Bài nghiên cứu rút ra được các phát hiện quan trọng sau đây: Thứ nhất, với tình hình tài chính hóa nền kinh tế ngày càng được chú trọng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng,
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Lý do chọn đề tài
Tăng trưởng kinh tế từ lâu đã không chỉ là nghị sự hàng đầu của tất cả các nhà nước, chính phủ, các nhà kinh tế học lẫn các chính trị gia, mà còn nhận được mối quan tâm sâu sắc từ cộng đồng doanh nhân rộng lớn và cả dân chúng Tăng trưởng kinh tế thường đi liền với hai yếu tố đó là sự phát triển của hệ thống tài chính và lạm phát Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát đã trở thành một chủ đề nóng trong việc nghiên cứu nền kinh tế vĩ mô suốt một thời gian dài Cụ thể, mối quan hệ là năng động và có điều kiện, đó là gắn liền với môi trường xã hội và kinh tế, chính sách vĩ mô, cú sốc ngoại sinh Lạm phát ở mức cao thường được coi như dấu hiệu cảnh báo mối nguy hiểm đe dọa tới tăng trưởng kinh tế, trong khi mức độ phát triển thực sự của khu vực tài chính lại được xem như biểu hiện năng lực của nền kinh tế
Vai trò của hệ thống tài chính đối với nền kinh tế bao gồm tăng tiết kiệm cho vốn đầu tư, tăng hiệu quả sử dụng vốn, tăng tinh thần doanh nghiệp Một hệ thống tài chính minh bạch, linh hoạt và hiệu quả, giúp thu hút đầu tư, là động lực tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích to lớn của tự do hóa tài chính, chứng kiến các cuộc khủng hoảng tài chính đã từng xảy ra như ở Mexico năm 1994 - 1995, khủng hoảng tài chính Thái Lan và các nước châu Á năm 1997 hay khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009, cùng những hệ lụy của nó đối với nền kinh tế, cụ thể, tỷ lệ tăng trưởng ở tất cả các nền kinh tế lớn đều ở mức thấp hơn rất nhiều so với mức từng đạt được trước khủng hoảng 2006-2007 và đến tận ngày nay vẫn chưa thể cán mốc trở lại Việt Nam từ năm 2008 đến nay, nền kinh tế không chỉ suy giảm về tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn bộc lộ rõ những bất ổn và yếu kém Rủi ro tài chính tăng cao khi lạm phát tăng ở mức kỷ lục trong năm 2008 Qua đó cho thấy những bất cập trong hệ thống tài chính có thể gây ra những hậu quả sâu sắc tới nền kinh tế
Vai trò của khu vực tài chính trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn đã và đang thu hút rất nhiều sự quan tâm và tranh luận của nhiều nhà kinh tế tài chính Theo quan điểm của trường phái kinh tế mới (lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh), Mankiw
(1992), King và Levine (1993) nhấn mạnh rằng một khu vực tài chính vững mạnh có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn, đổi mới công nghệ (TFP), nghiên cứu và phát triển (R&D) thông qua các kênh cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp và hộ kinh tế gia đình Hơn thế nữa, một khu vực tài chính vững mạnh không chỉ giới hạn chức năng huy động các nguồn vốn trong nước mà còn có chức năng rất lớn tới thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn bên ngoài nền kinh tế như vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn đầu tư gián tiếp (FPI)
Theo thống kê không đầy đủ, hai thập kỷ cuối cùng đã chứng kiến sự bùng nổ tài sản tài chính quy mô toàn cầu đại diện bởi các cổ phiếu, trái phiếu và các thị trường phái sinh, tăng từ 70 nghìn tỷ 1998 lên 240 nghìn tỷ vào năm 2012, gấp khoảng 3 lần GDP toàn cầu
Việc tài chính hóa kinh tế đã dẫn đến một loạt các hiện tượng khó giải thích, đưa ra thách thức lớn cho các lý thuyết hiện đại, tăng trưởng kinh tế và lạm phát dưới khuôn khổ thời cổ đại Trở lại những năm 70, hiện tượng lệch lạc giữa cung tiền, tăng trưởng kinh tế và lạm phát đã bắt đầu xuất hiện ở một số nước phát triển các quốc gia như nước Mỹ và Vương quốc Anh Không chỉ vậy, việc phục hồi thất nghiệp thậm chí đã diễn ra ở Mỹ, đó là gắn liền với sự chuyển đổi tổng thể theo những cách tăng trưởng kinh tế và hoạt động kinh tế Ngoài ra, 'Câu đố tiền tệ ở Trung Quốc' xuất hiện, có nghĩa là tồn tại mối quan hệ bất thường giữa những thay đổi trong cung tiền và các biến số kinh tế vĩ mô như sản lượng và giá cả, cũng đã thu hút rất nhiều sự chú ý (xem, ví dụ, Liu và Wu 2004, Wu
Với việc tăng cường tài chính hóa nền kinh tế cũng như tốc độ phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính, tài sản tài chính tiếp tục mở rộng trong khi những đổi mới về tài chính tiếp tục phát triển, có nghĩa là mức độ tài chính hóa không thể bị coi nhẹ hơn nữa, đặc biệt là ảnh hưởng của nó đối với mối quan hệ giữa cung tiền, tăng trưởng kinh tế và lạm phát Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Phát triển tài chính và mối quan hệ giữa cung tiền, tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam, liên hệ với nước Mỹ”.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài luận văn nghiên cứu các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ tương tác giữa sự phát triển tài chính trong mối hệ giữa tăng trưởng kinh tế với các biến số vĩ mô như cung tiền và lạm phát, sau đó dùng mô hình thực nghiệm VECM để phân tích đóng góp bằng chứng thực nghiệm ở Việt Nam, thông qua việc trả lời câu hỏi nghiên cứu nền tảng như sau:
Thứ nhất, luâ ̣n văn khám phá sự tiến triển mối quan hệ trong cung tiền, tăng trưởng kinh tế và lạm phát từ quan điểm của sự phát triển tài chính
Thứ hai, luận văn cũng tiến hành phân tích và đánh giá mức đô ̣ phát triển tài chính ở Việt Nam, đánh giá hiệu quả tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua dựa trên số liệu sẵn có để hiểu thêm về thực trạng tăng trưởng kinh tế, sự phát triển tài chính và các biến vĩ mô có liên quan Mức độ đóng góp của các yếu tố được xác định qua hàm phản ứng sung và phân rã phương sai.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Bài nghiên cứu thực nghiệm tại quốc gia Việt Nam và liên hệ kết quả nghiên cứu tại Mỹ
Mỹ là một trong những quốc gia có hệ thống tài chính lâu đời và phát triển gần như toàn diện về cấu trúc và chức năng Đối với Mỹ, các hoạt động tài chính bao gồm các giao dịch đầu cơ bằng đòn bẩy và chứng khoán hoá tài sản đang ngày một phát triển, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế hiện nay, và sự khác biệt căn bản đó dựa trên tài nguyên đầu vào và tiến bộ công nghệ Hiện tượng lệch lạc giữa cung tiền, tăng trưởng kinh tế và lạm phát đã bắt đầu xuất hiện ở Mỹ từ những năm 70
Khác với Mỹ, hệ thống tài chính Việt Nam ra đời khá trễ, còn rất non trẻ và đang từng bước được hoàn thiện Thị trường vốn ở Việt Nam đang phát triển dần dần và xuất hiện các đặc tính kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Như vậy, để có được cái nhìn toàn diện về ảnh hưởng của phát triển tài chính đối với các biến kinh tế vĩ mô, trong tất cả các giai đoạn của tài chính hóa nền kinh tế, chúng tôi tập trung vào sự phát triển tài chính trong thời kỳ tiến tới công nghiệp hóa nền kinh tế của Việt Nam, kết hợp với phân tích sự phát triển tài chính và tiến hóa từ thời kỳ công nghiệp hoá đến nền kinh tế tài tài chính của Mỹ, phân tích có hệ thống và toàn diện được thực hiện trên sự thay đổi của hoạt động kinh tế tổng thể nhằm giải thích sự phát triển mối quan hệ giữa cung tiền, tăng trưởng kinh tế và lạm phát từ góc độ mới
Khi xem xét tính sẵn có của dữ liệu, phân tích thực nghiệm sử dụng dữ liệu từng quý để nghiên cứu tác động của sự phát triển tài chính đối với mối liên kết lạm phát - tiền tệ với sự so sánh của Việt Nam (2000Q3-2016Q4) và so sánh với kết quả nghiên cứu trước tại
Mặc dù Việt Nam đã mở cửa và hội nhập kinh tế kể từ năm 1986, tuy nhiên trải qua các thời kỳ phát triển của nền kinh tế, sau ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 1997, mãi đến năm 2000 thị trường tài chính Việt Nam mới chính thức khởi động, đánh dấu bằng việc ra đời của sàn chứng khoán đầu tiên - Sở giao dịch chứng khoàn Hồ Chí Minh (HOSE)
Do đó, trong phạm vi thống kê, tác giả lựa chọn bộ số liệu nghiên cứu tại Việt Nam từ 2000-2016 Bài nghiên cứu sử dụng phần mềm EVIEWS 8.0 trong phân tích định lượng
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu, đối tượng của bài nghiên cứu là mối quan hệ tác động giữa các biến số kinh tế vĩ mô bao gồm tăng trưởng kinh tế, lạm phát và cung tiền trong môi trường của quá trình phát triển tài chính.
Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
Năm 1980, Sims giới thiệu mô hình VAR vào nền kinh tế, thúc đẩy việc áp dụng rộng rãi phân tích năng động của hệ thống kinh tế Đây là một loại mô hình phi cấu trúc và mối quan hệ giữa các biến không dựa trên lý thuyết kinh tế, đã biến phương pháp này trở thành một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi nhất
Trong bài viết này, mô hình VECM được áp dụng vào phân tích thực nghiệm về sự phát triển mối quan hệ giữa cung tiền, tăng trưởng kinh tế và lạm phát trong quá trình từng bước tài chính hóa nền kinh tế Với mục đích theo chiều dọc và so sánh theo chiều ngang, mô hình VECM sau đây được thiết lập tương ứng
Sau khi kiểm định tính dừng và đồng liên kết nhằm tránh hồi quy giả mạo, cùng với kết qủa cho thấy dữ liệu không dừng ở bậc gốc, tác giả xác định mô hình VECM là phù hợp trong phân tích Trong phân tích mô hình VECM, tác giả xác định trật tự trễ tối ưu và thử nghiệm độ ổn định, một ứng dụng quan trọng của mô hình VECM là phân tích mối quan hệ nhân quả giữa các biến kinh tế thông qua hàm phản ứng xung và phân rã phương sai Chức năng phản ứng xung là có ý nghĩa quan trọng, có lợi ích trong việc đo lường tác động của độ lệch chuẩn của đại lượng nhiễu ngẫu nhiên đại diện cho cú sốc từ một số biến nội tại về giá trị hiện tại và tương lai tới tất cả các biến nội sinh trong mô hình VECM
Tác giả sử dữ liệu được thu thập từ năm 2000 đến 2016 để tạo ra một dữ liệu chuỗi thời gian Dữ liệu được thu thập từ nguồn dữ liệu Data Streams Đây là nguồn dữ liệu tin cậy và được thừa nhận trong các nghiên cứu xếp hạng uy tín ở trong và ngoài nước.
Bố cục luận văn
Nội dung chính của luận văn bao gồm 5 chương được trình bày cụ thể theo trình tự sau: Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Ý nghĩa nghiên cứu
Đóng góp chính của bài viết này dựa trên mối quan hệ giữa cung tiền, tăng trưởng kinh tế và lạm phát đã thu hút được sự quan tâm đáng kể và nhận được xu hướng nghiên cứu những thập niên gần đây khi xu hướng tự do hóa trong đó có tự do dòng vốn được mở rộng, với sự lan truyền của hội nhập thị trường tài chính Vì vậy, không giống như các nghiên cứu trước đó, bài viết này khám phá sự tiến triển mối quan hệ trong cung tiền, tăng trưởng kinh tế và lạm phát từ quan điểm của sự phát triển tài chính, hiện vẫn còn khan hiếm Hơn nữa, so sánh hệ thống và toàn diện trước tiên được thực hiện trên sự thay đổi của hoạt động kinh tế tổng thể do sự phát triển tài chính, dựa trên mô hình VECM được áp dụng để tập trung vào ảnh hưởng của mức độ tài chính đến sự phát triển của mối quan hệ trên quan sát theo thời gian
Từ những hiểu biết về mối quan hệ về phát triển tài chính và các yếu tố vĩ mô tại thực nghiệm Việt Nam – quốc gia có tăng trưởng cao trong xu hướng chuyển dịch từ Tây sang Đông của nền kinh tế thế giới tại khu vực Đông Á, các nhà làm chính sách lưu ý tới yếu tố phát triển tài chính trong quản trị các yếu tố vĩ mô đến mục tiêu.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Tổng quan lý thuyết
2.1.1 Cơ sở lý luận về phát triển tài chính 1 :
Ngành tài chính là tập hợp các tổ chức, công cụ, thị trường, cũng như khung pháp lý và quy định cho phép giao dịch được thực hiện bằng cách mở rộng tín dụng Về cơ bản, phát triển của khu vực tài chính là khắc phục "chi phí" phát sinh trong hệ thống tài chính Quá trình giảm chi phí thu thập thông tin, thực thi hợp đồng và giao dịch dẫn đến sự xuất hiện của các hợp đồng tài chính, thị trường và các bên trung gian Các kiểu và các cách thức phối hợp khác nhau của thông tin, quá trình thực thi và chi phí giao dịch kết hợp với các hệ thống luật pháp, quy định và luật thuế khác nhau đã thúc đẩy các hợp đồng, thị trường và trung gian khác biệt giữa các quốc gia và trong suốt quá trình lịch sử
Phát triển tài chính được biểu hiện thông qua sự phát triển của hệ thống tài chính, bao gồm các Tổ chức tài chính, Thị trường tài chính, Công cụ tài chính và Cơ sở hạ tầng tài chính
Các thước đo phát triển tài chính
Một thước đo tốt về phát triển tài chính là rất quan trọng để đánh giá sự phát triển của khu vực tài chính và hiểu được tác động của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Trên thực tế, tuy nhiên, rất khó để đo lường sự phát triển về tài chính vì nó là một khái niệm rộng lớn và có nhiều khía cạnh Công việc thực nghiệm được thực hiện cho đến nay thường dựa trên các chỉ số định lượng chuẩn, sẵn có cho một loạt thời gian dài trong một phạm vi rộng các quốc gia
Tuy nhiên, do khu vực tài chính của một quốc gia bao gồm nhiều tổ chức tài chính, thị trường và sản phẩm, các biện pháp này là ước tính sơ bộ và không nắm bắt được mọi khía cạnh của phát triển tài chính
1 Nguồn: http://www.worldbank.org/en/publication/gfdr/background/financial-development
Cơ sở dữ liệu phát triển tài chính toàn cầu của Ngân hàng Thế giới đã xây dựng một khuôn khổ khái niệm 4x2 toàn diện nhưng tương đối đơn giản để đo lường sự phát triển tài chính trên toàn thế giới Khung này xác định bốn bộ biến số mô tả một hệ thống tài chính hoạt động tốt: độ sâu, khả năng tiếp cận, hiệu quả và sự ổn định tài chính Bốn chiều dùng mô tả này sau đó được sử dụng đo hai thành phần chính trong khu vực tài chính, đó là các định chế tài chính và thị trường tài chính Đơn cử cho mỗi bộ biến số như:
Phản ánh độ sâu của tài chính bao gồm: tín dụng khu vực tư nhân đối với GDP (FD), Mức vốn hóa thị trường chứng khoán đối với GDP,
Phản ánh khả năng tiếp cận tài chính ta có: % người có tài khoản ngân hàng, tỷ lệ nợ cá nhân đối với tổng nợ trong nước,
Phản ánh tính hiệu quả, biến đo lường có thể được sử dụng đó là lãi suất ròng hay tỷ lệ doanh thu đối với thị trường chứng khoán,
Phản ánh sự ổn định tài chính ta có các chỉ số như: tỷ lệ an toàn vốn hay độ biến động của chỉ số giá chứng khoán, chỉ số trái phiếu chính phủ,
Các nhà nghiên cứu trên thực tế tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia để linh hoạt lựa chọn thước đo phù hợp nhất
2.1.2 Tình hình phát triển của thị trường tài chính:
Hiện tại, có nhiều loại hình tổ chức tài chính và tài sản khác nhau ở Mỹ, hệ thống tài chính trong đó có cấu trúc trưởng thành, chức năng lành mạnh và quy mô lớn Quy mô tài sản tài chính đạt đến 97 nghìn tỷ vào năm 2014, gấp gần tám lần so với năm 1991 Nhưng sau cuộc khủng hoảng tài chính, tốc độ tăng trưởng bắt đầu để giảm, và thậm chí xuất hiện khá tiêu cực trong năm 2011, có thể được thể hiện trong Hình 4 Cụ thể, không quan trọng đến vấn đề phát hành và lưu hành chứng khoán hoặc trong khía cạnh năng lực thị trường và mức độ phát triển, thị trường chứng khoán Hoa Kỳ đã trở nên trưởng thành và hoàn hảo thông qua sự phát triển của hơn 200 năm Ví dụ, vốn hóa thị trường đã tăng từ 4 nghìn tỷ vào năm 1991 lên 26 nghìn tỷ trong năm 2014 mặc dù trải qua rất nhiều thăng trầm Hơn nữa, thị trường trái phiếu thật sự rất lớn và mức vốn hóa của tất cả các loại chứng khoán nợ chưa thanh toán tính đến cuối năm 2014 là 39 nghìn tỷ Ngoài ra, hưởng lợi từ sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods và phát triển hơn nữa của công cuộc cải tiến tài chính, thập kỷ qua đã chứng kiến sự bùng nổ của thị trường tài chính phái sinh, đã trở thành một phần không tách rời của thị trường tài chính
Nguồn: Xiaolin Lu, Kun Guo, Zhi Dong & Xuan Wang (2016)
Hình 2.1: Cấu trúc nền kinh tế giả tưởng của Mỹ từ năm 1991 đến năm 2014
Thị trường tài chính Việt Nam trong những năm gần đây đã phát triển mạnh mẽ về cả chiều rộng lẫn chiều sâu Quy mô tài sản hệ thống tài chính năm 2016 tương đương 187.6% GDP 2
Là thị trường cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính giữ vai trò quan trọng trong khu vực tài chính Tính đến cuối năm 2016, tổng nguồn vốn hệ thống tài chính cung ứng cho nền kinh tế tương đương 181.2% GDP Tuy nhiên, so sánh với độ sâu tài chính 3 này của Việt Nam và các nước trong khu vực, nhìn chung là còn tương đối hạn chế Về lãi suất, Ngân hàng Nhà nước liên tục điều chỉnh các mức lãi suất với mục đích điều chỉnh mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại, tăng khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp Bên
2 BÁO CÁO TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 2016
3 Độ sâu tài chính = (Tín dụng + Số dư trái phiếu + Vốn hóa TT cổ phiếu)/GDP cạnh đó, Ngân hàng nhà nước cũng linh hoạt điều hành tỷ giá và đảm bảo tính ổn định đối với thị trường ngoại hối, theo đúng mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ nhằm duy trì ổn định giá trị tiền đồng và lạm phát
Thị trường chứng khoán (TTCK) chỉ mới hình thành và phát triển gần hai thập kỷ qua nhưng cũng đã có một khuôn khổ pháp lý, cơ cấu và quy mô thị trường khá đầy đủ cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế TTCK diễn biến ngày càng tích cực, lọt vào “Top 5” thị trường có mức tăng trưởng cao nhất Đông Nam Á năm 2016 và được coi là thị trường cận biên với mức nâng hạn lên ‘thị trường mới nổi” của tổ chức xếp hạng thị trường MSCI (Morgan Stanley Capital International) Khảo sát cho thấy, trong những năm qua, quy mô của TTCK không ngừng tăng trưởng, mức vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 43,2% GDP năm 2016 và 50,3% GDP vào tháng 3/2017, gấp trên 3 lần so với năm 2010 và trên
Là sản phẩm gắn với chứng khoán và TTCK, thị trường chứng khoản phái sinh (TTCKPS) đã hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay trên thế giới Đến nay có trên 70 Sở giao dịch chứng khoán phái sinh khác nhau trên thế giới đã tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh Tại Việt Nam, TTCKPS mặc dù chưa có tập trung nhưng các công cụ phái sinh ngoài chứng khoán như phái sinh hàng hóa và phái sinh tiền tệ đã được phép giao dịch (điển hình như: Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Mê Thuột, được thành lập năm 2006 với chức năng chính là thực hiện việc mua bán các loại cà phê sản xuất tại Việt Nam theo phương thức giao ngay và giao sau Từ đầu năm 2011, Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam đã được thành lập, tổ chức giao dịch các hợp đồng tương lai trên tài sản cơ sở là cà phê, thép, cao su….) Do đó việc xây dựng, triển khai và phát triển TTCKPS trong năm 2017 tại Việt Nam góp phần đẩy mạnh tiến trình phát triển thị trường vốn và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế trong khu vực tài chính Sự ra đời TTCKPS là minh chứng cho việc từng bước hoàn thiện cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam, bao gồm thị trường huy động vốn và thị trường phân tán rủi ro, mở ra một cánh cửa mới với hàng loạt các sản phẩm và công cụ đầu tư mới, hấp dẫn phức tạp và đa dạng
2.1.3 Sự biến động của hoạt động kinh tế là kết quả của việc tài chính hóa kinh tế: Để thuận tiện cho việc mô tả dưới đây, chúng tôi giới thiệu một khái niệm "kinh tế giả tưởng" mới được Siwei Cheng đưa ra lần đầu tiên vào năm 1999 (Cheng 1999) Theo định nghĩa của ông, nền kinh tế giả tưởng như trái ngược với nền kinh tế thực sự cho thấy các luật hoạt động của hệ thống giá trị tài sản, dựa trên giá trị vốn hóa được hỗ trợ bởi khái niệm hơn là chi phí và kỹ thuật Vì vậy, theo quan điểm về sự khác biệt về nhận thức trong sản xuất giữa Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA - System of National Accounts) và Lập kế hoạch sản xuất tổng thể (MPS -Master Production Scheduling), cơ cấu kinh tế được chia thành nền kinh tế thực, kinh tế giả tưởng và nền kinh tế dịch vụ (Liu 2011)
Trên cơ sở đó, các tiêu chí để phân chia giai đoạn công nghiệp hóa (từ năm 1950 đến
2000) và tài chính hóa nền kinh tế (từ năm 2001 đến nay) ở Mỹ được xác định, nghĩa là tỷ lệ phần trăm của GDP mà nền kinh tế giả tưởng là nhiều hơn so với nền kinh tế thực Xét đến giai đoạn công nghiệp hóa và tài chính hoá kinh tế từ Mỹ, việc kiểm tra cấu trúc kinh tế, cách thức trao đổi ngoại hối, cơ cấu việc làm và tình trạng phát triển của thị trường tài chính cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin để hiểu được sự biến thiên của hoạt động kinh tế do việc tài chính hóa nền kinh tế
Việt Nam cho đến nay vẫn đang trên lộ trình phát triển và hoàn thiện hệ thống tài chính trong thời kỳ thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa đất nước đến năm 2020, do vậy toàn bộ thời kỳ được nghiên cứu, theo cách phân loại trên được xác định là giai đoạn công nghiệp hóa (từ năm 2000 đến năm 2016) khi tỷ lệ phẩn trăm của nền kinh tế giả tưởng đóng góp vào GDP chỉ giao động ở mức 12%-13% ( Số liệu từ tổng cục thống kê Việt Nam - Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo ngành kinh tế chia theo Ngành kinh tế, Chỉ tiêu và Năm)
Các bằng chứng thực nghiệm
Có rất nhiều đóng góp lý thuyết và thực nghiệm để điều tra cơ chế tương tác giữa cung tiền, tăng trưởng kinh tế và lạm phát Là một mô hình điển hình để nghiên cứu mối quan hệ giữa thất nghiệp, lạm phát và tăng trưởng kinh tế, đường cong Phillips, lần đầu tiên được đưa ra của Phillips năm 1958, đã nhận được nhiều sự chú ý trong một thời gian dài Với sự xuất hiện và thay thế các vấn đề kinh tế mới, bản gốc đường cong Phillips về mối quan hệ giữa tỷ lệ thay đổi tiền lương và tỷ lệ thất nghiệp cho nước Anh, liên tục bị sửa đổi bởi các trường phái tư tưởng khác nhau Ví dụ, nghiên cứu của Samuelson và Solow công bố năm 1960 với ý tưởng giống như của Philips nhưng đó là quan hệ ngược chiều giữa tỉ lệ lạm phát với thất nghiệp cho nước Mỹ ; Friedman đại diện cho chủ nghĩa trọng tiền, khẳng định lạm phát là sản phẩm của việc tăng cung tiền hay tăng hệ số tạo tiền lớn hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, nghĩa là trong dài hạn, giá cả bị ảnh hưởng bởi cung tiền chứ không thực sự tác động lên tăng trưởng, hơn nữa, nếu giữ cung tiền và hệ số tạo tiền ổn định thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát; hay Robert Lucas vào năm
1972 đã đưa ra một mô hình để chứng minh tiền tệ trung lập, dựa trên giả thuyết thông tin bất cân xứng, ông đã đưa ra giả thiết “kỳ vọng hợp lý” lần đầu tiên cách mạng hóa tư duy toàn bộ nền kinh tế vĩ mô, khi ông không chỉ chứng minh tiền tệ trung lập trong dài hạn mà còn cho rằng tiền tệ trung lập ngay cả trong ngắn hạn; Một nghiên cứu khác của Gail và Gertler 1999 sử dụng đường cong Phillips để dự báo lạm phát qua chi phí cận biên; Manki và Reis 2003 đưa ra một các tính gọi là chỉ số giá ổn định dựa vào khung lý thuyết tiền tệ của chu kỳ kinh tế, theo đó, chỉ số giá này là chỉ số giá trung bình có trọng số, mà nếu đưa về mục tiêu thì hoạt động kinh tế sẽ ổn và trọng số của các khu vực khác nhau phải dựa vào cơ cấu chi tiêu trong gia đình và mức độ nhạy cảm của từng khu vực đối với chu kỳ Như vậy, đường cong Phillips là sự phát triển và tiến hóa trong đó cấu thành lý thuyết căn bản nhất cơ sở để nghiên cứu mối quan hệ giữa cung tiền, tăng trưởng kinh tế và lạm phát Sau đó xem xét rằng tiền đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong phát triển kinh tế, nó đã được đưa vào mô hình truyền thống thông qua các hình thức khác nhau Dựa vào sự khác biệt trong các phương pháp mà các biến số tiền tệ đã được đưa vào mô hình và nhấn mạnh vào vai trò của trò chơi tiền tệ, có năm loại mô hình như: mô hình tăng trưởng tiền tệ của (Tobin 1965) thuộc lý thuyết tân cổ điển cho rằng lạm phát là nguyên nhân làm cho con người không muốn nắm giữ tiền và chuyển thành các tài sản sinh lời, điều này sẽ làm gia tăng sự tích lũy vốn trong nền kinh tế và thúc đẩy kinh tế phát triển, theo đó có mối tương quan tỷ lệ thuận giữa lạm phát và tăng trưởng; mô hình tiền trong tiện ích (Sidrauski 1967) bổ sung thêm cho lý thuyết tân cổ điển, nhấn mạnh rằng khi các biến số độc lập với việc tăng cung tiền trong dài hạn thì việc tăng lạm phát không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Ông cũng nhấn mạnh rằng khi nền kinh tế xảy ra lạm phát luôn có độ trễ thời gian giữa tăng giá sản phẩm đầu ra và tăng giá chi phí đầu vào mà biểu hiện là ở độ trễ của việc tăng tiền lương; mô hình tiền mặt sẵn có (Clower
1967), hiệu ứng cổ phiếu tiền tệ (Palley 1996) và mô hình chi phí giao dịch (Itaya và Mino 2003)
Tuy nhiên, quá trình khảo sát mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát được thực hiện trong rất nhiều nghiên cứu cuối cùng vẫn chưa đạt được sự đồng thuận Trong khi đó số nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính dù ít nhưng hầu như có cùng quan điểm rằng sự phát triển của hệ thống tài chính đóng góp vào quá trình tăng trưởng kinh tế một cách tích cực Nói vậy không có nghĩa là vai trò của khu vực tài chính trong vấn đề thúc đầy tăng trưởng kinh tế dài hạn không gặp phải nhiều tranh cãi Đóng góp của các tổ chức tài chính trung gian với các dịch vụ và công cụ tài chính vào tăng trưởng kinh tế đã được đề cập từ năm 1911 trong nghiên cứu của Schumpeter Sau đó xuất hiện ý kiến trái chiều cho rằng hệ thống tài chính chỉ phản ánh những nhu cầu gia tăng của nền kinh tế tăng trưởng trong nghiên cứu của Robinson 1952 Theo quan điểm của trường phái kinh tế mới (lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh), Mankiw
(1992), King và Levine (1993) nhấn mạnh rằng một khu vực tài chính vững mạnh có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn, đổi mới công nghệ (TFP), nghiên cứu và phát triển
(R&D) thông qua các kênh cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp và hộ kinh tế gia đình Hơn thế nữa, một khu vực tài chính vững mạnh không chỉ giới hạn chức năng huy động các nguồn vốn trong nước mà còn có chức năng rất lớn tới thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn bên ngoài nền kinh tế như vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn đầu tư gián tiếp (FPI)
Hiện nay, với sự hội nhập của tài chính toàn cầu và việc tăng cường tài chính hóa nền kinh tế, thị trường tài chính đóng góp rất nhiều và đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh tế vĩ mô Như vậy các mối liên hệ giữa phát triển tài chính và các biến số kinh tế vĩ mô đã thu hút được sự quan tâm đáng kể và nhận được những nghiên cứu to lớn, có thể được chia thành ba loại sau:
Sự tương tác giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế
Các tài liệu thực nghiệm gần đây cho thấy rằng sự phát triển tài chính là một yếu tố quyết định cũng như là một đóng góp chính cho tăng trưởng kinh tế vì một vài lý do
Thứ nhất, một hệ thống tài chính tốt hơn cung cấp một nền tảng vững chãi cho việc phân bổ nguồn lực, giám sát tốt hơn và giảm bớt bất cân xứng thông tin và tăng trưởng kinh tế (Shen và Lee, 2006) Hệ thống tài chính có thể đóng góp vào sự tăng trưởng GDP thông qua hai kênh Một mặt nó huy động tiết kiệm, điều này làm tăng khối lượng các nguồn lực sẵn có cho đầu tư tài chính Mặt khác thể hiện và giám sát các dự án đầu tư (làm giảm chi phí thu thập thông tin) và điều này giúp làm tăng hiệu quả của các dự án được thực hiện Greenwood và Jovanovic (1990) nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với việc phân phối thu nhập và mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và tăng trưởng kinh tế Cả hai mối quan hệ này được xác lập bằng phương pháp hồi quy đơn Kết quả cho thấy phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ mật thiết, cụ thể, phát triển tài chính hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thông qua kênh tiết kiệm và đầu tư Lập luận này được đưa ra trước đây vào năm 1993 bởi King và Levine, họ cho rằng phát triển tài chính như một nhân tố quyết định quan trọng của tăng trưởng kinh tế, làm tăng tiết kiệm và tạo điều kiện tích lũy vốn đầu tư, qua đó tăng cường đầu tư và tăng trưởng Khi tìm hiểu về tầm quan trọng của tài chính đối với phát triển kinh tế, King và Levine đã sử dụng dữ liệu của IMF và nhiều chỉ số tài chính khác Họ tập trung nghiên cứu sự tồn tại mối quan hệ thực nghiệm giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế và đưa ra kết luận về sự tồn tại của mối quan hệ tích cực này Kết quả thu được cho thấy mức độ tương quan mạnh mẽ của phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ tích lũy nguồn vốn và cải thiện việc phân bổ nguồn vốn Điều này lý giải rằng phát triển tài chính có thể gia tăng lợi ích đối với tăng trưởng kinh tế bởi việc gia tăng tỷ lệ tích lũy nguồn vốn và cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn vốn này
Thứ hai, khu vực tài chính ảnh hưởng tới số tiền định mức tín dụng trong thị trường tài chính và hạn chế các doanh nghiệp tiềm năng, từ đó xác định tăng trưởng kinh tế Điều này đặc biệt đúng khi có sự xuất hiện của một công nghệ hoàn toàn mới mang lại khả năng khai thác không chỉ trong nước mà còn đối với thị trường xuất khẩu (Alfaro
Thứ ba, khu vực tài chính cũng có thể xác định mức độ mà các công ty nước ngoài sẽ có thể mượn nhằm mục đích mở rộng hoạt động khai phá của họ ở nước sở tại Điều này sẽ làm tăng thêm phạm vi tác động của các tác động ngoại tác từ công nghệ đến các doanh nghiệp trong nước Do đó quá trình khuếch tán có thể hiệu quả hơn một khi thị trường tài chính ở nước chủ nhà phát triển tốt, vì điều này cho phép công ty con của tập đoàn đa quốc gia lên dự án đầu tư một khi nó đã tham gia vào nước sở tại (Hermes và Lensink 2003) Như Demetriades và Andrianova (2004) giải thích, sự tồn tại của hệ thống tài chính phát triển là một điều kiện tiên quyết để đất nước hiện thực đổi mới và khai thác nguồn lực của nó hiệu quả Bằng cách này, tài chính được xem là một thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hơn là một yếu tố quyết định sâu sắc sự tăng trưởng của GDP
Cuối cùng, hiệu quả các vấn đề của thị trường tài chính tới tăng trưởng kinh tế, trên thực tế, một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nước có hệ thống tài chính hiệu quả ít nhạy cảm hơn đối với nguy cơ bùng phát khủng hoảng tài chính sau các rối loạn kinh tế thực và có thể kiên cường hơn đi đối mặt với khủng hoảng xảy ra (Bordo và Meissner 2006; 2000) Quả thật, các quốc gia có hệ thống tài chính phát triển tốt hơn, tức là các thị trường tài chính và các tổ chức giúp cho tiết kiệm xã hội được sử dụng một cách từ có hiệu quả đến có hiệu quả nhất, sẽ trải qua sự tăng trưởng kinh tế nhanh hơn
(Bekaert và cộng sự, 2003 Ranciere và cộng sự, 2006) Như đã đề cập của Blejer (2006), các nước có hệ thống tài chính hiệu quả ít bị ngân hàng và khủng hoảng tiền tệ hơn, và các nước này cũng chịu ảnh hưởng ít hơn khi xảy ra khủng hoảng
Sự phát triển về tài chính được coi là chìa khóa cho tăng trưởng kinh tế và hai thập kỷ qua đã chứng kiến sự hồi sinh của mối quan hệ với sự nổi lên của lý thuyết tăng trưởng nội sinh Một số nghiên cứu đã tập trung vào việc kiểm tra hiệu quả của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế, kết quả chung cho thấy khu vực tài chính có tác động đáng kể và tích cực đến tăng trưởng Ví dụ như Jahfer và Inoue trong nghiên cứu về tác động của phát triển tài chính và FDI tới tăng trưởng của Sri-Lanka, tiến hành vào năm
2014, đưa ra kết luận rằng mối quan hệ giữa phát triển tài chính và phát triển kinh tế là mối quan hệ nhân quả hai chiều, và phát triển tài chính cùng với FDI tạo ra tăng trưởng kinh tế khi họ không thể chỉ ra bằng chứng mạnh mẽ nào cho thấy tác động rõ ràng của FDI tới tăng trưởng kinh tế của Sri Lanka Hàm ý chính của nghiên cứu chỉ ra rằng phát triển tài chính mới là vấn đề đối với sự tăng trưởng kinh tế chứ không phải là FDI Trước đó, trong nghiên cứu của Ang (2008), Levine (2005) cũng đưa ra kết luận tương tự
Hơn nữa, một số nghiên cứu nhằm xác định loại thị trường tài chính nào giải thích tốt nhất cho tăng trưởng kinh tế Ví dụ: Montes và Tiberto (2012), Cole, Moshirian và