Trong thực tế lâm sàng, trước một bệnh nhân gãy cung tiếp, các bác sĩ phẫuthuật hàm mặt thường lựa chọn phương pháp chỉnh hình đơn giản, dễ thực hiệnnhư chỉnh hình kín với đường rạch tiề
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY CUNG TIẾP
QUA ĐƯỜNG RẠCH TAI THÁI DƯƠNG
TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU BẾN TRE
TỪ 4/2017 ĐẾN 3/2018.
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY CUNG TIẾP
QUA ĐƯỜNG RẠCH TAI THÁI DƯƠNG
TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU BẾN TRE
TỪ 4/2017 ĐẾN 3/2018.
Chuyên ngành: RĂNG HÀM MẶT
Mã số: CK 62 72 28 15
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS LÂM HOÀI PHƯƠNG
TS HỒ NGUYỄN THANH CHƠN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố.
Tác giả
Nguyến Thị Lan Phương
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH - VIỆT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU…….……… 3
1.1 Đặc điểm giải phẫu cung tiếp, vùng thái dương và da đầu 3
1.2 Đặc điểm dịch tễ học, cơ chế chấn thương và hình thái gãy cung tiếp 8
1.3 Phân loại gãy cung tiếp 10
1.4 Triệu chứng lâm sàng 15
1.5 Chẩn đoán hình ảnh 16
1.6 Điều trị gãy cung tiếp 21
1.6.1 Lịch sử điều trị gãy cung tiếp 21
1.6.2 Các phương pháp điều trị gãy cung tiếp 22
1.6.3 Các đường vào phẫu thuật gãy cung tiếp 24
1.7 Biến chứng và di chứng 29
Trang 5CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3 Thu thập và xử lí số liệu 52
2.4 Khía cạnh đạo đức nghiên cứu 52
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
3.1 Đặc điểm bệnh nhân gãy cung tiếp trước phẫu thuật 54
3.1.1.Tình hình chấn thương gãy cung tiếp tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre 54
3.1.2 Giới 55
3.1.3 Tuổi 55
3.1.4 Nguyên nhân chấn thương 56
3.1.5 Thời gian xảy ra chấn thương 57
3.1.6 Thời gian từ lúc chấn thương đến nhập viện 58
3.1.7 Thời gian tiền phẫu 58
3.1.8 Chấn thương phối hợp gãy cung tiếp 59
3.1.9 Đặc điểm lâm sàng và đặc điểm X quang của bệnh nhân gãy cung tiếp trước phẫu thuật 59
3.2 Đánh giá kết quả điều trị gãy cung tiếp 62
Trang 63.3 Đánh giá tổng quát kết quả điều trị gãy cung tiếp qua đường rạch tai thái dương 72
3.4 Đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân 73
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 77
4.1 Đặc điểm bệnh nhân gãy cung tiếp trước phẫu thuật 77
4.2 Đánh giá kết quả điều trị gãy cung tiếp 82
4.3 Ý nghĩa của nghiên cứu 100
4.4 Hạn chế của nghiên cứu 101
KẾT LUẬN 102
KIẾN NGHỊ 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1: Kế hoạch nghiên cứu
Phụ lục 2: Bản thông tin dành cho đối tượng nghiên cứu và chấp thuận tham gia nghiên cứu Phụ lục 3: Phiếu thu thập nghiên cứu
Phụ lục 4: Danh sách bệnh nhân nghiên cứu
Phụ lục 5: Một số hình ảnh bệnh nhân nghiên cứu
Phụ lục 6: Tập huấn định chuẩn nhóm bác sĩ tham gia nghiên cứu
Chấp thuận của Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu
Giấy chấp thuận nghiên cứu
Trang 8DANH MỤC ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH - VIỆT
TÊN TIẾNG ANH
Primary bone healing
Secondary bone healing
Cố định bên ngoài
Cố định bên trong Nẹp nhỏ
Đường rạch tai thái dương Nắn chỉnh hở
Kết hợp xương Đường rạch trước tai Lành xương nguyên phát Lành xương thứ phát Đường rạch dưới mi
Hệ thống cân cơ nông
Cân thái dương
Trang 9Transconjunctival incision
Undisplaced fracture
Zygomatic arch fracture
Gờ bình tai Đường rạch xuyên kết mạc Gãy không di lệch
Gãy cung tiếp Zygomatic complex fracture Gãy phức hợp gò má
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tỉ lệ gãy cung tiếp 8
Bảng 1.2 Nguyên nhân gãy cung tiếp 9
Bảng 2.1 Bảng tổng kết biến số đánh giá tuần đầu sau phẫu thuật 46
Bảng 2.2 Bảng tổng kết biến số đánh giá 4 tuần, 8 tuần, 12 tuần sau phẫu thuật 47
Bảng 2.3 Tiêu chí đánh giá kết quả điều trị 12 tuần sau phẫu thuật 49
Bảng 2.4 Biến số nghiên cứu 50
Bảng 3.1 Tình hình chấn thương gãy cung tiếp tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre trong nghiên cứu 54
Bảng 3.2 Phân bố nhóm tuổi bệnh nhân 55
Bảng 3.3 Thời gian xảy ra chấn thương 57
Bảng 3.4 Thời gian tiền phẫu 58
Bảng 3.5 Triệu chứng lâm sàng gãy cung tiếp 60
Bảng 3.6 Vị trí gãy cung tiếp đơn thuần và gãy phức hợp gò má 60
Bảng 3.7 Các thể loại gãy cung tiếp và phức hợp gò má 61
Bảng 3.8 Các đường rạch phẫu thuật phối hợp 62
Bảng 3.9 Thời gian điều trị sau phẫu thuật 63
Bảng 3.10 Độ há miệng trước phẫu thuật và tuần đầu sau phẫu thuật 64
Bảng 3.11 Biến chứng tuần đầu sau phẫu thuật 65
Trang 11Bảng 3.12 Tổn thương nhánh trán thần kinh mặt tuần đầu sau phẫu thuật 66
Bảng 3.13 Dị cảm trước tai tuần đầu sau phẫu thuật 66
Bảng 3.14 Độ há miệng 4 tuần, 8 tuần, 12 tuần sau phẫu thuật 67
Bảng 3.15 Tổn thương nhánh trán thần kinh mặt 4 tuần, 8 tuần, 12 tuần sau phẫu thuật 68
Bảng 3.16 Dị cảm trước tai 4 tuần, 8 tuần, 12 tuần sau phẫu thuật 69
Bảng 3.17 Sẹo mổ 12 tuần sau phẫu thuật 69
Bảng 3.18 Vị trí đặt nẹp vít trong gãy cung tiếp 70
Bảng 3.19 Vị trí đặt nẹp vít trong gãy phức hợp gò má 70
Bảng 3.20 Đánh giá hình ảnh tiếp hợp xương tuần đầu sau phẫu thuật 71
Bảng 3.21 Đánh giá hình ảnh tiếp hợp xương 12 tuần sau phẫu thuật 71
Bảng 3.22 Tiêu chí đánh giá kết quả điều trị 12 tuần sau phẫu thuật 72
Bảng 3.23 Mức độ hài lòng thẩm mĩ tuần đầu sau phẫu thuật 73
Bảng 3.24 Mức độ hài lòng chức năng nhai tuần đầu sau phẫu thuật 74
Bảng 3.25 Mức độ hài lòng thẩm mĩ 12 tuần sau phẫu thuật 75
Bảng 3.26 Mức độ hài lòng chức năng nhai 12 tuần sau phẫu thuật 75
Bảng 4.1 Đối chiếu tỉ lệ nam nữ trong nghiên cứu này với nghiên cứu khác 78
Bảng 4.2 Đối chiếu nguyên nhân chấn thương trong nghiên cứu này với nghiên cứu khác 79
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ gãy cung tiếp theo giới 55
Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ gãy cung tiếp theo tuổi 56
Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ gãy cung tiếp theo nguyên nhân 56
Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ phân bố thời gian xảy ra chấn thương 57
Biểu đồ 3.5 Tỉ lệ thời gian tiền phẫu 58
Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ chấn thương phối hợp với gãy cung tiếp 59
Biểu đồ 3.7 Thời gian điều trị sau phẫu thuật 63
Biểu đồ 3.8 Tỉ lệ kết quả điều trị 12 tuần sau phẫu thuật 72
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Xương thái dương 3
Hình 1.2 Sọ nghiêng 4
Hình 1.3 Hệ thống cơ liên quan với cung tiếp 4
Hình 1.4 Cấu trúc lớp da đầu 7
Hình 1.5 Giải phẫu phẫu thuật nhánh trán và nhánh gò má 8
Hình 1.6 Phân loại gãy cung tiếp theo Yamamoto K 11
Hình 1.7 Phân loại gãy cung tiếp Ozyazan I 11
Hình 1.8 Phân loại gãy phức hợp gò má 12
Hình 1.9 Gãy di lệch tịnh tiến hướng trước sau, thể gồ cung tiếp 12
Hình 1.10 Gãy di lệch tịnh tiến hướng trước sau, thể chồng ngắn 13
Hình 1.11 Gãy di lệch quay hướng trước sau 13
Hình 1.12 Gãy di lệch tịnh tiến hướng phân giác 13
Hình 1.13 Gãy di lệch quay sau thể nhát rìu 13
Hình 1.14 Gãy di lệch quay sau thể gồ cung tiếp 14
Hình 1.15 Gãy di lệch quay sau thể tách rời cung tiếp 14
Hình 1.16 Gãy di lệch tịnh tiến hướng ngang 14
Hình 1.17 Gãy di lệch hướng ngang, thể cửa bật 14
Trang 14Hình 1.18 Gãy cung tiếp kiểu nhát rìu kín 15
Hình 1.19 Gãy cung tiếp kiểu tách rời 15
Hình 1.20 Các đường chấn thương trong gãy phức hợp gò má 17
Hình 1.21 Phim Hirtz và hình ảnh gãy cung tiếp 17
Hình 1.22 Phim cắt lớp điện toán mặt phẳng ngang 18
Hình 1.23 Phim cắt lớp vi tính mặt phẳng đứng ngang 19
Hình 1.24 Phim cắt lớp vi tính mặt phẳng đứng dọc 19
Hình 1.25 Chuẩn mặt 19
Hình 1.26 Chuẩn mặt 30° 20
Hình 1.27 Chuẩn bên 20
Hình 1.28 Chuẩn bên nghiêng 20
Hình 1.29 Chuẩn nền 21
Hình 1.30 Sử dụng móc xương để nắn chỉnh cung tiếp 23
Hình 1.31 Đường rạch tiền đình hàm trên (đường rạch Keen) 24
Hình 1.32 Phẫu thuật nắn kín qua đường đuôi cung mày 25
Hình 1.33 Đường rạch Gillies 26
Hình 1.34 Đường rạch trước tai 26
Hình 1.35 Đường rạch Al-Kayat 27
Hình 1.36 Đường rạch thái dương đỉnh 28
Trang 15Hinh 2.37 Bộ dụng cụ phẫu thuật cơ bản và phẫu thuật xương 33
Hình 2.38 Nẹp vít nhỏ… 34
Hình 2.39 Độ há miệng hạn chế trước phẫu thuật… 35
Hình 2.40 Hình ảnh gãy cung tiếp trên phim Blondeau, Hirtz… 36
Hình 2.41 Hình ảnh gãy cung tiếp trên phim cắt lớp điện toán 36
Hình 2.42 Hình ảnh gãy cung tiếp trên phim tái tạo ba chiều 37
Hình 2.43 Đường cạo tóc 37
Hình 2.44 Gây tê vùng mổ 38
Hình 2.45 Đường rạch da tai thái dương 38
Hình 2.46 Test thử điện nhánh trán thần kinh mặt 39
Hình 2.47 Rạch lớp cân nông 39
Hình 2.48 Nắn chỉnh và cố định xương 40
Hình 2.49 Khâu đóng da đầu 41
Hình 2.50 Độ há miệng bình thường sau phẫu thuật 42
Hình 2.51 Liệt không hoàn toàn nhánh trán thần kinh mặt 43
Hình 2.52 Hình ảnh sẹo vừa sau phẫu thuật 44
Hình 2.53 Hình ảnh tiếp hợp xương tốt sau phẫu thuật 45
Hình 2.54 Hình ảnh xương di lệch ít sau phẫu thuật 45
Hình 4.55 Liệt không hoàn toàn nhánh trán thần kinh mặt tuần đầu sau phẫu thuật 87
Trang 16Hình 4.56 Hình ảnh tiếp hợp xương tốt tuần đầu sau phẫu thuật 89
Hình 4.57 Hình ảnh xương di lệch ít sau phẫu thuật tuần đầu sau phẫu thuật 90
Hình 4.58 Độ há miệng bình thường 12 tuần sau phẫu thuật 91
Hình 4.59 Sự hồi phục nhánh trán thần kinh mặt 12 tuần sau phẫu thuật 93
Hình 4.60 Sự không hồi phục nhánh trán thần kinh mặt 12 tuần sau phẫu thuật 93
Hình 4.61 Hình ảnh sẹo vừa 12 tuần sau phẫu thuật 94
Hình 4.62 Hình ảnh cố định vít tại rễ tiếp 95
Hình 4.63 Hình ảnh cố định nẹp tại bờ ngoài ổ mắt 96
Hình 4.64 Hình ảnh cố định nẹp tại trụ gò má xương ổ 97
Hình 4.65 Hình ảnh tiếp hợp xương tốt 12 tuần sau phẫu thuật 98
Hình 4.66 Hình ảnh xương di lệch ít 12 tuần sau phẫu thuật 98
Trang 17ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, cùng với sự tăng trưởng nhanh về kinh tế, nhiều khu công nghiệphình thành, đường sá giao thông được làm mới, một số đường giao thông cao tốcđược xây dựng, sự bùng nổ các phương tiện giao thông đặc biệt là xe mô tô tốc độcao cũng là nguyên nhân gây nên nhiều tai nạn giao thông với đa dạng hình tháichấn thương hàm mặt Gãy phức hợp gò má thường gặp trong chấn thương hàmmặt với tỉ lệ trên 40% [1], 50% [4] và gãy cung tiếp đơn thuần chiếm 4,65% [22],4,8% [4], 9% [14], [60], 10% [52], [53], [70], 15% [12]
Vấn đề chẩn đoán và điều trị gãy cung tiếp ở các bệnh viện tuyến tỉnh, huyệncòn gặp nhiều khó khăn do hầu hết các bệnh viện thiếu máy móc, trang thiết bị,đội ngũ y bác sĩ Răng Hàm Mặt Bác sĩ thiếu về số lượng và chưa được đào tạochuyên khoa sâu Phẫu thuật hàm mặt và cập nhật kiến thức kịp thời Do có nhiềuhạn chế như vậy, việc điều trị gãy xương vùng hàm mặt nói chung và gãy cungtiếp nói riêng đa số chuyển về bệnh viện tuyến trên Hơn thế nữa, việc chẩn đoánkhông chính xác, điều trị không đúng chỉ định, chuyển về bệnh viện tuyến trênmuộn sẽ gây biến chứng, di chứng nặng nề về chức năng và thẩm mĩ [14] Việckhắc phục những di chứng này phức tạp, tốn thời gian và kinh phí đối với ngườibệnh
Trong thực tế lâm sàng, trước một bệnh nhân gãy cung tiếp, các bác sĩ phẫuthuật hàm mặt thường lựa chọn phương pháp chỉnh hình đơn giản, dễ thực hiệnnhư chỉnh hình kín với đường rạch tiền đình hàm trên hay đường rạch thái dương.Điều đó sẽ hạn chế kết quả về chức năng và thẩm mĩ sau phẫu thuật
Trang 18Từ những vấn đề nêu trên, Bác sĩ Răng Hàm Mặt phải có kiến thức về chẩnđoán, điều trị gãy cung tiếp không chỉ là chỉnh hình kín mà còn là phẫu thuật hởkết hợp xương, cập nhật những đường rạch phẫu thuật cải thiện tốt về chức năng,thẩm mĩ cho bệnh nhân từ đó hạn chế tình trạng chuyển viện lên tuyến trên Do
đó, đề tài thực hiện với mục tiêu cụ thể như sau:
Mục tiêu tổng quát:
Đánh giá kết quả điều trị gãy cung tiếp qua đường rạch tai thái dươngtại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre từ 4/2017 đến 3/2018
Mục tiêu cụ thể:
1 Khảo sát đặc điểm bệnh nhân gãy cung tiếp trước phẫu thuật
2 Đánh giá kết quả điều trị gãy cung tiếp trên lâm sàng và chẩn đoánhình ảnh qua đường rạch tai thái dương
3 Đánh giá biến chứng tổn thương nhánh trán thần kinh mặt qua đườngrạch tai thái dương
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm giải phẫu cung tiếp và giải phẫu phẫu thuật vùng thái dương,
da đầu
1.1.1 Giải phẫu cung tiếp
Xương thái dương được hợp nhất bởi ba phần riêng biệt: phần đá, phần trai
và phần nhĩ Phần đá tạo thành vỏ bao tai trong và mỏm chũm Phần trai hình thànhmặt ngoài của sọ và diện khớp thái dương hàm Phần nhĩ tạo thành hòm nhĩ Trongcác thành phần cấu tạo nên xương thái dương, phần trai xương thái dương liênquan trực tiếp đến gãy phức hợp gò má (hình 1.1)
Hình 1.1 Xương thái dương
“Nguồn: Trần Ngọc Quảng Phi - Nguyễn Tài Sơn, 2015” [13].
Trang 20Mỏm gò má xương thái dương là một thanh hẹp theo chiều ngoài trong, cóhai chân: chân ngoài nằm ở phần thái dương và chân trong nằm trong phần nền.Mỏm gò má của xương thái dương tiếp khớp mỏm thái dương xương gò má để tạothành cung tiếp (hình 1.2).
Hình 1.2 Sọ nghiêng
“Nguồn: Nguyễn Quang Quyền, 1994” [19].
Cơ thái dương
Cơ cắn
Xương trán
Hình 1.3 Hệ thống cơ liên quan với cung tiếp
“Nguồn: Nguyễn Quang Quyền, 1994” [19].
Trang 21Cung tiếp hình thành chủ yếu bởi mỏm gò má xương thái dương, liên quanđến cơ cắn, cơ thái dương và mỏm vẹt xương hàm dưới (hình 1.3) Phần sâu cơcắn bám vào cung tiếp, cơ thái dương và mỏm vẹt nằm phía trong cung tiếp.
Cơ cắn có tác dụng kéo đoạn gãy cung tiếp xuống dưới trong trường hợpgãy cung tiếp hai đường Cơ thái dương nằm bên dưới cung tiếp bị chèn ép cũnggây há miệng hạn chế Sự khác biệt giữa há miệng hạn chế do cản trở mỏm vẹt và
cơ thái dương chèn ép đáp ứng với thao tác mở miệng cưỡng bức, nhưng há miệnghạn chế do cản trở mỏm vẹt sẽ không đáp ứng với mở miệng cưỡng bức
1.2 Giải phẫu phẫu thuật vùng thái dương và da đầu
Vùng thái dương có nhiều cấu trúc quan trọng cần quan tâm khi lựa chọnđường vào phẫu thuật vùng này, bao gồm nhánh trán và nhánh gò má của thầnkinh mặt, động mạch thái dương nông và thần kinh tai thái dương Trong đó, nhánhtrán và nhánh gò má là cấu trúc dễ tổn thương nhất
Da đầu cấu tạo bởi năm lớp: da, tổ chức mô liên kết dày đặc, mạc trên sọ,
tổ chức liên kết lỏng lẻo, màng xương (hình 1.4)
Lớp đầu tiên là lớp da, chứa nhiều nang tóc và tuyến bã Lớp da đầu dínhchặt vào lớp thứ hai bên dưới Lớp thứ hai cấu tạo bởi mô liên kết dày đặc Tronglớp này có nhiều mạch máu và thần kinh Do cấu trúc lớp này là tổ chức liên kếtdày đặc nó giữ chặt các thành mạch máu nên da đầu chảy máu rất khó cầm Trênthực tế lâm sàng, khi tiêm thuốc tê có epinephrine để cầm máu nên tiêm đúng vàolớp thứ hai này sẽ giúp hạn chế chảy máu trong phẫu thuật Lớp thứ ba là mạc trên
sọ, đây là một màng cân rất chắc, nối bụng chẩm và bụng trán cơ chẩm trán Vếtthương da đầu sẽ không bị hở nếu chưa cắt ngang lớp này
Trang 22Cân nông cơ thái dương là mốc giải phẫu quan trọng, liên quan mật thiếtđường vào phẫu thuật vùng thái dương gò má Cân nông cơ thái dương có nguyên
ủy từ đường thái dương trên Khi chạy xuống dưới về phía cung tiếp, cách bờ trêncung tiếp 2 cm, cân tách thành hai lá: lá nông và lá sâu, bọc cơ thái dương ở phíadưới Theo Al-Kayat và Bramley, nhánh thái dương thần kinh mặt chạy theohướng lên trên và ra trước, tạo với cung tiếp một góc 45° Đây là cơ sở cho việcrạch cân nông cơ thái dương lên trên và ra trước, tạo góc 45° so với cung tiếp nhằmtránh tổn thương nhánh thái dương thần kinh mặt
Lớp thứ tư là lớp tổ chức lỏng lẻo, ít mạch máu Các tĩnh mạch liên lạc nốicác xoang tĩnh mạch nội sọ với tĩnh mạch da đầu xuyên qua vùng này Do sự hiệndiện của các tĩnh mạch liên lạc, lớp mô liên kết lỏng lẻo được xem là vùng nguyhiểm của da đầu Trong chấn thương, máu và dịch có thể lan nhanh chóng tronglớp này gây phù nề, đồng thời cũng dễ dàng lan xuống tổ chức liên kết quanh hốcmắt gây nên dấu hiệu thâm tím mi mắt
Lớp cuối cùng là màng xương, dính chặt vào mặt ngoài xương sọ Trongphẫu thuật chỉ nên rạch màng xương khi bóc tách đến ổ gãy Sau khi phẫu thuậtphải khâu đóng từng lớp theo cấu trúc giải phẫu
Trang 23Hình 1.4 Cấu trúc lớp da đầu
“Nguồn: Fonseca R.J., 2017” [45].
Nhánh trán và nhánh gò má thần kinh mặt bắt chéo cung tiếp ở phía trướchoặc sau lồi khớp, đi lên trên và ra trước vào chi phối bụng trán cơ chẩm trán, cơvòng mắt, cơ gò má lớn và cơ gò má nhỏ Trong vùng thái dương, thần kinh nằmtrong mô liên kết dày, trên cân nông cơ thái dương (hình 1.5)
Al-Kayat và Bramley nghiên cứu đặc điểm giải phẫu nhánh trán và nhánh
gò má, đề xuất đường rạch phẫu thuật an toàn đối với nhánh thần kinh này trongphẫu thuật khớp thái dương hàm và phẫu thuật vùng thái dương
Thần kinh tai thái dương là nhánh cảm giác của thần kinh hàm dưới Thầnkinh đi cùng bó động tĩnh mạch thái dương nông đi dọc trước bình tai, chi phốicảm giác loa tai và vùng thái dương
Da đầuCân cơ
Mô liên kết
lỏng lẻo
Màngxương
Da đầu
Da đầu
Mô liênkết cứng
Mô liênkết lỏnglẻo
MàngxươngXương
Trang 24Hình 1.5 Giải phẫu phẫu thuật nhánh trán và nhánh gò má
“Nguồn: Al-Kayat A.,Bramley P., (1979)” [26].
1.2 Đặc điểm dịch tễ học, cơ chế chấn thương và hình thái gãy cung tiếp 1.2.1 Dịch tễ gãy cung tiếp
Bảng 1.1 Tỉ lệ gãy cung tiếp.
Trang 25-Bảng 1.2 Nguyên nhân gãy cung tiếp.
3 trụ chính và 1 trụ phụ Đỉnh xương gò má hay “mặt ghế” có dạng vòm nên lựctác động sẽ truyền qua các trụ đến các xương lân cận Trụ gò má thái dương dàinhất, lại trùng với mặt phẳng lực tác động vào xương gò má nên là vị trí gãy phứctạp nhất Trường hợp hướng lực đi từ trước ra sau, lực sẽ truyền dọc theo cungtiếp Cung tiếp có dạng cong, nhưng lực truyền theo phương thẳng do đó lực sẽthoát ra khỏi cung tiếp Vị trí thoát lực là vị trí chịu lực căng cao nhất nên thường
bị gãy Vị trí này không nằm trên đường nối gò má thái dương mà cách đườngkhớp khoảng 1,5cm về phía xương thái dương Trường hợp lực giải phóng toàn
bộ qua đường gãy, xương gãy có dạng “chồng ngắn” cung tiếp Trường hợp lựckhông giải phóng toàn bộ qua đường gãy, phần lực còn lại tác động lên phần cung
Trang 26tiếp như một lực bật Vị trí chịu lực cao nhất lúc này là ngay rễ tiếp và xương gãy
có dạng gồ cung tiếp Trường hợp lực hướng vào trong và hơi ra sau, lực tác độngtheo kiểu uốn cong cung tiếp, cũng gây hình thái gãy gồ cung tiếp, nhưng kèmtheo hình thái gãy kiểu “nhát rìu” tại vị trí phía trước Trường hợp lực theo phươngngang và tác động ngay cung tiếp, gây gãy đơn thuần dạng “nhát rìu” hoặc gãythành mảng
1.2.3 Hình thái di lệch trong gãy cung tiếp
Di lệch trong gãy cung tiếp chủ yếu là di lệch nguyên phát Các hình thái dilệch trong gãy cung tiếp được đánh giá theo 3 chiều không gian: chiều trước sau,chiều ngang và chiều trên dưới
Di lệch theo chiều trên dưới là di lệch thứ phát do tác động của cơ cắn Hìnhthái di lệch này thường xảy ra trong trường hợp gãy vụn khối hàm gò má và gãycung tiếp nhiều đường Khối xương gò má hoặc những mảnh xương tách rời bị cơcắn kéo xuống dưới Trường hợp này khi phẫu thuật, nhiều lúc phải cắt phần cơcắn bám vào bờ dưới xương gò má mới có thể nắn chỉnh và kết hợp xương được
1.3 Phân loại gãy cung tiếp
1.3.1 Phân loại của Kazubiko Yamamoto [70]
Kazubiko Yamamoto và cộng sự (2007) nghiên cứu 40 bệnh nhân gãy cung
tiếp đơn thuần Tác giả chia các đường gãy cung tiếp thành năm nhóm, tùy thuộcmức độ di lệch và mất tiếp xúc xương trên chiều thế ngang phim qui ước và phimcắt lớp điện toán Phân loại gồm:
Nhóm I: Không di lệch Nhóm II: Di lệch, nhưng có sự tiếp xúc xương ởđường gãy Nhóm III: Di lệch, không có sự tiếp xúc xương ở 1 đường gãy Nhóm
Trang 27IV: Di lệch, không có sự tiếp xúc xương ở 2 đường gãy Nhóm V: Gãy vụn hoặc
di lệch, không có sự tiếp xúc xương ở 3 đường gãy hoặc nhiều hơn
1.3.2 Phân loại Irfan Özyazgan [60]
Phân loại Irfan Özyazgan đề nghị 2007, với những phân nhóm gãy cungtiếp mà các tác giả trước đó chưa đề cập đến Özyazgan chia gãy cung tiếp thànhhai nhóm lớn: gãy cung tiếp đơn thuần và gãy cung tiếp kết hợp
Hình 1.6 Phân loại gãy cung tiếp theo Yamamoto K.
“Nguồn: Yamamoto K., 2007” [70].
Hình 1.7 Phân loại gãy cung tiếp
Trang 281.3.3 Phân loại Trần Ngọc Quảng Phi [13]
Phân loại này dựa trên cơ sở cơ chế chấn thương, hình thái di lệch và đặcđiểm lâm sàng Về cơ chế chấn thương, hướng lực và cường độ lực là hai yếu tốchính làm nền tảng cho phân loại (hình 1.11)
- Dựa trên cường độ lực, gãy phức hợp gò má được chia thành ba nhóm:Nhóm I: Gãy không di lệch Nhóm II: Gãy di lệch Nhóm III: Gãy vụn
- Lực tác động theo phương ngang
Nhóm A: Lực tác động theo hướng trước sau Nhóm B: Lực tác động theohướng đỉnh gò má – lỗ chẩm Nhóm C: Lực tác động theo hướng ngang
- Hình thái di lệch quay và tịnh tiến là đặc tính thứ ba được xét đến trongphân loại: 1 Di lệch tịnh tiến
2 Di lệch quay
Hình 1.8 Phân loại gãy phức hợp gò má
“Nguồn : Trần Ngọc Quảng Phi – Nguyễn Tài Sơn, 2015” [13].
Trên bệnh nhân gãy phức hợp gò má di lệch, sự phối hợp cường độ lực,hướng lực và hình thái di lệch tạo thành các nhóm:
Hình 1.9 Gãy di lệch tịnh tiến hướng trước sau, thể gồ cung tiếp A1a
(Nắn hở, đường thái dương đỉnh)
Trang 29Hình 1.10 Gãy di lệch tịnh tiến hướng trước sau, thể chồng ngắn A1b (Nắn hở, đường
tại chỗ hoặc đường thái dương đỉnh)
Hình 1.11 Gãy di lệch quay hướng trước sau A2 (Nắn kín qua xoang hoặc kết hợp xương
Trang 30Hình 1.14 Gãy di lệch quay sau thể gồ cung tiếp B2b (Nắn hở, đường thái dương đỉnh).
Hình 1.15 Gãy di lệch quay sau thể tách rời cung tiếp B2c (Nắn hở, đường thái dương đỉnh).
Hình 1.16 Gãy di lệch tịnh tiến hướng ngang C1
(Nắn hở, đường tai thái dương)
Hình 1.17 Gãy di lệch hướng ngang, thể cửa bật C2a (Nắn kín, cố định ngoài).
Trang 31Hình 1.18 Gãy cung tiếp kiểu nhát rìu kín C2b
(Nắn kín đường thái dương hoặc đuôi cung mày)
Hình 1.19 Gãy cung tiếp kiểu tách rời C2c (Nắn
hở, đường tai thái dương)
“Nguồn : Trần Ngọc Quảng Phi – Nguyễn Tài Sơn, 2015” [13].
1.4 Triệu chứng lâm sàng
Sưng nề
Sưng nề vùng gò má, cung tiếp là dấu hiệu phổ biến với nhiều mức độ khácnhau tùy thuộc cường độ chấn thương và cơ địa bệnh nhân, ít có giá trị trong chẩnđoán
Biến dạng
Biến dạng gò má trong những ngày đầu thường bị che lấp bởi sưng nề Biếndạng xương gò má và cung tiếp là triệu chứng lâm sàng quan trọng trong chẩnđoán và điều trị gãy phức hợp gò má
Gián đoạn và đau chói
Trang 32Gián đoạn và đau chói là dấu hiệu rất có giá trị trong chẩn đoán gãy cungtiếp
Há miệng hạn chế
Há miệng hạn chế trong gãy phức hợp gò má có thể do cản trở cơ học hoặctổn thương cơ cắn, cơ thái dương Cản trở cơ học gây ra do gãy cung tiếp kiểu nhátrìu chèn vào mỏm vẹt trong vận động há miệng Những trường hợp này sẽ đượcgiải quyết khi phẫu thuật nắn chỉnh cung tiếp lên tốt Tuy nhiên, trong há miệnghạn chế do tổn thương cơ cắn hoặc cơ thái dương, bệnh nhân phải tập vận độnghàm tích cực mới tránh được di chứng há miệng hạn chế sau chấn thương
1.5 Chẩn đoán hình ảnh [13]
Phim X quang sử dụng trong khảo sát gãy cung tiếp và gãy phức hợp gò mábao gồm phim qui ước, phim cắt lớp điện toán và phim tái tạo ba chiều Hai phimqui ước được sử dụng chủ yếu trong gãy phức hợp gò má là phim Water’s và phimHirtz Ngoài ra, chụp cắt lớp điện toán hiện nay được sử dụng rộng rãi và rất cógiá trị trong đánh giá các chi tiết tổn thương xương
1.5.1 Phim Water’s
Phim Water’s chủ yếu khảo sát chấn thương tầng mặt giữa Việc đánh giáxương hàm trên, xương gò má, xương mũi và ổ mắt được mô tả dựa trên ba đườngchính: đường hàm trên, đường gò má, đường ổ mắt (hình 1.20)
Đường gãy khảo sát trên phim Water’s rất rõ ở vùng hàm - gò má, trán – gò
má, thái dương - gò má, nhưng ở vùng khớp bướm - gò má và vùng chân cung tiếpđường gãy rất khó phát hiện Có thể đánh giá đường gãy cung tiếp nhưng đánh giáhình thái di lệch cung tiếp còn hạn chế
Trang 33Hình 1.20 Các đường chấn thương trong gãy phức hợp gò má
“Nguồn : Trần Ngọc Quảng Phi – Nguyễn Tài Sơn, 2015” [13].
Tổn thương sàn ổ mắt xảy ra khá phổ biến trong gãy phức hợp gò má Theomột số tác giả, phim Water’s có thể khảo sát tổn thương ổ mắt nhưng khả năngđánh giá tổn thương sàn ổ mắt rất hạn chế
1.5.2 Phim Hirtz
Hình 1.21 Phim Hirtz và hình ảnh gãy cung
tiếp.“Nguồn : Trần Ngọc Quảng Phi – Nguyễn Tài Sơn, 2015” [13].
Phim Hirtz chủ yếu khảo sát gãy thân xương gò má và cung tiếp trên bìnhdiện ngang Mặc dù không cung cấp nhiều chi tiết xương gãy như trong phimWater’s nhưng phim Hirtz là phim quan trọng trong đánh giá các hình thái di lệchcủa xương gò má và cung tiếp
Đường ổ
Đường hàm trên
Đường ổ
Trang 341.5.3 Phim cắt lớp điện toán
Trong chấn thương hàm mặt, khám lâm sàng cẩn thận và chụp phim thôngthường có thể giúp chẩn đoán hầu hết các trường hợp gãy xương Tuy nhiên nhữngđường gãy lan sâu vào tầng giữa mặt, vùng ổ mắt, vùng khớp thái dương hàm khó
có thể phát hiện và đánh giá hình thái, mức độ di lệch trên phim qui ước Cácxương nền sọ nằm sau khối xương mặt thường chồng lắp trên phim nhất là trongchiều thế trước sau càng làm giảm giá trị chẩn đoán hình ảnh trên phim qui ước
Chụp cắt lớp điện toán cung cấp dữ kiện chẩn đoán phần xương trên nhữngbình diện khác nhau Các chiều thế chụp cắt lớp điện toán theo mặt phẳng cắtngang, đứng ngang, đứng dọc
Mặt phẳng cắt ngang đánh giá: tình trạng xuất huyết hậu nhãn cầu, tìnhtrạng chèn ép thần kinh thị, tình trạng di lệch nhãn cầu theo chiều trước sau
Hình 1.22 Phim cắt lớp điện toán mặt phẳng ngang.
“Nguồn : Trần Ngọc Quảng Phi – Nguyễn Tài Sơn, 2015” [13].
Mặt phẳng đứng ngang đánh giá: mức độ thiếu hổng sàn ổ mắt, tình trạngthoát vị tổ chức quanh nhãn cầu xuống xoang hàm, kẹt cơ vận nhãn trong gãysàn ổ mắt, tăng hay giảm thể tích hốc mắt, tình trạng di lệch nhãn cầu theo chiềutrên dưới
Trang 35Hình 1.23 Phim cắt lớp vi tính mặt phẳng đứng ngang “Nguồn : Trần Ngọc Quảng Phi – Nguyễn Tài Sơn, 2015” [13].
Mặt phẳng đứng dọc đánh giá thương tổn sàn ổ mắt theo chiều trước sau
Hình 1.24 Phim cắt lớp vi tính mặt phẳng đứng dọc.“Nguồn : Trần Ngọc Quảng Phi – Nguyễn Tài Sơn, 2015” [13].
1.5.4 Phim tái tạo ba chiều
Cho phép đánh giá tình trạng gãy, di lệch của khối gò má cùng các cấu trúcliên quan chính xác và chi tiết hơn Tuy nhiên, hình ảnh tái tạo ba chiều không thểthay thế hoàn toàn các chiều thế khác cũng như phim qui ước Phim tái tạo bachiều có các chiều thế khảo sát:
Chuẩn mặt: khảo sát bờ dưới, bờ ngoài, bờ trên ổ mắt, tình trạng di lệchchiều trên dưới xương gò má, cung tiếp
Hình 1.25 Chuẩn mặt.“Nguồn : Trần Ngọc Quảng Phi – Nguyễn Tài Sơn, 2015” [13].
Trang 36Chuẩn mặt 30°: khảo sát hình ảnh gãy sàn ổ mắt.
Hình 1.26 Chuẩn mặt 30° “Nguồn : Trần Ngọc Quảng Phi – Nguyễn Tài Sơn, 2015” [13].
Chuẩn bên: khảo sát tình trạng di lệch theo chiều trên dưới của xương gò
Chuẩn nền: là chiều thế khảo sát chính các hình thái di lệch phức hợp gò
má Chiều thế tái tạo theo hướng cằm – đỉnh đầu, tương tự phim Hirz Khảo sátcác hình thái gãy, di lệch gò má, cung tiếp theo bình diện ngang
Trang 37Hình 1.29 Chuẩn nền.“Nguồn : Trần Ngọc Quảng Phi – Nguyễn Tài Sơn, 2015” [13].
1.6 Điều trị gãy cung tiếp
1.6.1 Lịch sử điều trị gãy gò má, cung tiếp [4], [7], [14], [22]
Việc điều trị gãy xương đã được ghi lại từ năm 1650 trước công nguyên.Smith Paryrus có lẽ là tài liệu đầu tiên đã mô tả và đề nghị những cách thức điềutrị những kiểu gãy xương gò má
Năm 1751, Duverney đã mô tả thao tác nắn chỉnh cung tiếp và vai trò cơthái dương trong khi điều trị
Năm 1825, Ferrier tiến hành nắn xương gò má bằng đường rạch ngay trêncung tiếp
Năm 1906, Lothrop đã mô tả kĩ thuật tiếp cận xương gò má gãy qua xoanghàm Phương pháp này tránh được những đường rạch bên ngoài và cho lối vàoxoang hàm nhằm lấy ra những mảnh xương vụn, dẫn lưu máu tụ xoang hàm.Phương pháp này ngày nay là phương pháp Caldwell-Luc
Năm 1909, Keen là người đầu tiên mô tả phương pháp nắn chỉnh cung tiếp
bị gãy qua đường rạch trong miệng, ngoài xoang
Năm 1927, Gillies đã mô tả phương pháp để nắn chỉnh xương gò má bị gãyqua đường rạch phía sau đường chân tóc mai và trên cơ thái dương Phương phápnày vẫn còn được sử dụng để nâng cung tiếp cho đến ngày nay
Trang 38Năm 1928, Bourguet giới thiệu đường rạch xuyên kết mạc để điều trị cáctrường hợp gãy bờ dưới ổ mắt và sàn ổ mắt.
Năm 1934, Risdon đã mô tả đường rạch da trước tai để tiếp cận được khớpthái dương hàm và cung tiếp
Năm 1942, Adams nắn chỉnh trực tiếp và cố định xương gò má gãy bằngchỉ thép
Năm 1962, Gonzales Ullca đã sử dụng đường rạch trán thái dương để tạohình chấn thương và dị tật bẩm sinh vùng sọ mặt
Năm 1979, Alkayat và Bramley đã sử dụng đường rạch trước tai cải biênhay đường rạch tai thái dương trong điều trị gãy lồi cầu và cung tiếp
Năm 1991, Abubacker báo cáo 27 trường hợp áp dụng đường rạch trán tháidương trong điều trị gãy vụn xương gò má-cung tiếp với kết quả tốt 90%
Năm 1993, Michell-DA báo cáo 50 trường hợp chấn thương tầng giữa mặt
áp dụng đường rạch trán thá dương với kết quả tốt 95%
Năm 2002, Arnulf Braumann giới thiệu kĩ thuật nắn chỉnh xương gò mácung tiếp bị gãy vụn qua đường rạch lột găng tầng giữa mặt kết hợp với đườngrạch cung mày phía bên và dưới mi
Năm 2002, M.Krimmel giới thiệu kĩ thuật nắn chỉnh và cố định xương gò
má - cung tiếp bị gãy vụn qua đường rạch trước tai và dưới mi với sự hổ trợ củanội soi
1.6.2 Các phương pháp điều trị
1.6.2.1 Điều trị bảo tồn
Theo nghiên cứu của Ellis và cộng sự [42], gãy cung tiếp đơn thuần khôngcần điều trị chiếm tỉ lệ 20%, những trường hợp khác có thể sử dụng phương pháp
Trang 39nắn kín hoặc nắn hở Không can thiệp phẫu thuật cho những trường hợp cung tiếpgãy không di lệch.
Trang 40Các đường rạch phẫu thuật: đường rạch tiền đình hàm trên, đường rạch đuôimày trên ổ mắt, đường rạch thái dương.
Phẫu thuật nắn hở [42]
Chỉ định: Tất cả những trường hợp không thể nắn kín được hoặc khôngthể cố định xương gãy thông qua phương pháp nắn kín Ưu điểm: Nhìn thấy trựctiếp vị trí cung tiếp gãy để cố định xương Nhược điểm: Sẹo nhìn thấy rõ, thờigian phẫu thuật kéo dài, nguy cơ tổn thương nhánh trán dây thần kinh mặt, nguy
cơ teo phần mềm vùng thái dương
Các đường rạch phẫu thuật: đường rạch trước tai, đường rạch tai thái
dương (đường rạch trước tai biến đổi), đường rạch trán thái dương
1.6.3 Các đường vào phẫu thuật điều trị gãy cung tiếp
1.6.3.1 Đường rạch tiền đình hàm trên (Đường rạch Keen) [42]
Hình 1.31 Đường rạch tiền đình hàm trên (đường rạch Keen) “Nguồn: Ellis E., 2006” [42].
Đường rạch tiền đình hàm trên là một trong những đường rạch hữu ích nhấtkhi thực hiện các phẫu thuật ở tầng giữa mặt Cho phép tiếp cận tương đối an toàntoàn bộ mặt trước của tầng mặt giữa, từ cung tiếp đến bờ dưới ổ mắt
Ưu điểm: giấu sẹo, thực hiện tương đối đơn giản, nhanh chóng và ít biếnchứng Không nguy cơ tổn thương dây thần kinh VII khi còn ở trong mặt phẳng