Tình hình nghiên cứu đề tài Các công trình nghiên cứu về Hoa Kỳ cả trong nước và ngoài nước khá phong phú và đa dạng, song chủ yếu là nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, quan
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
-
NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
NHÂN TỐ Ý THỨC HỆ TRONG QUAN HỆ
VIỆT NAM - HOA KỲ TỪ KHI BÌNH THƯỜNG HOÁ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Ngoại giao
Người hướng dẫn khoa học:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Ngoại giao
vào hồi ngày tháng năm 2021
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện Ngoại giao
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn Đề tài
Việt Nam – Hoa Kỳ là một cặp quan hệ đặc biệt trong quan hệ quốc tế Giống như bất kỳ mối quan hệ quốc tế nào, sự vận động và phát triển của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong đó nhân tố ý thức hệ có vai trò quan trọng, tính chất đặc thù và tính khả biến trong quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ nói riêng Sự khác nhau giữa hai hệ tư tưởng và hệ thống các giá trị tương ứng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam
đã, đang và sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến chiều hướng của mối quan hệ Việc xem xét nhân tố này về mặt lý luận và thực tiễn, cũng như nghiên cứu tác động của nó đến quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ hai nước là cần thiết cho việc tham mưu, hoạch định các chính sách với Hoa Kỳ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các công trình nghiên cứu về Hoa Kỳ cả trong nước và ngoài nước khá phong phú và đa dạng, song chủ yếu là nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, quan hệ song phương Việt Nam – Hoa
Kỳ, một số nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, hoặc các lĩnh vực hợp tác… Rất ít nghiên cứu về nhân tố ý thức hệ trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, chưa có một công trình nghiên cứu mang tính tổng quát, có hệ thống về nhân tố này trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ cả trong nước và nước ngoài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Làm rõ sự vận động và chiều hướng tác động của nhân
tố ý thức hệ đến quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ kể từ khi bình thường hóa đến hết nhiệm kỳ của Chính quyền Donald Trump (cuối năm 2020) và
dự báo xu hướng tác động của nhân tố này trong thời gian tới
Nhiệm vụ: (i) Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề ý
thức hệ trong quan hệ quốc tế, trong so sánh với lợi ích quốc gia và trong chính sách đối ngoại của Việt Nam và Hoa Kỳ; (ii) Nghiên cứu tác động của nhân tố ý thức hệ đối với sự phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, trong tương quan với các nhân tố tác động khác trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ kể từ khi bình thường hóa đến nay
về hình thức, mức độ và trên các kênh quan hệ cụ thể; (iii) Đánh giá
Trang 4mối liên hệ giữa ý thức hệ với một số vấn đề trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ như hội chứng chiến tranh, vấn đề dân chủ, nhân quyền, diễn biến hòa bình; (iv) Liên hệ đến quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc soi chiếu dưới góc nhìn của nhân tố ý thức hệ; (v) Đánh giá những đặc điểm, chiều hướng vận động của quan hệ, từ đó dự báo về triển vọng và khuyến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng: nhân tố ý thức hệ trong quan hệ song phương Việt
Nam – Hoa Kỳ kể từ khi bình thường hoá năm 1995
Phạm vi: Về nội dung: Luận án giới hạn phạm vi nội dung
nghiên cứu về 01 nhân tố trong các nhân tố tác động đến quá trình vận động và phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là nhân tố ý thức hệ Luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn (sự vận động, tác động) của nhân tố này trong quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, nhìn từ góc độ Việt Nam Về thời gian: Luận án giới hạn nghiên cứu nhân tố ý thức hệ trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ khi bình thường hóa (năm 1995) đến hết nhiệm kỳ của Chính quyền Tổng thống Donald Trump (năm 2020) Về không gian: Việt Nam, Hoa Kỳ và khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong đó lưu ý đến đối chiếu với tam giác quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ - Trung Quốc bởi là quốc gia láng giềng, với thể chế chính trị và nền văn hoá tương đồng, Trung Quốc không thể được tách rời khi nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, đặc biệt là dưới lăng kính ý thức hệ Việt Nam nằm giữa vùng giao thoa cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, sự đan xen giữa
sự ràng buộc về ý thức hệ và sự song trùng các lợi ích quốc gia giữa Việt Nam và Trung Quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ có tác động chi phối lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận án kết hợp vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nghiên cứu quan hệ quốc tế như phương pháp lịch sử,
hệ thống, lô-gíc, điều tra, thống kê và phân tích tài liệu, dự báo, điển cứu, truy nguyên, phân tích chính sách Luận án cũng lựa chọn 03 trường hợp nghiên cứu điển hình
Trang 56 Đóng góp của Luận án:
Luận án góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề ý thức hệ trong quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ, phân tích tác động của nhân tố này đến sự phát triển của quan hệ song phương từ khi bình thường hóa đến nay, dự báo chiều hướng tác động của nhân tố, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy quan hệ trong thời gian tới Luận án là công trình nghiên cứu có ý nghĩa đối với công tác chuyên môn, nghiên cứu của cá nhân, và là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách hoặc các cơ quan nghiên cứu liên quan ở Việt Nam
7 Kết cấu của Luận án:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được cấu trúc thành
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ý thức hệ trong quan
hệ quốc tế và trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Việt Nam Chương 1 giải đáp các vấn đề lý luận bao gồm lý luận về ý thức hệ trong quan hệ quốc tế, trong đó làm rõ quan điểm về ý thức hệ của các trường phái chính trong quan hệ quốc tế; vấn đề ý thức hệ trong mối liên hệ với nhân tố lợi ích quốc gia Từ việc làm rõ ý thức hệ Việt Nam và ý thức hệ Hoa Kỳ, chương này cũng sẽ phân tích Việt Nam và Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại của nước kia, đánh giá dấu ấn của ý thức hệ và lợi ích quốc gia dân tộc trong chính sách đối ngoại của mỗi nước
Chương 2: Tác động của nhân tố ý thức hệ trong quan hệ Việt
Nam – Hoa Kỳ Chương 2 nghiên cứu sự vận động và tác động của nhân tố ý thức hệ trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, đặt trong tương quan với các nhân tố khác tác động đến quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ như lịch sử chiến tranh, lợi ích kinh tế-thương mại, địa chiến lược, nhân tố Trung Quốc…; đồng thời đặt ý thức hệ trong mối liên hệ với một số chủ đề nhạy cảm có liên quan trong quan hệ Việt Nam – Hoa
Kỳ như hội chứng chiến tranh, vấn đề dân chủ, nhân quyền và diễn biến hòa bình
Chương 3: Dự báo về nhân tố ý thức hệ trong quan hệ Việt
Nam – Hoa Kỳ và khuyến nghị Chương 3 của luận án tái khẳng định
cơ sở lý luận và thực tiễn của các dự báo, liên hệ tới quan hệ giữa
Trang 6Hoa Kỳ với Trung Quốc từ góc độ ý thức hệ, từ đó đưa ra các kịch bản của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ góc độ ý thức hệ theo mức
độ chi phối của ý thức hệ đối với mối quan hệ, và đề xuất các khuyến nghị nhằm gia tăng mặt song trùng về lợi ích, giảm thiểu tác động cản trở của nhân tố ý thức hệ đến sự phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
1.1.2 Luận giải về nhân tố ý thức hệ trong các trường phái chính trong quan hệ quốc tế
Thuyết hiện thực quan niệm trong một hệ thống quan hệ quốc tế
vô chính phủ, đảm bảo an ninh quốc gia là nhu cầu thường trực, nâng cao quyền lực nhằm tự bảo đảm an ninh và sự tồn tại của mình là mục tiêu của các quốc gia, dẫn tới tình trạng thường trực của quan hệ quốc tế là mâu thuẫn, xung đột và đối đầu Các nước phải bằng nỗ lực của chính mình để bảo đảm lợi ích của mình, lợi ích quốc gia là tiêu chí cho mọi hành động quốc gia, là yếu tố bất định duy nhất của chính sách Thuyết hiện thực cũng đề cao vai trò của các nước lớn, theo đó mục tiêu, định hướng chính sách của các nước lớn ảnh hưởng đến quan hệ giữa các nước, thay đổi cấu trúc của quan hệ quốc tế và quyết định trật tự quốc tế
Trang 7Thuyết tự do cho rằng những lợi ích quốc gia quan trọng nhất là
hoà bình (chính trị) và thịnh vượng (kinh tế) Theo đó, các quốc gia có
sự gắn bó mật thiết về kinh tế thì có xu hướng gắn bó về chính trị, dù
có sự khác biệt về thể chế chính trị Những người dựa trên chủ nghĩa tự
do kinh tế coi phát triển kinh tế thị trường là phương cách quan trọng
để thúc đẩy hợp tác Chủ nghĩa tự do mới nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và thúc đẩy toàn cầu hoá Một nhánh của chủ nghia tự do – thuyết hoà bình dân chủ - đề cao vai trò của dân chủ như cách thức quan trọng duy trì hoà bình, thúc đẩy hợp tác và đảm bảo an ninh trong quan hệ quốc tế Thuyết tự do cũng đề cao vai trò của thể chế quốc tế trong việc quản lý xung đột, duy tri hoà bình, thúc đẩy hợp tác và hội nhập Chủ nghĩa tự do là cơ sở của tư duy bá quyền, cho rằng mô hình và các giá trị của ý thức hệ tư bản chủ nghĩa của mình cần được phổ biến trên phạm vi thế giới, thực hiện các cuộc "cách mạng màu" trên thế giới của Hoa Kỳ
Thuyết kiến tạo cho rằng ý thức hệ là một phần của bản sắc, một
phần của giá trị mà một quốc gia theo đuổi; và lợi ích quốc gia cũng phần nào được xác định bởi bản sắc Hòa bình, hợp tác không chỉ hạn chế giữa các nước có cùng chế độ chính trị mà còn có thể mở rộng giữa các nước thuộc các chế độ chính trị khác nhau, nếu giữa các nước đó có thể hình thành bản sắc chung và có lợi ích trong mối quan hệ đó Hợp tác có xu hướng lâu dài và bền chặt hơn nếu quan hệ giữa các nước được xây dựng trên một bản sắc chung
Luận điểm chính của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh liên quan đến ý thức hệ là đấu tranh giai cấp, chủ thể chính trong
quan hệ quốc tế là giai cấp và quan hệ quốc tế là đấu tranh giai cấp; đấu tranh giữa các quốc gia mà quốc gia là đại diện của giai cấp, do vậy đây
là đấu tranh giữa ý thức hệ Tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định đường lối đối ngoại và hoạt động ngoại giao phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và phải dựa trên thực lực thực sự Phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tính chất thời đại và cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam,
Tư tưởng Hồ Chí Minh đề cao chính nghĩa, đạo lý và nhân nghĩa trong quan hệ quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác, hữu nghị vì những song trùng lợi ích, dù cùng hay khác ý thức hệ; đồng thời chú trọng kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, không ngừng củng
Trang 8cố sức mạnh đoàn kết dân tộc bên trong, tranh thủ sự đồng tình, ủng
hộ, hợp tác quốc tế rộng rãi nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược cách mạng từng thời kỳ
1.1.3 Ý thức hệ trong tương quan với lợi ích quốc gia
Ý thức hệ và lợi ích quốc gia đều là các nhân tố tác động đến quá trình hoạch định chính sách của một quốc gia Ý thức hệ hay chế
độ chính trị là nhân tố cơ bản chi phối chính sách đối ngoại của một quốc gia Lợi ích quốc gia dân tộc được coi là “hòn đá tảng” trong hoạch định chính sách đối ngoại Nếu các quốc gia có ý thức hệ khác nhau, thì đó là sự khác biệt sẵn có và không thay đổi, còn lợi ích quốc gia là các biến số có thể thay đổi và ở một thời điểm nào đó, các quốc gia có sự khác biệt về ý thức hệ song có thể có sự song trùng về lợi
ích quốc gia, và đó là cơ sở để các quốc gia thúc đẩy quan hệ
1.2 Vấn đề ý thức hệ trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Việt Nam
1.2.1 Ý thức hệ Việt Nam và Hoa Kỳ
Ý thức hệ của Việt Nam là ý thức hệ xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng của hệ thống tư tưởng triết học-kinh tế-chính trị chủ nghĩa
xã hội khoa học của chủ nghĩa Mác, theo đuổi mục tiêu nhằm hòa hợp một trật tự xã hội và kinh tế công bằng xã hội Ý thức hệ tư bản chủ nghĩa của Hoa Kỳ coi trọng hệ các giá trị gồm dân chủ, bình đẳng, tự do, chủ nghĩa cá nhân, coi trọng thực dụng-lao động-cạnh tranh, kinh tế hỗn hợp tư bản chủ nghĩa Về thể chế chính trị, Hoa Kỳ theo thể chế chính trị của chủ nghĩa dân tộc tư sản Hoa Kỳ, quyền lực tập trung trong tay các tập đoàn tư bản lớn Hệ thống chính trị Hoa
Kỳ mang tính đa nguyên với việc thay nhau cầm quyền của hai đảng Cộng hòa và Dân chủ Trong khi đó, Việt Nam xây dựng thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa Toàn bộ hệ thống chính trị của Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam Từ hai hệ ý thức dẫn đến hai hệ giá trị khác nhau, từ
đó hai nước có mục tiêu chiến lược đối kháng nhau: trong khi mục tiêu chiến lược của Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, thì mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ là chuyển hoá các nước còn khác biệt về thể chế chính trị với Hoa Kỳ vào quỹ đạo của Hoa Kỳ, đi theo hệ giá trị của Hoa Kỳ nói riêng và của hệ giá trị, hệ tư tưởng tư
bản chủ nghĩa nói chung
Trang 91.2.2 Ý thức hệ và lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Việt Nam
Chiến tranh Lạnh kết thúc, thời kỳ phân tuyến và đối đầu giữa hai
hệ thống tư bản chủ nghĩa và hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn tồn tại Các quốc gia, kể cả các quốc gia vốn đặt nặng vấn đề ý thức hệ cũng đều xem lợi ích quốc gia là nền tảng cơ bản cho hoạch định chính sách đối ngoại Với Hoa Kỳ, từ thời lập quốc, Hoa Kỳ đã tuyên bố mục tiêu quan trọng nhất là bảo vệ quyền lợi cho người dân Hoa Kỳ, nguyên tắc vì lợi ích quốc gia là xuyên suốt và bất biến trong lịch sử đối ngoại Hoa Kỳ, với những mục tiêu xuyên suốt và không thay đổi trong chính sách của Hoa Kỳ kể từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay là (i) củng cố thực lực và duy trì vai trò lãnh đạo và vị trí siêu cường duy nhất trên thế giới của Hoa Kỳ, (ii) duy trì trật tự quốc tế có lợi cho Hoa Kỳ hoặc thiết lập một trật tự thế giới mới do Hoa Kỳ lãnh đạo mà ở đó hệ tư tưởng, các giá trị của Hoa Kỳ được phổ biến; (iii) thúc đẩy sự thịnh vượng của Hoa Kỳ Chính quyền của mỗi Tổng thống ở Hoa Kỳ đều có những chính sách đối ngoại riêng phù hợp với từng mục tiêu và thời kỳ phát triển của Hoa Kỳ, song đều nhằm duy trì và củng cố các mục tiêu xuyên suốt trên
Với Việt Nam, kể từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới, Đại hội Toàn quốc lần thứ VI (12/1986) mở ra bước ngoặt trong tư duy trên lĩnh vực đối ngoại, trong đó có việc xác định lại “lợi ích quốc gia-dân tộc” trong thời kỳ mới, đặt lợi ích cao nhất là củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế Các kỳ đại hội sau đó cũng có những bước chuyển về tư duy, song tiếp tục khẳng định vị trí của lợi ích quốc gia-dân tộc trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, với nội hàm gồm (i) các lợi ích sống còn (an ninh): môi trường hòa bình, ổn định; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; an ninh quốc gia, an ninh con người và ổn định chính trị-xã hội; và (ii) các lợi ích phát triển: phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân; năng lực tự chủ, cạnh tranh và sức mạnh tổng hợp của quốc gia; mở rộng không gian phát triển và xác lập vị trí thuận lợi trong phân công lao động quốc tế; nâng cao vị thế và uy tín quốc tế; bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc Về cơ bản, chính sách đối ngoại của Việt Nam dựa
Trang 10trên nền tảng lợi ích quốc gia-dân tộc Trên nền tảng đó, vai trò và dấu
ấn của vấn đề ý thức hệ có mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất của quan hệ với từng quốc gia và tuỳ tình hình cụ thể
1.3 Việt Nam và Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại của mỗi nước
1.3.1 Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
Trước bình thường hoá, quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là cuộc chiến tranh tàn khốc mà hậu quả của nó đến tận ngày nay vẫn còn rõ rệt, là cuộc chiến trong nỗ lực của chính phủ Hoa Kỳ nhằm ngăn chặn
sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á Trong những năm 1977-1978, mục tiêu đầu tiên của phía Hoa Kỳ khi thể hiện mong muốn cải thiện quan hệ với Việt Nam là giải quyết vấn đề POW/MIA cũng như phần nào giải quyết vấn đề "hội chứng chiến tranh" - những vấn đề
"nóng" nhất trong nội bộ Hoa Kỳ khi đó, đồng thời cải thiện quan hệ với VIệt Nam, Hoa Kỳ cũng muốn trấn an và giữ vành đai an toàn cho các nước đồng mình của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Nam Á
Sau bình thường hoá, chính sách Việt Nam của Hoa Kỳ có sự chuyển biến vì nhu cầu nội bộ của Hoa Kỳ và tranh thủ hợp tác với Việt Nam trong vấn đề POW/MIA Chính quyền Bush chủ trương tiếp tục cải thiện quan hệ với Việt Nam để hợp tác trong vấn đề POW/MIA, tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh tế và bước đầu tranh thủ vai trò của Việt Nam trong ASEAN Chính quyền Obama coi trọng vị trí địa chiến lược của Việt Nam, chủ trương thúc đẩy quan hệ toàn diện với Việt Nam trong tổng thể chính sách Tái cân bằng ở khu vực Chính quyền Trump tiếp tục duy trì sự đồng thuận lưỡng đảng trong việc tiếp tục đưa quan hệ toàn diện đi vào chiều sâu, lôi kéo Việt Nam vào tập hợp lực lượng để cạnh tranh với Trung Quốc
1.3.2 Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại của Việt Nam
Tại Đại hội VI (1986), Việt Nam đã có một bước ngoặt thay đổi
về tư duy, chủ trương chuyển từ đối đầu sang đối thoại, từ tư duy thời chiến, tập hợp lực lượng chủ yếu dựa trên ý thức hệ chuyển sang đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; không coi Hoa Kỳ là kẻ thù lâu dài và chủ trương từng bước phá thế bao vây cấm vận của Hoa Kỳ, tiến tới bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ” Đại hội VII (1991) xác định phải thúc đẩy
Trang 11quá trình bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ
Từ khi bình thường hoá đến nay, chính sách Hoa Kỳ của Việt Nam
tiếp tục có sự thay đổi Quan hệ với các nước lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga được phát triển dựa trên lợi ích quốc gia-dân tộc Nghị quyết
TW 8 khoá IX (2003) đưa ra quan niệm mới về đối tác, đối tượng, và Hoa Kỳ cũng được nhìn nhận vừa có mặt hợp tác cùng có lợi, vừa là thế lực âm mưu chống phá sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Từ khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác Toàn diện, Việt Nam luôn khẳng định Hoa Kỳ là một trong những đối tác quan trọng nhất của mình, hoan nghênh vai trò gia tăng của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á để đóng
góp vào hòa bình, an ninh ở khu vực
Tiểu kết
Ý thức hệ cần được hiểu là hệ thống các đức tin hay nguyên tắc, đặc biệt là đức tin hay nguyên tắc mà một hệ thống chính trị, một đảng phái chính trị, hay một tổ chức chính trị lấy làm nền tảng Trong thực tiễn, việc ứng dụng khái niệm cũng rất đa dạng, không phải mô hình rập khuôn Sự khác biệt về ý thức hệ liên quan đến nội dung luận án, cụ thể là giữa hai chủ thể Việt Nam và Hoa Kỳ, cần được hiểu là sự khác biệt giữa ý thức hệ TBCN của Hoa Kỳ, trong sự đối
lập với ý thức hệ XHCN của Việt Nam
Các trường phái chính trong quan hệ quốc tế (hiện thực, tự do, kiến tạo) và chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có những luận điểm khác nhau ý thức hệ và lợi ích quốc gia Với ý thức hệ xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, Việt Nam và Hoa Kỳ có hệ giá trị, mục tiêu chiến lược đối kháng nhau, song trước và sau khi bình thường hoá, hai nước đều có những thay đổi về chính sách đối ngoại đối với nước kia, từ bình thường hoá quan hệ, thúc đẩy các mặt hợp tác và thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện, vì những song trùng về lợi ích cũng như tính toán của mỗi bên
Trước bình thường hoá, mối liên hệ đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là cuộc chiến giữa hai hệ tư tưởng, trong nỗ lực của chính phủ Hoa Kỳ nhằm ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á Sau bình thường hoá, trên cơ sở ban đầu là nhu cầu hợp tác kinh tế và POW/MIA, hợp tác song phương dần được thúc
Trang 12đẩy sang các lĩnh vực khác Hai nước nhìn về nhau với lăng kính lợi ích, bao gồm các lợi ích kinh tế và chiến lược Sự khác biệt về ý thức
hệ không còn là rào cản lớn đến quá trình phát triển của quan hệ
Chương 2 TÁC ĐỘNG CỦA NHÂN TỐ Ý THỨC HỆ ĐẾN QUAN HỆ
VIỆT NAM – HOA KỲ 2.1 Các yếu tố chính chi phối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
2.1.1 Hợp tác kinh tế-thương mại
Hợp tác kinh tế-thương mại là nhân tố quan trọng khiến cho lực cản của nhân tố ý thức hệ ngày càng giảm xuống khi lợi ích về kinh
tế, thương mại ngày càng gia tăng Hoa Kỳ có lợi ích kinh tế-thương mại với một Việt Nam đang tăng tốc phát triển, một trong những thị trường mới nổi năng động nhất ở Đông Nam Á, và qua Việt Nam kết nối với các nước trong khu vực Việt Nam cũng cần thị trường Hoa
Kỳ rộng lớn và tiềm năng, tranh thủ nguồn lực, tri thức, công nghệ để phát triển đất nước
2.1.2 Các vấn đề địa chiến lược
Việt Nam có vị trí địa - chiến lược quan trọng trong khu vực, đồng thời có vai trò quan trọng trong cạnh tranh giữa các chiến lược khu vực do Hoa Kỳ (Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương) và Trung Quốc (Sáng kiến Vành đai-Con đường) dẫn dắt Việt Nam cũng có vai trò quan trọng trong ASEAN – một thể chế mà Hoa Kỳ muốn tăng cường quan hệ và hợp tác ngoài các đồng minh chiến lược
và các đối tác quan trọng tại khu vực
2.1.3 Yếu tố Trung Quốc
Sự phát triển của Trung Quốc thời gian qua đã đe doạ vị thế bá quyền của Hoa Kỳ Mặc dù có sự phụ thuộc lớn về kinh tế-thương mại và cần đến nhau trong xử lý các vấn đề khu vực và quốc tế, cạnh tranh giữa Hoa Kỳ-Trung Quốc ngày càng gia tăng tới mức đối đầu chiến lược Việt Nam nổi lên là một quốc gia nằm trong “giao thoa” trong các chiến lược của Hoa Kỳ và Trung Quốc ở khu vực, đồng thời nằm trong ý đồ lôi kéo, tập hợp lực lượng của hai nước, đặt ra những yêu cầu đối với Việt Nam để cân bằng và không rơi vào thế kẹt trong quan hệ với Hoa Kỳ và Trung Quốc
Trang 132.1.4 Các vấn đề khu vực
Với vai trò quan trọng về mặt chiến lược và thương mại, cả Hoa
Kỳ, Việt Nam và Trung Quốc đều có lợi ích cốt lõi ở Biển Đông
Tham vọng độc chiếm Biển Đông cũng như thái độ leo thang và quá trình quân sự hóa mạnh mẽ của Trung Quốc ở Biển Đông trong những năm gần đây đã dẫn đến sự hội tụ các lợi ích an ninh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và sự cải thiện trong hợp tác quân sự giữa hai nước
vượt qua sự khác biệt về ý thức hệ Vấn đề hòa bình trên bán đảo Triều Tiên từ lâu vẫn là một "hồ sơ khó" đối với Hoa Kỳ ở khu vực
Với nền tảng quan hệ hữu nghị truyền thống và các mối liên hệ về ý thức hệ với CHDCND Triều Tiên, Hoa Kỳ trông đợi Việt Nam có thể
có đóng góp cho giải quyết vấn đề hạt nhân Tiều Tiên; CHDCND Triều Tiên có thể áp dụng kinh nghiệm về cải cách, mở cửa của Việt Nam Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ có thể là một ví dụ tốt cho việc cải thiện quan hệ giữa Triều Tiên và Hoa Kỳ
2.2 Tác động của nhân tố ý thức hệ trong mỗi giai đoạn phát triển của quan hệ song phương
Tìm kiếm quân nhân mất tích sau chiến tranh và thúc đẩy hợp tác kinh tế là sự song trùng lợi ích đầu tiên mà dựa theo đó Hoa Kỳ từng bước nới lỏng dần cấm vận và hai bên tiến tới bình thường hoá quan
hệ, vượt qua những khó khăn do lịch sử chiến tranh và sự khác biệt về
ý thức hệ, trên tinh thần “vượt qua khác biệt trong quá khứ, cùng nhau tiến về phía trước, hướng tới tương lai”, “thực thi các nỗ lực để thúc đẩy quan hệ thương mại song phương” Trong giai đoạn bình thường hoá (1995-1998), nhân tố ý thức hệ vẫn rõ nét, tác động lực cản vẫn rất lớn Tuy nhiên, trong giai đoạn này, cả Hoa Kỷ và Việt Nam đã có sự thay đổi về tư duy đối ngoại và nhìn nhận về những lợi ích trước mắt trong việc bình thường hoá quan hệ với nhau là POW/MIA, từ đó dẫn
đến những kỳ vọng về lợi ích trong những lĩnh vực khác
Giai đoạn 1998-2013, Việt Nam có hai bước chuyển lớn về đối ngoại, tác động mạnh tới quan hệ với Hoa Kỳ: đặt mục tiêu chiến lược trở thànht hành viên của WTO và có bước chuyển chiến lược trong tư duy đối ngoại, quan điểm về “đối tượng” và “đối tác” Xuất phát từ tư duy nhận thức về nhau, nhìn thấy ở nhau những cơ hội, lợi ích nhiều hơn, hợp tác kinh tế song phương có những bước phát triển nhảy vọt,