1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chất lượng cuộc sống người bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới

101 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ---NGUYỄN THỊ THANH THUẦN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI Ngành: ĐIỀU DƯỠNG M

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-NGUYỄN THỊ THANH THUẦN

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-NGUYỄN THỊ THANH THUẦN

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

Ngành: ĐIỀU DƯỠNG

Mã số: 8720301

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS.TS.BS NGUYỄN HOÀI NAM

2 GS.TS LORA CLAYWELL

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trongluận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nàokhác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Thuần

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới 4

1.1.1 Định nghĩa suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới 4

1.1.2 Gánh nặng kinh tế và quy mô bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới 4

1.1.3 Nguyên nhân và yếu tố liên quan 6

1.1.4 Triệu chứng suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới 8

1.1.5 Phân loại lâm sàng bệnh theo CEAP 9

1.1.6 Điều trị suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới 11

1.2 Chất lượng cuộc sống 14

1.2.1 Định nghĩa chất lượng cuộc sống 14

1.2.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống bằng bộ câu hỏi SF-36 15

1.2.3 Một số nghiên cứu liên quan đến chất lượng cuộc sống người bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới 19

1.3 Mô hình học thuyết 21

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu 26

Trang 5

2.3 Thu thập số liệu 27

2.4 Phương pháp kiểm soát sai lệch 35

2.5 Xử lý và phân tích số liệu 35

2.6 Y đức trong nghiên cứu 36

2.7 Khả năng ứng dụng của đề tài 36

Chương 3: KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm của nhóm nghiên cứu 38

3.2 Điểm số CLCS người bệnh theo thang đo SF-36 42

3.3 Mối liên quan giữa hai lĩnh vực SKTC, SKTT và CLCS với một số đặc điểm của nhóm nghiên cứu 45

Chương 4: BÀN LUẬN 4.1 Các đặc điểm của nhóm nghiên cứu 55

4.2 Điểm số CLCS người bệnh STMMTCD theo thang đo SF-36 62

4.3 Mối liên quan giữa CLCS (SKTC, SKTT) với một số đặc điểm ở người bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới 64

4.4 Điểm mạnh, điểm yếu nghiên cứu 68

KẾT LUẬN 69

KIẾN NGHỊ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1 MỘT SỐ HÌNH ẢNH NGƯỜI BỆNH TRONG NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC 2 BẢNG KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 3 GIẤY ĐỒNG THUẬN

PHỤ LỤC 4 DANH SÁCH NGƯỜI BỆNH

PHỤ LỤC 5 Y ĐỨC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CEAP Clinical-Etiology-Anatomy-PathophysiologyCLCS Chất lượng cuộc sống

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân loại CEAP nâng cao, tiêu chí Clinical (C): lâm sàng 10

Bảng 1.2 Cấu trúc bộ câu hỏi SF-36 16

Bảng 1.3 Điểm số cho từng câu hỏi 17

Bảng 1.4 Đánh giá CLCS 19

Bảng 2.1 Định nghĩa các biến số trong nghiên cứu 29

Bảng 3.1 Đặc điểm chung người bệnh nghiên cứu 38

Bảng 3.2 Đặc điểm lâm sàng người bệnh nghiên cứu 40

Bảng 3.3 Phân bố điểm trung bình SKTC, SKTT và CLCS với một số đặc điểm chung người bệnh nghiên cứu 45

Bảng 3.4 Phân bố điểm trung bình SKTC, SKTT và CLCS với một số đặc điểm lâm sàng người bệnh nghiên cứu 47

Bảng 3.5 Mô hình hồi quy tuyến tính đa phân tích yếu tố liên quan điểm SKTC 50

Bảng 3.6 Mô hình hồi quy tuyến tính đa phân tích yếu tố liên quan điểm SKTT 51

Bảng 3.7 Mô hình hồi quy tuyến tính đa phân tích yếu tố liên quan điểm CLCS 53

Bảng 4.1 So sánh điểm số tám thành phần sức khỏe thuộc CLCS với nghiên cứu Kaplan (SF-36) 63

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH

Hình 1.1 Đánh giá lâm sàng suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới theo CEAP 11

Sơ đồ 1.1 Mối tương quan giữa 2 lĩnh vực và 8 thành phần sức khỏe theo SF-36 17

Sơ đồ 1.2 Mô hình học thuyết bố sung dựa trên mô hình Wilson & Cleary 22

Sơ đồ 1.3 Mô hình ứng dụng vào nghiên cứu CLCS bệnh STMMTCD 23

Biểu đồ 3.1 Điểm trung bình SKTC, SKTT và CLCS 43

Biểu đồ 3.2 Điểm trung bình CLCS theo các mức độ 43

Biểu đồ 3.3 Điểm trung bình bốn thành phần sức khỏe thuộc SKTC 44

Biểu đồ 3.4 Điểm trung bình bốn thành phần sức khỏe thuộc SKTT 45

Hình 3.1 Người bệnh độ C2 (CEAP) 8

Hình 3.2 Người bệnh độ C2 (CEAP) 8

Hình 3.3 Người bệnh độ C3 (CEAP) 9

Hình 3.4 Người bệnh độ C3 (CEAP) 9

Hình 3.5 Người bệnh độ C4 (CEAP) 10

Hình 3.6 Người bệnh độ C4 (CEAP) 10

Hình 3.7 Người bệnh độ C6 (CEAP) 11

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới là một bệnh mạn tính, ảnh hưởng đến hệthống tĩnh mạch chi dưới với giãn tĩnh mạch, hở các van và tăng áp lực tĩnh mạch.Bệnh gây ra hàng loạt các triệu chứng khác nhau từ nặng, mỏi chân, chuột rút vềđêm, cảm giác dị cảm Nặng hơn gồm đau, sưng phù chân, loạn dưỡng da,… vàbiến chứng loét, thuyên tắc mạch Bệnh có khả năng gây tàn phế ở giai đoạn cuối,đặc biệt có thể gây tử vong do thuyên tắc động mạch phổi Vấn đề phức tạp hơn bởithực tế suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới là một bệnh tiến triển và tái diễn, đòi hỏiquá trình điều trị rất khó khăn, tốn kém và cần kiên trì của cả người bệnh và thầythuốc[2],[26]

Trên thế giới suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới đã và đang trở thành vấn đềtoàn cầu, nằm trong nhóm những bệnh phổ biến nhất với số lượng bệnh ngày cànggia tăng, đỉnh điểm lên tới 71%, đặc biệt ở các nước Phương Tây với nền kinh tếcông nghiệp hóa [19],[54] Bệnh gặp chủ yếu ở người trưởng thành, tỉ lệ mắc từ25% đến 40% ở nữ và 10% đến 20% ở nam, tuổi từ 30 đến 70 Theo một nghiêncứu của Framingham tỉ lệ mắc bệnh mới hằng năm là 2,6% ở nữ và 1,9% ởnam[21],[33] Ở Mỹ bệnh ảnh hưởng đến 40% dân số, ước tính khoảng 25 triệungười, trong đó 20% tiến triển thành loét và hơn 50% các vết loét có thời gian điềutrị trên một năm[56]

Tại Việt nam, suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới có xu hướng gia tăng cùngvới sự phát triển của nền kinh tế và thay đổi lối sống của người dân Năm 1998,theo nghiên cứu Cao Văn Thịnh và Văn Tần ở 473 người trên 50 tuổi tại Thành phố

Hồ Chí Minh tỉ lệ mắc suy tĩnh mạch mạn tính là 43,97%[10] Nghiên cứu củaPhạm Thắng và Nguyễn Xuân Mến ở 545 người trên 50 tuổi ở Hà Nội, Hải Dương

và Trung tâm dưỡng lão Hà Tây tìm thấy tỉ lệ mắc suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới

là 14,13% [9] Mặc dù suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới ảnh hưởng tới một phần badân số trên 40 tuổi thì ở nước ta lại được xem là một bệnh mới Theo thống kê đatrung tâm từ Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (1998) thì có tới 77,5%

Trang 10

người bệnh không hề biết về bệnh cho tới khi được chẩn đoán, trong đó 91,3%trường hợp không được điều trị, 8,7% được điều trị không đúng cách như dùngAspirin, thuốc lợi tiểu hoặc các thuốc Đông y Điều này cho thấy một thực trạng ởViệt Nam người dân thiếu hiểu biết và thầy thuốc quan tâm chưa đúng mức về bệnhsuy tĩnh mạch mạn tính chi dưới [8],[11].

Suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới tác động rất lớn lên cá nhân và xã hội do sốlượng lớn người mắc bệnh và những ảnh hưởng lên sức khỏe cả thể chất, tâm thần

và xã hội Người bệnh lo lắng về giảm thẩm mỹ, biến chứng Bệnh còn làm giảmkhả năng lao động, khả năng tham gia hoạt động xã hội, tăng số người nghỉ hưusớm, cần chi phí lớn cho chẩn đoán - điều trị Do đó bệnh làm giảm chất lượng cuộcsống và là gánh nặng tài chính cho quốc gia – xã hội[28],[67] Những nghiên cứu vềkhả năng hoạt động và chất lượng cuộc sống ở nhóm bệnh này vẫn còn hạn chế, Ủyban Hiệp hội Phẫu thuật mạch máu thuộc Hiệp hội Quốc tế về Phẫu thuật mạch máu

đã lưu ý rằng cần phải mở rộng các nghiên cứu về bệnh tĩnh mạch bao gồm việc tựđánh giá của người bệnh về chức năng và chất lượng cuộc sống, nhằm đánh giá toàndiện về bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới[47] Tham khảo tài liệu cho thấy cácnước trên thế giới đã và đang nghiên cứu rất nhiều về chất lượng cuộc sống bệnhtĩnh mạch trên nhiều khía cạnh, nhiều phương pháp khác nhau Ở nước ta hiện naycác nghiên cứu tập trung chủ yếu đánh giá hiệu quả các phương pháp điều trị vàchưa tìm thấy nghiên cứu cụ thể nào về chất lượng cuộc sống người bệnh suy tĩnh

mạch mạn tính chi dưới, nên đề tài “Đánh giá chất lượng cuộc sống người bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới” được thực hiện với mong muốn góp một phần

vào việc đánh giá toàn diện hơn bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới tại ViệtNam, từ đó là cơ sở cho chăm sóc điều dưỡng nhằm nâng cao sức khỏe cũng nhưchất lượng cuộc sống người bệnh

Trang 11

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Công trình được tiến hành nhằm xác định có liên quan hay không giữa chấtlượng cuộc sống và một số đặc điểm ở người bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chidưới?

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Xác định điểm số chất lượng cuộc sống (CLCS) người bệnh suy tĩnh mạchmạn tính chi dưới trong nhóm nghiên cứu theo thang đo SF-36

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở người bệnh suytĩnh mạch mạn tính chi dưới

Trang 12

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới

1.1.1 Định nghĩa suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới

Theo Ủy ban đồng thuận Quốc tế về tĩnh mạch mãn tính định nghĩa “Suytĩnh mạch mạn tính chi dưới (STMMTCD) là tình trạng bất thường về chức năng hệthống tĩnh mạch do hở các van tĩnh mạch kèm theo có hoặc không có tắc nghẽndòng chảy tĩnh mạch, hậu quả ảnh hưởng đến hệ tĩnh mạch nông, hệ tĩnh mạch sâu,hoặc cả hai”[52] Định nghĩa này bao gồm nhiều triệu chứng và dấu hiệu khác nhau,

từ trào ngược tĩnh mạch không triệu chứng, giãn tĩnh mạch, đến những dấu hiệu tiếntriển nặng hơn như loạn dưỡng da và cuối cùng là loét dinh dưỡng do tĩnh mạch

1.1.2 Gánh nặng kinh tế và quy mô bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới

STMMTCD ảnh hưởng gần 5% dân số trưởng thành ở các nước phát triển.Những nghiên cứu gần đây về chất lượng cuộc sống làm nổi bật mức độ tàn tật vàtác động lớn đến xã hội của bệnh[15],[58] Là bệnh mạn tính và hay tái phát, bệnhlàm tăng chi phí chăm sóc ở các quốc gia Ở Anh chi phí này là 400 triệubảng/năm[20] Biến chứng nặng nề của bệnh là loét dinh dưỡng do tĩnh mạch, ướctính có 0,3% các vết loét đang hoạt động và 1% các vết loét đã lành hoặc đang hoạtđộng trên dân số chung Loét tái phát và nếu không điều trị kịp thời sẽ làm tăng chiphí điều trị, kéo dài thời gian nằm viện; tỉ lệ cao gặp ở người có thu nhập thấp vàsống một mình Loét tĩnh mạch gây ra tàn tật, làm mất khoảng 2 triệu ngày côngmỗi năm, và 12.5% số người bệnh bị loét phải nghỉ hưu sớm[15] Tại Mỹ, trungbình mất 4.6 triệu ngày công, tốn 1 tỷ đô la cho điều trị loét mạn tính mỗi năm Tạicác nước phương tây tỉ lệ này là 2% tổng ngân sách chăm sóc sức khỏe quốc gia, vàgần 3 tỷ đô la mỗi năm chỉ để quản lý và điều trị các vết loét[45]

Trên thế giới các tài liệu liên quan đến dịch tễ và tỉ lệ mắc bệnh STMMTCD

đã thay đổi rất nhiều vì sự khác biệt trong các phương pháp đánh giá, các tiêu chí đểxác định và các khu vực địa lý được phân tích Tỉ lệ cao nhất của bệnh ở độ tuổi 40-

Trang 13

49 đối với nữ và 70-79 đối với nam[15] Nghiên cứu của Jawien và cộng sự đánhgiá trên 40.095 người bệnh tuổi từ 16-97 đến khám tại các phòng khám ngoại trú ở

Ba Lan tìm thấy tỉ lệ STMMTCD là 49% và 6.1% có biến đổi về lông, móng vàda[36] Chương trình Tư vấn tĩnh mạch đồng thời là cuộc khảo sát quốc tế được tiếnhành trên toàn thế giới với 91.545 đối tượng và sự giúp đỡ của 6232 bác sĩ cho kếtquả tỉ lệ bệnh tĩnh mạch trên toàn thế giới là 83,6% và theo phân loại CEAP đa số ởmức C1-C6 (63,9%) và 19,7% ở mức C0 Nam giới đa số ở mức C0, phụ nữ chủyếu ở khoảng C1-C3 bất kể khu vực địa lý, và không có sự khác biệt giữa nam và

nữ về tỉ lệ hiện mắc giai đoạn C4-C6)[54] Chiesa và cộng sự đã tiến hành mộtnghiên cứu dịch tễ học bệnh STMMTCD ở Ý; nghiên cứu với 5.187 đối tượng tìnhnguyện được đánh giá lâm sàng và có tới 77.3% có dấu hiệu của bệnh tĩnh mạch,8,6% có thay đổi da (C4b-C6)[23] Một nghiên cứu khác đánh giá bệnh STMMTCDcủa Krijnen chọn ngẫu nhiên 4.530 người từ thành phố Tübingen của Đức; nghiêncứu cho kết quả 59% ở thể nhẹ, 15% có triệu chứng rõ ràng và 12% có dấu hiệu tiếntriển thành bệnh[42] Nghiên cứu Dasilva cùng cộng sự trên 4.422 nhân viên tuổi từ20-70 trong ngành công nghiệp hóa cho thấy 22% có dấu hiệu của STMMTCD theophân loại Widmer I-III; do nghiên cứu chọn đối tượng có công việc ít nguy cơ nên tỉ

lệ này có thể cao hơn trong dân số chung[27]

Tại Việt nam, năm 1998 Cao Văn Thịnh và Văn Tần nghiên cứu trên 473người trên 50 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh tìm ra tỉ lệ mắc suy tĩnh mạch mạntính là 43,97%[10] Nghiên cứu ở khu vực miền Bắc của Phạm Thắng và NguyễnXuân Mến trên 545 người trên 50 tuổi ở Hà Nội, Hải Dương và Trung tâm dưỡnglão Hà Tây cho thấy tỉ lệ mắc STMMTCD là 14,13%[9] Gần đây nhất, theo nghiêncứu tiền cứu mô tả của Nguyễn Hoài Nam từ 08/2004 đến 06/2011 có 7.000 ngườibệnh STMMTCD đến khám tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ ChíMinh Trong số này tỉ lệ nữ/nam là 4/1, tuổi trung bình 46.8, biểu hiện lâm sàngphức tạp và có liên quan đến những nghề nghiệp nguy cơ Đa phần bệnh ở độ C2 vàC3 theo phân loại CEAP[6]

Trang 14

1.1.3 Nguyên nhân và yếu tố liên quan[3],[33]

1.1.3.1 Nguyên nhân

Suy tĩnh mạch tiên phát

Giãn mao mạch và giãn tĩnh mạch dưới da thường được gọi là suy tĩnh mạchtiên phát, xảy ra sau các thương tổn thành tĩnh mạch và van tĩnh mạch thường dotình trạng viêm gây ra, ngoài ra còn các yếu tố không do mắc phải khác Gồm giãntĩnh mạch vô căn: do những bất thường về mặt di truyền và/ hoặc huyết động của hệtĩnh mạch nông gây ra; suy tĩnh mạch sâu tiên phát: do bất thường về giải phẫu van

có bờ tự do quá dài gây ra sa van hoặc giãn vòng van

Suy tĩnh mạch thứ phát

Suy tĩnh mạch thứ phát thường gồm các thay đổi ở da như tăng sắc tố, phù,loét tĩnh mạch tiến triển hoặc đã lành Nhóm này đi theo sau các bất thường gồm:bệnh lý tĩnh mạch hậu huyết khối; dị sản tĩnh mạch: thiếu hụt hoặc thiểu sản vantĩnh mạch (nông hoặc sâu) bẩm sinh; dị sản tĩnh mạch có kèm theo hoặc không ròđộng – tĩnh mạch; bị chèn ép bởi khối u, hội chứng Cockett; hay bị chèn ép về mặthuyết động khi có thai, thể thao

1.1.3.2 Yếu tố liên quan

Một số yếu tố nguy cơ đã được biết đến là có liên quan đến sự phát triển củabệnh STMMTCD Các nghiên cứu gợi ý rằng bệnh liên quan đến tuổi, giới, chủngtộc, tiền sử gia đình, chế độ ăn ít chất xơ, mang thai, thuốc ngừa thai, liệu pháphoocmon, ít vận động, đứng hoặc ngồi quá lâu Thêm vào béo phì có thể làm tăngnguy cơ bị giãn tĩnh mạch Tuy nhiên, các bằng chứng trong tài liệu là chưa nhấtquán và thường không kết luận

Tuổi: tuổi càng cao tỉ lệ mắc bệnh càng cao, do tổn thương thành tĩnh mạch

liên quan đến sự gia tăng mô liên kết và kết hợp với mất tế bào cơ ở lớp trung mạc.Theo khuyến cáo gần đây của các chuyên gia y tế bệnh đang ngày càng trẻ hóa hơn

Trang 15

Giới: nữ có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn hẵn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố nữ

(Progesterone), thuốc ngừa thai, khối lượng cơ thấp, giày cao gót, thai nghén làmtăng chèn ép của tử cung lên thành tĩnh mạch Trong đó thai nghén có liên quan đếnsuy van tĩnh mạch thứ phát và giãn tĩnh mạch liên quan nhiều đến nội tiết tốprogesterone, ở phụ nữ mang thai tỉ lệ giãn tĩnh mạch tăng cao đáng kể, tỉ lệ tăngtheo số lần mang thai tăng và khoảng cách giữa các lần mang thai giảm

Chủng tộc: chủ yếu liên quan đến sự phát triển kinh tế và thay đổi lối sống

của các nước phát triển, đặc biệt các nước phương tây Điển hình như cộng đồngngười dân các nước vùng Bắc Phi di cư đến Pháp có tỉ lệ giãn tĩnh mạch rất cao, do

đa số họ là người có thu nhập thấp, sống trong điều kiện kém vật chất, công việcnặng nhọc, phải đứng lâu và môi trường làm việc nhiệt độ cao

Tiền sử gia đình: mang tính di truyền, có khả năng mắc bệnh cao hơn những

người khác, do thay đổi về enzyme trong mô liên kết Đặc biệt tỉ lệ càng cao ở trẻkhi có cả bố và mẹ đều bị suy tĩnh mạch, nguy cơ này là 90% khi cả bố mẹ cùngmắc bệnh, 25% ở nam và 65% ở nữ nếu có bố hoặc mẹ mắc bệnh và 20% nếu cả bố

mẹ đều không mắc bệnh

Béo phì: làm lực tác động từ phía trước để hút máu từ chân về bị giảm và

các dòng trào ngược ly tâm phát sinh do gia tăng áp lực từ ổ bụng Ngoài ra, giãntĩnh mạch có thể xuất hiện sau các bệnh lý liên quan đến béo phì như tăng huyết áp,đái tháo đường, tăng cholesterol máu

Nhiệt độ cao: những trường hợp thường xuyên tiếp xúc với môi trường nóng

như khí hậu, xông hơi đặc biệt ở vùng chân như những người làm nội trợ, giặtquần áo, thợ dệt, tài xế

Chế độ ăn: chế độ ăn nghèo chất xơ có thể là nguyên nhân quan trọng dẫn

tới bệnh tĩnh mạch, liên quan đến táo bón, tăng áp suất trong ổ bụng Thêm vào đó,phì đại tuyến tiền liệt, thoát vị bẹn và giãn tĩnh mạch có thể gây ra bởi rặn khi tiểu

Trang 16

tiện cũng dẫn đến tăng áp lực ổ bụng Theo thời gian có thể dẫn đến sự giãn nở vàthay đổi ở cả hai hệ tĩnh mạch nông và sâu của chân.

Tính di động trong công việc: hoạt động đứng nhiều, ngồi nhiều do tính

chất công việc góp phần tới sự phát triển của bệnh như giáo viên, buôn bán, thợmay, làm nông, nhân viên hành chính, công nhân, cảnh sát, bảo vệ, nội trợ, nhânviên y tế hoặc ở những người ít hoạt động, lối sống tĩnh Ngồi yên có thể làm tăng

áp lực thuỷ tĩnh ở các tĩnh mạch chân dẫn đến tụ máu, tăng áp lực gây giãn tĩnhmạch chân

Ngoài ra, còn các yếu tố ít ảnh hưởng như thuốc lá, chấn thương vùng chân,các phẫu thuật gây ra biến chứng huyết khối tĩnh mạch, viêm tĩnh mạch, đặc biệttrong những phẫu thuật vùng tiểu khung (sản khoa, niệu khoa,…) hay các thủ thuậtnhư bó bột, bất động gãy xương thời gian dài

1.1.4 Triệu chứng suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới[2],[7]

1.1.4.1 Giai đoạn đầu

Gồm các triệu chứng đau chân, nặng mỏi chân, cảm giác mang giày dép chậthơn bình thường, phù nhẹ khi đứng lâu ngồi nhiều, chuột rút vào buổi tối, cảm giácchâm chích, dị cảm, tê bì như kiến bò vùng cẳng chân Có thể nhìn thấy nhiều mạchmáu nhỏ li ti dưới da đặc biệt vùng cổ chân và bàn chân Triệu chứng thường nặng

về chiều tối, sau một ngày làm việc, hoặc khi phải đứng lâu, ngồi nhiều; giảm vàobuổi sáng khi ngủ dậy, hoặc sau khi nghỉ ngơi, kê cao chân Như vậy ở giai đoạnđầu triệu chứng thường mờ nhạt, không rõ ràng, thoáng qua, mất đi khi nghỉ ngơi,các tĩnh mạch chưa giãn nhiều nên người bệnh ít quan tâm và dễ bỏ qua

1.1.4.2 Giai đoạn tiến triển

Các triệu chứng nặng lên như cảm giác nặng tức, đau nhức chân, máu thoát

ra ngoài mạch gây phù thường phù ở mắt cá hay bàn chân Máu ứ ở tĩnh mạch lâungày gây loạn dưỡng da với da phù nề, dày lên, có thể tróc vảy, chảy nước, chàm

da, thay đổi màu sắc, sạm da và xơ cứng bì Các tĩnh mạch trương phồng lên chạy

Trang 17

ngoằn nghèo dưới da Những triệu chứng này không mất đi khi nghỉ ngơi, nặng hơn

có thể thấy các búi tĩnh mạch, các mảng bầm máu trên da

1.1.4.3 Giai đoạn biến chứng

Viêm tĩnh mạch huyết khối nông hoặc sâu Huyết khối tĩnh mạch nông làmtĩnh mạch nổi gồ lên, đỏ da, cứng dọc theo tĩnh mạch và rất đau Thường khôngnguy hiểm đến tính mạng , nhưng có thể dẫn tới huyết khối tĩnh mạch sâu Huyếtkhối tĩnh mạch sâu: gây tắc và ứ trệ tuần hoàn biểu hiện chân sưng, nóng, đỏ, đau,ngứa, có thể chảy máu, nhiễm trùng toàn thân như sốt cao, môi khô lưỡi bẩn,… Đôikhi huyết khối tĩnh mạch sâu có thể bong ra và đi lên phổi, gây thuyên tắc độngmạch phổi dẫn tới tử vong, 70% tử vong do thuyên tắc động mạch phổi chỉ đượcxác định sau khi tử thiết Loét TM là biến chứng ở giai đoạn muộn nhất, xãy ra ởđoạn dưới của chân gây đau đớn và điều trị rất khó khăn, tốn kém Loét bao gồm cảloét nông và sâu, dễ bội nhiễm, có thể tái đi tái lại nhiều lần

1.1.5 Phân loại lâm sàng bệnh theo CEAP[30]

Năm 1994, Diễn đàn TM Hoa Kỳ đã tổ chức một hội thảo quốc tế thảo luận

về bệnh suy tĩnh mạch mạn tính, qua đó đề xuất việc phân loại bệnh theo CEAP.Năm 1995 phân loại CEAP được đưa thành tiêu chuẩn cho việc phân loạiSTMMTCD về lâm sàng (C: Clinical), nguyên nhân (E: Etiology), giải phẫu (A:Anatomy) và sinh bệnh học (P: Pathophysiology) Năm 2004 phân loại này đượcchỉnh sửa, bổ sung thành phiên bản CEAP nâng cao mô tả rõ về bệnh hơn so vớiCEAP kinh điển Ngày nay phân loại này được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới

Phân loại lâm sàng bao gồm toàn bộ các rối loạn tĩnh mạch, từ không có triệuchứng bệnh lý tĩnh mạch (C0) đến giãn mao mạch hoặc giãn tĩnh mạch dạng lưới,mạng nhện (C1), giãn tĩnh mạch trên 3 mm (C2), sưng phù (C3), loạn dưỡng da(C4), loét liền sẹo (C5), loét đang tiến triển (C6) Có triệu chứng lâm sàng mã hóa

là S (Symptom), không có triệu chứng là A (Asymptom) Nguyên nhân nếu là bẩmsinh (Ec: congenital), nguyên phát (Ep: primitive), thứ phát (Es: secondary) Về giảiphẫu nếu là bệnh lý tĩnh mạch nông (As: superficial), có bệnh lý tĩnh mạch xuyên

Trang 18

(Ap: perforating), bệnh lý tĩnh mạch sâu (Ad: deep), nếu không xác định được vị trígiải phẫu (An: non) Cơ chế sinh bệnh học có thể bao gồm dòng trào ngược (Pr:reflux), tắc nghẽn (Po: obstructive), hoặc cả hai, nếu không xác định được cơ chếbệnh sinh (Pn: non) Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi chỉ chọn tiêu chíphân loại lâm sàng (C: Clinical).

Bảng 1.1 Phân loại CEAP nâng cao, tiêu chí Clinical (C): lâm sàng[30]

C0 Không có biểu hiện bệnh lý tĩnh mạch có thể quan sát hoặc sờ thấyC1 Giãn mao tĩnh mạch mạng nhện hoặc dạng lưới ø < 3 mm

Trang 19

Hình 1.1 Đánh giá lâm sàng suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới theo CEAP[30]

1.1.6 Điều trị suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới[3],[7],[49]

Nguyên tắc điều trị:

- Điều trị triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống

- Kiểm soát yếu tố nguy cơ, phòng ngừa tiên phát và thứ phát

- Điều trị triệt để bằng các phương pháp xâm lấn

- Kết hợp đồng thời các phương pháp

Các phương pháp điều trị: Bệnh tĩnh mạch không phải lúc nào cũng được

chữa khỏi, một khi các van tĩnh mạch bị tổn thương và các tĩnh mạch bị giãn khôngthể trở về trạng thái bình thường như trước Hiện nay trên thế giới đã áp dụng rấtnhiều các biện pháp khác nhau trong điều trị STMCDMT, bao gồm các biện phápđiều trị bảo tồn và điều trị xâm lấn Bên cạnh đó là các biện pháp dự phòng hạn chếtiến triển bệnh

Trang 20

1.1.6.1 Biện pháp dự phòng

Chủ yếu là thay đổi lối sống: kiểm soát tốt cân nặng tránh thừa cân/ béo phì,

có chế độ dinh dưỡng phù hợp gồm giảm chất béo, tăng cường chất xơ, uống đủnước, tránh táo bón, tập thể dục đều đặn, cai thuốc lá, bảo vệ chân tránh bị chấnthương, thay đổi tư thế thường xuyên tránh bất động trong một tư thế thời gian dài,tránh đứng lâu ngồi nhiều, tránh tiếp xúc với nhiệt độ cao như xông hơi, ngâm nướcnóng

STMMTCD là một bệnh mạn tính, hay tái phát và tiến triển nên để tránh cácbiến chứng, người bệnh cần đến bệnh viện ở giai đoạn sớm, tránh tự chữa trị tạinhà, kiên trì điều trị theo hướng dẫn bác sĩ, theo dõi tái khám định kỳ Ở giai đoạnsớm với giãn tĩnh mạch nhỏ dạng lưới hay mạng nhện, người bệnh cần tuân thủ điềutrị bằng thuốc và mang vớ y khoa Ở giai đoạn giãn thân tĩnh mạch, người bệnh cầnphẫu thuật cắt bỏ các búi tĩnh mạch giãn hoặc can thiệp nội mạch kết hợp điều trịnội khoa Đặc biệt thay đổi lối sống Nếu điều trị tốt, người bệnh vẫn có thể làmviệc sinh hoạt bình thường

1.1.6.2 Điều trị bảo tồn

Liệu pháp áp lực

Liệu pháp áp lực (Compression therapy) sử dụng các thiết bị khác nhau chogiai đoạn cấp tính (băng áp lực - bandage) và cho liệu pháp duy trì (vớ nén –stocking) với những mức độ áp lực khác nhau Vớ y khoa hay vớ nén, vớ áp lực(Compression stocking) thường là liệu pháp đầu tiên trong điều trị giãn tĩnh mạch.Hội phẫu thuật mạch máu / Diễn đàn tĩnh mạch của Mỹ khuyến cáo liệu pháp nén từ20-30 mmHg đối với người bệnh bị giãn tĩnh mạch có triệu chứng Vớ nén 20-30mmHg có thể mua ở quầy thuốc mà không cần toa bác sĩ[34]

Trong STMMTCD vớ y khoa là nền tảng của phương pháp điều trị bảo tồn,

có tác dụng hỗ trợ chân, làm giảm đường kính tĩnh mạch, giúp khép kín các van tĩnhmạch, ngăn chặn máu chảy xuống phần thấp của chân Vớ y khoa được sử dụng

Trang 21

nhằm mục đích dự phòng tiến triển xấu bệnh nhờ việc ngăn không hình thành cáctĩnh mạch giãn mới và các tĩnh mạch đã giãn không giãn nặng hơn, đặc biệt đối vớinhững trường hợp có hoạt động phải đứng nhiều trong ngày; dự phòng bệnh đối vớiphụ nữ trong giai đoạn mang thai; kiểm soát các triệu chứng giãn tĩnh mạch ở chân;điều trị trong những trường hợp bệnh nặng có chống chỉ định với các biện pháp canthiệp khác; hỗ trợ sau phẫu thuật điều trị cắt bỏ tĩnh mạch.

Vớ y khoa với nhiều loại áp lực và chỉ định tương ứng: độ 1(áp lực 15mmHg, chỉ định dự phòng, suy tĩnh mạch nhẹ), độ 2 ( áp lực 15-20mmHg, chỉđịnh suy tĩnh mạch trung bình, huyết khối tĩnh mạch nông, sâu), độ 3 (áp lực 20-36mmHg, chỉ định suy tĩnh mạch nặng, loạn dưỡng, huyết khối tĩnh mạch), độ 4 (áplực từ 36mmHg, chỉ định loạn dưỡng nặng, phù bạch mạch)

10-Tại Bệnh viện Đại học Y Dược, vớ y khoa được sử dụng như một biện pháptrong phòng và điều trị bệnh STMMTCD, được Hội đồng khoa học bệnh viện đánhgiá chất lượng và chấp nhập sử dụng trong bệnh viện, thường gồm các loạiVenosan, Jobst

Vận động thể lực

Vận động thể lực nhằm tăng cường sức mạnh, chức năng bơm của cơ bắpchân, tăng huyết động tĩnh mạch, giúp người bệnh kiểm soát tốt các triệu chứng khóchịu ở chân Vận động thể lực có thể bao gồm các hoạt động tăng tính di động nhưtránh đứng lâu, ngồi nhiều, ngồi bắt chéo chân,… thay vào đó nên thay đổi tư thếthường xuyên, tham gia các hoạt động thể dục thể thao vừa sức như đi bộ, tậpdưỡng sinh, đạp xe đạp,…Khuyến khích các bài tập vận động ở chân thường xuyêntrong ngày ở tư thế đứng, ngồi, nằm; kê cao chân khi ngủ tạo điều kiện cho máutĩnh mạch hồi lưu tốt

Dùng thuốc

Các thuốc chủ yếu tăng cường trương lực tĩnh mạch, làm bền thành mạch Sửdụng thuốc tùy từng trường hợp nhưng mục đích chủ yếu là điều trị các triệu chứng

Trang 22

của giãn tĩnh mạch và các thể nặng hơn của STMMTCD như phù, loét chân baogồm các thuốc giảm đau, kháng viêm, kháng sinh, thuốc tan cục máu đông.

1.1.6.3 Biện pháp xâm lấn

Phẫu thuật thành công điều trị STMMTCD nhằm loại bỏ nguyên nhân gây

bệnh, loại bỏ búi tĩnh mạch giãn, đảm bảo tính thẩm mỹ bao gồm thắt, cột tĩnhmạch hiển bé hoặc hiển lớn, phối hợp cắt các búi tĩnh mạch giãn lớn, sửa van, tạohình tĩnh mạch qua da Hiện nay có nhiều cách thức phẫu thuật, thường sử dụngnhất là phẫu thuật Stripping, phẫu thuật Chirurgie vasculaire ambulatoire và phẫuthuật Muller

Chích xơ áp dụng các trường hợp giãn tĩnh mạch nhỏ, giãn tĩnh mạch dạng

lưới và khu trú bằng cách sử dụng hóa chất tiêm vào tĩnh mạch gây xơ hóa nội mạch

và làm tắc nghẽn tĩnh mạch Chích xơ tạo bọt cho hiệu quả cao Biện pháp này rấtphổ biến ở Châu Âu, đặc biệt là Pháp Tuy nhiên, biện pháp này cũng gặp nhiềubiến chứng

Can thiệp nội mạch bằng sóng cao tần hay laser là biện pháp điều trị mới

với các lợi ích ít đau, mau hồi phục, đảm bảo thẩm mỹ, cho kết quả rất tốt Laser nộitĩnh mạch dùng nhiệt trực tiếp qua ống dẫn, dưới hướng dẫn của siêu âm nhằm gây

xơ hóa và tắc nghẽn hoàn toàn tĩnh mạch Sóng cao tần cũng sử dụng năng lượngnhiệt vừa đủ trong lòng tĩnh mạch để phá hủy tĩnh mạch Đây là biện pháp an toàn,hiệu quả cao có thể thay thể cho phẫu thuật truyền thống, đặc biệt trên nhóm ngườibệnh có nhiều yếu tố nguy cơ như béo phì, dùng thuốc chống đông, bệnh lý nộikhoa kèm theo

1.2 Chất lượng cuộc sống

1.2.1 Định nghĩa chất lượng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống (CLCS) được Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa làtrạng thái khỏe mạnh về thể chất, tâm thần, xã hội chứ không chỉ là tình trạng không

Trang 23

có bệnh tật[35] CLCS là một khái niệm rộng, đa chiều bao gồm các đánh giá chủquan của mỗi người về khía cạnh tích cực và tiêu cực của cuộc sống Sức khỏe làmột trong những lĩnh vực quan trọng của CLCS tổng thể, ngoài ra còn các lĩnh vựckhác như việc làm, nhà ở, trường học, khu phố, các khía cạnh văn hoá, giá trị, vàtâm linh[64].

CLCS phản ánh nhận thức của người bệnh về "Hạnh phúc" ở bất kỳ thờiđiểm nào Hạnh phúc là một giá trị văn hóa - xã hội mang tính phổ quát toàn nhânloại Ở các nước Phương Tây hạnh phúc được đo bằng chỉ số hạnh phúc dựa trêncác tiêu chí về mức độ tham nhũng của quốc gia, hủy hoại môi trường, chất lượnggiáo dục, tuổi thọ trung bình,… Do nền văn hóa khác nhau nên dường như chỉ sốnày không phù hợp ở Việt Nam Để đánh giá hạnh phúc ở nước ta tháng 10 năm

2015, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện Đề tài cấp Quốc gia: “Hạnhphúc của người Việt Nam: quan niệm, thực trạng và chỉ số đánh giá” gồm các lĩnhvực: kinh tế vật chất, quan hệ gia đình - xã hội và đời sống cá nhân Hiện tại, đề tàiđang triển khai và sẽ nghiệm thu vào năm 2018[14] Bệnh tật có ảnh hưởng đếnCLCS Do đó, CLCS là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá tổng thể về sứckhỏe cho bất kỳ người bệnh nào Thêm vào đó, nó cũng giúp đánh giá sự nhận thứccủa người bệnh về kết quả điều trị[43]

Cho đến nay các nhà nghiên cứu đã phát triển các công cụ hữu ích giúp kháiniệm hóa và đo lường các lĩnh vực liên quan của CLCS và mối liên hệ giữa chúng.Các công cụ định lượng khác nhau dưới dạng bảng câu hỏi, chung cho nhiều bệnhhoặc cụ thể đối với bệnh tĩnh mạch và tất cả đều đánh giá sức khỏe liên quan đếnCLCS (health-related Quality of life)[25],[46]

1.2.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống bằng bộ câu hỏi SF-36

Thang đo Short From 36 (SF-36) do Ware và Sherbourne thiết kế vào năm1992[69] Nó được xem là một trong những công cụ phổ biến nhất được sử dụngrộng rãi trên thế giới để đo lường CLCS, được dịch qua 120 ngôn ngữ, trong đó có

Trang 24

Tiếng việt SF-36 đã được chứng minh là công cụ phù hợp cho việc đánh giá chấtlượng cuộc sống tổng thể người bệnh STMMTCD ở nhiều quốc gia[61],[63].

SF-36 gồm 36 câu hỏi tập trung đánh giá hai lĩnh vực và tám thành phần sứckhỏe bao gồm hoạt động chức năng 10 câu, giới hạn chức năng 4 câu, cảm nhận đauđớn 2 câu, tự đánh giá sức khỏe 5 câu, cảm nhận sức sống 4 câu, hoạt động xã hội 2câu, giới hạn tâm lý 3 câu và tâm thần tổng quát 5 câu Trong đó 4 thành phần đầutổng hợp lại đánh giá lĩnh vực sức khỏe thể chất, 4 thành phần sau đánh giá lĩnh vực

sức khỏe tâm thần (Bảng 1.2)[69].

Bảng 1.2 Cấu trúc bộ câu hỏi SF-36

Sức khỏe thể

chất (SKTC)

Hoạt động chức năng(HĐCN)

10 3a, 3b, 3c, 3d, 3e,

3f, 3g, 3h, 3i, 3jGiới hạn chức năng (GHCN) 4 4a, 4b, 4c, 4d

Trang 25

Sơ đồ 1.1 Mối tương quan giữa hai lĩnh vực và tám thành phần sức khỏe theo

SF-36[69]

Thang đo SF-36 đánh giá CLCS bằng cách tính và phân loại CLCS dựa vàođiểm số Điểm số của thang đo từ 0 đến 100 tương ứng 0 điểm là mức tồi tệ nhất và

100 điểm là mức tốt nhất Trong đó, 36 câu hỏi, 8 thành phần, 2 lĩnh vực sức khỏe

và CLCS chung đều được tính từ mức điểm 0 đến 100 (bảng 1.2, bảng 1.3, bảng 1.4)[69].

Bảng 1.3 Điểm số cho từng câu hỏi

2345

1007550250

Trang 26

Câu hỏi số Đáp án ban đầu Điểm quy đổi

3a,3b,3c,3d,3e,3f,3g,3h,3i,3j 1

23

050100

2

0100

23456

100806040200

23456

020406080100

2345

0255075100

Nguồn: How to Score the Rand SF-36 Questionnaire[69]

Trang 27

Nguồn: How to Score the Rand SF-36 Questionnaire[69]

1.2.3 Một số nghiên cứu liên quan đến chất lượng cuộc sống người bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới

Từ năm 1999 Smith cùng cộng sự đã sử dụng bộ câu hỏi SF-36 để đo lườngCLCS người bệnh giãn tĩnh mạch, thấy rằng người bệnh giãn tĩnh mạch có điểm sốCLCS thấp, đặc biệt lĩnh vực sức khỏe thể chất thấp hơn hẵn so với dân số chung(p<0,001)[60]

Nghiên cứu của Kurz cùng cộng sự (2001) tìm thấy CLCS ở người bệnh giãntĩnh mạch giảm kết hợp với độ nặng theo phân loại lâm sàng CEAP, đặc biệtnghiêm trọng ở độ C3 có phù nề, độ C5 C6 có loét tĩnh mạch[44]

Nghiên cứu Kaplan cùng cộng sự (2003) về “Chất lượng cuộc sống ở ngườibệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới” trên dân số San Diego Nghiên cứu tiếnhành trên 2404 đối tượng gồm nam và nữ tuổi từ 40-79 được chọn ngẫu nhiên từmột trường đại học CLCS được đo bằng công cụ SF-36 và so sánh giữa hai nhóm.Một nhóm sử dụng phân loại bệnh theo quan sát, nhóm còn lại theo siêu âmdoopler Kết quả có mối liên quan có ý nghĩa giữa CLCS và bệnh ở cả hai phươngpháp, cụ thể bệnh ảnh hưởng đáng kể đến CLCS ở các khía cạnh sức khỏe thể chất.Phương pháp quan sát, CLCS giảm có ý nghĩa rất mạnh ở HĐCN (F1/2245=52,20;

Trang 28

P<0,0001), GHCN (F1/2245=41,98; P<0,0001), CNĐĐ (F1/2245=25,43; P<0,0001),ĐGSK (F1/2245=8,45; P<0,001), về tâm thần có mối tương quan ở CNSS

tương quan không mạnh bằng[40]

Nghiên cứu thí điểm “Chất lượng cuộc sống người bệnh suy tĩnh mạch mạntính chi dưới” của Ý ở vùng Triveneto, do Andreozzi cùng cộng sự (2005) thực hiệntrên 104 người bệnh, có sử dụng bảng câu hỏi SF-36 và phân loại CEAP để đánhgiá Kết quả điểm số CLCS giảm dần từ C1 đến C5-C6 Độ C3 CLCS giảm đáng kể(P<0,0018) ở GHCN và CNĐĐ, độ C4 CLCS giảm trầm trọng (P<0,0001) ở tất cảcác mặt về thể chất và một số về tâm thần C5-C6 điểm thấp (P<0,00001) ở cả thểchất, tâm thần Nghiên cứu cho thấy STMMTCD là một bệnh tác động lên lối sống

và CLCS cũng giống như những bệnh mạn tính khác như ung thư, tiểu đường, bệnhphổi mạn tính, suy tim Bệnh ảnh hưởng thể chất từ giai đoạn sớm , ảnh hưởng tâmthần xuất hiện từ giai đoạn tiến triển[18]

Nghiên cứu Vayssairat cùng cộng sự (2000) tiến hành thử nghiệm lâm sàng

đa trung tâm, mù đôi, trên 341 người bệnh so sánh hiệu quả áp lực vớ trên hai nhómngười bệnh STMMTCD độ C1, một nhóm sử dụng vớ áp lực 10 đến 15mmHg,nhóm còn lại sử dụng vớ áp lực 3 đến 6mmHg Kết quả sau 4 tuần có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm, cụ thể nhóm sử dụng vớ áp lực 10 đến 15mmHg

có CLCS cải thiện đáng kể, giảm phù nề chi dưới, đồng thời khả năng dung nạp vớcao hơn khi có tới 76% đến 80% người bệnh tuân thủ so với nhóm đối chứng[68]

Nghiên cứu của Prandoni cùng cộng sự (2004) thử nghiệm lâm sàng ngẫunhiên, có kiểm soát trên 180 người bệnh có huyết khối tĩnh mạch sâu có triệuchứng, được chia làm hai nhóm ngẫu nhiên có và không mang vớ dưới gối áp lực

30 đến 40 mmHg trong 2 năm Theo dõi trong 5 năm, kết quả di chứng hậu huyếtkhối phát triển ở gần một nữa số người bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu, ở nhómmang vớ áp lực tỉ lệ này giảm khoảng 50% Hạn chế của nghiên cứu là thiết kế thiếu

mù đôi[53]

Trang 29

Nghiên cứu Soydan cùng cộng sự (2016) “Ảnh hưởng của đặc điểm nhânkhẩu - xã hội học và lâm sàng lên chất lượng cuộc sống người bệnh suy tĩnh mạchmạn tính chi dưới” trên 163 người bệnh được chẩn đoán và theo dõi bệnhSTMMTCD tại phòng khám Ngoại tim mạch - Bệnh viện giáo dục và nghiên cứuphía Tây Thổ Nhĩ Kỳ Nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng bộ câu hỏi đánh giáCLCS SF-36 và bộ câu hỏi VEINES-QOL/Sym đo lường triệu chứng, giới hạn vàtâm lý trong bốn tuần qua do người bệnh tự đánh giá, hình thức phỏng vấn trực tiếp.Kết quả tìm thấy người bệnh STMMTCD có CLCS thấp và các yếu tố gồm tuổicao, BMI cao, thời gian làm việc lâu, sử dụng thuốc thường xuyên, huyết áp cao, độC4 (CEAP) có liên quan làm giảm điểm CLCS Vận động thể lực ít nhất hai lần mộttuần làm tăng điểm CLCS sức khỏe thể chất (theo thang đo SF-36)[62].

1.3 Mô hình học thuyết

CLCS vốn là chủ quan, nó đánh giá về hạnh phúc của một người cả về niềmtin và giá trị của họ[55] Sức khỏe là yếu tố ảnh hưởng lớn đến CLCS, đặc biệttrong các bệnh mạn tính nhưng sức khỏe không phải là yếu tố quyết định duy nhấtđến CLCS[16] Wilson và Cleary xác định sức khỏe liên quan đến CLCS (Health-Related Quality of Life - HRQOL) là khía cạnh của CLCS bị ảnh hưởng bởi sứckhoẻ một người

Năm 1995 Wilson và Cleary đề xuất mô hình về sức khỏe liên quan đến chấtlượng cuộc sống Mô hình bao gồm các kết quả sức khỏe được đo lường và đượcnối với nhau theo kiểu nhân quả Mô hình gồm năm cấp độ khác nhau về khái niệmsức khoẻ là yếu tố sinh học, tình trạng triệu chứng, tình trạng chức năng, nhận thức

về sức khoẻ chung và CLCS toàn diện Trong đó yếu tố sinh học được coi là cơ bảnnhất gồm các xét nghiệm, kiểm tra sức khỏe; tình trạng triệu chứng bao gồm sứckhỏe thể chất, tâm thần mà người bệnh cảm nhận theo cách chủ quan; tình trạngchức năng là khả năng thực hiện các chức năng nhiêm vụ nhất định như lao động,sinh hoạt hàng ngày; cuối cùng là tự nhận thức về sức khỏe của mỗi cá nhân Mỗi

Trang 30

cấu trúc bị ảnh hưởng bởi cấu trúc trước nó, trừ các yếu tố sinh học[70] Năm 2005

mô hình được bổ sung hoàn chỉnh bởi Ferrans cùng cộng sự[31]

Sơ đồ 1.2 Mô hình học thuyết bố sung dựa trên mô hình Wilson & Cleary,

1995[31]

Trang 31

Mô hình học thuyết ứng dụng vào nghiên cứu CLCS bệnh STMMTCD

Sơ đồ 1.3 Mô hình ứng dụng vào nghiên cứu CLCS bệnh STMMTCD

Trang 32

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh là cơ sở y tế đầu tiênkết hợp mô hình trường – viện với đội ngũ chuyên môn quy tụ những Giáo sư, Tiến

sĩ, Bác sĩ đầu ngành không những giỏi về lý thuyết mà còn giàu kinh nghiệm lâmsàng; không ngừng nổ lực, tiếp cận và ứng dụng các thành tựu y học tiên tiến trênthế giới trong việc khám chữa bệnh đạt kết quả cao Bệnh viện được xếp loại hạng I,

có quy mô lớn tại khu vực Miền Nam, được trang bị hệ thống trang thiết bị hiện đạicùng đội ngũ nhân viên tận tình, chu đáo Bệnh viện Đại học Y Dược đã trở thànhmột trong những địa chỉ tin cậy trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho người dân.Bệnh viện có 3 cơ sở với gần 1000 giường bệnh, 66 phòng khám ngoại trú, trong đómỗi ngày tại cơ sở 1 tiếp nhận gần 5.000 người bệnh đến từ khắp các tỉnh thànhtrong cả nước và một số nước trong khu vực Đặc biệt các tỉnh thành lân cận Thànhphố Hồ Chí Minh như Đồng Nai, Bình Dương,… là các khu công nghiệp lớn, tậptrung tỉ lệ cao người dân thuộc nhóm nghề nghiệp nguy cơ cao bệnh STMMTCD

Trang 33

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu

Đối tượng:

- Nam hoặc nữ ≥ 18 tuổi,

- Được chẩn đoán STMMTCD tại Phòng khám Ngoại Lồng ngực – Mạch máuBệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ3/2018 đến 6/2018, được chọn lựa ngẫu nhiên

- Tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

2.1.4 Tiêu chuẩn loại trừ

- Người bệnh tái khám từ lần thứ hai trở đi trong đợt thu thập số liệu

- Đang mắc các bệnh cấp tính, bệnh nặng: tai biến mạch máu não, nhồi máu cơtim cấp, suy thận cấp, viêm phổi nặng, ung thư …

- Phụ nữ đang mang thai

- Đang mắc từ hai bệnh mạn tính trở lên

Trang 34

- Người bệnh không hợp tác được: bất đồng ngôn ngữ, giảm thính lực, bệnh lýtâm thần…

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiền cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Phòng khám Ngoại Lồng ngực – Mạch máu Bệnh viện Đại học Y DượcThành phố Hồ Chí Minh

2.2.3 Thời gian nghiên cứu

Từ 9/2017 đến 09/2018

2.2.4 Cỡ mẫu

Công thức:

2 2

n: cỡ mẫu tối thiểu

α: mức ý nghĩa thống kê; với α = 0.05 thì hệ số tin cậy Z = 1.96

d: độ chính xác tuyệt đối mong muốn (2% của thang điểm 100)

 : độ lệch chuẩn Theo nghiên cứu của Soydan cùng cộng sự (2016), " Ảnh hưởngcủa đặc điểm nhân khẩu - xã hội học và lâm sàng lên chất lượng cuộc sống ngườibệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới", được đo bằng thang SF-36 thì sức khỏe thểchất có trung bình và độ lệch chuẩn là 38,37 ± 8,37[62]

2 2 2

8,37

2

Trang 35

Như vậy cỡ mẫu nghiên cứu là 68 người bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới.

Bước 1: Thời điểm lấy mẫu vào các sáng trong tuần Mỗi ngày chọn 5 mẫu (n) từ

những người bệnh nghi ngờ STMMTCD Đánh số thứ tự người bệnh (từ 1 đến N)dựa vào số khám bệnh trong sáng đó (N: những người bệnh nghi ngờ STMMTCD -những người bệnh đến khám vì vấn đề ở chân)  tính khoảng cách mẫu k=N/n rút thăm chọn số ngẫu nhiên x (1≤ x ≤ k) Như vậy người bệnh được chọn đầu tiênmang số x, người thứ hai mang số x+k,… cho đến khi đủ 5 người Trong trườnghợp đối tượng từ chối tham gia hoặc không đủ tiêu chuẩn tham gia thì sẽ chọn đốitượng liền kề tiếp theo trong danh sách người bệnh khám sáng hôm đó

Bước 2: Tiếp xúc với 5 người bệnh này tại phòng khám và sau khi bác sĩ hoàn

thành khám, chẩn đoán xác định bệnh STMMTCD thì mời người bệnh vào phòngriêng giới thiệu mục đích nghiên cứu, xem xét đủ các tiêu chí chọn mẫu

Bước 3: Tiến hành lấy dữ liệu trên người bệnh đủ tiêu chuẩn.

2.3 Thu thập số liệu

2.3.1 Phương pháp thu thập

Đo chiều cao, cân nặng

Trang 36

Phỏng vấn trực tiếp người bệnh bằng bộ câu hỏi soạn sẵn Giải thích chongười bệnh bất cứ nội dung nào họ chưa hiểu Thời gian hoàn thành phỏng vấnkhoảng 25-30 phút.

2.3.2 Công cụ thu thập

Gồm: thước đo chiều cao (cm), cân đo cân nặng (kg), bộ câu hỏi phỏng vấn

Bộ câu hỏi phỏng vấn cho từng đối tượng gồm 3 phần lớn:

- Phần thông tin cá nhân người bệnh bao gồm tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể(BMI), tình trạng học vấn, sống chung người thân, nghề nghiệp, mức thunhập, số lần mang thai

- Phần thông tin đặc điểm lâm sàng bao gồm thời gian phát hiện bệnh, vậnđộng thể lực, mang vớ y khoa, triệu chứng lâm sàng, bệnh mạn tính kèmtheo, phân loại lâm sàng CEAP

- Phần CLCS bằng bộ câu hỏi SF-36 phiên bản Tiếng việt (bảng 1.2).

2.3.3 Liệt kê và định nghĩa biến số

Các biến phụ thuộc là điểm trung bình sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần

và chất lượng cuộc sống chung theo thang đo SF-36 (điểm SKTC, SKTT, CLCS)

Các biến độc lập bao gồm đặc điểm của nhóm nghiên cứu: tuổi, giới, chỉ sốkhối cơ thể (BMI), tình trạng học vấn, sống chung người thân, nghề nghiệp, mứcthu nhập, số lần mang thai, thời gian phát hiện bệnh, vận động thể lực, mang vớ ykhoa, triệu chứng lâm sàng, bệnh mạn tính kèm theo, phân loại lâm sàng CEAP

Trang 37

Bảng 2.1 Định nghĩa các biến số trong nghiên cứu

Đặc điểm của nhóm nghiên cứu

Tuổi Số tuổi hiện tại của người

NamNữ

Nhị giá

BMI Chỉ số khối cơ thể

BMI= cân nặng/ (chiềucao)2

Đơn vị: kg/m2

Thiếu cân <18.5Bình thường 18.5- 22.99Thừa cân 23-24.99Béo phì ≥25

(theo IDI&WPRO BMI)

Danh định

Trình độ

học vấn

Cấp học cao nhất màngười bệnh đã hoàn thành

Mù chữ, cấp 1Cấp 2,3

Trung cấp, cao đẳng, đạihọc

CóKhông

Khác

Danh định

Trang 38

Biến số Định nghĩa Giá trị của biến số Loại biến

<5 năm5-10 năm

Có mang khi sử dụngđúng theo chỉ định vàhướng dẫn của bác sĩ,trong thời gian ít nhất 1tháng

CóKhông

CóKhông

Nhị giá

Trang 39

Biến số Định nghĩa Giá trị của biến số Loại biến

nhất 30 phút/ngày, 2lần/tuần và liên tục 1tháng

Bệnh kèm

theo

Các bệnh mạn tính hiệntại người bệnh đang mắc

KhôngTăng huyết áp/ tim mạchTiểu đường

Viêm khớpKhác

Danh định

Số chi bị

bệnh

Chân tráiChân phải

Cả hai chân

Danh định

Triệu chứng Những biểu hiện hằng

ngày của người bệnh

Nặng, mỏi chânĐau chânSưng, phù chânChuột rútNóng rátNgứa, tê bì, châm chíchThay đổi màu sắc daDãn tĩnh mạch nôngLoét chân

C0C1C2C3

Thứ tự

Trang 40

Biến số Định nghĩa Giá trị của biến số Loại biến

C4C5C6

Chất lượng cuộc sống: bao gồm hai lĩnh vực SKTC, SKTT và tám thành phần sức

khỏe của người bệnh theo thang đo SF-36 (gồm 36 câu hỏi, điểm số từ 0 đến 100,tương ứng với chất lượng cuộc sống tăng theo điểm)

Giới hạn chức năngGHCN: là giới hạn cáchoạt động do khiếmkhuyết chức năng được đolường qua thời gian, hiệuquả hay hạn chế trongcông việc, sinh hoạt hằngngày

Ngày đăng: 06/05/2021, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w