐMT, các nhà thiết kế và chủ dự án để đảm
_ bảo rằng những thay đổi về thiết kế và vị trí của dự án được thực hiện nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động tiêu cực và mở rộng tối đa các lợi ích của dự án;
„ Đưa dân cư của vùng dự án tham gia vào quá trình ĐGTĐMT;
‹ồ ĐGTĐMT được thực hiện một cách tổng hợp và liên ngành cho các tác động (môi trường xã hội, kinh tế, vật lý và sinh
học) để tối đa hoá các lợi ích của dự án.
Trang 2918 Trin Văn Ý, Lê Đức An, Trượng Quang Hải, Eddy Nierynok, Tran Ty, Chu Thi Sang
1.4.2 Mục địch và giới hạn của cuốn Đánh giá tác động môi trường
Cuốn ĐGTĐMT được biên soạn nhằm cung cấp các thông tin cần thiết cho việc thực hiện đầy đủ một quy trình ĐGTĐMT, giúp cho
việc trả lời các câu hỏi cơ bản của công tác ĐGTĐMT "4i làm gi,
làm như thế nào và làm vào lúc nào?" Cuỗn ĐGTĐMT được soạn
thảo cho tất cả các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình đánh
giá tác động môi trường
Đối với các cơ quan và cá nhân có trách nhiệm quản lý công tác
ĐGTĐMT, cuấn ĐGTĐMT cung cấp những nội dụng cơ bản nhất
của các bước trong một quy trình ĐGTĐMT và những công cụ kỹ
thuật có thể áp dụng cho các bước ĐGTĐMT thuộc phạm vi trách
nhiệm của các cơ quan quản lý môi trường, như bước sàng lọc môi
trường hay thẩm định báo cáo ĐGTĐMT
Đối với chủ dự án, các cơ quan và cá nhân có trách nhiệm tiến
thành ĐGTĐMT, cuấn ĐGTĐMT cung cấp các công cụ kỹ thuật
đẻ thực hiện công tác đánh giá tác động môi trường có hiệu quả,
như lập đề cương (kế hoạch) ĐGTĐMT; ĐGTĐMT chỉ tiết
Do cuốn ĐGTĐMT có nội dung tổng hợp, soạn cho nhiều đối
tượng người đọc lại rất ngắn gọn, cho nên mọi vấn để không thể
trình bày một cách thật chỉ tiết Đề thực thi các nhiệm vụ của mình
trong quy trình ĐGTĐMT các nhóm thực hiện cần thiết phải tham
khảo thêm các tài liệu chuyên sâu hơn
1.4.3 Thời điểm sử dụng cuốn sách
Các bước ĐGTĐMT trong cuốn ĐGTĐIMT này được biên soạn
tương ứng với tất cả các giai đoạn trong lập kế hoạch và thực hiện
(chu trình) một dự án phát triển:
« Hình thành dự án và nghiên cứu tiền khả thi;
+ Nghiên cứu khả thị, thiết kế và công nghệ;
« Thực hiện;
« _ Giám sát và đánh giá dự án,
Như vậy, cuốn ĐGTĐMT có thể được sử dụng cho toàn bộ quy
trình ĐGTĐMT và quản lý đự án.
Trang 30Chweng 1: NHONG VAN BE CHUNG VE BANH GIA TÁC ĐỘNG MỖI TRƯỜNG 19
14.4, Quy trình đánh giá tác động môi trường trong bối cảnh các nước Châu Á
ĐGTĐMT đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết
những vấn đề có liên quan đến môi trường, góp phần xây
dựng các luận cử môi trường và phát triển bên vững
ĐGTĐMT là một quá trình được thực hiện qua nhiều bước,
trong đó nhiều vấn đề môi trường được đưa ra xem xét để
quyết định việc thực hiện các dự án Hiệu quả của hệ thống ĐGTĐMT phụ thuộc vào các bước cụ thê trong hệ thống đó
Về cơ bản, quá trình ĐGTĐMT trong các nước đang phát
triển ở Châu Á có các bước chính sau:
« _ Sàng lọc môi trường của dự án;
« Xác định phạm vi hoặc chuẩn bị một báo cáo kiểm tra môi trường sơ bộ;
+ _ Chuẩn bị báo cáo ĐGTĐMT;
« - Xem xét báo cáo DGTDMT;
„ Thẩm định báo cáo ĐGTĐMT bằng các tiêu chí và điều
kiện đã định;
« _ Quản lý môi trường
Ở một số nước, quá trình ĐGTĐMT có bd sung thêm bước
“Kiểm toán và đánh giá dự án", Bước này thường được thực hiện sau khi dụ án đã đi vào hoạt động Hình 1.3 thể hiện các bước và nhiệm vụ chính của quá trình ĐGTĐMT khái
quát cho các nước đang phát triển Châu Á
Trang 3120 Trân Văn Ý, Lê Đức An, Trương Quang Hải, Eddy Nierynck, Trần Ty, Chu Thi Sang
s_ Quyết định về quy mô và mức độ ĐGTĐMT
«_ Xây dựng kế hoạch ĐGTĐMT chỉ tiết
Chính thức hoá việc kiểm tra môi trường sơ bộ Phân tích và đánh giá tác động
Các biện pháp giảm thiểu
Kế hoạch giám sát
KẾ hoạch quản lý môi trường
5 Đánh giá báo cáo Tham khảo ý kiến của cộng đồng
+ Loại bỏ hay thông qua dự án
« Tiêu chí và điều kiện
»_ Bảo vệ môi trường
« Giám sát tác động
+ Thực hiện kế hoạch quản lý môi trường
«_ Các biện pháp giảm thiểu
«Các chương trình giám sát
+ Kiểm tra mức độ thực hiện kế hoạch quản lý đã cam kết
s Đánh giá sự thành công của các biện pháp giảm thiểu
Hình 1.3 Các bước chính của quá trình ĐGTĐMT ở Châu Á
năm 1994 về hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường và Nghị
định 143 ban hành ngày 12 tháng 7 năm 2004 về việc sửa đổi, bổ
sung Điều 14 Nghị định 175/CP của Chính phủ (phụ lục 1.4 và
1.5) và hàng loạt các văn bản dưới luật của Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường (BKHCN&MT) ban hành như: Thông tư 1420/MTg ngày 26 tháng 11 năm 1994 về Hướng dẫn ĐGTĐMT đối với các cơ sở đang hoạt động, Thông tư 715/MTg ngày 3 tháng
4 năm 1995 về hướng dẫn ĐGTĐMT-đối với các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài, Thông tư 1100/TT-MTg ngay 20 thang 8 năm
1997 về hướng dẫn lập và thâm định báo cáo ĐGTĐMT đối với
Trang 32Chuong |: NHONG VAN BE CHUNG VE DANH GIA TAC DONG MOI TRUONG 21
các dự án đầu tư Thực hiện Chỉ thị số 11/1998/CT- -TTg ngày l6
tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc “hực hiện Nghị định số 10/1998/NĐ-CP của Chính phủ về cải tiến thủ tục
đầu tư trực tiếp nước ngoài, đồng thời căn cứ vào tình hình thực hiện Luật bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp cũng như trình
độ quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi
trường, Bộ KHCN&MT đã ban hành Thông tư 490/1998/TT- BKHCN&MT hướng dẫn lập và thẩm định báo cáo ĐGTĐMT đối với các dự án đầu tư (phụ lục 1.6) Mối quan hệ giữa các văn bản pháp lý nêu trên được hệ thống hóa trên hình 1.4 Luật Bảo vệ Môi
trường sửa đổi của nước ta đã được Quốc hội thông qua ngày 29
tháng 11 năm 2005, sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2006 Chính phủ và các bộ, ngành hữu quan đang triển khai các văn bản hướng dẫn thi hành luật
Luật bảo vệ môi trường năm 1993 (điều 17 và 18)
Luật bảo vệ môi trường năm 2005 (chương III)
Nghị định 175/CP (Chương 3) Điều 6, Vi phạm về phòng ngừa
INghị định 143/CP (Phụ lục 1.5) ô nhiễm và suy thoái môi trường
Thông tư 715/MTg ngày 3/4/1995, Thông tư 1420/MTg Thông tư 1100/MTg ngày 20/8/1997,
ngày 26/11/1994 Thông tư 490/1998/TT-Bộ KHCN&MT
Hình 1.4 Mối liên hệ giữa các văn bản pháp lý có liên quan đến
ĐGTĐMT của Việt Nam
Trang 3322 Trận Văn Ý, Lê Đức An, Trương Quang Hải, Eddy Nierynek, Tran Ty, Chu Thi Sang
1.4.6, Quy trình đánh giá tác động môi trường
Trên cơ sở phân tích các quy định luật pháp về ĐGTĐMT của Việt Nam trình bày trong 1.4.5 có thể khái quát hoá quy trình ĐGTĐMT của nước ta với 4 bước chính (hình 1.5)
Bước thứ nhất: Sang loc méi trường, do cơ quan quản lý môi trường thực hiện Các dự án phát triển được chia làm hai loại: loại
1, các dự án cần tiến hành ĐGTĐMT và loại 2, các dự án không cần ĐGTĐMT
“Trách nhiệm của chủ đầu tư Trách nhiệm của các cơ quan
quản lý mỗi trường Sàng lọc dự án
“ Lập báo các| Đăng ký Xem tem Xét xé Phiếu xác lế
ĐGTĐMT đa tiện vã tag, L dance ‹
cứu Lập báo cáo với điều
Trang 34Chwong t: NHONG VAN DE CHUNG VE ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MỖI TRƯỜNG 23
Bước thứ hai: Đôi với các dự án loại 2, không cần tiến
hành ĐGTĐMT, chủ đầu tư soạn bản đăng ky dat chất
lượng môi trường trình cơ quan quản lý môi trường xét duyệt và thông qua, quy trình ĐGTĐMT cho loại dự án
này kết thúc tại đây
Đổi với các dự án loại 1, cần phải tiến hành ĐGTĐMT, lập
báo cáo ĐGTĐMT sơ bộ, sau đó chuyển sang bước thứ ba Bước thứ ba: Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường
chỉ tiết ‘
Bước thứ tư: Thắm định báo cáo đánh giá tác động môi
trường
Quy trình ĐGTĐMT hiện tại của nước ta về cơ bản phù
hợp với thông lệ về ĐGTĐMT của khu vực và thế giới, tuy nhiên các bước của quy trình trên cần chỉ tiết hoá để hoàn
chỉnh
Quy trình ĐGTĐMT được xây dựng (hình 1.6) là kết quả tham khảo các quy trình ĐGTĐMT của các Tổ chức quốc tế (Chương trình Môi trường Liên hợp
Quốc, Tổ chức Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế, Cộng
đồng Châu Âu ) và của một số nước (Malaixia, Thái
Lan, Trung Quốc, Hà Lan, Bi, Canada ) nhằm góp
tương lai Quy trình ĐGTĐMT được chia làm hai phần
và 5 bước Phần lập báo cáo ĐGTĐMT có các bước:
tiết; phần thẩm định báo cáo DGTDMT bao gồm: thẩm
định báo cáo ĐGTĐMT và giám sát tác động
Kết quả của quá trình sàng lọc môi trường các dự án
được chia ra ba loại: (1) Phải tiến hành ĐGTĐMT; (2)
Chưa rõ có cần phải tiến hành ĐGTĐMT hay không và
(3) Không cần ĐGTĐMT;
loại 1 (phải ĐGTĐMT) tiến hành theo trình tự:
ĐGTĐMT sơ bộ, lập đề cương chỉ tiết, xét duyệt để
Trang 3524 Trần Văn Ý, Lê Đức An, Trương Quang Hai, Eddy Nierynck, Trin Ty, Chu Thị Sang
cương; đối với đề án loại hai (chưa rõ có tiến hành
ĐGTĐMT hay không) thực hiện việc: ĐGTĐMT sơ bộ,
nếu thấy cần thiết phải ĐGTĐMT chỉ tiết thì lập để
cương chỉ tiết và xét duyệt đề cương (tương tự như các
dự án loại 1), nếu không cần thiết phải ĐGTĐMT chí tiết thi soạn bản đăng ký đạt chất lượng môi trường và
xem xét bản đăng ký đạt chất lượng môi trường (tương
tự như dự án loại 3); đối với các dự án loại 3 (không cần ĐGTĐMT) thực hiện theo trình tự: soạn bản đăng ký
đạt chất lượng môi trường và xem xét bản đăng ký đạt chất
lượng môi trường và quy trình đánh giá tác động môi trường đừng lại ở đây;
+ Bước ĐGTĐMT chỉ tiết gồm: đánh giá tác động: lựa
chọn phương án, kiến nghị biện pháp giảm thiểu và
hình thành kế hoạch quản lý tác động
Nội dung của các chương tiếp theo trong cudn BGTDMT
này sẽ dành cho việc trình bày các hướng dẫn kỹ thuật cho
các bước theo quy trình ĐGTĐMT vừa được đề xuất.
Trang 36Chương !: NHỮNG VĂN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC DONG MOI TRUONG 25
Lựa chọn phương án và biện pháp
giảm thiểu, lập kế hoạch quản lý tác
Trang 3726 “Trần Văn Ý, Lê Đức An, Trương Quang Hải, Eddy Nierynck, Trdn Ty, Chu Thi Sang
- Trách nhiệm của chủ đầu tư Trách nhiệm cũa cắc cơ quan
Quá trình đánh giá: Nhận dang
cứu | |[tác động; phân tích và đánh gid’
tác động, dự báo và xác định ý
với điều
pháp giảm thiểu, lập kế hoạch
Trang 3827
CHUONG II
XAY DUNG BAO CAO DANH GIA TAC
DONG MOI TRUONG
2.1 Sàng lọc dự án
Hàng năm trên cả nước có rất nhiều dự án được triển khai Để tiết
kiệm thời gian và kinh phí, đánh giá tác động môi trường
(ĐGTĐMT) chỉ nên tiến hành đối với những dự án thật sự sẽ gây nên những tác động môi trường Vì thế, cần có một cơ chế để xác định mức độ cần thiết tiến hành ĐGTĐMT của toàn bộ các dự án Việc phân biệt các dự án theo mức độ cần thiết ĐGTĐMT được
gọi là sàng lọc dự án
Hiện có hai cách tiếp cận được sử dụng để sàng lọc dự án,
cách thứ nhất dựa trên cơ sở danh mục các dự án được thành
lập theo mức độ cần thiết ĐGTĐMT Thông thường ba danh
mục dự án được xây dụng cho mục đích sàng lọc môi
trường: danh mục các dự án cần phải tiến hành ĐGTĐMT
chỉ tiết, danh mục dự án cần tiến hành ĐGTĐMT sơ bộ để
cân nhắc xem có cần tiến hành ĐGTĐMT chỉ tiết hay không
và danh mục các dự án không cần tiến hành ĐGTĐMT
Cách thứ hai, việc sàng lọc dự án đựa trên một bộ chỉ tiêu
Bộ chỉ tiêu sàng lọc dự án thường có ba thành phần: chỉ tiêu ngưỡng, chỉ tiêu về các vùng nhạy cảm và chỉ tiêu về các kiểu dự án
2.1.1 Mục đích của sàng lọc dự án
Mặc đích của sàng lọc dự án là xem xét và quyết định quy mô và
mức độ ĐGTĐMT của một dự án đầu tư phát triển Kết quả của
Trang 3928 Trin Văn Ý, Lê Đức An, Trvong Quang Hal, Eddy Nierynck, Trin Ty, Chu Thi Sang
sang lọc dự án là xác định dự án thuộc loại nào trong ba loại dự án
sau đây
+ Logi l; Các dự án yêu cầu phải có ĐGTĐMT chỉ tiết Đây
là loại dự án có nhiễu tác động tiêu cực đến môi trường
Các dự án loại này bắt buộc phải thực hiện hai bước
ĐGTĐMT sơ bộ (hay kiểm tra môi trường sơ bộ) và chỉ
tiết;
» Loại 2: Các dự án chưa rõ ràng có cần DGTDMT hay không Đó là các dự án có thể gây nên một số tác động tiêu cực đến môi trường, tuy nhiên chúng sẽ được khắc phục khi sử dụng các biện pháp giảm thiểu thích hợp Xác
định và ứng dụng các biện pháp giảm thiểu cho các dự án
loại này không mấy khó khăn Chúng cần được tiến hành ĐGTĐMT sơ bộ (kiểm tra môi trường sơ bộ) Sau khi xem
xét các kết quả của báo cáo ĐGTĐMT sơ bộ, đối với một
số dự án có thể yêu cầu tiến hành ĐGTĐMT chỉ tiết;
+ Loại 3: Các dự án không cần phải ĐGTĐMT vì chúng không gây nên những ảnh hướng tiêu cực đáng kế đến môi
trường
Quá trình thực hiện một dự án sẽ gây ra các tác động đến môi
trường lý hoá, môi trường sinh học và môi trường kinh tế - xã
hội Quy mô của dự án là yếu tố quan trọng nhất đê xét xem
dự án có cần ĐGTĐMT hay không Quy mô của dự án được
hiểu theo những khía cạnh sau: Quy mô về công suất và diện
tích của dự án; số lượng dân chịu ảnh hưởng và điện tích các
hệ sinh thái bị phá huỷ do việc thực hiện dự án Để có cơ sở khoa học người ta dùng các chỉ tiêu để tiến hành sảng lọc môi
trường
2.1.2 Nội dung của bước sàng lọc dự án
2.1.2.1 Quy định hiện hành
Ở Việt Nam, theo quy định của Bộ KHCN&MT (1998), các dự án
đầu tư đều phải qua sàng lọc môi trường Sàng lọc môi trường dựa
trên một danh sách các dự án cần phải ĐGTĐMT Tắt cả các dự án
được chia làm hai loại:
Trang 40Chương HH: XÂY DỰNG BẢO CÁO ĐÁNH GIÁ TAC DONG MOI TRUONG 29
Dự án quy hoạch: phát triển ngành và vùng, đô thị và khu
công nghiệp/khu chế xuất,
Các dự án về dầu khí: khai thác; chế biến; vận chuyển; kho xăng dầu (dung tích từ 20 000 m” trở lên);
Các nhà máy luyện gang thép, kim loại mẫu (công suất từ
100 000 tấn sản phẩm/năm trở lên);
Các nhà máy thuộc đa (từ 10 000 tắn sản phẩm/năm trở lên)
Các nhà máy đệt nhuộm (từ 20 triệu mét vải/năm trở lên),
Các nhà máy sơn (công suất từ 1000 tấn sản phẩm/năm), chế
biến cao su (công suất từ 10 000 tấn sản phẩm/năm);
Các nhà máy đường (công suất từ 100 000 tấn mía/năm trở
lên);
Các nhà máy đông lạnh và chế biến thực phẩm (công suất từ
1000 tắn sản phẩm/năm trở lên);
Các nhà máy nhiệt điện công suất từ 200 MW trở lên,
Các nhà máy bột giấy và giấy (công suất từ 40 000 tấn bột giấy/năm trở lên);
Các nhà máy xỉ măng (công suất từ 1 triệu tấn xi măng/năm
trở lên);
Các khu du lịch giải trí (điện tích từ 100 ha trở lên);
Các sân bay;
Các bến cảng (cho tàu trọng tải 10 000 DWT trở lên),
Các tuyến đường sắt, đường cao tốc, đường ô tô có chiều dài trên 50 Km, (thuộc cấp I đến cấp III theo tiêu chuẩn TCVN 4054-85);