Theo Phật giáo con đường đúng đắn nhất để đạt tới giác ngộ và giải thoát là con đường trung đạo. Trong kinh Chuyển Pháp Luân đức Phật đã nói: “Người xuất gia có hai cực đoan cần tránh, một con đường thấp hèn chủ trương cuộc sống chỉ cần khoái lạc, một con đường cực nhọc vô ích như chủ trương của phái khổ hạnh ép xác. Con đường trung đạo thì ở giữa hai thái cực kia, có thể dẫn đến giác ngộ và giải thoát
Trang 1MỞ ĐẦU
Phật giáo được coi là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới và có lịch sử
ra đời từ rất sớm Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ và ra đời vào khoảng cuối thế
kỷ thứ VI trước Công nguyên “Lịch sử Phật giáo ở Ấn Độ chia làm 4 thời kỳ: Thời kỳ Phật giáo nguyên thủy, thời kỳ các bộ phái của Phật giáo, thời kỳ Phật giáo đại thừa và thời kỳ Mật giáo Thời kỳ Phật giáo nguyên thủy là thời kỳ từ thế kỷ
VI, V tr Công nguyên đến giữa thế kỷ IV tr Công nguyên”1 Trong Phật giáo thì có những giáo lý bắt nguồn từ Phật giáo nguyên thủy Do đó, hệ thống tư tưởng và giáo lý của Phật giáo là tư tưởng triết lý và luân lý2 Trong đó, tư tưởng chủ đạo là triết lý nhân quả và giải thoát Từ những triết lý nhân quả làm rõ nhân duyên của tạo hóa, phá tan sự mờ tối che lấp tâm trí của con người, cắt đứt những trói buộc giữa con người và những nỗi đau sinh tử khổ não, đưa con người đến chỗ giải thoát, yên vui Luân lý trong Phật giáo là luân lý lấy vô lượng từ bi mà yêu người, thương vật, tế độ chúng sinh, không phân biệt người với ta, không phân chia giai cấp sang hèn Tuy nhiên, tư tưởng giải thoát của Phật giáo mang nặng tính bi quan, yếm thế về cuộc sống Do đó, Phật giáo chủ trương “xuất thế”3, “siêu thoát” đã phần nào hạn chế khả năng sáng tạo, tính chủ động của con người Điều này làm cho con người càng không thể thoát khỏi vòng xoáy của khổ đau, luân hồi và nghiệp báu
1 HT Thích Thanh Kiểm Lược sử Phật giáo Ấn Độ Nxb Tôn Giáo, 2006 Tr 3.
2 H.W.SCHUMANN dịch Trần Phương Lan Đức Phật lịch sử Nxb TP HCM, 2000 Tr 14.
3 Lánh đời, không tham gia hoạt động xã hội, đi ở ẩn, đi tu, theo quan niệm của đạo Phật.
Trang 2CHƯƠNG I: HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN
THỦY
1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội
Vào khoảng giữa thế kỷ IV trước Công nguyên (tr.CN), xã hội Ấn Độ trải qua một cuộc khủng hoảng về kinh tế - xã hội và văn hóa Cũng trong giai đoạn này, quá trình hình thành Phật giáo gắn liền với sự phân hóa đa giai cấp trong điều kiện đa dân tộc Bên cạnh đó, sự thống trị về tư tưởng của đạo Balamon cũng góp phần thúc đẩy sự hình thành nên một hệ tư tưởng mới đó chính là Phật giáo nguyên thủy
Về điều kiện tự nhiên:
Ấn Độ cổ đại có vị trí địa lý nằm ở Nam dãy núi Hy-ma-lay-a ngăn cách tiểu lục địa Ấn Độ với phần còn lại của châu Á, nhưng lại có điều kiện tự nhiên và địa
lý rất trái ngược nhau: Vừa có núi cao, lại vừa có biển rộng; vừa có sông Ấn chảy
về phía Tây, lại vừa có sông Hằng chảy về phía Đông; vừa có đồng bằng phì nhiêu, lại có sa mạc khô cằn4 Khí của Ấn Độ thì rất khắc nghiệt có khi rất nóng và có khi rất lạnh, tùy thuộc vào khu vực và theo mùa trong năm.5
Về điều kiện kinh tế – xã hội:
Xã hội Ấn Độ cổ đại ra đời sớm Ban đầu, dân tộc Ấn Độ theo chế độ chính trị chính thể cộng hòa Nhưng tới thời kỳ Đức Thế Tôn xuất thế thì chế độ này suy tàn và được thay thế bằng chế độ chính thể quân chủ chuyên chế6
Từ thế kỷ XV tr.CN, người Aryan, tổ tiên của các dân tộc thuộc ngôn ngữ Ấn – Âu từ Trung Á xâm nhập vào Ấn Độ7 Dần dần, Họ định cư rồi đồng hoá với người bản địa Dravida tạo thành cơ sở cho sự xuất hiện quốc gia, nhà nước lần thứ
4 http://vietnamexport.com/nuoc-lanh-tho/87/tong-quan.html.
5 Lm Dom Lê Đức Thiện OP Đề cương bài giảng Triết học, tôn giáo Ấn Độ 2020 Tr 10.
6 HT Thích Thanh Kiểm Lược sử Phật giáo Ấn Độ Nxb Tôn Giáo, 2006 Tr 13.
7 Thời sự thần học Đức Tin và Tín Ngưỡng Số 62 Tr 13.
Trang 3hai trên đất Ấn Độ8, từ thế kỷ thứ VII tr.CN đến thế kỷ XVI sau Công nguyên, đất nước Ấn Độ phải trải qua hàng loạt biến cố lớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các vương triều trong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài Đặc điểm nổi bật điều kiện kinh tế – xã hội của xã hội Ấn Độ cổ, trung đại
là sự tồn tại rất sớm và kéo dài kết cấu kinh tế – xã hội theo chế độ quốc hữu về ruộng đất là cơ sở quan trọng nhất để tìm hiểu toàn bộ lịch sử Ấn Độ cổ đại Trên
cơ sở đó đã phân hoá và tồn tại bốn đẳng cấp lớn9:
- Đẳng cấp tăng lữ (Brahman hay đẳng cấp Bàlamôn): gồm các tăng lữ trông coi những việc tế lễ tôn giáo và các triết gia, học giả Họ thâu tóm quyền lực trong lĩnh vực văn hóa và tôn giáo một số tham gia vào công việc triều chính như cố vấn, niệm thần chú, v.v… Họ tự nhận mình là hạng cao thượng, sinh từ miệng (Brahma – Đấng Tối cao của Hindu giáo).10 Mặc dù đạo Bàlamôn không có tổ chức giáo hội, nhưng sự kết hợp giữa thần quyền với thế quyền làm cho đẳng cấp này có được địa
vị cao nhất
- Đẳng cấp vua chúa, quý tộc (Ksatriya): thực hiện chức năng thế quyền, song một phần quyền lực bị đẳng cấp Bàlamôn lấn lướt, nắm giữ
- Đẳng cấp chủ nô, thương nhân(Vaisya) Họ là những người bình dân, gồm những người làm nghề nông và chăn nuôi, buôn bán Tuy họ không có được đặc quyền trong xã hội, phải nộp sưu thuế phục vụ lớp người bóc lột thuộc hai tầng lớp trên, song họ vẫn có thân phận tự do Về địa vị xã hội họ vẫn đứng sau đẳng cấp tăng lữ và đẳng cấp quý tộc
- Đẳng cấp nô lệ (Ksudra): có địa vị thấp nhất nhưng không phải là lực lượng sản xuất chủ yếu, mà là nô lệ có tính cha truyền con nối11, làm công việc hầu hạ, phục dịch cho các đẳng cấp trên
8 Lm Dom Lê Đức Thiện OP Đề cương bài giảng Phật giáo nhập môn 2020 Tr 9.
9 Ts Đỗ Minh Hợp Tôn giáo học nhập môn Nxb Tôn Giáo 2009 Tr 229.
10 HT Thích Thanh Kiểm Lược sử Phật giáo Ấn Độ Nxb Tôn Giáo, 2006 Tr 13.
11 HT Thích Thanh Kiểm Lược sử Phật giáo Ấn Độ Nxb Tôn Giáo, 2006 Tr 14.
Trang 4Ngoài bốn đẳng cấp trên, còn có một số thành phần ở các tầng lớp khác Đó là tầng lớp cùng đinh, hạ đẳng, gọi là Paria.12
Bên cạnh đó, người ta tin rằng trật tự đẳng cấp cũng là trật tự xã hội Ấn Độ và được thần linh sáng tạo ra Nên sự phân hoá giai cấp và đẳng cấp hết sức khắc nghiệt, xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ còn có sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo Do đó, Phật giáo ra đời trong bối cảnh phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, nên tư tưởng của Phật giáo kêu gọi lòng yêu thương, mối quan hệ bình đẳng giữa người với người, cho nên có thể nói Phật giáo chính là ước mơ, khát vọng, là tư tưởng của các đẳng cấp dưới trong xã hội lúc bấy giờ
Phật giáo ra đời gắn liền với tên tuổi của một người thuộc tầng lớp cao trong
xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, đó là Phật Thích Ca Mâu Ni (Sàkyàmuni), Hán dịch là Năng Nhân Tịch Mặc, lấy ý nghĩa Ngài là một bậc trí tuệ trong giòng họ Thích Ca Tên chính của Ngài là Cù Đàm Tất Đạt Đa (Gautama Siddhàtha) Cù Đàm nghĩa là Giác Giả (Budha), hay là Thế Tôn (Bhagavat)13 Giác Giả và Thế Tôn là danh hiệu tôn xưng về đức độ của Ngài Ông sinh ngày 8 tháng 4 khoảng năm 563 trước Công nguyên và mất năm 483 trước Công nguyên và thuộc dòng tộc Sakiya Mặc
dù được kế vị ngôi vua cha và sống trong cảnh sa hoa, lộng lẫy của hoàng cung nhưng đến năm 29 tuổi, ông đã từ bỏ cung điện, từ bỏ vợ con và gia đình đi tìm đường giải thoát cho chúng sinh14
Sau khi vượt thành, ông đã tìm đến nhiều trường phái để tu luyện khổ hạnh nhằm tìm ra con đường giải thoát cho chúng sinh nhưng vẫn không thành công Cuối cùng, ông nhận thấy tu khổ hạnh chỉ làm suy giảm tinh thần và trí tuệ; còn lối sống hưởng thụ vật chất thì chỉ làm chậm trễ sự tiến bộ của đạo đức và tâm trí, chỉ
có con đường trung đạo mới mong thành chánh quả Sau 48 ngày đêm nhập định,
12 Lm Dom Lê Đức Thiện OP Đề cương bài giảng Phật giáo nhập môn 2020 Tr 10.
13 HT Thích Thanh Kiểm Lược sử Phật giáo Ấn Độ Nxb Tôn Giáo, 2006 Tr 15.
14 H.W.SCHUMANN dịch Trần Phương Lan Đức Phật lịch sử Nxb TP HCM, 2000 Tr 122.
Trang 5ông đã ngộ đạo, trở thành Đức Phật, Đức Thế Tôn hay Như Lai Lúc bấy giờ ông vừa đúng 35 tuổi15
Sau khi đắc đạo, Phật tổ đi khắp nơi truyền bá tư tưởng của mình và thu nhận học trò Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó viết thành văn, thể hiện trong khối lượng kinh điển rất lớn, gọi là “Tam tạng” gồm ba bộ phận16:
- Tạng kinh (Sutra-pitaka), ghi lời Phật dạy
- Tạng luật (Vinaya-pitaka), gồm các giới luật của đạo Phật
- Tạng luận (Abhidharma-pitaka), gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả
CHƯƠNG II: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
2.1 Quan niệm về thế giới
Trong Phật giáo nguyên thủy, thế giới được hiểu theo hai dạng thức khác nhau Tức là hiện thực về thế giới quan và lý tưởng thế giới quan Trong thế giới hiện thực con người luôn ở trong vòng sinh tử, mê vọng, khổ não Còn trong thế giới lý tưởng thì là thế giới Niết bàn, thường trụ an lạc Hai thế giới này phụ thuộc vào sự chi phối của nhân duyên có hay không Trong thế giới hiện thực thì nương vào nhân duyên mà có, nên thế giới vô thường có sinh diệt biến hóa Lý tưởng thế giới thì không bị nhân duyên chi phối, nên là thế giới thường trụ không sinh diệt biến hóa, thuộc thế giới vô vi17
Như vậy, trong tư tưởng về thế giới của Phật giáo, trái với tư tưởng trong kinh Veda và kinh Upanishad cũng như trong giáo lý đạo Bàlamôn, thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu nhiên sáng tạo và chi phối vũ trụ vạn vật (Brahma, Thượng đế); Phật giáo cho rằng thế giới chỉ là một dòng biến ảo vô thuờng, không do một
vị thần nào sáng tạo ra cả Cho nên, trong thế giới không thực có vật, không thực
15 HT Thích Thanh Kiểm Lược sử Phật giáo Ấn Độ Nxb Tôn Giáo, 2006 Tr 17.
16 Bình Anson Tam tạng kinh điển Nxb Tôn Giáo 2005 Kết tập 5 và 6.( "Tạng" hay "Tàng" là giỏ chứa, chỗ chứa,
tiếng Pali gọi là Pitaka Ngày xưa tại các chùa lớn thường có một thư viện gọi là "Tàng Kinh Các" để lưu trữ các bộ kinh quí).
17 HT Thích Thanh Kiểm Lược sử Phật giáo Ấn Độ Nxb Tôn Giáo, 2006 Tr 31.
Trang 6có cái ngã, không có thực thể nào tồn tại thường định và vĩnh viễn Ngay cả bản thân sự tồn tại của thực thể con người chẳng qua là do “ngũ uẩn” hội tụ lại là: Sắc (vật chất), Thụ (cảm giác), Tưởng (ấn tượng), Hành (suy lý) và Thức (ý thức)18 Mặc dù, thế giới chia thành hai dạng thức: vô thường và thường trụ, hữu vi và
vô vi, khổ và vui, sinh tử và Niết bàn, nhưng tất cả đều bắt nguôn từ nhân duyên
mà thành19 Do nhân duyên tan hợp, hợp tan, vạn vật cứ sinh hóa biến luận vô thường, hết thảy thế giới thiên hình, vạn trạng cũng chỉ là hư ảo, không có thực thể, không có bản ngã, không thực có cảnh có vật Đó là chân lý cho ta biết thực tướng của vạn pháp, chân thể của vũ trụ và chân bản tính của con người Thấy được điều
đó gọi là chân như (satya koka), là đạt tới cõi hạnh phúc, vô dục, thanh tịnh, an lạc, bất sinh bất diệt gọi là Niết bàn (Nirvana)
2.2 Quan niệm về con người
Theo quan niệm của Phật giáo nguyên thủy thì con người ở vị trí thượng đẳng Con người là chủ nhân của chính mình và không có một đẳng cấp cao siêu hay một thế lực nào cao hơn để phán xét hay định đoạt vận mệnh của con người20 bởi vì con người được sinh ra là do sự hòa hợp của nhiều nhân duyên, của tất cả những nghiệp duyên có từ trong những đời quá khứ từ trước mà tạo ra trong kiếp này Do vậy, thân con người là sự kết hợp, tạo thành của ngũ uẩn biểu thị thành hai phần: phần thân xác (gọi là sắc) và phần tâm linh (gọi là danh), nên được gọi là danh sắc (danh sắc là một mắt xích trong 12 mắt xích, nói trong giáo lý Mười hai nhân duyên)21 Hay nói khác đi, con người phải có đầy đủ 2 phần danh và sắc gồm thân thể (sắc) và phần tinh thần hay tâm linh (danh), không thể thiếu một phần nào
cả Ngũ uẩn là vấn đề then chốt của đạo Phật, được đề cập phổ biến trong Kinh tạng và Luật tạng:
18 HT Thích Thanh Kiểm Lược sử Phật giáo Ấn Độ Nxb Tôn Giáo, 2006 Tr 32.
19 Ts Đỗ Minh Hợp Tôn giáo học nhập môn Nxb Tôn Giáo 2009 Tr 237.
20 WALPOLARAHULA, biên dịch Kim Kha Những điều Phật đã dạy, Nxb Phương Đông.2011 trang 31
21 HT Thích Trí Chơn Phật Giáo yếu lược Nxb Hồng Đức 2017 Trang 56.
Trang 7- Sắc uẩn (Rùpa Khandha)22: là yếu tố vật chất của vũ trụ quan, thế giới của nhân sinh quan (vật lý) được tạo nên bởi bốn yếu tố: đất, nước, gió, lửa Đối với con người, bốn chất cơ bản đó tạo thành các bộ phận cơ thể của thân xác mà nhà Phật gọi là thân tứ đại gồm địa đại, thủy đại, phong đại và hỏa đại Còn khoa học ngày nay gọi tứ đại ấy là bốn trạng thái hay bốn thể chất Đó là thể rắn, thể lỏng, thể khí và thể nhiệt Sắc uẩn có nhiệm vụ tạo sự tiếp xúc giữa con người với cảnh vật bên ngoài
- Thọ uẩn (Vedana Khandha):23 Thọ là cảm giác, do sự tiếp xúc giữa các giác quan và đối mà sinh ra tức là những hoạt động của cảm giác vui buồn thuộc về phần tâm lý Cảm giác theo Phật giáo không dừng ở những mức độ tiếp xúc đơn thuần mà là cảm xúc, một biểu hiện sâu hơn của cảm giác, cảm giác có ba loại; cảm giác khổ, cảm giác sướng, cảm giác không vui không khổ
- Tưởng uẩn (Sãnnã Khandhà)24: Là nhóm tri giác có khả năng nhận biết đối tượng
là cái gì, nó bao gồm những hình ảnh và âm thanh đã qua mà con người có thể hình dung ra hoặc là nghĩ đến Nếu không có sự so sánh, phân biệt của tưởng uẩn thì tất
cả các pháp đều bình đẳng như nhau Vì thế cần phải có tưởng uẩn mới phân biệt tất cả các sự vật hiện tượng Đó là tác dụng của tưởng uẩn
- Hành uẩn (Sankhàra Khandha)25: Hành là từ gọi cho mọi hiện tượng sinh diệt, chính là sản phẩm của thọ và tưởng, hành chính là nguyên nhân để nảy sinh ra nghiệp, có năng lực đưa đến quả báo của nghiệp Hành uẩn cũng có sáu loại do tiếp xúc giữa các giác quan mà thành; sắc tư, thinh tư, hương tư, vị tư, xúc tư và pháp
tư26
- Thức uẩn (Vinnna Khandha): Thức là có khả năng rõ biết, phản ánh thế giới hiện thực, phân biệt mọi trạng thái của tâm linh với vũ trụ vạn hữu Thức nhận biết sự
22 Đặng Không Sơn Giáo trình Phật giáo Tr 102.
23 Đặng Không Sơn Giáo trình Phật giáo Tr 103.
24 Đặng Không Sơn Giáo trình Phật giáo Tr 104.
25 Đặng Không Sơn Giáo trình Phật giáo Tr 105.
26 Tư được hiểu là động lực, ý chí, ý muốn.
Trang 8hiện diện của đối tượng, giống như tấm gương phản chiếu tất cả những hình ảnh đi ngang qua nó
Như vậy, nếu duyên kết hợp ngũ uẩn lại sẽ hình thành nên con người, nếu duyên tan thì ngũ uẩn sẽ bị diệt( bất cứ cái gì thuộc bản chất của sinh, cũng thuộc bản chất của diệt)27 Nhưng đó không phải là sự mất đi mà là sự biến đổi theo luật nhân quả Như vậy, vạn vật chúng sinh cứ biến hóa vô thường, không có thực thể, không có một hình thức nào tồn tại riêng lẻ và vĩnh viễn, không có cái tôi thường định, không có bản ngã hay cái ngã cá nhân bất biến (vạn pháp vô ngã) Nhưng do không thấy được nguồn gốc của sự biến đổi vô cùng vô tận của vạn vật và chúng sinh là do đâu và như thế nào, nên con người đã lầm tưởng rằng ta tồn tại mãi mãi, cái gì cũng thường định, cái gì cũng là của ta, do ta Vì thế mà con người cứ khát ái tham dục, dẫn đến hành động để chiếm đoạt để thỏa mãn những dục vọng của mình, tạo ra những kết quả gây nên nghiệp báo (Karma), mắc vào bể khổ trầm luân Vì vậy, việc đầu tiên theo đức Phật, để giúp con người thoát ra được bể khổ triền miên đó là phải diệt ái dục; tiếng nói của sự giải thoát khổ đau phải là tiếng nói của duyên sinh vô ngã
CHƯƠNG III TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
1. Khái niệm về giải thoát
Khái niệm nội hàm về giải thoát trong Phật giáo rất rộng, đây là tư tưởng và giáo lý chính yếu của đạo Phật Do đó, để có thể nắm bắt và hiểu rõ từng bước về các cấp độ giải thoát Theo HT Thích Thiện Siêu trình bày giải thoát bao gồm; giải thoát hoàn cảnh, giải thoát tâm và giải thoát hoàn toàn28:
- Giải thoát hoàn cảnh gồm cải tạo hoàn cảnh vật chất cho thật tốt đẹp và không chú trọng đến hoàn cảnh bên ngoài để không bị ràng buộc
- Giải thoát tâm tức giải thoát tất cả phiền não ràng buộc làm cho con người đau khổ
27 WALPOLARAHULA, biên dịch Kim Kha Những điều Phật đã dạy, Nxb Phương Đông.2011 trang 76
28https://phatgiao.org.vn/khai-niem-giai-thoat-va-giai-thoat-sinh-tu-trong-dao-phat-d35535
Trang 9- Giải thoát hoàn toàn là không còn bị thời gian và không gian hạn chế, không còn bị tâm lý sinh lý tầm thường chi phối Trí tuệ thấy rõ các pháp bất nhị nên không bị ràng buộc khi ở thế gian và cũng không phải tìm cách ra khỏi ba cõi
2. Con đường giải thoát
Theo Phật giáo con đường đúng đắn nhất để đạt tới giác ngộ và giải thoát là con đường trung đạo Trong kinh Chuyển Pháp Luân đức Phật đã nói: “Người xuất gia có hai cực đoan cần tránh, một con đường thấp hèn chủ trương cuộc sống chỉ cần khoái lạc, một con đường cực nhọc vô ích như chủ trương của phái khổ hạnh ép xác Con đường trung đạo thì ở giữa hai thái cực kia, có thể dẫn đến giác ngộ và giải thoát.
Như vậy, con đường giải thoát trong triết lý của Phật giáo được thể hiện qua các nội dung như sau:
“Tứ diệu đế” được Phật giáo coi là bốn chân lý cao thượng, chắc chắn, hiển nhiên Tứ diệu đế bao gồm Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế
- Khổ đế (Duhkha – satya)29: Khổ theo nghĩa thông thường đau buồn, khó chịu Nghĩa rộng là vô thường Do đó, Phật giáo đã chỉ ra tám nỗi khổ (bát khổ): sinh, lão (già), bệnh (ốm đau), tử (chết), thụ biệt ly (thương yêu nhau phải xa nhau), oán tăng hội (oán ghét nhau nhưng phải sống gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn nhưng không được), ngũ thụ uẩn (năm yếu tố uẩn tụ lại nung nấu làm khổ sở)
- Tập đế (Samudayya – satya)30: là nguyên nhân của đau khổ Tập nghĩa là tích tập, các phiền não tích tụ dẫn đến các khổ; đây chính là nguyên nhân đau khổ Phật giáo cắt nghĩa nguyên nhân của sự khổ trên bằng thuyết “Thập nhị nhân duyên”:
+ Vô minh (Avijjàa)31: còn gọi là “bến mê” tức là không nhận định được chân
lý về sự khổ nguồn gốc của sự khổ, là sự ngu tối, làm cho con người ta sống lầm
29 Jos Đinh Chí San Op – Dom Lê Đức Thiện Đề cương bài giảng Phật giáo nhập môn 2020 Trang 55.
30 Jos Đinh Chí San Op – Dom Lê Đức Thiện Op Đề cương bài giảng Phật giáo nhập môn 2020 Trang 57.
31 Nãrada Mahã Thera Dịch: Phạm Kim Khánh Tái Sinh Nxb Hồng Đức 2017 Trang 29.
Trang 10lạc, đắm chìm trong đời thường Do vô minh mà có hành, vô minh làm nhân cho hành Vô minh là nguyên nhân gốc vì vô minh là khởi đầu của các nhân duyên khác
+ Hành (Samkhàrà)32: là những hành động tốt hay xấu bắt từ vô minh hay bị
vô minh thúc đẩy tạo ra cái nghiệp, tức là cái nếp, cái tập khí Bởi cái nghiệp mà hành động tạo tác mãi Do hành mà có thức, do hành làm quả cho vô minh và lại làm nhân cho thức
+ Thức( Vinnana)33: là ý thức, là biết, biết ta là ta, biết ta là một hành động tạo tác được Do thức mà có danh sắc, do thức làm quả cho hành và lại làm nhân cho danh sắc
+ Danh sắc (Nàma- rùpa)34: là do nghiệp báo sinh ra danh sắc Danh sắc tên
và hình Danh, bao gồm những cái không có hình tướng, như cái sự hay biết, nói một cách khác, là thức tâm thuộc nghiệp nào, thì hiện ra thâm tâm và cảnh giới của nghiệp ấy
+ Lục căn hay lục nhập là sáu chỗ, tức là sáu giác quan(mắt, mũi, tai, lưỡi, thân, ý)35 Đạo Phật nói thêm một giác quan nữa là ý thức, tức là sự suy nghĩ, sự nhận biết của mình Đã có tên, có hình là có lục xứ để giao tiếp với những ngoại vật Do lục căn mà có xúc Vì lục căn làm quả cho danh sắc và lại làm nhân cho xúc
+ Xúc ( Phassa)36: là xúc tiếp Bởi có lục xứ là tai, mắt thì ta xúc tiếp với những thanh âm, hình sắc của ngoại vật vào mình Do xúc mà có thụ Vì xúc làm quả cho lục xứ và lại làm nhân cho thụ
+ Thọ ( Vedanà)37: là chịu, là lĩnh nạp cái ảnh hưởng, cái thế lực, hoặc cái thanh âm, hình sắc của ngoại vật vào mình Tức là các phản ứng tâm lý phát sinh
32 https://thuvienhoasen.org/a7793/thap-nhi-nhan-duyen.
33Đặng Không Sơn Giáo trình Phật giáo Tr 92
34 Jos Đinh Chí San Op – Dom Lê Đức Thiện Op Đề cương bài giảng Phật giáo nhập môn 2020 Trang 62.
35 Đặng Không Sơn Giáo trình Phật giáo Tr 92.
36 Jos Đinh Chí San Op – Dom Lê Đức Thiện Op Đề cương bài giảng Phật giáo nhập môn 2020 Trang 62.
37 Đặng Không Sơn Giáo trình Phật giáo Tr 92.