ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang.
Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân viêm mũi xoang trước mạn tính có chỉ định phẫu thuật.
Bài viết này tập trung vào đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân mắc viêm mũi xoang trước mạn tính, những người đã được chỉ định phẫu thuật nội soi mũi xoang chức năng tại khoa Tai mũi họng của Bệnh viện Đại học Y Dược Cơ sở 1.
Kỹ thuật chọn mẫu
- Được chẩn đoán viêm xoang trước mạn tính và có chỉ định phẫu thuật nội soi mũi xoang.
- Đã được chụp CT scan mũi xoang trước phẫu thuật.
Bệnh nhân bị dị dạng vùng đầu mặt và thiểu năng xoang trán hai bên, thể hiện qua tình trạng không khí hóa phần xương trán trên đường tiếp tuyến với bờ trên ổ mắt, được ghi nhận qua CT scan mũi xoang.
- Có tiền sử chấn thương mặt hoặc đang chấn thương mũi xoang.
- Bệnh lý u vùng mũi xoang làm phá hủy xương.
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Chọn mẫu ngẫu nhiên toàn bộ trong thời gian nghiên cứu thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu.
Cỡ mẫu
Công thức tính cỡ mẫu
- α : xác suất sai lầm loại I, chọn α = 0.05
- d : mức độ sai số cho phép, chọn d = 0,1
Theo nghiên cứu của Suat Turgut và cộng sự (2005), tỉ lệ vị trí chân bám phần trên mỏm móc trên CT Scan ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính đạt 74% Do đó, chúng tôi lựa chọn p = 0,74 và 1 - p = 0,26.
Cỡ mẫu tối thiểu trong nghiên cứu của chúng tôi là 37 trường hợp (37 phim với
Qua thời gian nghiên cứu, chúng tôi thu thập được 48 trường hợp (48 phim với
96 mỏm móc thỏa được tiêu chuẩn chọn mẫu).
Phương pháp thu thập số liệu
- Máy chụp CT Scan xoắn ốc đa lát cắt.
- Phần mềm Picture Archive and Communication System (PACS) để xử lý hình ảnh phim, lưu trữ.
- Thiết bị lưu trữ: lưu các file ảnh JPEG.
Hình 2.1 Máy chụp CT Scan Siemens 128 lát cắt tại Bệnh viện Đại Học Y Dược
TP.HCM (Nguồn: Bệnh viện Đại học Y Dược TP TP.HCM)
Phim CT Scan bao gồm ba mặt cắt: ngang, đứng ngang và đứng dọc Bệnh nhân sẽ được chụp hình trực tiếp ở mặt cắt ngang, sau đó các mặt cắt đứng ngang và đứng dọc sẽ được tái tạo từ dữ liệu này.
Bệnh nhân được đặt nằm ngửa, điều chỉnh hướng tia cắt song song với khẩu cái cứng Độ mở của ống chuẩn trực phải song song với sàn sọ, từ khóe mắt đến ống tai ngoài, thực hiện cắt liên tục và chồng lên nhau.
- Diện cắt theo mặt phẳng trục đi từ mào huyệt răng, đáy xoang hàm đến trần xoang trán.
- Mặt phẳng trán tái tạo đi từ bờ trước xoang trán ra đến xương chẩm.
- Độ dày lát cắt: 0,6mm.
- Khoảng cách lát cắt: 0,8mm.
- Thông số kỹ thuật: 120 KV, 38 mAs
- Những thông số kỹ thuật được cài đặt trong máy MSCT 64 lát cắt phù hợp với chụp CT mũi xoang.
Hình 2.2 Phần mềm PACS tái tạo 3 mặt phẳng ngang, đứng ngang và đứng dọc 2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu
Một bác sĩ thu thập thông tin qua các dữ liệu lưu trữ trong hệ thống máy tính và điền vào bảng số liệu.
Các bước tiến hành nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân viêm xoang trước mạn tính có chỉ định phẫu thuật và đã được chụp CT scan mũi xoang, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu mà không vi phạm tiêu chuẩn loại trừ, sẽ được đưa vào danh sách nghiên cứu.
Biểu đồ 2.1 Các bước tiến hành thu thập số liệu
Bệnh nhân nhập viện với chẩn đoán viêm xoang mạn tính có chỉ định phẫu thuật trên 18 tuổi và không có tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân được chụp CT Scan mũi xoang trước phẫu thuật
Xem xét các dữ liệu thu thập được trong phẫu thuật tại phòng mổ
Tiến hành thu thập số liệu
Kết quả CT Scan mũi xoang xác định tình trạng viêm nhóm xoang trước
Dữ liệu hình ảnh CT Scan được lưu trữ trên thiết bị và máy tính, sau đó được phân tích thông qua trình duyệt PACS từ hệ thống lưu trữ dữ liệu của bệnh viện.
Dùng trình duyệt PACS để xem xét dữ liệu hình ảnh từng bệnh nhân ở cả 3 mặt cắt cắt đứng dọc, đứng ngang và ngang.
Để xác định các kiểu mỏm móc, cần điều chỉnh thước bên lên xuống trên mặt phẳng ngang, sao cho có thể quan sát toàn bộ đường đi của mỏm móc trên mặt phẳng đứng ngang Sau khi xác định được vị trí chân bám phần trên của mỏm móc, hãy chụp hình và lưu trữ vào thư mục.
Để xác định kiểu đường dẫn lưu xoang trán, cần điều chỉnh thước bên lên xuống trên mặt phẳng đứng ngang và đứng dọc nhằm quan sát đường dẫn lưu xoang trán và đánh giá trên cả hai mặt cắt Sau khi hoàn tất, chụp ảnh và lưu trữ vào thiết bị lưu trữ.
Tế bào Agger nasi là một cấu trúc khí hóa nằm ở vị trí quan trọng trong khoang mũi, cụ thể là phía dưới ngoài xoang trán và phía trước cuốn mũi giữa Trên mặt phẳng đứng dọc, tế bào này được xem là tế bào sàng nằm ở vị trí trước nhất, có mối liên hệ với ổ mắt, xương lệ và ống lệ mũi.
Các thông tin hành chánh, các thông số trên CT Scan được ghi nhận vào bảng thu thập số liệu.
Đánh giá kiểu chân bám phần trên mỏm móc trong phẫu thuật nội soi mũi xoang tại phòng mổ nhằm xác nhận tính chính xác của kiểu chân bám đã được phân tích trước đó qua hình ảnh CT Scan.
Hình 2.3 Hình ảnh CT scan mũi xoang của bệnh nhân Lê Công D (mã số hồ sơ
N19-0037963 cho thấy hình ảnh tế bào Agger nasi ở mặt phẳng đứng dọc và ngang với cửa sổ xương, hiện diện cả hai bên Ngoài ra, mặt phẳng ngang với cửa sổ mô mềm cho thấy niêm mạc xoang hàm trái dày và niêm mạc xoang sàng trước dày ở cả hai bên.
Hình 2.3 minh họa quá trình đánh giá chân bám của mỏm móc trong phẫu thuật nội soi mũi xoang Sau khi loại bỏ hoàn toàn phần mỏm móc, trường hợp này cho thấy mỏm móc bám theo kiểu 2 vào thành sau trong của tế bào Agger nasi, với các mốc giải phẫu được quan sát và đánh dấu rõ ràng.
Định nghĩa các biến số
2.7.1 Biến số về mặt hành chánh
- Giới: gồm 2 giá trị nam (mã hóa “1”) hoặc nữ (mã hóa “0”).
- Tuổi = thời điểm được chụp CT - năm sinh (tính tròn năm).
2.7.2 Biến số về đặc điểm lâm sàng
Nhóm xoang trước bao gồm xoang hàm, xoang sàng trước và xoang trán, tất cả đều dẫn lưu vào khe mũi giữa thông qua phức hợp lỗ thông xoang trước.
- Viêm nhóm xoang trước mạn tính có chỉ định phẫu thuật khi có các tiêu chuẩn sau [27]:
Viêm xoang mạn tính kéo dài hơn 12 tuần không đáp ứng với điều trị nội khoa tiêu chuẩn, với các triệu chứng như nhức đầu, nhức trán, nhức mặt, nghẹt mũi, chảy mũi đục và chảy mũi sau Điều trị nội khoa tiêu chuẩn có thể bao gồm rửa mũi xoang bằng nước muối sinh lý, sử dụng kháng viêm steroid tại chỗ, kháng viêm steroid đường toàn thân và kháng sinh đường uống, có thể được chỉ định đơn độc hoặc phối hợp với nhau.
Nội soi mũi xoang: hình ảnh nhầy đục, thoái hóa niêm mạc hay polyp khe giữa.
Hình 2.4 Hình ảnh nội soi viêm mũi xoang mạn tính: Hình ảnh nhầy đục khe mũi giữa trái
Hình 2.5 Hình ảnh nội soi viêm mũi xoang mạn tính: Hình ảnh polyp khe mũi giữa
Hình ảnh CT Scan mũi xoang: hình ảnh viêm của nhóm xoang trước. (Hình 2.7)
- Giảm/mất khứu: được định nghĩa là tình trạng suy giảm chức năng ngửi mùi một phần hoặc hoàn toàn.
Hình ảnh CT scan mũi xoang của bệnh nhân Nguyễn Thị Thúy A (mã số hồ sơ N17-0065597) cho thấy niêm mạc xoang sàng trước và xoang trán dày ở mặt phẳng đứng dọc (hình A), trong khi niêm mạc xoang hàm trái dày ở mặt phẳng đứng ngang (hình B).
2.7.3 Biến số về CT scan
Viêm xoang trên CT thường được nhận diện qua sự thay đổi niêm mạc ở khu vực lỗ thông xoang và các xoang cạnh mũi, với các dấu hiệu như dày niêm mạc hoặc mờ các xoang trước.
Hình 2.7 minh họa kiểu đường dẫn lưu xoang trán và các cấu trúc liên quan trên CT Scan, trong đó hình A thể hiện kiểu dẫn lưu số 2, dẫn lưu gián tiếp vào khe giữa thông qua.
A B phễu sàng), hình B: kiểu dẫn lưu số 1 (dẫn lưu trực tiếp vào khe giữa) (Nguồn:
Vị trí chân bám phần trên mỏm móc được phân loại thành 6 nhóm theo Landsberg và Friedman (2001): kiểu 1 bám vào xương giấy, kiểu 2 bám vào thành sau trong tế bào Agger nasi, kiểu 3 bám vào xương giấy và chỗ nối cuốn giữa – mảnh sàng, kiểu 4 bám vào chỗ nối cuốn giữa – mảnh sàng, kiểu 5 bám vào trần sàng, và kiểu 6 bám vào cuốn giữa.
Đường dẫn lưu xoang trán được phân thành hai loại dựa trên vị trí chân bám của phần trên mỏm móc: loại thứ nhất là dẫn lưu trực tiếp vào khe giữa, trong khi loại thứ hai là dẫn lưu gián tiếp vào khe giữa thông qua phễu sàng.
Hình 2.8 Hình minh họa kiểu chân bám phần trên mỏm móc (theo phân loại của
Landsberg và Friedman) trên CT Scan (Nguồn: Mahmutoglu A S., 2015 [43])
Bảng 2.1 Định nghĩa các biến số
Tên biến số Giá trị Loại biến
Giới Nam/Nữ Định tính
Số nhập viện Định tính
Tình trạng viêm nhóm xoang trước Có/ Không Định tính
Vị trí chân bám phần trên mỏm móc: Định tính có 6 dạng
Tế bào Agger Nasi Có/ Không Định tính Đường dẫn lưu xoang trán: có 2 kiểu Định tính
Xử lý và phân tích số liệu
Dữ liệu được thống kê và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 trên hệ điều hành Windows Kết quả được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ thông qua các phần mềm Microsoft Excel 2013, Microsoft Word 2013 và Microsoft Publisher 2013.
Các biến số định tính được phân tích thông qua tần số và tỉ lệ, đồng thời so sánh bằng phương pháp kiểm định Chi bình phương (Chi-square test) hoặc kiểm định Fisher chính xác (Fisher’s exact test) khi tần số mong đợi trong bảng nhỏ hơn 5.
Các biến số định lượng được trình bày với trị số đo đạc và đơn vị tương ứng Kết quả được thể hiện dưới dạng số trung bình và độ lệch chuẩn cho các biến phân phối chuẩn, trong khi đó, trung vị và tứ phân vị 25%-75% được sử dụng cho các biến không theo phân phối chuẩn Để so sánh các trị số trung bình của biến định lượng phân phối chuẩn, sử dụng phép kiểm student (t-test) và ANOVA Đối với các biến có phân phối không chuẩn, phân tích được thực hiện bằng phép kiểm phi tham số (Wilcoxon test) Phép kiểm Shapiro - Wilk được áp dụng để xác định xem các biến định lượng có theo phân phối chuẩn hay không.
Hệ số tương quan Pearson được sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa các biến số có phân phối chuẩn, trong khi đó, hệ số tương quan hạng Spearman được áp dụng cho các biến không theo phân phối chuẩn.
Các kiểm định được xem là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 với độ tin cậy 95%.
Vấn đề y đức
Nghiên cứu này không vi phạm y đức vì những lý do sau:
- Tất cả bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu đều dựa trên cơ sở tự nguyện, và đều được giải thích rõ ràng.
- Nghiên cứu này không gây bất kỳ một sư nguy hại nào cho đối tượng tham gia nghiên cứu.
- Trong thời gian nghiên cứu bệnh nhân không bị gián đoạn việc điều trị.
- Thông tin cá nhân của bệnh nhân được giữ bí mật và các đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu vào bất kỳ lúc nào.
- Nghiên cứu đã được xét duyệt thông qua bởi Hội đồng y đức Đại học Y
Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm dân số của mẫu nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố giới tính trong mẫu nghiên cứu
Tỉ lệ bệnh nhân nam trong mẫu nghiên cứu là 58,3%, tỉ lệ bệnh nhân nữ là 41,7% với tỉ lệ nam : nữ là 1.4 : 1.
Tuy nhiên không có sự khác biệt giữa tỉ lệ nam giới và nữ giới trong nghiên cứu(p = 0,1057) (kiểm định Chi bình phương).
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm giới tính mẫu nghiên cứu 3.1.2 Tuổi
Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 39,83 ± 13,28 tuổi, với bệnh nhân trẻ nhất là 18 tuổi và lớn nhất là 69 tuổi Phần lớn bệnh nhân thuộc nhóm tuổi từ 30 đến 50.
Đặc điểm chung tình trạng viêm mạn tính của nhóm xoang trước
Bảng 3.2 Tình trạng viêm các xoang trước
Tình trạng viêm mạn tính các xoang Có Không
Trong nghiên cứu của chúng tôi về hình ảnh CT Scan mũi xoang, xoang hàm được ghi nhận là xoang trước có tỷ lệ viêm cao nhất với 82,30%, tương ứng với 79 xoang hàm viêm mạn tính Tiếp theo, xoang sàng trước có tỷ lệ viêm là 61,46%, với 59 xoang sàng trước được phát hiện Trong khi đó, xoang trán là xoang ít bị viêm nhất trong nhóm xoang trước, chỉ với tỷ lệ 45,80%, ghi nhận 44 xoang trán.
Biểu đồ 3.3 Đặc điểm viêm nhóm xoang trước
Hình ảnh CT scan mũi xoang của bệnh nhân Trần Anh Thúy V (mã số hồ sơ N13-0066483) cho thấy dày niêm mạc xoang hàm trái ở mặt phẳng đứng ngang (hình A) và dày niêm mạc xoang trán cùng xoang sàng trước ở mặt phẳng đứng dọc (hình B).
Hình ảnh CT scan mũi xoang của bệnh nhân Nguyễn Thị Thu D (mã số hồ sơ N19-0046568) cho thấy có sự dày niêm mạc ở xoang hàm hai bên, xoang sàng trước trái và xoang trán trái Ngoài ra, hình ảnh cũng ghi nhận đường dẫn lưu xoang trán kiểu 2, trong đó đường dẫn lưu này đổ vào phễu sàng trước trước khi chảy vào khe mũi giữa.
Hình 3.3 Hỉnh ảnh CT scan mũi xoang của bệnh nhân Lê Công D (mã số hồ sơ
N19-0037963 cho thấy rằng mặt phẳng ngang với cửa sổ mô mềm có dày niêm mạc xoang hàm trái và dày niêm mạc xoang sàng trước 2 bên Mặt phẳng đứng dọc với cửa sổ mô mềm thể hiện hình ảnh đường dẫn lưu xoang trán kiểu 1, trong đó đường dẫn lưu xoang trán đổ trực tiếp vào khe mũi giữa mà không qua phễu sàng.
Đặc điểm của vị trí chân bám phần trên mỏm móc
Bảng 3.3 Tỉ lệ các kiểu chân bám phần trên mỏm móc trong mẫu nghiên cứu
Kiểu chân bám phần trên mỏm móc Tần số Tần suất (%)
Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ phân bố các kiểu chân bám phần trên mỏm móc
Theo phân loại của Landsberg và Friedman, có 6 kiểu bám khác nhau của chân bám phần trên mỏm móc Trong số 96 mỏm móc được khảo sát, kiểu bám phổ biến nhất là kiểu 1 (bám xương giấy) với 61 trường hợp, chiếm 63,50% Ngược lại, kiểu bám ít gặp nhất là kiểu 3 (bám vào xương giấy và chỗ nối cuốn giữa – mảnh sàng) với chỉ 3 trường hợp, chiếm 3,10%.
Kiểu bám số 1: mỏm móc bám tận vào xương giấy
Hình ảnh CT scan mũi xoang của bệnh nhân Phạm Thị Kim C (mã số hồ sơ N19-0073995) cho thấy niêm mạc xoang hàm trái dày ở mặt phẳng ngang với cửa sổ mô mềm (hình A), niêm mạc xoang sàng trước phải dày (hình B), và niêm mạc xoang trán phải dày (hình C) Ngoài ra, mặt phẳng đứng ngang với cửa sổ xương cho thấy chân bám phần trên mỏm móc kiểu 1 (hình D).
Kiểu bám số 2: mỏm móc bám tận vào thành sau trong tế bào Agger nasi
Hình 3.5 Hình ảnh CT scan mũi xoang của bệnh nhân Lê Công D (mã số hồ sơ
Hình ảnh từ nghiên cứu N19-0037963 cho thấy có sự dày niêm mạc ở xoang hàm trái và xoang sàng trước hai bên Cụ thể, mặt phẳng ngang với cửa sổ mô mềm ghi nhận sự dày niêm mạc xoang hàm trái (hình A) và dày niêm mạc xoang sàng trước hai bên (hình B) Đồng thời, mặt phẳng đứng ngang với cửa sổ xương cho thấy hình ảnh chân bám phần trên mỏm móc kiểu 2 (hình C).
Kiểu bám số 3: Mỏm móm bám vào xương giấy-vị trí nối cuốn giữa-mảnh sàng
Hình 3.6 Hình ảnh CT scan của bệnh nhân Nguyễn Thanh L (mã số hồ sơ N17-
Mặt phẳng ngang với cửa sổ mô mềm cho thấy niêm mạc xoang hàm dày ở cả hai bên, trong khi mặt phẳng đứng ngang với cửa sổ xương hiển thị chân bám phần trên mỏm móc kiểu 3.
(hình C) Kiểu bám số 4: Mỏm móc bám vào vị trí nối cuốn giữa – mảnh sàng
Hình ảnh CT scan mũi xoang của bệnh nhân Nguyễn Xuân P (mã số hồ sơ N19-0044329) cho thấy sự dày niêm mạc ở xoang hàm trái và xoang sàng trước hai bên, điều này có thể chỉ ra tình trạng viêm hoặc nhiễm trùng trong các xoang mũi.
D niêm mạc xoang trán bên phải (hình C); mặt phẳng đứng ngang với cửa sổ xương có hình ảnh chân bám phần trên mỏm móc kiểu 4 (hình D).
Kiểu bám số 5: Mỏm móc bám vào sàn sọ
Hình 3.8 Hình CT scan mũi xoang của bệnh nhân Võ Minh C (mã số hồ sơ N14-
Hình ảnh từ nghiên cứu cho thấy niêm mạc xoang hàm phải dày hơn bình thường (hình A), niêm mạc xoang sàng trước hai bên cũng dày lên (hình B), và niêm mạc xoang trán bên phải có dấu hiệu dày (hình C) Ngoài ra, mặt phẳng đứng ngang với cửa sổ xương cho thấy chân bám phần trên mỏm móc kiểu 5 (hình D).
Kiểu bám số 6: Mỏm móc bám vào cuốn mũi giữa
Hình 3.9 Hình ảnh CT scan mũi xoang của bệnh nhân Nguyễn Văn T (mã số hồ sơ
Hình ảnh B13-0008132 cho thấy mặt phẳng ngang với cửa sổ mô mềm có dày niêm mạc xoang hàm phải và dày niêm mạc xoang sàng trước phải Đồng thời, mặt phẳng đứng ngang với cửa sổ xương hiển thị chân bám phần trên mỏm móc kiểu 6.
3.3.2 Mối liên quan giữa kiểu chân bám phần trên mỏm móc giữa 2 bên Bảng 3.4 Tỉ lệ kiểu chân bám giống/khác nhau của chân bám phần trên mỏm móc 2 bên
Chân bám giống nhau giữa 2 bên 38 79,20 Chân bám không giống nhau giữa 2 bên 10 20,80
Biểu đồ 3.5 cho thấy tỉ lệ kiểu chân bám giống và khác nhau ở phần trên mỏm móc giữa hai bên Trong số 48 bệnh nhân khảo sát, 38 bệnh nhân (chiếm khoảng 79,20%) có kiểu chân bám tương đồng ở hai bên trái và phải, trong khi 10 bệnh nhân (chiếm 20,80%) có kiểu chân bám khác nhau.
Hình 3.10 Hình ảnh CT scan mũi xoang của bệnh nhân Đặng Ngọc T (mã số hồ sơ
Hình ảnh từ N15-0240213 cho thấy sự dày niêm mạc ở các xoang hàm, xoang sàng trước và xoang trán hai bên, với mặt phẳng ngang tương ứng với cửa sổ mô mềm Đồng thời, mặt phẳng đứng ngang với cửa sổ xương cho thấy sự không tương đồng trong hình ảnh chân bám phần trên mỏm móc giữa hai bên, với kiểu bên phải được biểu diễn bằng đường màu xanh và kiểu bên trái bằng đường màu vàng.
Mối liên quan giữa kiểu dẫn lưu xoang trán và kiểu chân bám phần trên mỏm móc
3.4.1 Đặc điểm kiểu đường dẫn lưu xoang trán trên CT Scan
Bảng 3.5 Tỉ lệ các kiểu đường dẫn lưu xoang trán
Kiểu dẫn lưu 1 phổ biến hơn trong nghiên cứu của chúng tôi với tỉ lệ là 74% (71 trường hợp) so với kiểu dẫn lưu 2 gặp trong 26% (25 trường hợp).
Biểu đồ 3.6 Đặc điểm kiểu đường dẫn lưu xoang trán
3.4.2 Mối liên quan giữa đường dẫn lưu xoang trán với kiểu chân bám phần trên mỏm móc
Khảo sát cho thấy có mối liên quan thống kê rõ rệt giữa kiểu dẫn lưu xoang trán và vị trí chân bám phần trên mỏm móc với p < 0,0001 (theo kiểm định chính xác Fisher) Cụ thể, kiểu dẫn lưu 1 thường xuất hiện ở các kiểu bám 1, 2, 3, trong khi kiểu dẫn lưu 2 chủ yếu gặp ở các kiểu bám 4, 5, 6.
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa kiểu dẫn lưu xoang trán và kiểu chân bám phần trên mỏm móc
Kiểu chân bám phần trên mỏm móc
Kiểu dẫn lưu xoang trán
Biểu đồ 3.7 Liên quan giữa kiểu đường dẫn lưu xoang trán và kiểu chân bám phần trên mỏm móc
3.5 MỐI LIÊN QUAN GIỮA TẾ BÀO AGGER NASI VÀ KIỂU CHÂN BÁM PHẦN TRÊN MỎM MÓC
3.5.1 Tỉ lệ xuất hiện tế bào Agger nasi trên hình ảnh CT Scan mũi xoang
Trong mẫu khảo sát, tỉ lệ có sự tồn tại tế bào Agger nasi ghi nhận được trên phim
CT Scan là 87 trường hợp (chiếm khoảng 90,6%).
Hình 3.11 Hình ảnh CT scan mũi xoang của bệnh nhân Đặng Ngọc T (mã số hồ sơ
N15-0240213 cho thấy mặt phẳng ngang với cửa sổ mô mềm có niêm mạc xoang hàm dày ở cả hai bên, niêm mạc xoang sàng trước dày ở hai bên, và niêm mạc xoang trán dày ở cả hai bên Mặt phẳng đứng ngang với cửa sổ xương cho thấy hình ảnh tế bào Agger nasi chỉ quan sát được ở bên phải.
Trong đó tế bào Agger nasi xuất hiện cả 2 bên ở 41 bệnh nhân (chiếm 89,13%) và chỉ ở một bên trong 5 trường hợp bệnh nhân (chiếm 10,87%).
Phần lớn tế bào Agger nasi được phát hiện qua phim CT Scan mũi xoang, với cấu trúc này thường xuất hiện ở cả hai bên và chiếm ưu thế hơn.
3.5.2 Mối liên quan giữa sự xuất hiện tế bào Agger nasi với kiểu chân bám phần trên mỏm móc
Tế bào Agger nasi ghi nhận được nhiều nhất tương ứng với kiểu chân bám số 1 của mỏm móc với 56 trường hợp (chiếm 64,37%).
Không có mối liên quan thống kê đáng kể giữa kiểu chân bám phần trên mỏm móc và sự xuất hiện của tế bào Agger nasi, với giá trị p = 0,7027 theo kiểm định chính xác Fisher.
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa kiểu chân bám phần trên mỏm móc và sự xuất hiển tế bào Agger nasi
Kiểu chân bám phần trên mỏm móc
Biểu đồ 3.8 Tỉ lệ các kiểu chân bám phần trên mỏm móc và sự xuất hiển tế bào
Đặc điểm dịch tễ học của mẫu nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm phân bố giới tính trong mẫu nghiên cứu
Trong 48 bệnh nhân của mẫu nghiên cứu, tỉ lệ giới tính được phân bố cho 2 nhóm nam và nữ với tỉ lệ gần như bằng nhau (58,30% là nam giới so với 41,70% là nữ giới, tỉ lệ nam: nữ là 1,4 : 1) Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có sự khác biệt giữa nam và nữ trong mẫu nghiên cứu các bệnh nhân viêm nhóm xoang trước mạn tính có chỉ định phẫu thuật Tỉ lệ phân bố giới tính trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với tỉ lệ nam: nữ trong nghiên cứu của Ibrahim Ercan và cộng sự là 60,08% và 39,92% (tương ứng là 1,5: 1) [22] Tương tự, trong nghiên cứu của Arun
G và cộng sự thì tỉ lệ phân bố giới tính nam : nữ vào khoảng 61% : 39% ( hay 1,56:1) [25].
Tại các nước châu Á, tỉ lệ hút thuốc lá ở nam giới cao hơn nữ giới, điều này có thể lý giải cho tỉ lệ viêm mũi xoang mạn tính cũng cao hơn ở nam giới Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa hút thuốc lá và các bệnh lý nhiễm khuẩn đường hô hấp Tuy nhiên, tác động của khói thuốc lá đối với viêm mũi xoang mạn tính vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Một số nghiên cứu đã đánh giá mối liên quan giữa triệu chứng lâm sàng, tình trạng bệnh lý và thói quen hút thuốc ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính có chỉ định phẫu thuật nội soi mũi xoang chức năng, như nghiên cứu của JB Shi và cộng sự vào năm 2015.
Nghiên cứu chỉ ra rằng có sự liên hệ chặt chẽ giữa việc hút thuốc lá và nguy cơ mắc bệnh viêm mũi xoang mạn tính tại 7 thành phố ở Trung Quốc Hút thuốc lá nhiều và lâu dài có những ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt đến tình trạng của mũi xoang.
Nghiên cứu trước đây cho thấy tỉ lệ viêm mũi xoang mạn tính ở nam giới cao hơn nữ giới, với tỉ lệ lần lượt là 1,06% và 0,95%.
Nghiên cứu của Yoo Suk Kim và cộng sự vào năm 2011 cho thấy, trong dân số Hàn Quốc, tỷ lệ viêm mũi xoang ở nam giới cao hơn so với nữ giới, với tỷ lệ ghi nhận là 1,03:1.
Trong nghiên cứu về bệnh nhân viêm xoang mạn tính có chỉ định phẫu thuật, chúng tôi nhận thấy rằng tỷ lệ nam và nữ trong mẫu nghiên cứu không có sự khác biệt đáng kể.
4.1.2 Đặc điểm phân bố tuổi trong mẫu nghiên cứu
Độ tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi phân bố theo mô hình phân phối bình thường, với độ tuổi trung bình là 39,83 ± 13,28 Khoảng tuổi ghi nhận dao động từ 18 đến
Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 69 tuổi, tương đồng với các nghiên cứu quốc tế Cụ thể, nghiên cứu của Ibrahim Ercan ghi nhận độ tuổi trung bình là 35,2, với khoảng tuổi từ 20 đến 60 Nghiên cứu của Arun G cho thấy độ tuổi trung bình là 36,4, với khoảng tuổi từ 19 đến 65 Ngoài ra, nghiên cứu của Shrinath D ghi nhận độ tuổi trung bình là 34,5, với khoảng tuổi từ 15 đến 60.
Nghiên cứu của Shiu-Dong Chung và cộng sự cho thấy độ tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu về viêm mũi xoang mạn tính là 46,4 tuổi, với độ tuổi bệnh nhân thường gặp dao động từ 30 đến 60 tuổi Điều này được ghi nhận trong y văn và không có sự khác biệt đáng kể khi so sánh giữa các nhóm chủng tộc khác nhau.
Đặc điểm chung tình trạng viêm mạn tính của nhóm xoang trước
Nghiên cứu của chúng tôi về hình ảnh CT Scan của nhóm xoang trước cho thấy viêm mạn tính phổ biến nhất ở xoang hàm (82,30%), tiếp theo là xoang sàng trước (61,46%), trong khi xoang trán ít gặp hơn với tỷ lệ 45,80%.
Tỉ lệ ghi nhận trong nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Hites Bansal và cộng sự (2016), trong đó xoang hàm chiếm 78% tình trạng viêm mạn tính, tiếp theo là xoang sàng 56% và xoang trán 36%.
Nghiên cứu của Shivakumar Senniappan và các cộng sự tại Ấn Độ vào năm 2018 cho thấy tình trạng viêm mạn tính ở nhóm xoang trước phổ biến nhất ở xoang hàm với tỷ lệ 63%, tiếp theo là xoang sàng trước 55% và xoang trán với tỷ lệ thấp nhất khoảng 52,10%.
Xoang hàm là loại xoang thường xuyên bị viêm mạn tính, đặc biệt là trong nhóm xoang trước, do vị trí giải phẫu gần gũi với xoang trán, xoang sàng trước và chân các răng hàm trên Điều này khiến cho nhiễm khuẩn từ những khu vực này dễ dàng lan đến xoang hàm Hơn nữa, lỗ thông của xoang hàm nằm ở vùng trần, làm cho quá trình dẫn lưu không thuận lợi, từ đó tạo điều kiện cho nhiễm trùng phát triển dễ dàng hơn.
Đặc điểm của kiểu chân bám phần trên mỏm móc
Trong nghiên cứu của chúng tôi, kiểu chân bám phần trên mỏm móc phổ biến nhất là kiểu thứ 1, với 61 mỏm móc được khảo sát, chiếm 63,50% Tỉ lệ này tương đồng với các nghiên cứu trước đó, như nghiên cứu của Shrinath và cộng sự, trong đó kiểu bám thứ 1 cũng chiếm ưu thế với 34,50%.
Hình ảnh CT Scan mũi xoang đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá giải phẫu và bệnh lý, hỗ trợ định hướng phẫu thuật Ngoài việc chẩn đoán, CT Scan không cản quang còn hữu ích cho việc chuẩn bị trước phẫu thuật Mặt cắt đứng dọc giữa giúp đánh giá ngách trán và vị trí sàn sọ, trong khi mặt cắt đứng ngang khảo sát phức hợp lỗ thông xoang và mối liên quan giữa nhu mô não, ổ mắt và các xoang Độ dày lát cắt tối đa 5mm đảm bảo không bỏ sót chi tiết giải phẫu cần thiết cho định hướng phẫu thuật.
Bảng 4.1 Tỉ lệ phần trăm các kiểu chân bám phần trên mỏm móc và độ dày lát cắt trong các nghiên cứu
Tỉ lệ các kiểu chân bám phần trên mỏm móc (%) Độ dày lát cắt (mm)
Trong các nghiên cứu khảo sát kiểu chân bám phần trên của mỏm móc, các tác giả thường gộp kiểu bám 1 và kiểu bám 2 để giảm thời gian khảo sát bằng CT Scan, với độ dày lát cắt tối đa là 5mm Nghiên cứu của Fernando và cộng sự cho thấy kích thước tế bào Agger nasi tối đa là 6,56 mm theo chiều trước sau và 5,61 mm theo chiều ngang Do đó, có khả năng bỏ sót chi tiết khi mỏm móc bám vào tế bào Agger nasi ở một hoặc hai lát cắt Khi gộp kiểu bám 1 và kiểu bám 2, có thể hiểu rằng mỏm móc bám vào xương giấy một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua tế bào Agger nasi.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kiểu bám vào xương giấy chiếm ưu thế với tỉ lệ 72,90%, tương đồng với các nghiên cứu trước đó như của Ercan (62,60%), Turgut (63%) và Arun (67,50%) Mặc dù tỉ lệ này vẫn chiếm ưu thế, nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Mohit (57,80%) Nhìn chung, khi gộp hai kiểu bám của mỏm móc, kiểu bám vào xương giấy vẫn thể hiện ưu thế rõ rệt.
Trong nghiên cứu của Landsberg và Friedman, các tác giả đã sử dụng hình ảnh CT Scan với độ dày lát cắt 1mm để phân tích Từ những hình ảnh này, họ đã xác định 6 kiểu bám mỏm móc, và chúng tôi đã áp dụng bảng phân loại này trong nghiên cứu của mình.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, kiểu bám số 3 có tỉ lệ thấp nhất với 3 trường hợp mỏm móc được khảo sát, chiếm 3,10% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Ercan và cộng sự (3,10%), Turgut và cộng sự (3%), Kumar và cộng sự (5%) và Shrinath và cộng sự (0,50%).
Các kiểu bám còn lại thay đổi theo từng nghiên cứu và nhìn chung không có một kiểu quy luật đặc biệt nào.
Kiểu chân bám phần trên của mỏm móc đóng vai trò quan trọng trong việc xác định đường dẫn lưu của xoang trán Thay đổi vị trí của chân bám này có thể ảnh hưởng đến đường kính ngách trán và đặc tính dẫn lưu của xoang Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa mỏm móc và ngách trán, đồng thời kiểu chân bám này cũng giúp dự đoán chính xác hướng dẫn lưu vào khe mũi giữa.
Mỏm móc tạo thành thành bên của ngách trán, bám vào xương giấy hoặc thông qua thành sau của tế bào Agger nasi Điều này dẫn đến việc ngách trán dẫn lưu trực tiếp vào khe mũi giữa, trong khi phần phễu sàng bị bít lại, tạo thành ngách tận.
Mỏm móc đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc thành trong của ngách trán, bám chặt vào sàn sọ và cuốn mũi giữa Dịch dẫn lưu từ xoang trán chảy qua ngách trán và đổ trực tiếp vào phễu sàng trước trước khi tiếp tục dẫn lưu vào khe mũi giữa.
Mỏm móc phát triển lệch vào trong là nguyên nhân phổ biến gây tắc nghẽn ngách trán ở bệnh nhân chưa phẫu thuật Khi mỏm móc phát triển lệch, nó tạo ra tình trạng bệnh lý ở ngách tận và tiếp xúc với cuốn mũi giữa Thú vị là ngách trán ít tái hẹp khi mỏm móc không được lấy đi trong phẫu thuật nội soi Trong một số trường hợp, mỏm móc và cuốn mũi giữa có thể tiếp xúc với nhau.
4.3.2 Mối liên quan giữa kiểu chân bám phần trên mỏm móc giữa 2 bên
Bảng 4.2 Sự tương đồng trong kiểu chân bám phần trên mỏm móc qua các nghiên cứu
Giống nhau cả 2 bên Không giống nhau ở 2 bên
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ kiểu chân bám phần trên mỏm móc giống nhau ở cả hai bên đạt 79,20% với 38 bệnh nhân, tương ứng với 76 bên khảo sát Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Landsberg và cộng sự năm 2001, khi tỉ lệ này lên đến 93%.
2005, tỉ lệ này ghi nhận được là 65%, mặc dù có thấp hơn nhưng vẫn chiếm ưu thế.
(118 bệnh nhân, tương ứng 236 bên trong nghiên cứu) [33] Qua những kết quả nghiên cứu ghi nhận được, tỉ lệ kiểu chân bám phần trên mỏm móc giống nhau ở cả
2 bên chiếm ưu thế hơn.
Mối liên quan giữa kiểu dẫn lưu xoang trán và kiểu chân bám phần trên mỏm móc
Kiểu bám phần trên của mỏm móc có mối liên hệ với đường dẫn lưu xoang trán Nghiên cứu của chúng tôi áp dụng phân loại của Landsberg và Friedman, trong đó đường dẫn lưu của xoang trán được phân chia thành các kiểu khác nhau.
Có hai kiểu chính trong mối liên quan với kiểu chân bám phần trên mỏm móc: kiểu đổ phía trong và kiểu đổ phía ngoài Trong nghiên cứu của chúng tôi, kiểu đổ số 1 là kiểu đường dẫn lưu xoang trán phổ biến nhất, chiếm 74% với 71 đường dẫn lưu được khảo sát, trong khi kiểu đổ số 2 xuất hiện trên 25 đường dẫn lưu, chiếm 26%.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kiểu dẫn lưu xoang trán số 1 chiếm ưu thế với 70,80%, tương tự như kết quả của Abdullah Soydan Mahmutoglu và cộng sự Trong khi đó, nghiên cứu của Landsberg và Friedman ghi nhận kiểu đổ số 1 chiếm khoảng 88% Các nghiên cứu của Turgut và tác giả Kasper cũng cho thấy kiểu đổ số 1 chiếm ưu thế hơn Ngược lại, nghiên cứu của Gaafar và Lee lại cho thấy kiểu dẫn lưu số 2 chiếm ưu thế với tỉ lệ lần lượt là 63% và 61%, trong khi kiểu số 1 chỉ chiếm 23% và 29%.
Bảng 4.3 Kiểu dẫn lưu xoang trán qua các nghiên cứu
Kiểu dẫn lưu xoang trán
Nghiên cứu của Bruno Netto và cộng sự chỉ ra rằng kiểu đường dẫn lưu của xoang trán chủ yếu là kiểu đổ số 1, chiếm 89,90%, trong khi kiểu đổ số 2 chỉ chiếm 10,80% Tỉ lệ kiểu đổ số 1 trong nghiên cứu này cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, có thể do sự khác biệt trong tiêu chí chọn mẫu Trong nghiên cứu của Bruno Netto, mẫu được chọn chủ yếu là những người trên 18 tuổi có tiền căn phẫu thuật nội soi mũi xoang, trong khi nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào nhóm bệnh nhân 18 tuổi trở lên mà chưa có tiền căn phẫu thuật nội soi.
Chúng tôi đã xác định mối liên quan giữa kiểu bám của mỏm móc và kiểu đường dẫn lưu xoang trán với p < 0,0001 (kiểm định chính xác Fisher) Đối với kiểu chân bám 1, 2 và 3, đường dẫn lưu xoang trán chủ yếu là kiểu số 1, bao gồm đường dẫn lưu xoang trán đổ chủ yếu và khe mũi giữa Ngược lại, với kiểu chân bám 4, 5 và 6, đường dẫn lưu xoang trán chủ yếu là kiểu số 2, tức là đường dẫn lưu xoang trán đổ trực tiếp vào phễu sàng.
Nghiên cứu của chúng tôi xác nhận những ghi nhận trong y văn về đường dẫn lưu xoang trán, được chia thành hai phần: phần trên và phần dưới, kết nối trực tiếp với nhau Phần dưới là một đường dẫn hẹp, chịu ảnh hưởng bởi phễu sàng hoặc cuốn mũi giữa Thường thì phần trên chân bám của mỏm móc phát triển lên trên và bám vào sàn sọ hoặc cuốn mũi giữa, dẫn đến việc phần dưới đổ vào phễu sàng trước khi tiếp tục vào khe mũi giữa Nếu phần dưới mỏm móc bám vào xương giấy, thì phần dưới của đường dẫn lưu xoang trán sẽ là khe mũi giữa Sự đa dạng trong cấu tạo ngách trán khiến cho ghi nhận về dạng đường dẫn lưu của xoang trán còn khá sơ khai, chỉ đóng vai trò là nguyên lý cơ bản để hiểu cấu trúc vùng này.
Mối liên quan giữa tế bào Agger nasi và kiểu chân bám phần trên mỏm móc
4.5.1 Tỉ lệ xuất hiện tế bào Agger nasi trên hình ảnh CT Scan mũi xoang
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ phát hiện tế bào Agger qua CT Scan đạt 87 trường hợp, tương ứng với 90,60% trong tổng số mẫu khảo sát.
Tỉ lệ khảo sát tế bào Agger nasi trên CT Scan trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi đạt khoảng 89%, tương tự như nghiên cứu của tác giả Lien và cộng sự trên dân số Đài Loan Ngoài ra, các nghiên cứu khác ở châu Á cũng ghi nhận tỉ lệ cao, như nghiên cứu của Cho và cộng sự với 94% trên dân số Hàn Quốc, và nghiên cứu của Han và cộng sự cho thấy tỉ lệ 94,1% trong mẫu dân số Trung Quốc.
Tỉ lệ cao trong nghiên cứu của chúng tôi có thể liên quan đến phương pháp chọn mẫu khác biệt Trong khi nghiên cứu của Cho và cộng sự lấy mẫu từ những người tình nguyện, nghiên cứu của Han và cộng sự lại tập trung vào các trường hợp không mắc bệnh lý viêm xoang trán Ngược lại, nghiên cứu của chúng tôi đã chọn những trường hợp viêm nhóm xoang trước mạn và có chỉ định phẫu thuật để khảo sát.
Khả năng khảo sát của nhóm mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế do cỡ mẫu chưa đủ lớn Trong tương lai, nếu có điều kiện, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát trên cỡ mẫu lớn hơn để đạt được đánh giá khách quan hơn.
Có 2 cấu trúc quan trọng ảnh hưởng đến đường dẫn lưu của xoang trán là kiểu chân bám phần trên mỏm móc và tế bào Agger nasi Vị trí của tế bào Agger nasi và vị trí chân bám phần trên mỏm móc xác định đường dẫn lưu của ngách trán [60].
Bảng 4.4 Tỉ lệ xuất hiện tế bào Agger nasi qua các nghiên cứu
Tỉ lệ xuất hiện tế bào Agger nasi (%)
Tỉ lệ xuất hiện tế bào Agger nasi cả 2 bên (%)
Tế bào Agger nasi là một cấu trúc giải phẫu quan trọng, được quan sát qua soi mũi trước với hình dạng lồi nhẹ trên bề mặt vách mũi xoang Vị trí của tế bào này gần đầu bám của cuốn mũi giữa, tạo thành một chỗ gồ trên bề mặt Theo Wormald (2003), tế bào Agger nasi giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc của ngách trán, vì nó có thể được xác định nhanh chóng qua hình ảnh CT Scan và trong quá trình phẫu thuật.
Kiểu khí hóa của tế bào sàng trước trong giai đoạn phôi thai và sự phát triển của các tấm xương xung quanh ảnh hưởng đến kích thước và hướng dẫn lưu của đường dẫn lưu mũi trán ở người trưởng thành Trong quá trình khí hóa, tế bào Agger nasi di chuyển vào trong, gây khó khăn cho việc tiếp cận lỗ thông xoang trán qua nội soi Tế bào Agger nasi có thể phát triển ra ngoài và ra sau, làm hẹp ngách trán và ảnh hưởng đến đường dẫn lưu xoang trán Để đạt hiệu quả cao trong phẫu thuật nội soi vùng sàng trán, thường cần phải loại bỏ thành sau và thành trước của tế bào Agger nasi.
4.5.2 Mối liên quan giữa sự xuất hiện tế bào Agger nasi với kiểu chân bám phần trên mỏm móc
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tế bào Agger nasi chiếm tỷ lệ cao nhất với kiểu chân bám số 1 của mỏm móc, đạt khoảng 64,37% Tuy nhiên, không có mối liên quan thống kê có ý nghĩa giữa kiểu chân bám phần trên mỏm móc và sự xuất hiện của tế bào Agger nasi, với giá trị p = 0,7027 theo kiểm định chính xác Fisher.
Nghiên cứu của tác giả Shao Cheng Liu và cộng sự vào năm 2010 đã đánh giá mối liên quan giữa kiểu chân bám mỏm móc và tế bào Agger nasi trong dân số Đài Loan, và kết quả cho thấy không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu của tác giả Rahul Shivaraj và cộng sự năm 2014 đã đánh giá ảnh hưởng của kiểu chân bám mỏm móc và tỉ lệ xuất hiện tế bào Agger nasi, và không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê Kết quả này tương đồng với những phát hiện trong nghiên cứu của chúng tôi.
Nghiên cứu của Arun Yadav và cộng sự (2017) đã khảo sát mối liên quan giữa tế bào Agger nasi và kiểu chân bám phần trên mỏm móc trong hình ảnh học của dân số Ấn Độ Kết quả cho thấy không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ xuất hiện tế bào Agger nasi và kiểu chân bám phần trên mỏm móc.
Xét về phôi thai học, mỏm móc và tế bào Agger nasi đều có nguồn gốc từ cuốn sàng thứ nhất Trong quá trình phát triển, phần xuống của cuốn sàng hình thành mỏm móc, trong khi phần lên thoái hóa và tạo thành tế bào Agger nasi Wormald chỉ ra rằng khí hóa của tế bào Agger nasi có thể ảnh hưởng đến kiểu chân bám mỏm móc, nhưng nghiên cứu của Ercan và cộng sự lại cho thấy không có sự ảnh hưởng nào.