1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát kiến thức – thực hành chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường tại phòng khám nội tiết – bệnh viện đại học y dược thành phố hồ chí minh

31 223 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Kiến Thức – Thực Hành Chăm Sóc Bàn Chân Ở Bệnh Nhân Đái Tháo Đường Tại Phòng Khám Nội Tiết – Bệnh Viện Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Mai Hoàng
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 337,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 01.BÌA

  • 02.MỤC LỤC

  • 03.DANH MỤC VIẾT TẮT

  • 04.DANH MỤC BẢNG

  • 05.ĐẶT VẤN ĐỀ

  • 06.TỔNG QUAN Y VĂN

  • 07.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

  • 08.KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

  • 09.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

  • 10.TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • 11.PHỤ LỤC

Nội dung

TỔNG QUAN Y VĂN

YẾU TỐ NGUY CƠ LOÉT BÀN CHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Có nhiều yếu tố nguy cơ thúc đẩy loét bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ, bao gồm [2]:

‒ Đường huyết cao, HbA 1C cao.

‒ Thời gian mắc bệnh ĐTĐ dài.

‒ Đã có nhiều biến chứng: mắt, thận, mạch máu.

‒ Biến chứng thần kinh ngoại biên.

‒ Tiền sử nhiễm trùng: da, tiết niệu.

‒ Cử động xương khớp hạn chế.

‒ Tiền sử loét và đoạn chi trước đây.

‒ Dị dạng cấu trúc chân.

HƯỚNG DẪN CHĂM SÓC BÀN CHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Để phòng ngừa các biến chứng nghiêm trọng ở chân, bệnh nhân tiểu đường cần tuân thủ các hướng dẫn chăm sóc chân từ Trường môn phẫu thuật bàn chân và cổ chân Hoa Kỳ.

‒ Kiểm soát bệnh ĐTĐ: giữ mức đường huyết trong giới hạn cho phép.

‒ Kiểm tra chân mỗi ngày, bao gồm:

+ Kiểm tra vết rạn nứt ở chân, vết thâm tím, giộp da, đau, nhiễm trùng và những dấu hiệu bất thường.

Để kiểm tra sức khỏe chân hiệu quả, bạn có thể sử dụng gương để soi gót chân nếu không thể nhấc chân lên Hãy đặt một thời điểm cố định hàng ngày để duy trì thói quen kiểm tra chân Đồng thời, chú ý đến màu sắc da ở cẳng chân và ngón chân; nếu thấy có dấu hiệu sưng, nóng, đỏ hoặc đau, hãy đến bác sĩ ngay lập tức.

‒ Rửa sạch vết cắt hoặc vết xước với xà phòng có độ kiềm nhẹ và nước, sau đó che lại bằng vải khô đối với da nhạy cảm.

‒ Cắt thẳng ngang móng chân và dũa cạnh, khóe móng bằng cây mài hoặc cây dũa móng.

‒ Rửa sạch và lau khô ngón chân mỗi ngày, đặc biệt là giữa các ngón chân.

‒ Thoa kem dưỡng ẩm hàng ngày lên mu bàn chân, gót chân và lòng bàn chân. Lau sạch lượng kem thừa.

‒ Tránh tiếp xúc chân với môi trường quá nóng hoặc quá lạnh (bao gồm cả ánh nắng mặt trời).

‒ Giữ dòng máu lưu thông đều đặn trong chân bằng cách:

+ Đặt bàn chân cao lên khi ngồi.

+ Ngọ nguậy, lắc lư ngón chân và di chuyển đầu gối lên xuống 5 phút, hai hoặc ba lần một ngày.

+ Mang giày, dép, vớ mọi lúc.

+ Kiểm tra bên trong giày trước khi mang Phải chắc chắn rằng miếng lót giày trơn, mềm và không có gì lạ bên trong.

+ Luôn mang loại giày nâng đỡ chân.

+ Luôn mang giày dép vừa chân, có thể nhờ nhân viên y tế tư vấn thêm về giày dép.

+ Chọn giày gót thấp (dưới 5 cm).

+ Mua giày vào buổi chiều (bởi vì chân thường sưng nhẹ vào thời điểm đó). + Thay vớ mỗi ngày.

+ Mang vớ khi đi ngủ do chân sẽ trở nên lạnh vào ban đêm Không bao giờ sử dụng đệm nhiệt hoặc túi nước nóng đắp lên chân.

‒ Tập thể dục đều đặn.

‒ Gặp bác sĩ hoặc nhân viên y tế nều cần lời khuyên và cách điều trị.

‒ Đi khám chân định kỳ.

‒ Cắt những nốt chai sần trên chân.

‒ Tự cắt móng chân mọc sâu vào da hoặc những miếng da con bằng kềm bấm. Nên đến bác sĩ để được xử lý đúng cách.

‒ Tự mua thuốc để trị chai sần hoặc mụn cóc.

‒ Sưởi ấm chân bằng túi nước nóng hoặc chăn điện bởi vì bạn có thể đốt chân mà không nhận ra.

‒ Bôi kem giữa các ngón chân.

‒ Đi chân trần trong nhà và bên ngoài.

‒ Mang đế trong giày không theo toa – những loại đế giày này có thể gây thâm tím chân nếu chúng không vừa chân bạn.

‒ Ngồi một chỗ một thời gian lâu.

‒ Bắt chéo chân trong thời gian dài.

MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

‒ Pollock R D et al (2004): Nghiên cứu cắt ngang mô tả, xác định kiến thức và thực hành chăm sóc bàn chân ở 550 bệnh nhân đái tháo đường ở Anh [7]

Nghiên cứu của Gondal M et al (2007) đã tiến hành một cuộc khảo sát cắt ngang mô tả nhằm đánh giá kiến thức và thực hành chăm sóc bàn chân ở 100 bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Pakistan Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao kiến thức và thực hành chăm sóc bàn chân để giảm thiểu tỷ lệ bệnh lý liên quan đến bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường.

Nghiên cứu cắt ngang mô tả của Desalu O và cộng sự (2011) đã xác định kiến thức và thực hành chăm sóc bàn chân ở 352 bệnh nhân đái tháo đường tại ba bệnh viện chăm sóc tuyến thứ 3 ở Nigeria Kết quả nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng chăm sóc bàn chân của bệnh nhân đái tháo đường trong bối cảnh y tế tại Nigeria.

Nghiên cứu của Chellan G et al (2012) là một nghiên cứu cắt ngang mô tả, nhằm xác định mối quan hệ giữa kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc bàn chân ở 203 bệnh nhân đái tháo đường tại Ấn Độ, phân loại theo tình trạng có và không có loét bàn chân Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố nguy cơ liên quan đến loét bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường Một số nghiên cứu tương tự đã được thực hiện tại Việt Nam, góp phần làm rõ thêm vấn đề này.

Nghiên cứu của Phùng Văn Lợi và cộng sự (2011) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang mô tả nhằm kiểm tra mối liên quan giữa kiến thức, thời gian mắc bệnh và tình hình kinh tế với thực hành chăm sóc bàn chân ở 286 bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Đa Khoa Trung ương Thái Nguyên.

Nguyễn Thị Bích Đào và Vũ Thị Là (2012) đã thực hiện một nghiên cứu cắt ngang mô tả nhằm đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành tự chăm sóc bàn chân ở 106 bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Chợ Rẫy Nghiên cứu cũng xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc chăm sóc bàn chân của bệnh nhân.

Nghiên cứu của Đặng Thị Hằng Thi và cộng sự (2012) thực hiện một cuộc khảo sát cắt ngang mô tả, nhằm đánh giá kiến thức và thực hành phòng ngừa biến chứng bàn chân ở 347 bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường type 2 tại Bệnh viện 19-8 thuộc Bộ Công An, cùng với việc phân tích một số yếu tố liên quan.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI KHẢO SÁT

Xem bài báo đính kèm.

kHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC BÀN CHÂN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 2.2.1 Đối tượng

Bệnh nhân mắc Đái tháo đường type 1 hoặc type 2 đã đến khám tại phòng khám Nội tiết thuộc Bệnh viện Đại Học Y Dược TPHCM và đồng ý tham gia trả lời bộ câu hỏi từ ngày 15/1/2016 đến 15/2/2016.

‒ Bệnh nhân nặng (hôn mê, bệnh nhân đang trong tình trạng cấp cứu).

‒ Bệnh nhân câm, điếc hoặckhông minh mẫn về tinh thần.

‒ Bệnh nhân đã bị cắt cụt cả 2 chân.

‒ Bệnh nhân từ chối tham gia phỏng vấn hoặc không hoàn thành bảng câu hỏi phỏng vấn.

‒ Bệnh nhân đã tham gia nghiên cứu giai đoạn pilot.

‒ Phỏng vấn trực tiếp với bảng câu hỏi hoàn chỉnh.

‒ Cách lấy mẫu: lấy mẫu thuận tiện.

Để tiến hành phỏng vấn bệnh nhân, cần thực hiện tại phòng khám trước hoặc sau giờ khám, nơi bệnh nhân sẽ trả lời bộ câu hỏi đã được thẩm định Trong phần đánh giá kiến thức và thực hành, mỗi câu trả lời đúng sẽ được 1 điểm, trong khi câu trả lời sai hoặc không biết sẽ nhận 0 điểm Bệnh nhân có tỷ lệ trả lời đúng trên 80% sẽ được xếp loại kiến thức và thực hành tốt, từ 60% đến dưới 80% sẽ được xếp loại trung bình, và dưới 60% sẽ được xếp loại kém.

+ Xét các yếu tố ảnh hưởng Kiến thức và Thực hành chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ.

Dữ liệu được thu thập và thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0 với độ tin cậy 95%. Trình bày số liệu:

‒ Biến phân loại: tần số và tỉ lệ %.

‒ Biến liên tục: trung bình ± độ lệch chuẩn (mean ± SD) và giá trị nhỏ nhất – giá trị lớn nhất (min – max).

Các phép kiểm được sử dụng:

‒ Xác định tần số, tỷ lệ % và số trung bình: dùng thống kê mô tả.

‒ So sánh giá trị trung bình: dùng phép kiểm Mann – Whitney khi so sánh 2 nhóm và Kruskal – Wallis khi so sánh 3 nhóm trở lên.

‒ Đánh giá tương quan: dùng hệ số tương quan Spearman (rho).

Bảng 2 1 Mức độ tương quan theo Spearman (rho) rho Mức độ tương quan

0,40 – 0,59 Trung bình 0,60 – 0,79 Mạnh 0,80 – 1,0 Rất mạnh

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI KHẢO SÁT

Xem bài báo đính kèm.

kHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC BÀN CHÂN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Trong một nghiên cứu về bệnh nhân đái tháo đường, 393 bệnh nhân đã tham gia và hoàn thành bộ câu hỏi phỏng vấn Thời gian trung bình cho mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 10 đến 15 phút.

3.2.1 Đặc điểm bệnh nhân Trong 393 bệnh nhân được khảo sát, đa số là bệnh nhân nữ (64,1%) và hầu hết đã kết hôn (96,2%) với tuổi trung bình 56,4 ± 10,5 tuổi Tất cả bệnh nhân khảo sát đều mắc ĐTĐ type 2 (100%) với thời gian mắc bệnh trung bình 6,7 ± 6,1 năm Chỉ

Trong một khảo sát với 393 đối tượng, có 11 người mắc bệnh lý bàn chân, chiếm 2,8% Đáng chú ý, hầu hết bệnh nhân mắc ít nhất hai bệnh kèm theo, trong đó tăng huyết áp (59,8%) và rối loạn lipid máu (75,3%) là phổ biến nhất Ngoài ra, có 41 bệnh nhân (10,4%) có thói quen hút thuốc lá, trong khi 134 bệnh nhân (34,1%) đã từng nghe thông tin về chăm sóc bàn chân và 60 bệnh nhân (15,3%) đã tiếp cận hướng dẫn về giày dép phù hợp cho bệnh nhân tiểu đường Một số đặc điểm khác của mẫu khảo sát được trình bày trong bảng 4.1.

Bảng 3.1 Một số đặc điểm bệnh nhân tham gia nghiên cứu Đặc điểm Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)

Thời gian mắc bệnh ĐTĐ

Khoảng 50% bệnh nhân trong nghiên cứu thuộc nhóm tuổi 40 – 59, với tỷ lệ 52,4% mắc bệnh tiểu đường dưới 5 năm Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Đào và cộng sự tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2012, trong đó có 45,3% bệnh nhân ở nhóm tuổi này.

Trong nghiên cứu này, chỉ có 2,8% bệnh nhân mắc bệnh lý bàn chân, thấp hơn nhiều so với 38,6% tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2012 và 14,7% tại bệnh viện 19-8 Sự khác biệt này có thể do đối tượng khảo sát tại Chợ Rẫy bao gồm cả bệnh nhân ngoại trú và nội trú, trong khi nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập trung vào bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, nơi có mức thu nhập khá và bệnh nhân thường xuyên tái khám Hơn nữa, bệnh nhân lớn tuổi mắc bệnh lý bàn chân thường di chuyển bằng xe lăn và không tham gia phỏng vấn do sức khỏe yếu, điều này cũng góp phần làm giảm tỉ lệ ghi nhận trong nghiên cứu Đây là một hạn chế của nghiên cứu.

Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân từ miền Tây Nam bộ chiếm tỉ lệ cao, chủ yếu là từ nông thôn với 57,8% có trình độ học vấn tiểu học/THCS, tương tự như nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2012 (59,4% nông thôn và 57,5% trình độ học vấn tiểu học/THCS) Đặc điểm bệnh nhân trong hai nghiên cứu này khá tương đồng do cả hai bệnh viện đều là những cơ sở y tế hàng đầu tại miền Nam Tỉ lệ nữ giới trong nhóm bệnh nhân cao dẫn đến tỉ lệ hút thuốc lá thấp (10,4%) Đặc điểm của bệnh nhân trong giai đoạn nghiên cứu này cũng giống với bệnh nhân trong giai đoạn thẩm định bộ câu hỏi, cho thấy đây là đặc điểm chung của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, đồng thời khẳng định bộ câu hỏi đã được thẩm định phù hợp với đối tượng này.

3.2.2 Kiến thức chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ Trong nghiên cứu này, hầu hết bệnh nhân có điểm kiến thức kém (99,2%), 0,8% bệnh nhân có điểm kiến thức mức trung bình và không có bệnh nhân nào đạt điểm kiến thức tốt Điểm trung bình phần Kiến thức đạt 2,3 ± 1,7 điểm (0 – 10 điểm).

Số bệnh nhân trả lời đúng từng câu hỏi cụ thể được trình bày trong bảng 3.2.

Bảng 3.2 Tỉ lệ bệnh nhân trả lời đúng các câu hỏi phần Kiến thức

Câu hỏi Nội dung Số BN Tỉ lệ (%)

KA1 Bệnh nhân đái tháo đường dần dần sẽ bị giảm thông máu ở chân, điều này có đúng không? 189 48,1

KA2 Bệnh nhân đái tháo đường dần dần sẽ bị giảm cảm giác ở chân, điều này có đúng không? 195 49,6

Bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ cao mắc các biến chứng như loét bàn chân, với tỷ lệ lên đến 45,3% Ngoài ra, 32,6% bệnh nhân cũng có thể phát triển tình trạng hoại tử.

11 thư (giảm thông máu tới mô dẫn tới chết phần mô đó), điều này có đúng hay không?

Nếu bệnh nhân đái tháo đường bị giảm thông máu ở chân, họ sẽ có nhiều nguy cơ bị loét bàn chân hơn, đúng hay không?

Nếu bệnh nhân đái tháo đường bị mất cảm giác ở chân, họ sẽ có nhiều nguy cơ bị loét bàn chân hơn, điều này đúng hay không?

Nếu bệnh nhân đái tháo đường bị nhiễm trùng bàn chân, sẽ dẫn tới loét ở chân, đúng hay không?

Bệnh nhân đái tháo đường có nhiều khả năng sẽ phát triển bàn chân dẹt (chân phẳng, bằng ở lòng bàn chân).

KA9 Hút thuốc lá làm giảm thông máu ở chân, đúng hay không? 120 30,5

Nếu một người bị bệnh lý bàn chân đái tháo đường, cách nào là thích hợp để cắt móng chân?

Bệnh nhân đái tháo đường nên uống thuốc đều đặn bởi vì họ có nhiều khả năng mắc phải những biến chứng của bệnh đái tháo đường.

Bệnh nhân đái tháo đườncg nên chăm sóc bàn chân vì những vết thương hay nhiễm trùng không thể lành nhanh được, đúng hay không?

KB3 Theo bạn loại giày dép nào thì phù hợp nhất cho người đái tháo đường? 104 26,5

Bệnh nhân đái tháo đường cần kiểm tra giày dép trước khi mang để phát hiện các vật lạ hoặc miếng lót giày có gai nhọn, nhằm tránh những tổn thương không mong muốn cho bàn chân.

Bệnh nhân đái tháo đường cần phải kiểm tra xem chân có hằn dấu giày, dép, vớ không, điều này đúng hay sai?

Trong nghiên cứu này, điểm Kiến thức của bệnh nhân chủ yếu ở mức độ kém, đạt 99,2% So với nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2012, chỉ có 37,7% bệnh nhân có điểm Kiến thức kém Sự khác biệt này cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong mức độ hiểu biết của bệnh nhân qua các năm.

Bộ câu hỏi khảo sát của chúng tôi gồm 12 câu, với nhiều yếu tố và phương pháp đánh giá khác nhau Một số câu hỏi trong bộ câu này, như KA4 và KA8, đã gặp phải tình trạng bệnh nhân chưa từng nghe đến, dẫn đến tỷ lệ trả lời "không biết" hoặc sai cao.

Trong một nghiên cứu, có 120 bệnh nhân (30%) nhận thức được mối liên hệ giữa việc hút thuốc lá và giảm tưới máu ở chân, cao hơn đáng kể so với tỉ lệ 10% trong nghiên cứu của Đặng Thị Hằng Thi (2012) Tỉ lệ bệnh nhân hiểu biết về các yếu tố nguy cơ gây loét bàn chân đạt khoảng 45%, so với 34% trong nghiên cứu trước đó Hơn 25% bệnh nhân trong khảo sát này biết về loại giày dép phù hợp cho người ĐTĐ, trong khi tỉ lệ này ở bệnh viện Chợ Rẫy là 53,8% Sự khác biệt này có thể do chỉ có 15,3% bệnh nhân trong khảo sát đã tiếp cận thông tin về giày dép phù hợp, trong khi hơn 50% bệnh nhân tại Chợ Rẫy nhận được hướng dẫn từ nhân viên y tế Đáng chú ý, hai câu hỏi về tuân thủ dùng thuốc và chăm sóc bàn chân có tỉ lệ trả lời đúng trên 80%, cho thấy bệnh nhân thường xuyên tái khám và được nhắc nhở về chế độ điều trị Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân vẫn nghĩ rằng chăm sóc bàn chân chỉ cần thiết khi có vết thương, chưa nhận thức được rằng bệnh sinh ĐTĐ cũng có thể gây loét chân, dẫn đến việc ít chú trọng đến phòng ngừa.

3.2.3 Thực hành Đa số bệnh nhân được khảo sát có điểm Thực hành kém (74,0%), 17,0% bệnh nhân có điểm Thực hành ở mức trung bình và chỉ 35 bệnh nhân có điểm Thực hành tốt (8,9%) Điểm trung bình phần Thực hành đạt 1,6 ± 1,3 điểm (0 – 4 điểm).

Tỉ lệ bệnh nhân trả lời đúng cho từng câu hỏi cụ thể được trình bày trong bảng 3

Bảng 3.3 Tỉ lệ bệnh nhân trả lời đúng các câu hỏi phần Thực hành

Câu hỏi Nội dung Số BN Tỉ lệ (%)

P1 Lúc rửa chân, bạn có rửa bằng nước ấm hay không? 126 32,1

P2 Sau khi rửa chân, bạn có lau khô các kẽ ngón chân không? 164 41,7

P3 Bạn có kiểm tra chân mỗi ngày xem có bị bất kỳ vết thương nào không? 224 57,0

Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều bệnh nhân không thực hiện việc dưỡng ẩm cho vùng da khô ở chân hàng ngày, với điểm thực hành ở mức kém Sự phân hóa giữa điểm thực hành và kiến thức có thể do số lượng câu hỏi trong phần Thực hành ít hơn, trong khi phần Kiến thức chủ yếu tập trung vào nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của loét bàn chân, khiến cho đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn thấp khó tiếp cận Tình trạng thực hành kém cũng được ghi nhận trong nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2012, với hơn 50% bệnh nhân có điểm thực hành không đạt yêu cầu.

Hơn 50% bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi và hơn 40% bệnh nhân tại bệnh viện Chợ Rẫy và bệnh viện 19-8 thực hành kiểm tra bàn chân hàng ngày Khoảng 30% bệnh nhân trong nghiên cứu này rửa chân bằng nước ấm hàng ngày, gấp đôi so với tỉ lệ 15% ghi nhận tại bệnh viện 19-8 vào năm 2012 Sự gia tăng này có thể liên quan đến đối tượng khảo sát trong nghiên cứu.

CÁC YẾU TỐ LIÊNQ UAN ĐẾN KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC BÀN CHÂN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Trong nghiên cứu này, bệnh nhân nữ chiếm 64,1% tổng số, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa điểm Kiến thức và Thực hành giữa hai giới Điểm trung bình Kiến thức của bệnh nhân nam (2,4 ± 1,6) cao hơn so với bệnh nhân nữ (2,0 ± 1,7) với p = 0,012, phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Đào năm 2012 tại bệnh viện Chợ Rẫy Ngược lại, điểm trung bình Thực hành của bệnh nhân nam (1,3 ± 1,2) thấp hơn so với bệnh nhân nữ (1,8 ± 1,3) với p = 0,003, có thể do nữ giới cẩn thận và quan tâm đến sức khỏe hơn Nghiên cứu năm 2012 không tìm thấy mối tương quan giữa giới tính và điểm Thực hành, có thể do kích thước mẫu nhỏ hoặc số lượng câu hỏi ít trong phần Thực hành.

3.3.2 Tuổi Trong nghiên cứu, nhóm tuổi 40 – 59 chiếm ưu thế với hơn 50% bệnh nhân Từng nhóm tuổi lại có mức điểm trung bình Kiến thức và Thực hành khác nhau Sự khác nhau về điểm Kiến thức và Thực hành được thể hiện trong bảng 3.4.

Bảng 3.4 Điểm trung bình phần Kiến thức và Thực hành theo nhóm tuổi

Nhóm tuổi Điểm trung bình ± SD

Nghiên cứu cho thấy không có mối liên quan giữa điểm kiến thức và nhóm tuổi ở những người trên 60 tuổi, trong khi điểm trung bình phần thực hành có sự liên quan với nhóm tuổi Cụ thể, khi tuổi càng cao, điểm trung bình thực hành càng tăng, mặc dù mối tương quan giữa tuổi và điểm thực hành là rất yếu (rho = 0,122; p = 0,038) Điều này có thể được lý giải bởi thời gian mắc bệnh dài hơn ở nhóm tuổi cao hơn.

Sự quan tâm đến chăm sóc sức khỏe ngày càng gia tăng, bởi bệnh nhân hiện nay có thể mắc nhiều bệnh lý hơn, tìm hiểu thông tin tốt hơn và dành nhiều thời gian cho sức khỏe của mình Tuy nhiên, các nghiên cứu của Đặng Thị Hằng Thi (2012) và Nguyễn Thị Bích Đào (2012) chỉ ra rằng không có mối liên hệ rõ ràng giữa tuổi tác và kiến thức cũng như thực hành trong chăm sóc sức khỏe Sự khác biệt này có thể xuất phát từ việc khảo sát thực hành trong nghiên cứu của chúng tôi có ít câu hỏi và nội dung khác nhau so với các nghiên cứu trước đó.

3.3.3 Trình độ học vấn Điểm trung bình Kiến thức và Thực hành theo trình độ học vấn được trình bày trong bảng 3.5.

Bảng 3.5 Điểm trung bình Kiến thức và Thực hành theo trình độ học vấn

Trình độ học vấn Điểm trung bình ± SD

Kết quả khảo sát cho thấy có mối liên hệ giữa trình độ học vấn và điểm Kiến thức (p = 0,025) cũng như điểm Thực hành (p = 0,004) Cụ thể, nhóm bệnh nhân có trình độ học vấn trên THPT đạt điểm Kiến thức cao hơn so với nhóm không biết chữ (p = 0,006), và các bệnh nhân có trình độ Tiểu học/THCS, THPT và trên THPT cũng có điểm Thực hành cao hơn nhóm không biết chữ (p lần lượt là 0,004; 0,001; và 0,006) Điều này cho thấy trình độ học vấn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu kiến thức và áp dụng vào thực hành ở bệnh nhân ĐTĐ, với sự gia tăng trình độ học vấn tương ứng với việc cải thiện khả năng tiếp nhận và thực hành kiến thức Kết luận này cũng được xác nhận trong nghiên cứu của Đặng Thị Hằng Thi.

(2012) và của Nguyễn Thị Bích Đào (2012) [12][13]

3.3.4 Thời gian mắc ĐTĐ Trong nghiên cứu này, thời gian mắc bệnh có tương quan rất yếu với điểm Kiến thức (rho = 0,168; p = 0,001) và có tương quan yếu với điểm Thực hành (rho = 0,276; p < 0,001).

Mối tương quan thuận giữa điểm Kiến thức và Thực hành với thời gian mắc bệnh ĐTĐ cho thấy bệnh nhân tái khám nhiều lần có khả năng tiếp cận thông tin và nhận được nhắc nhở từ nhân viên y tế nhiều hơn Nghiên cứu tại bệnh viện 19-8 hỗ trợ cho nhận định này Ngược lại, nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy không tìm thấy mối tương quan giữa thời gian mắc ĐTĐ với Kiến thức và Hành vi, có thể do mẫu khảo sát nhỏ (106 bệnh nhân) và sự khác biệt trong việc tuân thủ tái khám giữa các bệnh viện.

3.3.5 Tiền sử bệnh lý bàn chân

So với bệnh nhân không có tiền sử bệnh lý bàn chân ĐTĐ, bệnh nhân có tiền sử bệnh lý bàn chân không có sự khác biệt đáng kể về điểm kiến thức (2,5 ± 1,6 so với 2,1 ± 1,7; p = 0,356) và thực hành (2,3 ± 1,4 so với 1,6 ± 1,3; p = 0,090) Ngược lại, nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy mức độ kiến thức của bệnh nhân có tổn thương chân thấp hơn so với bệnh nhân không tổn thương chân, trong khi thực hành không có sự liên quan Sự không quan sát thấy mối tương quan trong nghiên cứu này có thể do tỉ lệ bệnh nhân từng mắc bệnh lý bàn chân ghi nhận thấp.

3.3.6 Số lượng bệnh kèm Đa số bệnh nhân trong nghiên cứu mắc 2 bệnh kèm (28,5%) và có mối tương quan thuận giữa số bệnh kèm và điểm Thực hành (rho = 0,178; p < 0,001) nhưng không có sự tương quan với điểm Kiến thức (rho = 0,043; p = 0,397) Điều này phù hợp

Pollock (2004) cho rằng bệnh kèm có thể cản trở thực hành y tế Tuy nhiên, một nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy vào năm 2012 lại không tìm thấy mối liên hệ này, có thể do kích thước mẫu nhỏ và đặc điểm bệnh nhân thường mắc nhiều bệnh kèm.

3.3.7 Đã tiếp cận thông tin về chăm sóc bàn chân trước đây Khoảng 2/3 số bệnh nhân trong khảo sát chưa từng nghe thông tin về chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ trước đây So với bệnh nhân chưa nghe thông tin về chăm sóc bàn chân trước đây, bệnh nhân đã từng nghe qua thông tin này có điểm trung bình Kiến thức (2,8 ± 1,5 so với 1,8 ± 1,7; p < 0,001) và Thực hành (2,0 ± 1,3) so với 1,4 ± 1,2; p < 0,001) cao hơn có ý nghĩa thống kê.

Nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2012 cho thấy việc cung cấp thông tin hướng dẫn chăm sóc bàn chân trước đó đã làm tăng đáng kể mức độ kiến thức và thực hành của người bệnh.

Ngày đăng: 06/05/2021, 23:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. International Diabetes Federation (IDF) (2014), IDF Diabetes Atlas sixth edition, International Diabetes Federation (IDF), Belgium, http://www.idf.org/diabetesatlas, Ngày cập nhật 15-3 -2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: IDF Diabetes Atlas sixth edition
Tác giả: International Diabetes Federation (IDF)
Nhà XB: International Diabetes Federation (IDF)
Năm: 2014
2. Đỗ Trung Quân (2006), Biến chứng bệnh Đái tháo đường và điều trị, NXB Y học, TP Hồ Chí Minh. tr. 174-189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến chứng bệnh Đái tháo đường và điều trị
Tác giả: Đỗ Trung Quân
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2006
4. Bowering K., Embil M. J. (2013), "Clinical Practice Guidelines: Foot Care - Canadian Diabetes Association Clinical Practice Guidelines Expert Committee", Canadian Journal of Diabetes, 37 (1), 145 - 149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical Practice Guidelines: Foot Care -Canadian Diabetes Association Clinical Practice Guidelines ExpertCommittee
Tác giả: Bowering K., Embil M. J
Năm: 2013
5. American Diabetes Association (2013), Foot Care, American Diabetes Association, United State, http://www.diabetes.org/living-with-diabetes/complications/foot-complications/foot-care.html?referrer=https://www.google.com.vn/, Ngày cập nhật 15-3 -2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foot Care
Tác giả: American Diabetes Association
Năm: 2013
6. American College of Foot and Ankle Surgeons (2015), Diabetic Foot Care Guidelines, American College of Foot and Ankle Surgeons United States, http://www.foothealthfacts.org/footankleinfo/diabetic-guidelines.htm, Ngày cập nhật 15-3 -2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetic Foot Care Guidelines
Tác giả: American College of Foot and Ankle Surgeons
Nhà XB: American College of Foot and Ankle Surgeons United States
Năm: 2015
7. Pollock R. D., Unwin N. C., Connolly V. (2004), "Knowledge and practice of foot care in people with diabetes", Diabetes Research and Clinical Practice, 64 (1), 117-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge and practice of foot care in people with diabetes
Tác giả: Pollock R. D., Unwin N. C., Connolly V
Nhà XB: Diabetes Research and Clinical Practice
Năm: 2004
8. Gondal M., Bano U., Moin S., et al. sự (2007), "Evaluation of knowledge and practices of foot care in patients with chronic type 2 diabetes mellitus", JPMI, 21 (2), 104-108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of knowledge andpractices of foot care in patients with chronic type 2 diabetes mellitus
Tác giả: Gondal M., Bano U., Moin S., et al. sự
Năm: 2007
9. Desalu O. O., Salawu F. K., Jimoh A. K., et al. (2011), "Diabetic foot care: self reported knowledge and practice among patients attending three tertiary hospital in nigeria", Ghana medical journal, 45 (2), 60-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetic foot care: selfreported knowledge and practice among patients attending three tertiaryhospital in nigeria
Tác giả: Desalu O. O., Salawu F. K., Jimoh A. K., et al
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w