TRẦN THỊ NHƯ NGỌCMỨC ĐỘ HOẠT ĐỘNG THỂ LỰC Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI SỰ TỰ TIN, HỖ TRỢ XÃ HỘI Chuyên ngành: ĐIỀU DƯỠNG Mã số: 8720301 LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐIỀU DƯ
Trang 1TRẦN THỊ NHƯ NGỌC
MỨC ĐỘ HOẠT ĐỘNG THỂ LỰC Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 VÀ MỐI LIÊN QUAN
VỚI SỰ TỰ TIN, HỖ TRỢ XÃ HỘI
Chuyên ngành: ĐIỀU DƯỠNG
Mã số: 8720301 LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐIỀU DƯỠNGNGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VÕ NGUYÊN TRUNG
TS ANN HENDERSON
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bốtrong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm về lời cam đoan này
Tác giả
Trần Thị Như Ngọc
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Bệnh đái tháo đường 4
1.1.2 Chẩn đoán đái tháo đường 4
1.1.3 Phân loại đái tháo đường 5
1.1.4 Biến chứng của đái tháo đường 6
1.1.5 Mục tiêu và nguyên tắc điều trị đái tháo đường 8
1.2 Hoạt động thể lực 9
1.2.1 Khái niệm hoạt động thể lực 9
1.2.2 Khuyến cáo về hoạt động thể lực 9
1.2.3 Hoạt động thể lực và bệnh đái tháo đường 10
1.3 Vai trò của sự tự tin đối với người bệnh đái tháo đường 12
1.3.1 Khái niệm sự tự tin 12
1.3.2 Sự tự tin và bệnh đái tháo đường 12
1.4 Vai trò của sự hỗ trợ xã hội đối với người bệnh đái tháo đường 13
1.4.1 Khái niệm hỗ trợ xã hội 13
1.4.2 Hỗ trợ xã hội và bệnh đái tháo đường 14
1.5 Nghiên cứu trong nước và trên thế giới 15
1.5.1 Nghiên cứu trong nước 15
Trang 41.5.2 Nghiên cứu trên thế giới 18
1.6 Học thuyết điều dưỡng và ứng dụng 20
1.6.1 Mô hình nâng cao sức khỏe 20
1.6.2 Ứng dụng học thuyết vào nghiên cứu 23
1.7 Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ 24
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Thiết kế nghiên cứu 26
2.2 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2.1 Dân số mục tiêu 26
2.2.2 Dân số chọn mẫu 26
2.2.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu 26
2.2.4 Tiêu chuẩn loại trừ 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Cỡ mẫu 26
2.3.2 Kỹ thuật chọn mẫu 27
2.3.3 Định nghĩa và đánh giá biến số 27
2.3.4 Thu thập số liệu 30
2.3.5 Kiểm soát sai lệch thông tin 34
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 35
2.4 Vấn đề y đức trong nghiên cứu 35
2.5 Ý nghĩa và tính ứng dụng của nghiên cứu 36
Chương 3: KẾT QUẢ 37
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 37
3.1.1 Đặc điểm về nhân khẩu học 37
3.2.2 Đặc điểm liên quan đến bệnh của đối tượng nghiên cứu 38
3.2 Đặc điểm hoạt động thể lực, sự tự tin và hỗ trợ xã hội 39
3.2.1 Đặc điểm hoạt động thể lực 39
Trang 53.2.2 Sự tự tin trong việc hoạt động thể lực 42
3.2.3 Sự hỗ trợ xã hội trong việc hoạt động thể lực 43
3.2.4 Đặc điểm chung về sự tự tin và hỗ trợ xã hội cho hoạt động thể lực 45
3.3 Liên quan giữa hoạt động thể lực với sự tự tin và hỗ trợ xã hội ở người bệnh đái tháo đường típ 2 46
3.3.1 Tương quan giữa hoạt động thể lực với sự tự tin và hỗ trợ xã hội 46 3.3.2 Liên quan giữa hoạt động thể lực theo khuyến cáo với sự tự tin và hỗ trợ xã hội 46
3.3.3 Liên quan giữa mức độ hoạt động thể lực với sự tự tin và hỗ trợ của xã hội 48
Chương 4: BÀN LUẬN 50
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 50
4.1.1 Đặc điểm về nhân khẩu học 50
4.2.2 Đặc điểm liên quan đến bệnh của đối tượng nghiên cứu 52
4.2 Đặc điểm hoạt động thể lực, sự tự tin và hỗ trợ xã hội 53
4.2.1 Đặc điểm hoạt động thể lực 53
4.2.2 Sự tự tin trong việc hoạt động thể lực 57
4.2.3 Sự hỗ trợ xã hội trong việc hoạt động thể lực 58
4.2.4 Đặc điểm chung về sự tự tin và hỗ trợ xã hội cho hoạt động thể lực 59
4.3 Liên quan giữa hoạt động thể lực với sự tự tin và hỗ trợ xã hội ở người bệnh đái tháo đường típ 2 60
4.3.1 Tương quan giữa hoạt động thể lực với sự tự tin và hỗ trợ xã hội 60 4.3.2 Liên quan giữa hoạt động thể lực theo khuyến cáo với sự tự tin và hỗ trợ xã hội 61
Trang 64.3.3 Liên quan giữa mức độ hoạt động thể lực với sự tự tin và hỗ trợ xãhội 62
Trang 7Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ
GPAQ (Global Physical Activity
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.9 Tương quan giữa hoạt động thể lực với sự tự tin và hỗ trợ
Bảng 3.14 Liên quan giữa mức độ hoạt động thể lực với sự hỗ trợ
Bảng 3.15 Liên quan giữa mức độ hoạt động thể lực với sự hỗ trợ
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là một bệnh mạn tính đặc trưng bởi tình trạng tăngđường máu và rối loạn chuyển hóa [21] Đây là một trong những căn bệnh cótốc độ tăng nhanh nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới[71] Đáng chú ý là tốc độ gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ở các nước phát triển là42% trong khi ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, tỷ lệ này lênđến 170% [12] Hiện tại, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, cứ 20người Việt Nam thì có 1 người mắc bệnh đái tháo đường [4]
Điều trị đái tháo đường là quá trình lâu dài và suốt đời Việc điều trị cầnphối hợp giữa dùng thuốc, thay đổi chế độ ăn và hoạt động thể lực [7] TheoHiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ, hoạt động thể lực đóng vai trò quan trọngtrong quản lý bệnh đái tháo đường, giúp điều hòa rối loạn chuyển hóa, làmchậm những biến chứng của bệnh, nâng cao chất lượng cuộc sống và gópphần giảm tỷ lệ tử vong [14], [25] Mặt khác, theo Tổ chức Y tế thế giới, việc
ít hoạt động thể lực đứng hàng thứ tư trong số các trường hợp tử vong dobệnh không lây nhiễm và hiện có khoảng 3,2 triệu trường hợp tử vong toàncầu mỗi năm được cho là do ít hoạt động thể lực [3], [69] Điều đó cho thấycần phải có những đề xuất nhằm tăng cường hoạt động thể lực ở người bệnhđái tháo đường
Hiện nay, theo khuyến cáo người bệnh đái tháo đường nên luyện tập thểdục ít nhất 150 phút mỗi tuần ở cường độ trung bình đến cường độ mạnh [24].Tuy nhiên, hoạt động thể lực của người bệnh đái tháo đường típ 2 ở Việt Namđang ở mức thấp Tại Hà Nội, nghiên cứu về tình hình tuân thủ điều trị ởngười bệnh đái tháo đường típ 2 cho thấy có đến 36,7% người bệnh khôngluyện tập đủ theo khuyến cáo [10] Tỷ lệ này trong các nghiên cứu tại TháiNguyên, Sơn La lần lượt 84,15% và 63,8% [20], [49]
Trang 11Nhiều nghiên cứu cho thấy hoạt động thể lực có mối liên quan với sự tựtin của người bệnh và sự hỗ trợ từ phía gia đình, bạn bè Nghiên cứu củaNguyễn Thị Mai Hương tại Thái Nguyên (2014) đã tìm thấy mối tương quangiữa hoạt động thể lực với sự tự tin và hỗ trợ xã hội [49] Sau đó, nhữngnghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn của Đỗ Thị Kim Thu tại Hà Nội, của NguyễnMinh Tuấn ở Sơn La cũng cho kết quả tương tự [20], [35] Ali Fattahi,Darawad, Tamirat và Smith cũng chỉ rằng hoạt động thể lực của người bệnh
có thể được cải thiện thông qua việc nâng cao sự tự tin, khuyến khích sự hỗtrợ từ những người xung quanh [31], [36], [61], [63]
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ được thành lập từ năm
2011 với sứ mệnh chăm sóc sức khỏe cho người dân, đặc biệt là vùng đồngbằng sông Cửu Long Đáng lưu ý là theo kết quả điều tra lập bản đồ dịch tễđái tháo đường toàn quốc năm 2012 do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thựchiện, vùng Tây Nam Bộ, nơi Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ tọalạc, được xem là vùng có tỷ lệ đái tháo đường cao nhất cả nước [3] Tuynhiên, ở thời điểm hiện tại, những nghiên cứu về hoạt động thể lực trên ngườibệnh đái tháo đường, đặc biệt là về mối liên quan giữa hoạt động thể lực với
sự tự tin, sự hỗ trợ xã hội còn khá hạn chế Điều đó phần nào ảnh hưởng đếnhiệu quả của công tác điều trị và chăm sóc người bệnh Chính vì thế, chúng
tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Mức độ hoạt động thể lực ở người
bệnh đái tháo đường típ 2 và mối liên quan với sự tự tin, hỗ trợ xã hội”
để trả lời câu hỏi: Tỷ lệ hoạt động thể lực của người bệnh đái tháo đường típ 2
là bao nhiêu? Và sự tự tin, sự hỗ trợ xã hội có hỗ trợ tích cực cho hoạt độngthể lực hay không?
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát
Khảo sát mức độ hoạt động thể lực ở người bệnh đái tháo đường típ 2 vàmối liên quan với sư tự tin, hỗ trợ xã hội tại Bệnh viện Trường Đại học YDược Cần Thơ
Mục tiêu cụ thể
1 Xác định mức độ hoạt động thể lực của người bệnh đái tháo đường típ
2 tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2 Xác định mối liên quan giữa hoạt động thể lực với sự tự tin, hỗ trợ xã
hội ở người bệnh đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Trường Đại học Y DượcCần Thơ
Trang 13Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh đái tháo đường
1.1.1 Định nghĩa
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một tình trạng rối loạn chuyển hóa phức tạp donhiều nguyên nhân, đặc trưng bởi sự tăng đường máu, do khiếm khuyết bàitiết insulin, và/hoặc đề kháng insulin Tình trạng tăng đường máu mạn tính sẽgây ra tổn thương của nhiều cơ quan như mắt, thận, thần kinh và mạch máu[12], [72]
1.1.2 Chẩn đoán đái tháo đường
Việc chẩn đoán ĐTĐ dựa vào các tiêu chí đường máu, hoặc là đườngmáu lúc đói hoặc đường máu 2 giờ sau ăn với nghiệm pháp dung nạp 75gglucose qua đường uống [24]
Bảng 1.1 Tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường
Đường máu lúc đói ≥ 126 mg/dl (7,0 mmol/l) Đường máu lúc đói được địnhnghĩa là nhịn ăn hoàn toàn tối thiểu 8 giờ.*
Hoặc
Đường máu 2 giờ sau ăn ≥200 mg/dl (11,1 mmol/l) khi thực hiện nghiệmpháp dung nạp glucose Nghiệm pháp được mô tả theo Tổ chức Y tế Thế giới,người bệnh uống lượng đường hòa tan trong nước tương đương 75g glucose.*
Hoặc
HbA1c ≥ 6,5% (48mmol/mol) Xét nghiệm nên được làm trong trong phòngxét nghiệm sử dụng phương pháp được chứng nhận bởi chương trình chuẩnhóa glycohemoglobin quốc gia.*
Hoặc
Ở người bệnh có triệu chứng tăng đường máu kinh điển hay có cơn tăngđường máu, có một mẫu đường máu bất kỳ ≥200mg/dl (11,1mmol/l)
Trang 14* Trong trường hợp đường máu tăng không rõ ràng, kết quả cần được làm
xét nghiệm lại [24]
1.1.3 Phân loại đái tháo đường
Bệnh ĐTĐ được phân loại dựa vào nguyên nhân sinh bệnh, gồm có:ĐTĐ típ 1, ĐTĐ típ 2, ĐTĐ thai kỳ và các thể khác của bệnh ĐTĐ [12]
ĐTĐ típ 1 được đặc trưng bởi sự thiếu hụt insulin do tế bào beta bị hủydẫn đến thiếu insulin tuyệt đối [24], [72] Người bị ĐTĐ típ 1 có đời sống phụthuộc insulin hoàn toàn và chiếm tỉ lệ 5 - 10% trường hợp bệnh Bệnh khởiphát ở bất kỳ độ tuổi nào nhưng thường gặp nhất là ở trẻ em hoặc người trẻdưới 30 tuổi và liên quan yếu tố di truyền Triệu chứng lâm sàng thường xảy
ra đột ngột như ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, sụt cân, nhìn mờ và chậmlành vết thương Người bệnh ĐTĐ típ 1 phải được tiêm insulin hằng ngày đểkiểm soát đường máu Nếu không được sử dụng insulin thì người bệnh sẽ tửvong [12], [17], [41]
ĐTĐ típ 2 là một rối loạn biểu hiện bởi nồng độ glucose trong máu cao
do đề kháng insulin hoặc thiếu insulin tương đối ĐTĐ típ 2 còn được gọi làĐTĐ không phụ thuộc insulin và chiếm 90 - 95% các trường hợp ĐTĐ Nguy
cơ mắc bệnh ĐTĐ típ 2 tăng lên theo độ tuổi, tình trạng thừa cân, béo phì vàlối sống ít vận động Bệnh thường gặp ở phụ nữ có tiền sử ĐTĐ khi mangthai, những người cao huyết áp hoặc rối loạn mỡ máu và thay đổi ở các nhómchủng tộc khác nhau Bệnh ĐTĐ típ 2 thường gặp ở người lớn tuổi (trên 30),nhưng gần đây bệnh cũng được phát hiện ở trẻ em ĐTĐ típ 2 thường đượcchẩn đoán muộn hoặc không được chẩn đoán trong nhiều năm vì tình trạngtăng đường máu phát triển một cách âm thầm Do đó, người bệnh thường cóbiến chứng ngay từ khi được chẩn đoán ĐTĐ típ 2 có thể được điều trị bằngchế độ ăn, tăng cường vận động đơn thuần hoặc phối hợp với thuốc hạ đường
Trang 15máu uống Tuy nhiên, người bị ĐTĐ típ 2 có thể cần insulin để điều trị trongmột số tình huống [17], [12].
ĐTĐ thai kỳ: khởi phát và được phát hiện lần đầu tiên trong thời kỳphụ nữ đang mang thai và thường gặp ở tuần thứ 24 khi mang thai Nguyênnhân là do hoạt động của insulin bị chặn bởi hormone do nhau thai sản xuất.Triệu chứng của ĐTĐ thai kỳ giống với ĐTĐ típ 2 Phần lớn các trường hợp,đường máu trở về bình thường sau khi sinh Tuy nhiên, một số phụ nữ có thể
bị lại ở lần sinh sau [17], [12], [72]
Các thể khác của bệnh ĐTĐ: do các nguyên nhân khác nhau nhưkhuyết tật di truyền trong hoạt động của insulin, bệnh của tuyến tụy ngoại tiết,hóa chất hoặc thuốc [24]
1.1.4 Biến chứng của đái tháo đường
1.1.4.1 Biến chứng cấp tính
Hôn mê nhiễm toan ceton: là biến chứng cấp tính của bệnh ĐTĐ, cónguy cơ tử vong cao Biến chứng xảy ra khi thiếu insulin nặng kèm tăng hoạtcác hormone gây tăng đường máu như catecholamine, glucagon do stress.Yếu tố thúc đẩy gồm có: ngừng điều trị insulin đột ngột, nhiễm trùng, chấnthương, nhồi máu cơ tim, thai nghén [21]
Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu: là biến chứng chuyển hóa cấp tínhthường xảy ra ở người bệnh ĐTĐ típ 2 do tình trạng đường máu tăng rất cao,mất nước nặng do tăng đường niệu và lợi tiểu thẩm thấu gây ra tình trạng mấtnước Khi áp lực thẩm thấu >320 - 330 mOsm/kg, nước sẽ bị kéo ra khỏi cácneuron hệ thần kinh trung ương gây ra tình trạng lú lẫn, hôn mê [8], [21].Toan acid lactic: biến chứng xảy ra do tích tụ acid lactic trong máu gâytoan chuyển hóa Bệnh thường xảy ra trên người bệnh ĐTĐ lớn tuổi do hai tácđộng: thiếu oxy do suy tim hoặc suy hô hấp và lạm dụng metformin (chỉ địnhquá liều ở người đã bị suy gan hoặc suy thận) [8]
Trang 161.1.4.2 Biến chứng mạn tính
Biến chứng vi mạch:
Biến chứng võng mạc ĐTĐ: thường xuất hiện sau 5 năm ở người bệnhĐTĐ típ 1 và ở tất cả các người bệnh ĐTĐ típ 2 Ở mắt, ngoài tổn thươngvõng mạc còn có các thương tổn khác như: loạn sắc với màu xanh - vàng, teomắt, đục thủy tinh thể (do lắng đọng polyol, fructose), tăng nhãn áp, liệt cơvận nhãn, tổn thương thần kinh thị, rối loạn môi trường chiết quang (cải thiệnkhi glucose trở lại bình thường) [8], [21]
Biến chứng thận: là biến chứng nặng của ĐTĐ, bao gồm bệnh cầu thậnĐTĐ dẫn đến suy thận, viêm hoại tử đài bể thận, tổn thương thận mất bù [2],[8], [21]
Trang 17Bệnh lý thần kinh tự động: Liệt dạ dày gây ra đầy bụng, chậm tiêu và cóảnh hưởng đến đường máu sau ăn; liệt thực quản gây ra nuốt khó; ảnh hưởngtrên đại tràng gây ra táo bón và tiêu chảy; ảnh hưởng trên hệ tiết niệu - sinhdục gây ra đờ bàng quang, liệt dương ở nam giới [8], [21].
Tim mạch: gây ra hạ huyết áp tư thế, ngừng tim hoặc gây đột tử [8] Biến chứng xương và khớp: Bệnh lý bàn tay ở người trẻ tuổi với các
triệu chứng tay cứng dần do co kéo da ở phía trên khớp do biến đổi collagen
và các protein khác ở mô liên kết; gãy Dupuytren với các dấu hiệu cân ở ganbàn tay dày thành nốt, gây biến dạng như vuốt thú; mất chất khoáng xương[8], [21]
Biến chứng bàn chân người ĐTĐ: bệnh lý bàn chân của người ĐTĐ là
biến chứng hay gặp và là nguyên nhân dẫn tới cắt cụt và tử vong cao ở ngườibệnh ĐTĐ Trong bệnh lý bàn chân, vai trò của biến chứng thần kinh ngoại
vi, bệnh lý mạch máu ngoại vi và nhiễm trùng luôn gắn bó mật thiết với nhau[8], [21]
Các biến chứng nhiễm khuẩn: ở da, niêm mạc (mụn nhọt, viêm cơ,
viêm nướu, rụng răng), phổi (lao phổi, viêm phổi - áp xe phổi), tiết niệu - sinhdục (viêm bàng quang, niệu đạo, tiền liệt tuyến, viêm đài bể thận, suy thận,viêm bộ phận sinh dục ngoài) [21]
1.1.5 Mục tiêu và nguyên tắc điều trị đái tháo đường
1.1.5.1 Mục tiêu điều trị
Hạn chế đến mức thấp nhất các biến chứng
Đưa cân nặng về mức lý tưởng
Làm giảm được các triệu chứng lâm sàng và đưa đường máu về mứcbình thường (đường máu lúc đói: 80 - 120 mg/dL) [8]
Làm giảm HbA1c <7%
Trang 18Nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh, giúp người bệnh trở vềcuộc sống sinh hoạt và lao động bình thường [11].
1.1.5.2 Nguyên tắc điều trị chung
Điều trị bệnh ĐTĐ cần phải tuân thủ và kết hợp giữa 3 phương pháp:Điều chỉnh chế độ ăn
Luyện tập thể lực
Điều trị bằng thuốc: dùng 1 thuốc (đơn trị liệu) hoặc phối hợp thuốc (đatrị liệu) [11]
1.2 Hoạt động thể lực
1.2.1 Khái niệm hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực (HĐTL) bao gồm tất cả các loại chuyển động làmtiêu hao năng lượng Điều này đồng nghĩa với mọi loại hoạt động cơ bắp như
đi bộ, làm việc nhà và làm vườn, các hoạt động về thể chất khi lao động, hoạtđộng ngoài trời, tập thể dục và tập luyện thể thao [14]
1.2.2 Khuyến cáo về hoạt động thể lực
Theo Khuyến cáo của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) và WHOthì:
Trẻ em bị ĐTĐ hoặc tiền ĐTĐ nên luyện tập ít nhất 60 phút/ngày vớimức độ trung bình đến mạnh với những hoạt động tăng cường sức mạnh của
cơ, xương ít nhất 3 ngày/tuần [24], [25], [70]
Người bệnh ĐTĐ nên HĐTL mức độ vừa phải tới hoạt động mạnh 30phút mỗi ngày, ít nhất 5 ngày trong một tuần hay tổng cộng 150 phút mỗituần, chia ra ít nhất trong 3 ngày, không nên ngưng tập hơn 2 ngày liên tiếptrong một tuần Có thể tập thời lượng ngắn hơn (75 phút/tuần) với các hoạtđộng cường độ mạnh hoặc thời lượng tập thích hợp cho từng đối tượng [24],[25], [70]
Trang 19Người bệnh ĐTĐ nên tham gia vào những bài tập đối kháng 2 - 3lần/tuần không liên tục [24], [25], [70].
Tất cả người lớn, đặc biệt là người bệnh ĐTĐ típ 2 nên giảm thời giantĩnh tại hàng ngày Thời gian ngồi nên bị gián đoạn mỗi 30 phút một lần đểđạt lợi ích đối với đường máu [24], [25], [70]
Những bài tập linh hoạt và cân bằng được khuyến khích tham gia 2 - 3lần/tuần đối với người bệnh ĐTĐ cao tuổi Tùy theo sở thích, yoga và dưỡngsinh có thể được áp dụng để tăng sức cơ và sự cân bằng [24], [25], [70]
1.2.3 Hoạt động thể lực và bệnh đái tháo đường
1.2.3.1 Lợi ích của việc luyện tập thường xuyên
HĐTL ở người bệnh ĐTĐ được xem là một trong ba phương pháp điềutrị cơ bản bên cạnh việc điều chỉnh chế độ ăn và dùng thuốc Vai trò củaHĐTL có ảnh hưởng tốt lên chất lượng cuộc sống đã được khẳng định [16]
Điều hòa đường máu: Đối với người bệnh ĐTĐ típ 2, HĐTL thường
xuyên có tác dụng làm giảm đường máu thông qua hai cơ chế: làm giảm cânnặng (nhất là những người thừa cân, béo phì) và làm giảm sự đề kháng insulincủa các mô [8], [11], [14], [30] HĐTL làm cơ thể tiêu thụ đường dễ dàng do
đó giảm lượng đường máu dẫn đến giảm liều insulin hoặc một số thuốc hạđường máu khác [2] Một nghiên cứu cho thấy nhóm người bệnh ĐTĐ típ 2không được điều trị bằng insulin (39 - 70 tuổi), được chỉ định ngẫu nhiêntham gia các bài tập sức bền, bài tập phối hợp cho thấy việc kiểm soát đườngmáu được cải thiện thông qua sự thay đổi HbA1c [60] Một số nghiên cứukhác chứng minh hiệu quả ổn định đường máu tương tự nhau giữa tập thể dục
30 phút mỗi ngày và 60 phút/2 ngày; giữa tập thể lực mỗi 30 phút/lần/ngày vàtập 10 phút x 3 lần/ngày [18]
Phòng ngừa biến chứng của ĐTĐ: Luyện tập đều đặn sẽ làm giảm tình
trạng đề kháng insulin, giảm cholesterol, triglyceride, tăng lipoprotein tỷ
Trang 20trọng cao (HDL), giảm lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL), giảm cân, giảm huyết
áp do đó giúp giảm phòng được các biến chứng tim mạch [16] Một số nghiên
cứu đã chứng minh có thể phòng ngừa sự tiến triển của bệnh ĐTĐ típ 2 thôngqua HĐTL [8], [11], [14], [30] Người bệnh ĐTĐ típ 2 có nguy cơ mắc chứngnhồi máu cơ tim và đột quỵ cao gấp 3 - 4 lần, vì vậy việc HĐTL ở nhómngười bệnh này giúp giảm các nguy cơ mắc bệnh tim mạch [14]
Những lợi ích khác: Ngoài ra, HĐTL còn giúp cải thiện tình trạng hoạt
động của các cơ quan, nâng cao tình trạng sức khỏe của toàn cơ thể Luyệntập đúng và khoa học làm cho tinh thần sảng khoái, nhanh nhẹn, làm tăng sức
đề kháng với stress và người bệnh không bị mặc cảm là người không có íchcho xã hội [2], [11], [30]
1.2.3.2 Nguyên tắc hoạt động thể lực
Luyện tập từ từ và thích hợp
Phải được bác sĩ xem xét về mức độ và thời gian luyện tập
Phải để phòng hạ đường máu khi tập
Không tham gia luyện tập khi đang mắc những bệnh cấp tính, đườngmáu quá cao, ceton máu tăng cao, ceton niệu dương tính nặng [2], [14]
1.2.2.3 Các xét nghiệm, thăm dò chức năng cần làm
Ở một số người lớn tuổi hoặc người mắc ĐTĐ đã lâu, cần thực hiện cácbài kiểm tra gắng sức hoặc các thăm dò chức năng tim
Đánh giá các bệnh lý thần kinh ngoại vi, rối loạn cảm giác, biến dạngkhớp, biến chứng mắt (bệnh tăng sinh võng mạc) và bệnh lý về thận; vì tănghuyết áp trong quá trình hoạt động thể lực có thể làm trầm trọng thêm cácbiến chứng mắt và bệnh lý ở thận
Kiểm tra bàn chân trước khi luyện tập, đánh giá mức độ mất cảm giác,biến dạng bàn chân, các vết loét và chai ở chân, cũng như tình trạng đau ở bànchân [14]
Trang 211.2.2.4 Chống chỉ định tương đối
Cần chú ý với bệnh tim mạch hiện tại
Người bệnh bị bệnh lý thần kinh ngoại vi thì sẽ có nguy cơ bị tổnthương khớp và bàn chân
Người bệnh có biến chứng ở mắt (bệnh tăng sinh võng mạc) thì sẽ cónguy cơ làm trầm trọng thêm tình trạng ở mắt (hiếm gặp)
Người bệnh bị bệnh lý thần kinh thực vật, hoạt động thể lực với cường
độ quá cao có thể kèm theo nhiều nguy cơ (hạ huyết áp và thiếu dấu hiệu cảnhbáo sớm bệnh nhồi máu cơ tim)
Người bệnh bị bệnh lý về thận, tăng huyết áp (huyết áp tâm thu khoảng
180 - 200mmHg) có thể làm bệnh tiến triển trầm trọng hơn [14]
1.3 Vai trò của sự tự tin đối với người bệnh đái tháo đường
1.3.1 Khái niệm sự tự tin
Theo Pender, sự tự tin là niềm tin vào sự tự điều chỉnh khả năng bản thân
để tổ chức và thực hiện hành vi nâng cao sức khỏe cụ thể cũng như niềm tinvào việc thực hiện thành công những hành vi đó [52] Việc cảm thấy tự tin làđiều kiện tiên quyết để thay đổi hành vi của một cá nhân, ảnh hưởng đến khảnăng thử nghiệm và thực hiện những hành vi nâng cao sức khỏe [38]
1.3.2 Sự tự tin và bệnh đái tháo đường
Ở người bệnh ĐTĐ, các hoạt động tự chăm sóc như chế độ ăn, dùngthuốc, tự theo dõi đường máu và hoạt động thể lực đóng vai trò rất quan trọngtrong việc kiểm soát bệnh Tuy nhiên, các hoạt động này lại bị chi phối bởiyếu tố tâm lý, trong đó có sự tự tin của người bệnh Nhiều nghiên cứu đã chothấy có mối liên quan giữa sự tự tin và hoạt động tự chăm sóc ở người bệnh
Sự tự tin có thể trở thành động lực thúc đẩy việc thực hiện những hành vinâng cao sức khỏe cũng như tác động gián tiếp đến việc nhận thức những cảntrở của hành động Do đó, sự tự tin góp phần quan trọng trong việc thay đổi
Trang 22cũng như tác động đến sự thành công của hoạt động tự chăm sóc [33], [48].Nghiên cứu của Wen thực hiện trên người bệnh ĐTĐ chỉ ra rằng sự tự tin ởngười bệnh càng cao thì người bệnh tuân thủ chế độ ăn và hoạt động thể lựccàng tốt [67] Theo Rosland, sự tự tin có mối liên quan với việc tự kiểm trađường máu, chế độ ăn và kiểm tra bàn chân ở người bệnh [56] Một cách kháiquát hơn, Al-Khawaldeh chỉ ra rằng người bệnh có sự tự tin càng cao thì việc
tự quản lý về chế độ ăn, tập thể dục, kiểm tra đường máu và dùng thuốc cũngtốt hơn [23] Từ đó, sự tự tin cũng góp phần cải thiện chất lượng cuộc sốngcủa người bệnh ĐTĐ [66]
Tuy nhiên, một vài nghiên cứu không thấy có mối liên quan giữa sự tựtin với hành vi tự chăm sóc cũng như việc kiểm soát đường máu ở người bệnhĐTĐ [29], [37]
1.4 Vai trò của sự hỗ trợ xã hội đối với người bệnh đái tháo đường
1.4.1 Khái niệm hỗ trợ xã hội
Theo Glanz, hỗ trợ xã hội được định nghĩa là sự giúp đỡ hoặc chăm sóc
từ những người liên quan và sự trao đổi lẫn nhau [38]
Định nghĩa của Macgerge dựa trên những định nghĩa của Albrecht vàAdelman (1987), Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ và Gottlieb (2000) thì hỗ trợ
xã hội là quá trình giao tiếp tạo ra sự thay đổi, bao gồm giao tiếp bằng lời vàkhông lời, nhằm cải thiện cảm nhận của cá nhân trước một sự việc [45]
Ngoài ra, sự hỗ trợ xã hội còn là một khái niệm trong một số học thuyết.Trong mô hình Hành vi nâng cao sức khỏe của Pender, có thể hiểu hỗ trợ xãhội là thái độ, niềm tin, hành vi của những người xung quanh đối với việctham gia của người bệnh vào một hành vi sức khỏe nào đó [52]
Hỗ trợ xã hội trong những nghiên cứu về HĐTL bao gồm các loại khácnhau: cảm xúc (biểu hiện sự đồng cảm, yêu thương, sự tin tưởng và sự rộnglượng); công cụ (trợ giúp và phục vụ); cung cấp thông tin (tư vấn, thông tin và
Trang 23gợi ý) và đánh giá (thông tin hữu ích để tự đánh giá) và nguồn hỗ trợ (gia đình
và bạn bè) [32]
1.4.2 Hỗ trợ xã hội và bệnh đái tháo đường
Những nghiên cứu gần đây tập trung vào các yếu tố sẵn có của ngườibệnh để tăng sự tuân thủ điều trị [50] Trong đó, sự hỗ trợ xã hội được xem làmột yếu tố quan trọng tác động đến tuân thủ việc quản lý bệnh ĐTĐ [46] Sự
hỗ trợ xã hội có mối tương quan thuận với những hành vi tự chăm sóc Có thể
dự đoán được việc thực hiện hành vi nâng cao sức khỏe cũng như việc thựchiện hành vi tự chăm sóc ở người bệnh ĐTĐ [50] Ngoài ra, sự hỗ trợ củanhững thành viên trong gia đình, đặc biệt là người bạn đời có mối liên quanvới việc kiểm soát lượng đường máu và HbA1c Do đó, sự hỗ trợ xã hội cóvai trò to lớn trong việc nâng cao sức khỏe cho người bệnh ĐTĐ [42], [53],[62]
Theo Wen, việc nhận được sự hỗ trợ từ gia đình càng cao thì sự tuân thủ
về chế độ ăn và tập thể dục cũng tốt hơn [67] Nghiên cứu trong trường hợpngười bệnh ĐTĐ thai kỳ cho thấy việc tuân thủ chế độ ăn bị tác động mạnh từ
sự hỗ trợ của gia đình [50] Ở những người trẻ với bệnh ĐTĐ típ 1 cho thấynhững xung đột trong gia đình, ít được hỗ trợ từ cha mẹ có liên quan đến việctuân thủ điều trị của họ [55] Bên cạnh đó, ở người bệnh cao tuổi, sự hỗ trợ từgia đình và bạn bè chính là nguồn động lực giúp duy trì sự chủ động trongviệc tự chăm sóc khi họ phải đối mặt với những tổn thương về mặt thể chất,
xã hội và kinh tế [34], [73]
Bên cạnh việc hỗ trợ, gia đình cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sứckhỏe người bệnh Một số bằng chứng cho thấy việc thường xuyên cạnh tranhgiữa người bệnh với các thành viên khác trong gia đình cũng là một yếu tốcản trở người bệnh trong việc tự quản lý bệnh Ví dụ nếu gia đình không
Trang 24muốn ăn thức ăn dành cho người bệnh ĐTĐ trong khi người bệnh muốn tuânthủ chế độ ăn chẳng hạn [44].
Ngược lại với những kết quả trên, một số nghiên cứu cho thấy không cómối liên quan giữa sự hỗ trợ xã hội với hành vi tự chăm sóc cũng như sự cảithiện chỉ số HbA1c [28], [29] Rosland cho thấy sự hỗ trợ từ bạn bè khôngliên quan đến thực hành quản lý bệnh như tuân thủ dùng thuốc, chế độ ăn,HĐTL và kiểm tra bàn chân ở người bệnh ĐTĐ [56]
Như vậy, cần có thêm nghiên cứu làm rõ về mối liên quan giữa sự hỗ trợ
xã hội với những hoạt động tự chăm sóc ở người bệnh ĐTĐ
1.5 Nghiên cứu trong nước và trên thế giới
1.5.1 Nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức Y tế thếgiới thực hiện cuộc điều tra quốc gia về yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễmtrong năm 2015 trên đối tượng 18 - 69 tuổi với tổng số người được chọn thamgia là 3.856 người Cuộc điều tra sử dụng công cụ và phương pháp chuẩn hóacủa WHO nhằm thu nhập thông tin và các hành vi nguy cơ của bệnh khônglây nhiễm, một trong những yếu tố nguy cơ đó là thiếu HĐTL Kết quả điềutra cho thấy tình trạng HĐTL ở nước ta như sau: 28,1% người dân thiếuHĐTL so với khuyến cáo của WHO (có HĐTL cường độ trung bình ít nhất
150 phút/tuần hoặc tương đương) Tỷ lệ thiếu HĐTL ở nữ (35,7%) cao hơn sovới nam (20,2%) Tỷ lệ thiếu HĐTL tại thời điểm điều tra có giảm so với năm
2010, nhưng chỉ xảy ra ở nam giới Có đến 66,0% người dân không tham giacác hoạt động có cường độ cao [5]
Năm 2009, Bùi Thị Khánh Thuận đã nghiên cứu về kiến thức, thái độ vàhành vi liên quan tới chế độ ăn và tập luyện ở người bệnh ĐTĐ típ 2 tại bệnhviện Nhân dân 115 thành phố Hồ Chí Minh Kết quả phỏng vấn 100 ngườibệnh ĐTĐ típ 2 đang điều trị nội trú và ngoại trú tại khoa Nội tiết cho thấy có
Trang 2572% người bệnh có luyện tập thể dục Tuy nhiên, trong đó chỉ khoảng 2/3người bệnh tập luyện nhiều hơn 4 ngày/tuần và chỉ có 39% tập luyện nhiềuhơn 30 phút/ngày Tác giả khuyến cáo cần có nhiều hơn các chương trình giáodục cho người bệnh và cộng đồng về tập luyện thể dục [22].
Năm 2013, Lê Thị Hương Giang và Hà Văn Như đã tiến hành phỏng vấn
210 người bệnh ĐTĐ típ 2 đang điều trị ngoại trú tại phòng khám nội tiếtBệnh viện 198, Hà Nội Kết quả có 33,6% người bệnh không tuân thủ chế độluyện tập 30 - 60 phút/ngày Về loại hình luyện tập, có 88,1% người bệnhluyện tập ở cường độ vừa phải và 11,9% ở cường độ cao Các tác giả cho rằng
sự kết hợp với người nhà trong quá trình giáo dục sức khỏe cho người bệnhĐTĐ để họ có ý thức tuân thủ điều trị có vai trò rất cần thiết [10]
Năm 2014, Nguyễn Thị Mai Hương đã tiến hành nghiên cứu về các yếu
tố tiên lượng HĐTL ở người bệnh ĐTĐ típ 2 tại Thái Nguyên Khi đánh giáHĐTL của người bệnh, tác giả sử dụng bộ câu hỏi Toàn cầu về HĐTL(GPAQ) do Tổ chức y tế thế giới xây dựng và được sử dụng rộng rãi tại nhiềunước HĐTL của người bệnh được phân thành 2 nhóm: dưới 150 phút và trên
150 phút/tuần Qua phân tích số liệu từ 82 đối tượng nghiên cứu, chỉ 15,85%hoạt động hơn 150 phút/tuần Tác giả cũng đã tìm thấy mối tương quan giữaHĐTL với sự tự tin cũng như hỗ trợ xã hội Những thời điểm mà người bệnhthấy thiếu tự tin để tập thể dục nhất là khi phục hồi sau chấn thương và bệnhtật, khi thời tiết xấu, khi cảm thấy lo lắng và khi áp lực trong công việc Đồngthời, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những hỗ trợ mà người bệnh ít nhậnđược bao gồm thay đổi lịch tập của họ để tập chung với người bệnh, thảo luận
về luyện tập thể dục với người bệnh, lập kế hoạch cho người bệnh tập thể dụctrong các cuộc đi chơi, giúp đỡ các hoạt động xung quanh việc tập luyện của
người bệnh và nói cho người bệnh biết họ thích tập thể dục như thế nào [49].
Trang 26Nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Chi về niềm tin vào khả năng bảnthân trong các hoạt động tự chăm sóc của người bệnh ĐTĐ típ 2 thực hiệntrên 157 người bệnh tại phòng khám Nội tiết, Bệnh viện Đa khoa tỉnh KhánhHòa cho thấy, giữa niềm tin và hoạt động tự chăm sóc của người bệnh có mốitương quan thuận (r=0,67; p<0,0001) Niềm tin vào khả năng bản thân trongviệc quản lý bệnh càng lớn thì hoạt động tự chăm sóc của người bệnh càngcao [6].
Năm 2015, Đỗ Thị Kim Thu đã thực hiện nghiên cứu tương tự tại HàNội Tác giả đã phân tầng và chọn ngẫu nhiên 1 bệnh viện ở nội thành và 1bệnh viện ở ngoại thành, sau đó chọn ra 246 người bệnh tham gia nghiên cứu.Tác giả cũng sử dụng GPAQ để đánh giá HĐTL và phân thành 3 mức độ: tíchcực, trung bình và thấp dựa theo hướng dẫn của Tổ chức y tế thế giới Kết quảcho thấy phần lớn đối tượng nghiên cứu có HĐTL ở mức độ trung bình trởlên và 11,4% người bệnh HĐTL ở mức độ thấp, không đủ theo khuyến cáo.Người bệnh hoạt động nhiều nhất trong công việc và hoạt động ít nhất khi giảitrí Kết quả cũng cho thấy HĐTL có mối tương quan mức độ trung bình với
để duy trì được thói quen tập thể dục khi gặp các lý do như thời tiết xấu, mệtmỏi, bận quá nhiều việc Bên cạnh đó, sự hỗ trợ xã hội cho các HĐTL của
Trang 27người bệnh chưa nhiều: gia đình thường xuyên nhắc nhở người bệnh tập thểdục và hoạt động vui chơi giải trí (31,3%), bạn bè thỉnh thoảng cũng khuyếnkhích và tham gia trong chương trình tập thể dục thể thao (39,0%) Khi phântích mối liên quan giữa tự tin, sự hỗ trợ gia đình/bạn bè với việc HĐTL đủtheo khuyến cáo, kết quả cho thấy sự tự tin và hỗ trợ xã hội là các yếu tố liênquan có ý nghĩa thống kê tới việc HĐTL Người bệnh có sự tự tin và được sự
hỗ trợ của gia đình, bạn bè thì tỷ lệ có mức độ hoạt động đủ theo khuyến cáocao hơn (p<0,05) [20]
1.5.2 Nghiên cứu trên thế giới
Theo Fattahi và cộng sự, khi nghiên cứu cắt ngang phân tích trên 320người bệnh ĐTĐ típ 2 tại Iran, kết quả cho thấy chủ yếu người bệnh có HĐTL
ở mức độ trung bình (57,5%), có 25,9% ở mức độ thấp và 16,5% ở mức độcao Các HĐTL của người bệnh chủ yếu là đi lại, bao gồm đi bộ và một sốphương tiện khác Kết quả cũng chỉ ra rằng sự tự tin có liên quan có ý nghĩathống kê với mức độ HĐTL (p<0,001) Ở những người có mức độ tự tin càngcao thì có HĐTL ở mức độ càng cao [36]
Nghiên cứu trên 115 người bệnh ĐTĐ típ 2 tại Jordan của Darawad vàcộng sự cho thấy thời gian luyện tập trung bình là 2,9 giờ/tuần và hoạt độngphổ biến nhất đi bộ (45,1%) Sự tự tin có mối tương quan với cả tần suất vàthời gian tập luyện với hệ số tương quan lần lượt là 0,22 và 0,26 [31]
Năm 2010, một nghiên cứu tại Hồng Công của Stanley Sai-Chuen Hui
và cộng sự về mối liên quan giữa kiến thức và mức độ HĐTL ở người bệnhĐTĐ típ 2 cũng cho thấy có 70% người bệnh HĐTL mức độ trung bình đếntích cực, 30% người bệnh không HĐTL đủ theo khuyến cáo [40]
Nghiên cứu tiên lượng HĐTL ở người bệnh ĐTĐ típ 2 tại một bệnh việnchuyên khoa Đại học Jimma, Etiopia của Tamirat và cộng sự năm 2013 chothấy 7 ngày trước thời điểm phỏng vấn, chỉ 11,9% người bệnh tập luyện đủ
Trang 28theo khuyến cáo (30 phút mỗi ngày, liên tục trong 3 ngày/tuần) và đi bộ làhoạt động chủ yếu Kết quả phỏng vấn về sự tự tin của bản thân trong việctham gia vào các HĐTL nhằm giảm biến chứng của bệnh cho thấy có đến51,7% có mức độ tự tin thấp Sự tự tin ở người bệnh có mối liên quan có ýnghĩa thống kê với HĐTL, những người có mức độ tự tin cao có tỷ lệ HĐTL
đủ theo khuyến cáo nhiều hơn gần 6 lần những người có mức độ tự tin thấp
Do đó, tác giả đề xuất cần xây dựng sự tự tin cho người bệnh nhằm tăngcường sự tham gia của họ vào việc luyện tập [63]
Năm 2013, Ranasinghe thực hiện nghiên cứu định tính về kiến thức vànhận thức của người bệnh ĐTĐ về chế độ ăn và HĐTL ở Sri Lanka Kết quảphỏng vấn 50 người bệnh cho thấy cho thấy hầu hết người bệnh nhận thứcđược tầm quan trọng của HĐTL đối với việc kiểm soát đường máu nhưngchưa biết về hình thức, thời gian và tần suất luyện tập Đi bộ và đạp xe là hìnhthức luyện tập được người bệnh lựa chọn nhiều nhất [54] Parajuli tiến hànhnghiên cứu tại Nê-pan về việc tuân thủ chế độ ăn và HĐTL trên 385 ngườibệnh ĐTĐ típ 2 Tác giả sử dụng bộ công cụ GPAQ để đánh giá tình trạngHĐTL và phân thành 3 nhóm: tuân thủ kém (<600 MET-phút/tuần), tuân thủmột phần (600-1500 MET-phút/tuần) và tuân thủ tốt (>1500 MET-phút/tuần).Kết quả cho thấy những người bệnh tuân thủ tốt chiếm tỷ lệ không cao(21,3%) trong khi có đến 42,1% không tuân thủ và 33,6% người bệnh tuânthủ kém [51]
Một nghiên cứu khác tại Isarel đánh giá sự tự tin ở người bệnh ĐTĐ típ
2 đối với việc theo dõi đường máu, tập thể dục, chế độ ăn và dùng thuốc Kếtquả cho thấy có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa HĐTL với sự tự tinvới hệ số tương quan là 0,5 Tác giả kết luận sự tự tin có tác động đến việctuân thủ điều trị và xem xét có những nghiên cứu đo lường sự tự tin riêng theo
Trang 29mỗi chế độ điều trị như theo dõi đường máu, dùng thuốc, chế độ ăn và HĐTL[47].
Một nghiên cứu gộp về mối liên quan giữa hỗ trợ xã hội và HĐTL ởngười cao tuổi của Smith và cộng sự từ năm 2006 đến 2014 với tổng hợp 27bài báo trong đó có hơn ¾ nghiên cứu về mối liên quan giữa hỗ trợ xã hội đốivới HĐTL và 6 nghiên cứu về mối liên quan giữa sự cô đơn và mức độHĐTL Nhóm tác giả nhận xét: công cụ đánh giá HĐTL có khác nhau giữacác nghiên cứu, 23 nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi, 4 nghiên cứu sử dụng máymóc/thiết bị đo lường, 74% nghiên cứu phân tích dữ liệu ở dạng biến liên tục,26% nghiên cứu ở dạng danh định hoặc thứ bậc (đủ và không đủ theo khuyếncáo) Kết quả cho thấy 13/21 nghiên cứu tìm thấy mối liên quan thuận giữa hỗtrợ xã hội với mức độ HĐTL Có 2/4 nghiên cứu về hỗ trợ xã hội nói chung
có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ HĐTL và do đó tác giả nhậnthấy rằng mối liên quan này chưa rõ ràng, có thể do sự phân nhóm sự hỗ trợ
xã hội với điểm cắt Khi xem xét sự hỗ trợ riêng lẽ của gia đình và bạn bè, kếtquả phân tích 17 nghiên cứu cho thấy sự hỗ trợ gia đình có sự liên quan có ýnghĩa thống kê đối với HĐTL của người bệnh Tuy nhiên, sự hỗ trợ từ bạn bèthì vẫn chưa rõ [61]
1.6 Học thuyết điều dưỡng và ứng dụng
1.6.1 Mô hình nâng cao sức khỏe
Pender là người đầu tiên đưa ra mô hình Nâng cao sức khỏe Mô hìnhđược xây dựng dựa trên những kinh nghiệm trong lĩnh vực điều dưỡng, pháttriển con người, tâm lý học thực nghiệm và giáo dục Mô hình Nâng cao sứckhỏe của Pender có cái nhìn toàn diện về điều dưỡng, tâm lý xã hội và giáodục như một nền tảng cho hành vi nâng cao sức khỏe Đây là mô hình xácđịnh các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe Mô hình tập trungvào 8 yếu tố về niềm tin mà người điều dưỡng có thể đánh giá và can thiệp, từ
Trang 30đó có thể giúp người bệnh thay đổi hành vi lối sống để nâng cao sức khỏe[52], [64].
Mô hình học thuyết như sau:
Sơ đồ 1.1 Mô hình Nâng cao sức khỏe [64]
Theo mô hình của Pender, hành vi nâng cao sức khỏe bị ảnh hưởng bởinhững đặc điểm và kinh nghiệm cá nhân, nhận thức của người bệnh và cácyếu tố tác động đến hành vi
nâng cao sức khỏe
Nhận thức lợi ích của hành động
Nhận thức cản trở của hành động
Ảnh hưởng từ người khác
Cam kếtlập kếhoạch hànhđộng
Trang 31Đặc điểm và kinh nghiệm cá nhân: bao gồm đặc điểm cá nhân và hành
vi liên quan trước đó Đặc điểm cá nhân chính là những đặc điểm về sinh học,tâm lý và văn hóa xã hội như tuổi, giới tính, dân tộc, tình trạng kinh tế, độnglực…Hành vi có liên quan trước đó là tần suất những hành vi tương tự màngười bệnh từng thực hiện trong quá khứ Theo Pender, đây là những yếu tố
có thể tác động trực tiếp và gián tiếp đến khả năng thực hiện hành vi nâng caosức khỏe của người bệnh [52], [64]
Nhận thức về sự tự tin: sự tự phán đoán về khả năng của bản thân trongviệc tự điều chỉnh để tổ chức và thực hiện hành vi nâng cao sức khỏe cụ thểcũng như niềm tin vào việc thực hiện thành công những hành vi đó Sự tự tincao sẽ làm giảm nhận thức về những cản trở và tác động tích cực đến hành visức khỏe [52], [64]
Ảnh hưởng liên quan đến hoạt động: được mô tả là trạng thái cảm xúctích cực hoặc tiêu cực của cá nhân xảy ra trước, trong và sau một hành hành
vi do sự tác động của hành vi đó mang lại Những cảm xúc này ảnh hưởngđến sự tự tin của người bệnh, nghĩa là nếu người bệnh có những cảm xúc tíchcực liên quan đến hành vi nào đó thì người bệnh có xu hướng cả thấy tự tinnhiều hơn về hành vi đó Đồng thời, sự tự tin được tăng cường lại càng tạo ranhiều cảm xúc tích cực của người bệnh đối với hành vi đó [52], [64]
Ảnh hưởng từ người khác: là nhận thức liên quan đến niềm tin, thái độ,hành vi của những người xung quanh đối với việc tham gia của người bệnh
Trang 32vào một hành vi sức khỏe nào đó Những ảnh hưởng từ người khác bao gồmnhững tiêu chuẩn (sự mong đợi từ những người quan trọng), sự hỗ trợ xã hội(hỗ trợ về vật chất và động viên tinh thần) và học hỏi từ người khác (thôngqua quan sát người khác thực hiện hành vi tương tự) Gia đình, bạn bè vànhân viên y tế y tế là những người có ảnh hưởng đến người bệnh, có thể làmtăng cường hoặc giảm đi việc thực hiện hành vi của người bệnh [52], [64].Ảnh hưởng của hoàn cảnh: hoàn cảnh hoặc môi trường sống trong việctạo điều kiện hoặc cản trở việc thực hiện hành vi sức khỏe [52], [64].
Cam kết lập kế hoạch hành động: ý định thực hiện một hành vi sức khỏe
cụ thể bao gồm việc xác định kế hoạch cụ thể để thực hiện thành công Nếu
sự cam kết thực hiện càng chắc chắn thì khả năng thực hiện và duy trì hành vicàng cao [52], [64]
Sở thích và yêu cầu tức thời: những hành vi sức khỏe khó có thể xảy ratheo mong đợi trước những yêu cầu và những sở thích thú vị hơn xảy ra ngaytrước thực hiện những hành vi sức khỏe theo dự định [52], [64]
Kết quả của hành vi - Hành vi nâng cao sức khỏe: là kết quả mong
đợi của việc thực hiện hành vi nâng cao sức khỏe, giúp cải thiện sức khoẻ,nâng cao chức năng và chất lượng cuộc sống [52], [64]
1.6.2 Ứng dụng học thuyết vào nghiên cứu
HĐTL mang lại nhiều lợi ích và góp phần nâng cao chất lượng cuộcsống cho người bệnh ĐTĐ Việc HĐTL phù hợp với người bệnh ĐTĐ đượcxem là hành vi nâng cao sức khỏe Chính vì thế, nghiên cứu của chúng tôi cómối liên hệ với mô hình nâng cao sức khỏe của Pender Mô hình xác định sựnhận thức là yếu tố chính quyết định hành vi, trong đó có nhận thức về sự tựtin của người bệnh Sự tự tin là sự tự điều chỉnh khả năng bản thân để tổ chức
và HĐTL Nhận thức về mức độ tự tin ảnh hưởng đến nhận thức về những ràocản Mô hình chỉ ra rằng nếu một cá nhân tự tin để thực hiện hành vi thì có
Trang 33thể giúp họ vượt qua những yếu tố gây cản trở và ngược lại Bên cạnh đó,những tác động từ cá nhân khác cũng đóng vai trò quan trọng đối với HĐTL.Khái niệm này bao gồm hành vi, nhận thức và thái độ của những người khác.
Mô hình cũng xác định rằng sự hỗ trợ từ những người khác ảnh hưởng lớnđến hành vi nâng cao sức khỏe, trong đó có sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè.Những yếu tố trên có thể làm tăng hoặc giảm việc cam kết thực hiệnhành vi và do đó ảnh hưởng đến việc HĐTL ở người bệnh Nếu người bệnh
có mức độ tự tin cao và nhiều hỗ trợ từ gia đình, bạn bè thì sẽ tăng cường hoạtđộng thể lực và nhờ đó sẽ kiểm soát đường máu tốt hơn
Như vậy, mô hình Nâng cao sức khỏe phù hợp để lý giải mối liên hệgiữa các yếu tố ảnh hưởng đến việc HĐTL ở người bệnh ĐTĐ típ 2 và do đóphù hợp cho nghiên cứu của chúng tôi [64]
Sơ đồ 1.2 Ứng dụng mô hình Nâng cao sức khỏe vào nghiên cứu
Nhận thức về sự tự tin Đặc điểm cá nhân:
- Sự hỗ trợ từ gia đình
- Sự hỗ trợ từ bạn bè
Hoạt động thể lực thường xuyên
Trang 341.7 Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ được thành lập theo Quyếtđịnh số 270/QĐ-BYT ngày 26/01/2011 với nhiệm vụ là phục vụ và chăm sócsức khỏe cho nhân dân, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Bệnhviện tọa lạc tại số 179 đường Nguyễn Văn Cừ, phường An Khánh, quận NinhKiều, thành phố Cần Thơ với 11 khoa lâm sàng, 08 khoa cận lâm sàng, 04phòng chức năng và 04 trung tâm Bệnh viện có nhiều dịch vụ như điều trịbệnh nội trú, ngoại trú cho người Việt Nam và người nước ngoài, khám chữabệnh Bảo hiểm y tế, dịch vụ khám sức khỏe định kỳ và tư vấn bệnh nghềnghiệp Tính đến năm 2016, số lượt điều trị nội trú và ngoại trú liên tục tănglên theo từng năm kể cả đối tượng dịch vụ và bảo hiểm y tế Tổng số lượtngười bệnh điều trị nội trú trong 5 năm đạt hơn 48.000 lượt và tỷ lệ tăng hàngnăm từ 15 - 20% Đặc biệt là đối tượng khám chữa bệnh ngoại trú Trong 5năm qua, tổng số lượt điều trị ngoại trú đạt 850.000 lượt, tăng lên 3 lần so vớinăm 2012 Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ đã và đang tiếp tục hợp tácvới các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa trong điều trị, chuyển giao công nghệkhoa học kỹ thuật, xúc tiến hợp tác với các bệnh viện, chuyên gia nước ngoài
để nâng cao chất lượng khám, điều trị cho người dân [1]
Trang 35Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.2.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ típ 2 theo tiêu chí chẩn đoán ĐTĐ củaADA năm 2016
Khám và điều trị tại phòng khám Nội - Bệnh viện Trường Đại học YDược Cần Thơ
Thời gian mắc bệnh ít nhất 6 tháng
Người bệnh có khả năng tham gia phỏng vấn
2.2.4 Tiêu chuẩn loại trừ
Người bệnh bị giới hạn vận động
Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ: n = Z2
1-α/2 2
) 1 (
Trang 36n: là cỡ mẫu nghiên cứu cần có.
p: là tỷ lệ ước đoán Theo kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Kim Thu, tỷ lệngười bệnh ĐTĐ típ 2 HĐTL đủ theo khuyến cáo là 88,6%, do đó, lấy p =0,886 [35]
d: là mức chính xác của nghiên cứu, là sự khác biệt giữa tỷ lệ p thu đượctrên mẫu và tỷ lệ thật trong quần thể Chọn d = 0,05
Z: là độ tin cậy lấy ở ngưỡng sác xuất = 0,05 Z 1-α/2 = 1,96
Như vậy, n = 155
2.3.2 Kỹ thuật chọn mẫu
Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện, chọn đối tượng theo tiêu chuẩnchọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ trong thời gian từ tháng 12/2017 đến tháng3/2018
2.3.3 Định nghĩa và đánh giá biến số
2.3.3.1 Biến số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Tuổi: là thời gian người bệnh sống, đơn vị tính là năm và được tính bằng
công thức: 2017 - năm sinh, là biến định lượng với 3 giá trị:
Trang 37 Ly dị/ly thân
Trình độ học vấn: là mức giáo dục cao nhất mà người bệnh đã hoàn
thành, là biến thứ tự với các giá trị:
Tiểu học
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Trên trung học phổ thông
Nghề nghiệp: là những hoạt động được trả công và chiếm hầu hết thời
gian của một người, là biến nhị giá gồm 2 giá trị:
Có đi làm
Đã nghỉ hưu/không đi làm
Bệnh kèm theo: người bệnh có hay không có các bệnh lý kèm theo cùng
với bệnh ĐTĐ típ 2 như: viêm khớp, cao huyết áp, bệnh lý tim mạch khác,bệnh lý thận và bệnh khác Là biến nhị giá với 2 giá trị:
Có
Không
Thời gian mắc bệnh: là khoảng thời gian từ lúc người bệnh được chẩn
đoán ĐTĐ cho đến thời điểm tiến thu thập số liệu Thời gian mắc bệnh ĐTĐphải thỏa tiêu chí chọn vào ít nhất là 6 tháng và được tính bằng công thức
2017 - năm được chẩn đoán Là biến thứ tự với 3 giá trị:
≤5 năm
6 - 10 năm
>10 năm
Nhận sự tư vấn của nhân viên y tế: sự hướng dẫn của nhân viên y tế về
HĐTL Là biến nhị giá với 2 giá trị:
Có
Trang 38 Không
2.3.3.2 Biến số hoạt động thể lực
HĐTL được đánh giá bằng năng lượng chuyển hóa tương đương (MET).MET là tỷ lệ của HĐTL cụ thể, thể hiện tỷ lệ trao đổi chất khi nghỉ ngơi Mộtđơn vị MET là chi phí năng lượng ngồi yên lặng (1 kcal/kg/giờ) Theo hướngdẫn của WHO, trong 1 tuần, kể cả các hoạt động cho công việc, đi lại và lúcrãnh rỗi thì một người trưởng thành nên đạt ít nhất 600 MET-phút [68]
Trong nghiên cứu này, các biến số về HĐTL được định nghĩa như sau:
Cường độ HĐTL: là biến thứ tự với 2 giá trị:
Cường độ vừa phải: là những hoạt động đòi hỏi gắng sức ở mức độvừa phải và làm tăng nhẹ nhịp tim và nhịp thở
Cường độ cao: là những hoạt động đòi hỏi gắng sức đưa đến tăngnhịp thở và nhịp tim
Thời gian HĐTL: là biến định lượng liên tục Ở mỗi hoạt động (làm
việc, đi lại, giải trí), sau khi tính ra tổng thời gian hoạt động theo đơn vịphút/tuần, kết quả được nhân thêm 4 METs (đối với hoạt động cường độ vừaphải) và 8 METs (đối với hoạt động cường độ cao) để tính ra tổng thời gianHĐTL ở đơn vị MET - phút/tuần
HĐTL theo khuyến cáo: là biến nhị giá, gồm 2 giá trị sau:
HĐTL đủ: khi toàn bộ thời gian hoạt động ≥ 600 MET-phút/tuần
HĐTL chưa đủ: khi toàn bộ thời gian hoạt động <600 phút/tuần
METs-Mức độ HĐTL: là biến thứ tự với 3 giá trị như sau:
Tích cực: khi tổng thời gian HĐTL từ 3.000 MET-phút/tuần trở lên
Trung bình: tổng thời gian HĐTL từ 600 - 3000 MET-phút/tuần
Thấp: tổng thời gian HĐTL <600 MET-phút/tuần [68]
Trang 392.3.3.3 Biến số mức độ tự tin về luyện tập thể dục
Là biến định lượng, người bệnh tự ước lượng mức độ tự tin và cho điểm
từ 0 đến 100 Điểm càng cao tương ứng với mức độ tự tin trong việc tập thểdục càng cao
Bên cạnh đó, khi tiến hành xét mối liên quan với mức độ HĐTL củangười bệnh, chúng tôi tiến hành phân nhóm và xem như biến nhị giá với 2 giátrị:
Thấp: <50% tổng số điểm
Cao: >=50% tổng số điểm [20]
2.3.3.4 Biến số sự hỗ trợ của xã hội cho luyện tập thể dục
Là những hỗ trợ về vật chất/tinh thần liên quan đến việc HĐTL thườngxuyên Đây là biến định lượng với tổng điểm có thể đạt từ 10 đến 50 điểm chomỗi phần (gia đình và bạn bè) Điểm càng cao tương ứng với việc người bệnhnhận được sự hỗ trợ xã hội càng nhiều
Bên cạnh đó, để xét mối liên quan với mức độ HĐTL của người bệnh,chúng tôi tiến hành phân nhóm và xem như biến nhị giá với 2 giá trị:
Thấp: <50% tổng số điểm
Cao: >=50% tổng số điểm [20]
2.3.4 Thu thập số liệu
2.3.4.1 Kỹ thuật thu thập số liệu
Sử dụng thông tin sẵn có: tham khảo thông tin người bệnh trên phầnmềm quản lý người bệnh/giấy hẹn tái khám/sổ khám bệnh: tuổi, mã số vàoviện, chẩn đoán, bệnh lý kèm theo
Phỏng vấn dựa trên bộ câu hỏi soạn sẵn: do người bệnh chủ yếu là ngườilớn tuổi có thể ảnh hưởng đến khả năng đọc hiểu và do bộ câu hỏi tương đốidài nên việc phỏng vấn là kỹ thuật phù hợp, giúp người bệnh hiểu rõ câu hỏi
và tăng tỷ lệ đáp ứng
Trang 402.3.4.2 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi (Phụ lục 1) dùng để thu thập số liệu gồm 4 phần:
Phần 1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: bao gồm đặc
điểm về nhân khẩu học (tuổi, giới, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghềnghiệp) và một số đặc điểm liên quan đến bệnh (bệnh lý kèm theo, thời gianmắc bệnh, nhận sự tư vấn của nhân viên y tế)
Phần 2: Bộ câu hỏi toàn cầu về HĐTL (Global Physical Activity Questionnaire - GPAQ): do các chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới xây
dựng Bộ câu hỏi gồm có 16 câu, được chia thành 4 phần:
Tại nơi làm việc: gồm 6 câu hỏi (câu 1 - 6) về thời gian dành cho các
hoạt động khác nhau trong một tuần làm việc điển hình Những công việc này
có thể được trả lương hoặc không như học tập, làm việc nhà, thu hoạch mùamàng, câu cá, săn bắt, tìm việc…
Đi lại: gồm 3 câu hỏi (câu 7 - 9) về tuyến đường mà người bệnh đi và
về, ví dụ: đi làm việc, đi mua sắm
Hoạt động giải trí: gồm 6 câu hỏi (câu 10 - 15) về các hoạt động giải trí,
thể thao như chạy bộ, chạy xe đạp
Hoạt động tĩnh tại: có 1 câu hỏi (câu 16) về thời gian ngồi nghỉ tại nơi
làm việc, ở nhà không bao gồm thời gian ngủ
GPAQ là bộ công cụ đáng tin cậy và phù hợp để đánh giá, so sánhHĐTL giữa các quốc gia, đặc biệt ở các nước đang phát triển và có khoảng 50nước đang phát triển đã và đang sử dụng để đánh giá HĐTL Độ tin cậy kiểmtra lại trong ba tháng là r = 0,53 đến 0,83, độ tin cậy trong 10 ngày là r = 0,83đến 0,96 (Herrman, Heumann, Der Ananian, & Ainsworth, 2013) Bộ câu hỏi
đã được dịch sang tiếng Việt và sử dụng từ nghiên cứu trước [65], [68]
Phần 3: Thang đo sự tự tin trong luyện tập thể dục (Exercise
Self-Efficacy Scale - ESES): Thang đo dành để đánh giá sự tự tin của người bệnh