1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Bài giảng sản xuất giống và nuôi động vật thân mềm

95 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sản xuất giống & nuôi động vật thân mềm
Trường học Trường Cao đẳng Thủy sản
Chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2016
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 4,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt là lớp hai mảnh vỏ, chúng có sức sinh sản lớn, ấu trùng phù du của chúng là thức ăn quan trọng cho các loài cá biển, giáp xác…Do đó nó gián tiếp góp phần vào việc tái tạo quần đ

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THỦY SẢN

-o0o -

BÀI GIẢNG

Môn học: Sản xuất giống & nuôi động vật

thân mềm Ngành: Nuôi trồng thủy sản Trình độ: Cao đẳng

Trang 2

BÀI MỞ ĐẦU: VAI TRÒ CỦA ĐỘNG VẬT THÂN MỀM

Ngành động vật thân mềm là ngành có số lượng loài rất lớn trong động vật giới (khoảng 105.000 loài), chiếm 10% tổng số các loài động vật trên trái đất, đứng thứ hai sau ngành giáp xác Vì vậy, chúng có vị trí quan trọng trong thiên nhiên cũng như trong đời sống con người

Bảng 1: Số lượng loài của các ngành trong động vật giới

- Lớp hai mảnh vỏ: Bivalvia (hay còn gọi là lớp chân rìu Pelecypoda) với 10.000 loài

- Lớp chân bụng: Gastropoda có 35.000 loài

- Lớp chân búa: Scaphopoda có 300 loài

- Lớp chân đầu: Cephalopoda có 600 loài và khoảng 7.000 loài đã hóa thạch

Động vật thân mềm có sự phân bố rất rộng:

- Phân bố theo mặt phẳng (địa lý): từ hàn đới – ôn đới – nhiệt đới

- Phân bố theo cảnh quan (độ cao): núi – đồng bằng – vùng triều – biển sâu

- Phân bố theo thủy vực: ngọt – mặn – lợ

Các loài trong ngành động vật thân mềm được phân biệt chính bởi các đặc điểm cơ bản về hình thái vỏ, cấu tạo của hệ thần kinh, hệ tiêu hóa (cấu tạo của lưỡi sừng và phiến hàm), hệ cơ, chân, màng áo Các loài thuộc lớp Amphineura có dạng hình giun, màng áo là lớp biểu bì dày có nhiều gai CaCO3 nhỏ, đầu kém phát triển, chân tiêu biến và không có khoang nội tạng, phân bố rộng từ vùng triều tới

4.000m nước Các loài thuộc lớp Monoplacophora phân bố chủ yếu ở biển nơi có

Trang 3

nền đáy cứng, độ sâu từ 180 đến 4.000m nước Đặc điểm chính là đầu ở phía trước, chân phẳng, xoắn và yếu Khoang nội tạng hình nón, hệ thần kinh dạng bậc thang,

có 2 đôi thần kinh dọc, 10 đôi thần kinh liên kết ngang, không có hạch thần kinh

Lớp Gastropoda là lớp lớn nhất trong ngành động vật thân mềm với gần 35.000

loài Chúng phân bố rất rộng từ trên cạn đến các vùng nước ngọt và lợ, mặn Hình thái cấu tạo khá phức tạp và có sự thay đổi rất lớn để thích nghi với điều kiện sống

bò, vùi, bơi, nổi hoặc bám cố định tại các vùng sinh thái khác nhau

Lớp Bivalvia có trên 10.000 loài sống ở biển và nước ngọt Đặc trưng cơ bản

của lớp này là đầu thoái hóa, khoang màng áo rộng có chức năng trong các hoạt

động hô hấp, vận động và tiêu hóa Lớp Scaphopoda có trên 300 loài sống chủ yếu

ở biển, phân bố từ vùng triều tới nơi có độ sâu 3.000m Đặc trưng cơ bản là đầu có ống miệng lớn với xúc tu dài, lưỡi sừng tương đối phát triển, chân rộng dạng piston

có chức năng đào, vỏ dạng hình ống với xoang màng áo mở ở cả hai đầu, không có mang lược Các loài thuộc lớp này phần lớn là địch hại Lớp Cephalopoda có khoảng 600 loài sống ở biển Đây là loài tiến hóa nhất trong các loài động vật không xương sống ở biển Đặc trưng cơ bản là đầu phát triển mạnh, chân biến thành các xúc tu với nhiều giác bám, xoang màng áo kéo dài, vỏ thoái hóa, màng áo phát triển thành lớp cơ dày, rắn chắc

I Lợi ích của động vật thân mềm

1 Góp phần làm cân bằng hệ sinh thái ở nước, làm sạch và chống ô nhiễm môi trường

Nhìn chung động vật thân mềm có số lượng loài lớn, phân bố rộng, môi trường sống khác nhau nên có tính đa dạng rất cao vì vậy nó đóng vai trò quan trọng trong việc làm cân bằng hệ sinh thái tự nhiên Động vật thân mềm là mắt xích quan trong trong chuỗi thức ăn tự nhiên của nhiều loài Đặc biệt là lớp hai mảnh vỏ, chúng có sức sinh sản lớn,

ấu trùng phù du của chúng là thức ăn quan trọng cho các loài cá biển, giáp xác…Do đó

nó gián tiếp góp phần vào việc tái tạo quần đàn, cân bằng hệ sinh thái tự nhiên thông qua việc cung cấp thức ăn cho các loài từ giai đoạn ấu trùng đến cá thể trưởng thành

Lớp Bivalvia có đặc tính ăn lọc, thức ăn là thực vật phù du và mùn bã hữu cơ, chất keo, vi khuẩn… Do đó, với số lượng loài rất lớn nên động vật hai mảnh vỏ có khả năng

Trang 4

bằng hệ sinh thái môi trường, đặc biệt là ở những vùng bị ô nhiễm Trong số các loài

của lớp Bivalvia thì vẹm xanh (Perna viridis) và hầu (Ostreadea) có khả năng lọc rất

lớn Một con vẹm trưởng thành có thể lọc được 20 lít nước/giờ, còn một con hầu là

11.25 lít nước/giờ Vì vậy còn gọi Bivalvia là nhà máy lọc sinh học khổng lồ Chính

nhờ đặc tính quan trọng này mà hiện nay trong Nuôi trồng Thủy sản để tạo thế cân bằng sinh thái và ổn định, bền vững cho môi trường nuôi người ta thường sử dụng

các loài có tính ăn lọc như Bivalvia kết hợp với các loài khác như hải sâm, rong

biển để xây dựng mô hình nuôi bền vững Mô hình này đang được nhân rộng ở nhiều nước trên thế giới và nó được gọi là “Mô hình sinh thái”

Hình 1: Mô hình nuôi bền vững đơn giản

Trong đó: 1: Nguồn nước thải 2: Nguồn nước sạch

Tuy nhiên, ở các vùng biển bị ô nhiễm bởi các độc tố do sự nở hoa của tảo, động vật thân mềm sử dụng tảo làm thức ăn sẽ bị nhiễm độc tố và là nguồn gây bệnh cho con người Các bệnh thường gặp do ăn động vật thân mềm hai mảnh vỏ là Paralytic Shellfish Poisoning (PSP), Diarrhetic Shellfish Poisoning (DSP), Amnesis Shellfish Poisoning (ASP)

2 Là nguồn thực phẩm tốt

Đa số các loài động vật thân mềm đều có thể ăn được, thịt thơm ngon, có nhiều chất dinh dưỡng Động vật thân mềm sống cố định hoặc di chuyển chậm nên việc khai thác chúng cũng rất dễ dàng Do đó, từ lâu động vật thân mềm đã là nguồn thực phẩm quan trọng và phổ biến của người dân Các loài phổ biến được dùng làm thức ăn gồm điệp, sò, trai, mực, tu hài, bào ngư, ngao…

Bảng 2: Thành phần dinh dưỡng của một số loài thực phẩm

được so sánh với động vật thân mềm

Trang 5

Bảng 3: Thành phần dinh dưỡng của một số loài động vật thân mềm

+ Nang mực (ô tặc cốt): có tác dụng cầm máu

Ngoài ra trong thịt của động vật thân mềm có hàm lượng canxi cao nên có tác dụng chống còi xương, tê thận

4 Dùng trong nông nghiệp

Vỏ của động vật thân mềm có hàm lượng canxi cao nên có thể dùng làm vôi bón trong trồng trọt hoặc làm thức ăn trong chăn nuôi gia súc gia cầm giúp tăng trọng và chống đẻ non

5 Trong nuôi trồng thủy sản

Ấu trùng, con non và con trưởng thành dùng làm thức ăn rất tốt trong ương nuôi ấu trùng, con giống và nuôi thương phẩm các đối tượng hải sản có giá trị khác như tôm, cua, cá biển…

6 Trong công nghiêp

- Trong công nghiệp tàu thuyền dùng vôi được điều chế từ vỏ động vật thân mềm để điều chế ra keo mattit có tác dụng bảo vệ vỏ tàu thuyền, chống thấm

Trang 6

Các loại ốc: ốc sên (Achatina), ốc bươu (Pila): phá hoại mùa màng, ăn mầm lá

cây, hoa màu

3 Truyền bệnh cho người và vật nuôi

- Ốc Lymneac: là vật chủ trung gian truyền bệnh gan

- Ký sinh trùng Fasiola hacpatyca: truyền bệnh vàng da

- Một số loài ốc khác là vật chủ trung gian truyền bệnh giun sán

4 Phá hoại đê ngăn mặn, hải cảng, cản trở giao thông

- Bọn sống đục khoét đá: Teredo, Baukia, Martesia, Pholas…

- Bọn sống bám: vỏ tàu thuyền làm giảm tải trọng, vận tốc Ngoài ra động vật thân mềm còn sống bám vào nhau tạo ra các đảo ngầm ảnh hưởng đến giao thông đường thủy (năm 1731 đê ở Hà Lan đã bị vỡ do bị động vật thân mềm đục thủng)

Trang 7

14: Xoang nước ra

CHƯƠNG I: KỸ THUẬT NUÔI HẦU CỬA SÔNG

(Crassostrea rivularis Gould)

I Hình thái cấu tạo ngoài

Hình 1.1: Hình thái cấu tạo của hầu Crassostrea rivularis

(Theo Ivanôp và Sơtêrencốp)

1 Vỏ

Vỏ có hình dạng rất biến đổi, nhưng thường có dạng hình tam giác, có một đầu tương đối nhọn gọi là đỉnh vỏ hay còn gọi là phần trước vỏ, phần đối diện hơi tròn gọi là phần sau vỏ Vỏ phía trên gọi là vỏ phải, vỏ phía dưới gắn vào vật bám gọi là

vỏ trái Vỏ phải nhỏ hơn và tương đối bằng phẳng giống như nắp đậy cho vỏ trái

Bề mặt vỏ có gờ sinh trưởng phát triển lồi lên thành dạng sóng màu nâu tím Mặt trong của vỏ trái lõm sâu, màu trắng sứ, ria vỏ màu tím xám, vết cơ khép vỏ rất lớn, phần lớn có hình trứng hoặc hình bầu dục, màu nâu vàng nằm ở phía lưng của vỏ

2 Màng áo

Màng áo có cấu tạo gồm một đôi ở hai bên trái và phải, đối xứng nhau, bao bọc toàn bộ khối nội tạng của hầu Màng áo được cấu tạo từ tế bào thượng bì bên ngoài, tế bào thượng bì bên trong và mô liên kết giữa

Mép màng áo được chia làm 3 phần:

+ Nếp sinh vỏ: nằm ở phía ngoài cùng của mép màng áo, có chức năng tiết ra vỏ + Nếp cảm giác: nằm ở phần chính giữa của mép màng áo, có mép ngoài ngăn cách với nếp sinh vỏ Nếp cảm giác được cấu tạo từ những xúc tu nhỏ xếp thành 1 – 3 hàng, ở bộ phận này còn có nhiều tuyến dịch nhờn và những tế bào cảm giác chúng

Trang 8

+ Nếp điều tiết nước: là phần nằm trong cùng của mép màng áo, được tạo thành từ các xúc tu nhỏ, dài, xếp thành một hàng, có chức năng điều tiết dòng nước nhờ khả năng vươn dài ra và co lại khống chế đường ống của lỗ hút nước

3 Hệ cơ

Hầu ở giai đoạn ấu trùng có hai cơ khép vỏ trước và sau, nhưng từ giai đoạn sống bám cố định thì cơ khép vỏ trước thoái hoá và tiêu biến dần, chỉ còn cơ khép

vỏ sau phát triển Cơ khép vỏ sau được cấu tạo gồm hai phần:

+ Phần trong suốt hơi vàng nằm ở phía trước tạo thành các bó cơ hình đa giác gọi

là cơ vân ngang, có nhiệm vụ khép vỏ, giúp cho vỏ nhanh chóng đóng lại

+ Phần màu trắng gọi là cơ trơn, cơ trơn vận động chậm chạp nhưng nó có thể làm cho vỏ được khép chặt

- Ngoài ra hầu còn có:

+ Cơ vòng: nằm xung quanh mép màng áo

+ Cơ phóng xạ: phân bố dọc theo màng áo

II Cấu tạo trong

1 Hệ thần kinh

- Hầu ở giai đoạn ấu trùng có 3 đôi hạch thần kinh là: hạch thần kinh đầu (não), hạch thần kinh chân và hạch thần kinh bụng (nội tạng) Nhưng khi trưởng thành, chân bị thoái hóa nên hầu chỉ còn hạch thần kinh đầu và hạch thần kinh nội tạng Từ các hạch thần kinh này có các dây thần kinh nối liền với nhau và đi đến các bộ phận của cơ thể

- Cơ quan cảm giác của hầu: có cơ quan thăng bằng, cơ quan cảm giác bụng và thượng bì cảm giác, không có cơ quan phân hóa đặc biệt

2 Hệ hô hấp

Hầu cũng như nhiều loại động vật thân mềm khác hoạt động hô hấp chủ yếu dựa vào mang, ngoài ra chúng còn có thể tiến hành trao đổi khí dựa vào hệ thống mạch máu phân bố ở màng áo

- Cấu tạo của mang: gồm 2 đôi phải và trái đối xứng nhau và được bao bọc bởi lớp màng áo Hai tấm mang ở phía ngoài bên phải và trái hơi hẹp gọi là tấm mang ngoài, hai tấm mang ở phía trong rộng hơn gọi là tấm mang trong Mỗi một tấm mang đều có một lớp trên và một lớp dưới Lớp mang trên và lớp mang dưới dính liền với nhau ở rìa trước tạo nên đường rãnh làm nhiệm vụ vận chuyển thức ăn Gốc

Trang 9

1: Huyết quản ra mang

2: Huyết quản vào mang

3 : Que mang

4 : Xoang nhỏ giữa mang

5 : Tơ mang thông thường

Hình 1.2: Cấu tạo mang của hầu C rivularis (Theo Awati và Rai)

Phần chính giữa của chữ W là trụ mang có chức năng nâng đỡ các tấm mang Cấu tạo của mỗi tấm mang đều do vô số những tơ mang dính ngang tạo nên Quan sát bề mặt của mang ta thấy có những nếp gấp lên xuống dạng sóng, mỗi nếp gấp có

từ 9 – 12 tơ mang Trên các sợi tơ mang có các loại tiêm mao

để tránh các tác động cơ học với các tổ chức xung quanh

- Tim chính: do 1 tâm thất và 2 tâm nhĩ tạo thành

+ Tâm nhĩ rất mỏng được cấu tạo từ một lớp tế bào thượng bì, mặt trong có nhiều thớ cơ vân ngang

+ Tâm thất cũng do một lớp tế bào thượng bì tạo thành, bên trong có nhiều thớ cơ khỏe và có hai van ở chỗ thông với tâm nhĩ để giữ cho máu chảy theo một chiều

- Huyết dịch: có màu vàng xanh, trong đó 96% là nước, phần còn, lại là các ion: Na, K, Ca, Mg…Trong huyết dịch có các huyết cầu có tác dụng trong việc tiêu hóa và bài tiết Ngoài ra nó còn có tác dụng trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các chất độc từ ngoài môi trường xâm nhập vào

Trang 10

- Huyết quản: hệ thống huyết quản của hầu là hệ thống mở giữa động mạch và tĩnh mạch có ổ huyết làm trung gian

- Tim phụ: gồm một đôi nằm bên trong màng áo gần lỗ thoát nước Có vai trò thu nhận huyết dịch từ thận tới và vận chuyển nó tới màng áo Hoạt động của tim phụ độc lập không liên quan với tim chính

4 Hệ tiêu hóa

- Xúc biện: gồm hai đôi hình tam giác, đối xứng hai bên có gốc dính liền nhau Đôi nằm phía ngoài gọi là xúc biện ngoài, đôi nằm phía trong gọi là xúc biện trong Mặt đối diện giữa hai tấm xúc biện ngoài và trong có nhiều nếp gấp dài, còn mặt bên kia thì nhẵn

- Miệng: là một rãnh nằm ngang ở gốc hai đôi xúc biện trong và ngoài Phía trong

có các tế bào thượng bì dài và mỏng, trên đó có các tiêm mao, tuyến chất nhầy ít

- Thực quản: rất lớn, dẹp và cũng có các tế bào thượng bì giống như ở miệng nhưng các tiêm mao ngắn hơn

- Dạ dày: dạng túi không có hình dạng nhất định Bao gồm các manh nang: + Manh nang chọn lọc thức ăn: nằm cạnh dạ dày có một rãnh sâu thông với ruột già Có tác dụng chọn lọc thức ăn

+ Manh nang tiêu hóa: gồm một đôi, màu nâu, bao bọc xung quanh dạ dày Manh nang tiêu hóa gồm nhiều nhánh nhỏ, có hai ống dẫn to thông với dạ dày, chúng có tác dụng hấp thụ chất dinh dưỡng và tiêu hóa nội tế bào

+ Phiến vách dạ dày: gồm phiến to: mỏng và nhẵn Phiến nhỏ: dày và có răng

- Ruột: nối liền với dạ dày, nằm chính giữa ruột là gờ ruột, giữa gờ ruột lõm xuống gọi là rãnh ruột Tiêm mao của tế bào thượng bì ruột ít biến đổi, tuyến chất nhầy ít

- Hậu môn: là phần cuối của ống tiêu hóa

Trang 11

Cơ quan sinh dục của hầu về căn bản có thể chia làm 3 bộ phận:

+ Bao noãn (follicle): là những nhánh của ống sinh dục ẩn trong mô liên kết dạng lưới Đây là nơi mà các nguyên bào sinh dục phát dục tạo thành trứng và tinh trùng + Ống sinh dục (genital canal): gồm nhiều ống nhỏ đối xứng hai bên, có dạng như gân lá phân bố ở quanh nang nội tạng Đây là nơi chủ yếu tạo ra sản phẩm sinh dục là tinh trùng và trứng

+ Ống vận chuyển sinh dục (gonoduat): là một ống to được tạo thành từ rất nhiều ống sinh dục Mặt ngoài của ống được bao bọc bởi mô liên kết và mô cơ Ống sinh dục mở ở khe niệu sinh dục tại mặt bụng của cơ khép vỏ, phía trong có các tiêm mao có tác dụng vận chuyển trứng và tinh trùng đã thành thục ra ngoài

6 Cơ quan bài tiết

Hầu có cấu tạo thận dạng 1(xoang bao tim và xoang màng áo nối thông với nhau) Dựa vào cấu tạo và vị trí ta chia hệ bài tiết ra làm 3 bộ phận: thận tạng, thực bào và vách xoang bao tim

- Thận tạng: gồm có một đôi do rất nhiều ống nhỏ phân tán ở vùng sau bụng và ống phễu thận tạo thành

- Thực bào: ngoài chức năng tiêu hóa nó còn tham gia vào quá trình bài tiết các chất thừa trong cơ thể ra ngoài môi trường mà không phải qua thận tạng

III Một số đặc điểm sinh học khác

1 Phân bố

- Phân bố địa lý (phân bố mặt ngang): hầu có phân bố địa lý tương đối rộng từ

15 - 40 vĩ độ Bắc đến 107-124 kinh độ Đông

- Phân bố thẳng đứng (theo độ sâu): các loại hầu khác nhau có phân bố thẳng

đứng khác nhau như loài hầu vảy dày Ostrea denselamellosa là loài sống ở vùng nước sâu, hầu sú O cucullata là loại sống trong vùng bãi triều Hầu cửa sông

Crassostrea rivularis phân bố từ vùng bãi triều cho tới độ sâu 10m nước

Yêu cầu về phân bố thẳng đứng của các loài hầu tương đối chặt chẽ, nếu ta làm xáo trộn sự phân bố của chúng thì sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của chúng

- Vị trí phân bố: vùng cửa sông, eo vịnh, đầm phá nơi nước lưu thông, ít sóng gió

- Điều kiện môi trường: hầu là loài rộng muối và rộng nhiệt, thích ứng với độ

Trang 12

- Chất đáy: hầu có thể phân bố ở nơi đáy cứng là rạng đá hay đáy mềm là cát bùn, cát bùn pha lẫn vỏ san hô

2 Phương thức sống

Hầu trải qua giai đoạn sống trôi nổi bắt đầu khi trứng vừa mới thụ tinh cho đến khi chuẩn

bị chuyển sang ấu trùng bò lê, thời gian của giai đoạn này thường kéo dài 10 – 12 ngày

Khi bắt đầu chuyển sang sống bò lê, nếu gặp được vật bám phù hợp hầu sẽ tiết

ra tơ chân để bám và sau đó nó sẽ tiết ra chất keo dính để cố định vỏ trái trên vật bám Giai đoạn này thường kéo dài 1 – 2 ngày Nếu trong thời gian này mà không gặp được vật bám thì ấu trùng hầu vẫn tiết ra tơ chân và chất keo dính Vì vậy mà sau này hầu sẽ không bám được vào vật bám nữa

3 Thức ăn và phương thức bắt mồi

 Thức ăn:

Hầu cũng giống như các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ khác có quá trình phát triển trải qua giai đoạn biến thái, vì vậy thức ăn của hầu thay đổi khác

nhau tùy thuộc vào phương thức sống của từng giai đoạn:

- Giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi: thức ăn là các loại thực vật phù du kích

thước nhỏ như: monas, platymonas, cryptomonas, chlorella, isochryris…

- Giai đoạn trưởng thành: thức ăn là sinh vật phù du và mùn bã hữu cơ

+ Thực vật phù du (phytoplankton): Melosira, Coscinodiscus, Rhizosolenia,

Thalassiotrix, Chaetoceros, Biddulphia, Dytilum, Nitzschia, Bacillaria, Skeletonema, Navicula, Cyctotella…

+ Động vật phù du (zooplankton): Copepoda nhỏ, Rotifer và các loại ấu trùng của:

Copepoda, Polychacta

 Phương thức bắt mồi:

Hầu là loài sống bám cố định vì vậy chúng có phương thức bắt mồi bị động bằng cách lọc thức ăn nhiều lần Chúng không có khả năng chọn lọc thức ăn về chất nhưng lại có khả năng chọc lọc kỹ càng thức ăn theo kích thước lớn nhỏ

- Lọc lần 1: tại màng áo

Thức ăn được đi vào theo dòng nước qua mang Tại đây, các hạt thức ăn cỡ lớn bị đẩy xuống phần gấp nếp trên mép màng áo và được các xúc tu trên màng áo đẩy ra ngoài Còn các hạt thức ăn cỡ nhỏ đi vào trong mang, các tơ mang sẽ tiết ra chất keo

Trang 13

- Lọc lần 2: tại mương vận chuyển thức ăn

Trong quá trình vận chuyển thức ăn từ mương vận chuyển thức ăn tới miệng, các hạt thức ăn có kích thước không phù hợp sẽ bị rơi xuống màng áo và bị các xúc tu đưa ra ngoài cơ thể Còn các hạt thức ăn cỡ nhỏ tiếp tục được vận chuyển đến xúc biện

- Lọc lần 3: tại xúc biện

Tại xúc biện thức ăn được chọn lọc một lần nữa Các hạt thức ăn kích thước lớn bị rơi xuống màng áo rồi được các xúc tu đẩy ra ngoài cơ thể Còn các hạt thức ăn kích thước nhỏ sẽ được đưa vào miệng và xuống thực quản đến manh nang chọn lọc thức ăn

- Lần 4 : tại manh nang chọn lọc thức ăn:

Các hạt thức ăn kích thước lớn sẽ theo mương bụng ra ngoài Còn các hạt thức

ăn có kích thước phù hợp sẽ được đưa vào dạ dày Tại đây nó được tiêu hóa một phần nhờ tác dụng của men tiêu hóa tiết ra từ nang tinh cá Sau đó thức ăn được chuyển về 2 manh nang tiêu hóa và tiếp tục được tiêu hóa nhờ men tiêu hóa do manh nang tiêu hóa tiết ra

Cuối cùng thức ăn được tiêu hóa tại ruột, các chất dinh dưỡng sẽ được hấp thụ Còn các chất cặn bã sẽ bị đưa ra ngoài cơ thể qua hậu môn

 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình bắt mồi của hầu:

- Nhiệt độ nước: 25 – 300C bắt mồi tăng mạnh

- Độ mặn: 20 – 25ppt bắt mồi mạnh

- Thủy triều: hầu là loài bắt mồi theo kiểu lọc thụ động nên phụ thuộc nhiều vào chế độ thủy triều:

+ Nước cường, thủy triều lên: bắt mồi tăng

+ Nước kém, thủy triều xuống: bắt mồi giảm

- Lượng thức ăn trong nước:

+ Nghèo thức ăn: bắt mồi tăng

+ Giàu thức ăn: bắt mồi giảm

4 Sinh sản

- Giới tính của hầu: có 3 dạng là đực, cái và lưỡng tính

Nhưng cơ thể lưỡng tính vào mùa sinh sản rất ít gặp Cơ thể lưỡng tính không

tự thụ tinh vì sản phẩm sinh dục không chín cùng một lúc

- Tuổi thành thục của hầu: 1 năm

- Phương thức sinh sản: noãn sinh (thụ tinh ngoài, phôi phát triển ngoài nhờ dinh dưỡng của noãn hoàng)

Trang 14

- Mùa vụ sinh sản: rải rác quanh năm Nhưng có 2 mùa đẻ rộ là vụ 1: tháng 4 –

6 và vụ 2: tháng 8 – 10

 Các tác nhân ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của hầu:

Quá trình sinh sản của hầu chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện môi trường, đặc biệt là nhiệt độ và tỷ trọng nước

- Nhiệt độ nước: nhiệt độ nước có quan hệ chặt chẽ với sự thành thục sinh dục

và phóng tinh, đẻ trứng của hầu Thí nghiệm của Loosanoff ở độ mặn: 20 ppt, pH: 7.5 – 8.5, cho kết quả như sau:

+ Lần 1: ở 100C sau 35 ngày hầu mới thành thục nhưng tỷ lệ thành thục ít + Lần 2: ở 200C và 250C sau 5 ngày hầu đã thành thục nhưng tỷ lệ đẻ thấp chỉ đạt 24% + Lần 3: ở 300C chỉ sau 3 ngày hầu đã thành thục và cho tỷ lệ sinh sản cao Vậy ở nhiệt độ cao và kéo dài trong khoảng cho phép thì hầu sẽ sinh sản sớm hơn so với mùa vụ

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy các loài hầu khác nhau thì

cần nhiệt độ nước cho quá trình sinh sản cũng khác nhau: hầu dài O gigas: trên

250C; hầu nhặt vảy O denselamellosa: 210C – 230C; hầu Ấn Độ O cucullata: 170C – 180C; hầu vịnh Đại Liên O talienwhanensis: 200C – 270C…

- Tỷ trọng nước: tỷ trọng nước cũng có quan hệ mật thiết với quá trình sinh sản của hầu Tỷ trọng của nước thích hợp nhất cho sinh sản của hầu là 1.008 – 1.018 Nếu tỷ trọng của nước không thích hợp thì mặc dù tuyến sinh dục của hầu bố mẹ đã thành thục, mùa đẻ đã đến nhưng hầu vẫn không đẻ

Ngoài ra hoạt động sinh sản của hầu còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường khác như:

- Độ mặn: khi nhiệt độ thích hợp và hầu đã thành thục nhưng độ mặn của môi trường là 25 – 30 ppt thì hầu vẫn chưa sinh sản rộ Nhưng khi vào mùa mưa độ mặn giảm còn 10 – 20 ppt thì hầu sinh sản rất mạnh

- Thức ăn: trong môi trường giàu dinh dưỡng thì khả năng tích lũy glycogen tăng do đó sự tích lũy noãn hoàng trong trứng của hầu tăng theo, vì vậy mà hầu thành thục sinh dục sớm và khả năng sinh sản tốt hơn Ngược lại, trong môi trường nghèo dinh dưỡng thì khả năng thành thục sinh dục và sinh sản của hầu sẽ kém đi

- Thủy triều: nước cường hầu sẽ sinh sản mạnh, nước kém: thì sinh sản của hầu giảm đi

IV Phát triển phôi và ấu trùng

Hầu là loài động vật thân mềm sinh sản theo kiểu noãn sinh, sau khi trứng và tinh trùng thụ tinh khoảng 30 – 50 phút sẽ xuất hiện cực thể thứ nhất và cực thể thứ hai Sau đó

Trang 15

trứng thắt lại ở xích đạo, tế bào chất dồn về cực thực vật, từ cực thực vật có hai tế bào chất hình lưỡi thò ra, đó là cực diệp thứ nhất Đồng thời trứng tiến hành phân cắt lần thứ nhất

Từ cực động vật trứng cắt dọc thành hai cầu phân cắt AB và CD nhưng không đều,

AB nhỏ và CD to Tiếp theo phôi tiến hành các lần phân cắt cho đến khi tạo thành 64 tế bào thì phôi bước vào giai đoạn phôi tang chưa có xoang rỗng bên trong (2h15 – 2h30), phôi nang (2h45 – 3h), phôi vị (3h40 – 4h), lúc này phôi đã hình thành các tiêm mao ngắn, nhỏ, xuất hiện tuyến vỏ, hậu môn nguyên thủy thông với mấu ruột và dạ dày Tất cả các hình thái trên là cơ sở để hình thành ấu trùng bánh xe (7h-10h) Ấu trùng bánh xe sống trôi nổi và trải qua các giai đoạn biến thái thành ấu trùng diện bàn (14h-16h), ấu trùng chữ D (18h-20h), ấu trùng sơ kỳ, ấu trùng sơ kỳ đỉnh vỏ, ấu trùng trung kỳ, ấu trùng hậu kỳ (có xu hướng sống đáy), ấu trùng bò lê (10-12 ngày), ấu trùng bám (12-14 ngày)

Hình 1.3: Qúa trình phát triển phôi và ấu trùng của hầu C rivularis

A: Trứng mới thụ tinh; B, C: Cực thể thứ nhất và cực thể thứ hai; D, E, F: Phân cắt lần thứ nhất và sự thò thụt của các cực điệp; G, H: Phân cắt lần thứ hai; I: Phôi tang; K: Phôi nang; M: Phôi vị; L: Ấu trùng bánh xe; N: Ấu trùng đĩa bơi; O: Ấu trùng nề thẳng; P:

Trang 16

 Các tác nhân ảnh hưởng đến quá trình phát triển phôi và ấu trùng:

- Nhiệt độ: nhiệt độ có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát sinh của hầu Nếu nhiệt độ lớn hơn 350C hay nhỏ hơn 150C thì phôi sẽ bị dị hình và không phát triển được Khoảng nhiệt độ thích hợp là 250C – 280C Các loại hầu khác nhau thì chịu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển phôi và ấu trùng cũng khác nhau như hầu

ống O gigas thích hợp với nhiệt độ 230C – 260C, nếu thấp hơn 150C hay cao hơn

300C thì số lượng phôi dị hình rất lớn và tốc độ phát triển chậm Còn hầu Ấn Độ O

cucullata thích hợp với nhiệt độ 27.50C – 29.50C…

- Độ mặn: độ mặn thích hợp cho sự phát triển của phôi và ấu trùng hầu tương

tự như độ mặn của nơi hầu bố, mẹ sinh sống Các loài hầu khác nhau thì thích nghi

với các độ mặn khác nhau Hầu cửa sông C rivularis có độ mặn thích hợp là 10 –

25 ppt, còn ở độ mặn thấp hơn 5 ppt thì trứng bị trương nước hay lớn hơn 25 ppt thì trứng bị mất nước dẫn đến ấu trùng sẽ bị dị hình, không phát triển được

- Muối vô cơ: một số loại muối vô cơ có trong nước như: KCl, CaCl2, MgCl2… nếu thiếu có thể làm cho tỷ lệ thụ tinh giảm thấp đến 20 - 30%, ngược lại nếu thừa thì sẽ làm cho tỷ lệ thụ tinh của trứng giảm thấp hơn nữa

V Sinh trưởng

Hầu là loài động vật thân mền chỉ sinh trưởng trong một giai đoạn nhất định khi còn non, sau khi đã trưởng thành rồi thì hầu như không lớn lên được nữa Trong năn đầu tiên thì hầu sinh trưởng nhanh về kích thước, năm thứ 2 và 3 thì sinh trưởng nhanh về thân mềm Từ năm 4 trở đi thì tốc độ sinh trưởng giảm

Sự sinh trưởng của hầu phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh do đó nó thay đổi

theo từng mùa trong năm Hầu cửa sông C rivularis có quá trình sinh trưởng chia

làm 4 mùa rõ rệt Thời gian nghỉ ngơi là vào mùa đông khi thời tiết giá lạnh, vỏ của hầu không phát triển Thời gian sinh trưởng chính vào những tháng mùa xuân ấm

áp, thức ăn đầy đủ, hầu lớn rất nhanh Vào mùa sinh sản hầu sinh trưởng kém vì mất nhiều năng lượng cho quá trình sinh sản Sau đó là thời gian hầu bắt mồi mạnh để tích trữ năng lượng và lúc này hầu lớn rất nhanh

VI Một số yếu tố vô sinh và hữu sinh ảnh hưởng đến hầu

1 Các yếu tố vô sinh

Trang 17

- Độ mặn: mỗi loài hầu đều có một phạm vi thích ứng nhất định đối với độ mặn, vượt quá phạm vi này chúng đều không sống được Sự thay đổi độ mặn sẽ làm cho áp suất thẩm thấu trong và ngoài cơ thể hầu bị mất cân bằng Nếu độ mặn hạ xuống còn 3 ppt thì cơ thể hầu sẽ bị trương nước, sinh trưởng kém Tình trạng này kéo dài hay độ mặn tiếp tục bị hạ xuống chỉ còn 1 – 2 ppt thì hầu sẽ bị chết

Ngược lại nếu độ mặn quá cao cũng sẽ ảnh hưởng đến đời sống của hầu, nhưng trong thực tế trường hợp này ít xảy ra và tác hại không lớn lắm như trường hợp độ mặn bị giảm thấp do tác dụng của nước ngọt trong mùa mưa lũ

- Nước thải công nghiệp: khu vực nuôi hầu phải đảm bảo không có nguồn nước thải công nghiệp chảy vào, vì trong đó có rất nhiều hoá chất có hại cho sinh trưởng và phát triển của hầu

- Bão lụt: bão lụt sẽ làm độ mặn và pH giảm ảnh hưởng trực tiếp đến hầu Ngoài ra nó còn làm cho độ trong của vùng nuôi giảm làm cho hầu bị vùi lấp không lọc được thức ăn, hay gây hư hại cho các thiết bị nuôi…

2 Các yếu tố hữu sinh

- Thực vật phù du (plankton): khi thực vật phù du phát triển quá mạnh thì khi

về đêm sẽ gây hiện tượng thiếu O2, thừa CO2, hay chúng bám vào mang ảnh hưởng đến quá trình lọc thức ăn của hầu Một số bọn còn tiết ra chất độc gây hại cho hầu

- Hiện tượng thủy triều đỏ (red tide): hay còn gọi là hiện tượng nở hoa của nước

do sự tàn lụi hàng loạt của các loài tảo như: Gymodium, Pyrodinium, Noctinuca,

Glinodinium…khi chúng phân hủy sẽ gây sự thiếu hụt O2 nghiêm trọng và sinh ra các khí độc như: H2S, NH3 và một số chất độc khác ảnh hưởng trực tiếp đến hầu

- Động vật ăn thịt: các loại ốc ăn thịt như: ốc đỏ Rapana thomasiana, ốc gai

Thais clavigera, ốc ngọc Natica, ốc gai xương Murrin, sao biển Pisarter ochraceus,

cua biển Cylla serrata, cá nhám xanh Carcharias glaucus… các loài này đều có

răng lưỡi sắc nhọn có thể đục thủng vỏ hầu để ăn phần thịt bên trong

- Sinh vật bám tranh vật bám: sun Balanus sp, điệp bám Anomya cyteum, đài tiên trùng Bryozoa, hải tiên Ascidia chúng cạnh tranh thức ăn, vật bám của ấu

trùng hầu, hay bám chồng lên trên làm cho hầu không lấy được thức ăn và bị chết

Trang 18

- Sinh vật khoan lỗ: Bannia, Martesia, Pholas, Terado… chúng đục thủng vỏ

hầu ở vị trí cơ khép vỏ làm cho vỏ hầu không khép lại được tạo điều kiện để các động vật khác ăn thịt hầu

- Sinh vật ký sinh: như Polydora: ký sinh trong xoang cơ thể làm giảm tốc độ sinh trưởng của hầu Hay bọn Hexamyta, Mytycola… ký sinh làm cho hầu bị chết

VII Kỹ thuật nuôi hầu cửa sông

1 Lấy giống tự nhiên

Bãi lấy giống:

- Vị trí: vùng cửa sông, eo, vịnh, đầm, phá, nơi nước lưu thông, giàu dinh dưỡng, ít sóng gió, nhiều hầu bố mẹ phân bố

- Điều kiện môi trường:

+ Độ mặn: hầu là loài rộng muối, nhưng độ mặn thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của chúng là 10 – 25ppt

+ Nhiệt độ: 20 – 300C

+ pH: thích hợp cho sinh trưởng của hầu là 7.5 – 8.5

+ Độ sâu: hầu sống được từ tuyến cao triều tới độ sâu 10m, nhưng tốt nhất nên chon bãi lấy giống từ tuyến trung triều tới độ sâu 3m, vì ở độ sâu này thời gian ngập nước nhiều nên hầu phát triển tốt

+ Độ dốc: độ dốc tốt nhất chọn nơi có độ dốc thoai thoải sẽ dễ ràng thực hiện các thao tác kỹ thuật

+ Chất đáy: chất đáy ít ảnh hưởng trực tiếp đến hầu nhưng ảnh hưởng lớn đến việc thả vật bám Chất đáy là bùn nhão vật bám dễ bị vùi lấp, hầu bị chết ngạt Chất đáy tốt nhất là cát bùn, khi thả vật bám không bị vùi lấp, nước chảy bùn, cát không

bị vẩn đục phủ lắng lên hầu

+ Ngoài ra khu vực bãi lấy giống phải đảm bảo không có nguồn nước thải công nghiệp chảy vào và không cản trở giao thông

 Mùa vụ lấy giống:

Hầu là loài sinh sản quanh năm nhưng không đều, trong đó có hai mùa đẻ rộ:

- Vụ 1: tháng 4 – 6

- Vụ 2: tháng 8 – 10

Trang 19

Do đó hoạt động lấy giống phải được tiến hành vào mùa đẻ rộ của hầu khi đó mật độ bám của con giống sẽ cao, đạt yêu cầu sản xuất Nhìn chung khi mật độ bám của hầu giống đạt trên 10 con/cm2 vật bám là đạt yêu cầu lấy giống

 Phương pháp dự báo lấy giống:

Hoạt động thả vật bám lấy giống hầu là một khâu quan trọng mang tính quyết định đến thành công của việc nuôi hầu Vì vậy trước khi thả vật bám lấy giống cần phải có phương pháp dự báo lấy giống phù hợp để mang lại hiểu quả trong việc lấy giống

- Theo dõi các yếu tố môi trường như: nhiệt độ nước, độ mặn, tỷ trọng nước cả tầng mặt và tầng đáy, ngày hai lần vào buổi sáng và buổi chiều

- Theo dõi sự phát triển của tuyến sinh dục: lựa chon hầu có độ tuổi > 1 năm rồi tiến hành giải phẫu quan sát tuyến sinh dục Từ việc xác định được sự phát triển của tuyến sinh dục ta có thể dự kiến được thời gian sinh sản rộ của hầu, từ đó có kế hoạch thả vật bám phù hợp

+ Con đực: tinh trùng màu sáng, bóng, tinh rời và vận động mạnh

- Theo dõi ấu trùng phù du: sử dụng lưới thu động vật phù du để thu mẫu rồi cố định bằng formol 5% Sau đó nhận dạng và đếm số lượng ấu trùng phù du của hầu

Bảng 1.1: Thời gian và kích thước ấu trùng phù du của hầu C rivularis

(Theo Haruo Susuki) Giai đoạn ấu

trùng

Kích thước (µm)

Thời gian trải qua (ngày)

Thời gian thành ấu trùng bám (ngày) Chữ D

Trang 20

- Theo dõi ấu trùng bám: mùa vụ sinh sản của hầu cũng trùng với mùa vụ sinh sản của sun, do đó ta phải theo dõi ấu trùng bám của hầu và sun

+ Lập dàn rồi thả vật bám để thu ấu trùng bám của hầu và sun Sau đó đếm số lượng ấu trùng bám

+ Phân biệt ấu trùng bám của hầu và sun: ấu trùng hầu có hình tam giác hoặc hình bầu dục, đỉnh vỏ có hình bầu dục, hơi ngả về phía sau vỏ Ấu trùng có màu vàng rơm Ấu trùng sun có hình chóp cụt, đỉnh vỏ hình tam giác nhọn, nằm giữa vỏ

- Ấu trùng hậu kỳ ≥ 200 con/m3

- Ấu trùng bám hầu ≥ 5 con/vật bám/ngày

- Ấu trùng bám sun < 10 con /vật bám/ngày

 Phương pháp lấy giống:

- Lấy giống ở đáy (S):

+ Nguyên tắc: rải vật bám trên nền đáy

+ Yêu cầu của vật bám: hầu có thể bám trên bất cứ vật rắn nào có trong nước,

do đó khả năng sử dụng vật bám để lấy giống rất rộng rãi Tuy nhiên vật bám phải đảm bảo các yêu cầu sau: sạch, không có chất độc, không có mùi vị lạ, cứng, nháp, sẵn có, giá rẻ, sử dụng tiện lợi và phù hợp với điều kiện tự nhiên của bãi nuôi Các loại vật liệu có thể làm vật bám là: vỏ thân mềm, đá, gạch, ngói, cọc xi măng, gỗ…

Hình 1.4: Vật bám nhiều mặt bằng đất nung sử dụng

lấy giống hầu C rivularis

o Lấy giống ở bãi cạn:

+ Vị trí: vùng trung triều đến vùng hạ triều

Trang 21

Hình 1.6: Các loại dây vật bám dùng lấy giống hầu C rivularis

+ Tiến hành: khi nước cạn ta san bãi thành luống, sau đó cắm cọc đánh dấu Khi nước lên dùng thuyền chở vật bám rải đều Khi nước xuống ta tiến hành chỉnh lý xếp lại các vật bám, xếp 4 – 5 vật bám thành một cụm, khoảng cách giữa hai cụm là 20 – 30 cm

+ Nguyên tắc: treo vật bám trong nước

+ Làm dây vật bám: vỏ hầu, ngói… tiến hành đục lỗ, sau đó rửa sạch rồi sâu dây

+ Lấy giống bằng dàn: sử dụng cọc gỗ, tre để làm giàn treo dây vật bám Chiều dài của giàn là 10m, chiều rộng 0.8m Trên giàn treo dây vật bám cách nhau 20cm, dây vật bám cách đáy ≥ 50cm Chiều dài dây vật bám là 1.5m

+ Lấy giống bằng bè: sử dụng cọc tre và phao nổi làm bè, diện tích 50m2 Bốn đầu bè sử dụng neo để cố định Trên bè treo các dây vật bám để lấy giống, khoảng cách giữa các dây vật bám là 20cm, khi thủy triều rút dây vật bám cách đáy ≥ 50cm

Trang 22

 Ương giống: đối với hai phương pháp lấy giống ở đáy và lấy giống lập thể

thì trong quá trình ương giống phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Không để hầu bị vùi lấp

- Nếu mật độ hầu giống quá dầy thì phải san thưa

- Ức chế giống: sau khi thả vật bám lấy giống hầu được một tháng, ta phải tiến hành ức chế giống Nhằm mục đích :

+ Hạn chế khả năng bắt mồi của hầu, do đó tốc độ sinh trưởng của hầu sẽ chậm lại, vỏ hầu sẽ dày lên tạo thành giống cứng

+ Tạo cho hầu quen sống trong các điều kiện môi trường khắc nghiệt

+ Tuyển chọn được giống tốt

Các phương pháp ức chế giống:

+ Ức chế đơn giản: dồn các dây giống lại gần nhau

+ Ức chế toàn phần: di chuyển dây giống từ vùng hạ triều lên vùng trung triều Ở vùng trung triều độ sâu thấp hơn vùng hạ triều do đó sẽ hạn chế được sự bắt mồi của hầu + Ức chế bán phần: treo các dây vật bám cách nhau 5cm ở vùng trung triều

- Điều kiện môi trường: trong quá trình ương giống chỉ có yếu tố độ mặn là có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của hầu, còn các yếu tố khác ảnh hưởng rất ít Vào mùa mưa độ mặn thường giảm thấp (< 5ppt), do đó nó ảnh hưởng đến sinh trưởng của hầu

Ta phải di chuyển dây giống đến nơi có độ mặn thích hợp cho sinh trưởng của hầu

- Theo dõi thức ăn và tốc độ sinh trưởng: trong thời gian ương giống ta phải thường xuyên theo dõi sinh lượng của sinh vật phù du và mùn bã hữu cơ trong thủy vực Nếu hàm lượng thức ăn không đầy đủ sinh trưởng của hầu sẽ giảm Khi đó ta phải di chuyển hầu đến vùng nuôi có nguồn thức ăn đầy đủ hơn

2 Sản xuất giống nhân tạo

 Tuyển chọn hầu bố mẹ: đây là khâu quan trọng quyết định đến thành công của quá trình sinh sản nhân tạo Hầu bố mẹ sử dụng cho sinh sản nhân tạo phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Tuổi: ≥ 1

- Thời gian: trong mùa sinh sản

- Hầu bố mẹ phải khỏe, sinh trưởng nhanh (có gờ sinh trưởng thưa rõ)

Trang 23

- Thành thục sinh dục: con đực có tinh trùng vận động mạnh, con cái có trứng hình tròn, nhân to, rõ

 Kích thích sinh sản:

- Bể kích thích sinh sản có thể tích 0.5 – 1m3

- Tiến hành vệ sinh bể và toàn bộ các dụng cụ

- Cấp nước biển lọc sạch vào bể có:

+ Cho ăn: khi trong bể ương xuất hiện ấu trùng chữ D ta tiến hành cấp tảo các

loại tảo đơn bào: Nanochloropsis oculata, Isochrysis, Chlorella, Tetraselmis Khẩu

phần thức ăn có sự phối hợp giữa các loại tảo sẽ cho hiểu quả tốt hơn Khẩu phần

Hình 1.7: Bể ấp trứng và ương ấu trùng hầu C rivularis

Trang 24

cho ấu trùng chữ D là hỗn hợp của Chatoceros và Isochrysis với mật độ tế bào tương ứng thích hợp nhất là: 125 TB/µL và 50 TB/µL

Thời gian: 2 lần/ngày vào buổi sáng: 7 – 8h, buổi chiều: 15 – 16h Cho ăn dư tảo

sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nuôi Trong trường hợp mật độ ấu trùng nuôi cao cần cho ăn làm nhiều lần trong ngày để tránh tình trạng lắng đáy của thức ăn + Sục khí: ở giai đoạn ấu trùng chữ D ta sục khí nhẹ nhưng mạnh hơn khi ấu trùng đạt kích thước 140µm, tỷ lệ dòng khí phụ thuộc vào hình dạng bể và kích thước của ấu trùng

+ Khi xuất hiện ấu trùng bò lê ta phải cấp tảo và vật bám để cho ấu trùng bám + Khi xuất hiện ấu trùng bám ta tiếp tục cấp tảo vào bể ương với mật độ tăng dần từ 3000 TB/mL lên 10.000 TB/mL

+ Hàng ngày theo dõi sức khỏe của ấu trùng, các giai đoạn phát triển và chất lượng nước của bể nuôi

+ Định kỳ thay nước cho bể ương: 2 ngày/lần, mỗi lần thay 50% Chú ý nguồn nước mới thay phải được sử lý bằng tia cực tím và có các yếu tố: nhiệt độ, độ mặn,

pH tương đương với nước trong bể nuôi để tránh gây sốc cho ấu trùng Tuy nhiên lượng nước thay phụ thuộc vào: độ bẩn của nước, giai đoạn phát triển và mật độ của

ấu trùng trong bể ương

- Khi ấu trùng bám đạt kích thước 0.5 – 1cm là đạt kích cỡ con giống để đưa ra nuôi thương phẩm

3 Nuôi thương phẩm (nuôi lớn)

 Bãi nuôi:

- Vị trí: vùng cửa sông, eo, vịnh, đầm, phá, nơi nước lưu thông, giàu dinh dưỡng, ít sóng gió

- Điều kiện môi trường:

+ Độ mặn: hầu là loài rộng muối, nhưng độ mặn thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của chúng là 10 – 25ppt, vào mùa mưa độ mặn không xuống quá 5ppt

+ Nhiệt độ: 20 – 300C

+ pH: thích hợp cho sinh trưởng của hầu là 7.5 – 8.5

+ Độ sâu: hầu sống được từ tuyến cao triều tới độ sâu 10m, nhưng tốt nhất nên chọn bãi nuôi từ tuyến trung triều thấp tới độ sâu 5m, vì ở độ sâu này thời gian ngập nước nhiều và dễ dàng trong việc quản lý và thu hoạch hầu

Trang 25

+ Độ dốc: độ dốc tốt nhất chọn nơi có độ dốc thoai thoải, diện tích bãi nuôi sẽ được mở rộng và rễ ràng thực hiện các thao tác kỹ thuật

+ Chất đáy: chất đáy ít ảnh hưởng trực tiếp đến hầu nhưng ảnh hưởng lớn đến việc thả vật bám Chất đáy là bùn nhão vật bám rễ bị vùi lấp, hầu bị chết ngạt Chất đáy tốt nhất là cát bùn, khi thả vật bám không bị vùi lấp, nước chảy bùn, cát không phủ lắng lên hầu

+ Ngoài ra khu vực bãi nuôi phải đảm bảo không có nguồn nước thải công nghiệp chảy vào và không cản trở giao thông

 Phương pháp nuôi:

- Nuôi ở đáy (S):

+ Nguyên tắc: rải vật bám có con giống trên nền đáy

+ Nuôi ở bãi cạn: khi nước cạn ta san bãi thành luống, sau đó cắm cọc đánh dấu Khi nước lên dùng thuyền chở vật bám có con giống rải đều Khi nước xuống

ta tiến hành chỉnh lý xếp lại các vật bám, xếp 4 – 5 vật bám thành một cụm, khoảng cách giữa hai cụm là 20 – 30cm

+ Nuôi ở bãi sâu: dùng thuyền chở vật bám có con giống rải đều trên nền đáy

- Nuôi lập thể (V):

+ Nguyên tắc: treo vật bám có con giống trong nước

+ Làm dây nuôi: buộc các vật bám có con giống cố định vào dây nuôi, khoảng cách giữa các vật bám là 15 – 20cm

+ Nuôi lớn bằng dàn: sử dụng cọc gỗ, tre để làm giàn treo dây nuôi Diện tích 10m2 Trên giàn treo dây nuôi cách nhau 30cm, dây nuôi cách đáy ≥ 50cm Chiều dài dây nuôi là 2.5 – 3m

+ Nuôi lớn bằng bè: sử dụng cọc tre và phao nổi làm bè, diện tích 50m2 Bốn đầu bè sử dụng neo để cố định Trên bè treo các dây nuôi, khoảng cách giữa các dây nuôi là 30cm, khi thủy triều rút dây nuôi cách đáy ≥ 50cm

Hiện nay còn có các hình thức nuôi lớn hầu bằng: dây phao, cắm cọc trên nền đáy, lồng khung sắt, lồng lưới…

Trang 26

1: Cọc tre; 2: Thùng phi làm phao nổi; 3: Vật bám có con giống

Hình 1.8: Phương pháp nuôi hầu C rivularis bằng bè nổi

 Quản lý và chăm sóc:

- Nuôi ở đáy (S): trong quá trình nuôi chú ít không để hầu bị vùi lấp, nếu mật

độ các vật bám quá dày thì phải san thưa và chỉnh lý lại các vật bám Có biện pháp hạn chế các loài địch hại ảnh hưởng đến hầu

- Nuôi lập thể (V): trong quá trình nuôi các hạt phù sa, rong, rác bẩn và các sinh vật bám sẽ bám vào hầu ảnh hưởng đến quá trình hô hấp, lọc thức ăn của hầu Ngoài ra một số sinh vật bám còn tiết ra chất độc ảnh hưởng đến hầu Vì vậy ta phải tiến hành làm vệ sinh cho hầu nuôi bằng cách dùng chổi xương quét các vật bám trên dây nuôi hầu

Vào mùa mưa, độ mặn có thể giảm thấp (< 5ppt) hoặc điều kiện môi trường và dinh dưỡng không thuận lợi cho hầu phát triển, khi đó ta phải di chuyển bè nuôi đến vùng khác có điều kiện thuận lợi hơn

- Tiêu diệt các loài địch hại của hầu

- Theo dõi thức ăn và tốc độ sinh trưởng của hầu:

+ Điều kiện môi trường bất lợi và dinh dưỡng nghèo hầu sẽ sinh trưởng chậm, kích thước nhỏ (phiến sinh trưởng nhỏ, không rõ ràng) Ta phải di chuyển bè nuôi đến vùng khác có điều kiện môi trường và dinh dưỡng thuận lợi hơn

+ Điều kiện môi trường thuận lợi hầu sinh trưởng nhanh: gờ sinh trưởng lớn, thưa, rõ ràng

- Thường xuyên kiểm tra thiết bị nuôi nếu có hư hỏng thì phải sửa chữa kịp thời Tăng cường công tác bảo vệ khi gần thu hoạch hầu

Trang 27

4 Thu hoạch và chế biến

 Thu hoạch: thu hoạch đúng thời điểm là một vấn đề quan trọng trong việc

nâng cao sản lượng hầu Hầu chưa béo hoặc đã qua giai đoạn béo mới thu hoạch thì

sẽ làm giảm sản lượng Vì vậy nên tiến hành thu hoạch vào lúc hầu béo, trước khi

đẻ tức là khoảng tháng 11 – 12 cho đến tháng 3 – 4 năm sau Khi đó sản phẩm thu hoạch đảm bảo được các yêu cầu: sản lượng cao, chất lượng thịt tốt, kích cỡ đồng đều, có nơi tiêu thụ Do đó mang lại hiệu quả kinh tế cao

Bảng 1.2: Một số chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng của hầu C rivularis

Chế biến: hầu là loại hải sản có giá trị kinh tế cao, có thể chế biến thành nhiều

món ăn ngon và bổ như: ăn sống, làm đồ hộp, hấp, nướng…

Trang 28

CHƯƠNG II: KỸ THUẬT NUÔI TRAI NGỌC (Pinctada martensii

Dunker) VÀ KỸ THUẬT CẤY NGỌC TRAI NHÂN TẠO

I Hình thái và cấu tạo ngoài

Hình 2.1: Hình thái cấu tạo ngoài của trai ngọc Pinctada martensii

(theo Chuỳ Dã)

1: Động mạch chủ phía trước; 2: Lớp cơ ở mặt khối nội tạng; 3: Tĩnh mạch; 4: Khối nội tạng; 5: Cơ chân sau bên phải; 6: Cơ chân trước bên phải; 7: Thần kinh liên kết não; 8: Cơ chân trước bên trái; 9: Miệng; 10: Vành xúc biện; 11: Hạch thần kinh não; 12: Thần kinh liên kết não chân; 13: Thần kinh liên kết não tạng; 14: Hạch thần kinh chân; 15: Lỗ sinh dục; 16: Lỗ thận; 17: Ống nối thận và xoang bao tim; 18: Vành thận; 19: Tĩnh mạch ra mang; 20: Tĩnh mạch vào mang; 21: Lá giữa màng áo; 22: Lá trong màng áo; 23: Thần kinh mang; 24: Tấm mang trong bên trái; 25: Thần kinh liên kết tạng; 26: Hạch thần kinh tạng; 27: Mép tự do tấm mang trong bên trái; 28: Xoang nước ra; 29: Mấu lồi hậu môn; 30: Màng áo trái; 31: Thần kinh sau màng áo; 32: Cơ khép vỏ; 33:

Cơ rút chân; 34: Đường thông thận trái, phải; 35: Động mạch chủ phía sau; 36: Trực tràng; 37: Tâm nhĩ; 38: Xoang bao tim; 39: Động mạch thông ra màng áo sau; 40: Tâm thất

1 Vỏ

Vỏ hình hơi vuông, mặt ngoài vỏ có màu vàng nhạt, hai vỏ không băng nhau, vỏ phải phẳng, vỏ trái hơi phồng lên Đỉnh vỏ ở phía trước, tai trước nhỏ hơn tai sau Mép lưng thẳng, mép bụng tròn Phía dưới tai trước có lỗ tơ chân rõ rệt, tơ chân có dạng chùm Mặt ngoài của vỏ có nhiều tấm vẩy mỏng, mặt trong của vỏ màu trắng, láng và óng ánh màu bạc Vết cơ khép vỏ ở chính giữa của vỏ, vết màng áo đơn giản

2 Màng áo

Màng áo gồm hai tấm trái phải đối xứng nhau và chỉ dính liền ở chỗ dưới bản nề còn các bộ phận khác đều tự do Phần giữa màng áo rất mỏng, phần mép tương đối dày Mép màng áo chia làm 3 lớp: lớp ngoài sát vỏ rất mỏng không có xúc tu, do một rãnh

Trang 29

sâu ngăn cách với mấu cảm giác của lớp giữa Mấu cảm giác tương đối dày, có nhiều xúc tu Trong cùng là mấu mép màng áo rất phát triển và gập vào trong thẳng góc với mặt ngoài của màng áo Phía trên có một hàng xúc tu đơn giản không đều nhau

3 Chân và cơ co rút chân

Chân của trai ngọc nhỏ, ngắn, có hình gậy và có nhiều sắc tố nằm ở phía trước thận Mặt bụng của chân có một rãnh tơ chân rất sâu thông với phía sau lỗ tơ chân

Tơ chân hình tấm, màu xanh Vận động của chân chủ yếu nhờ vào hoạt động của cơ

co rút và cơ ruỗi chân

Cơ ruỗi chân gồm có 2 đôi, đôi trước phát triển hơn đôi sau Một đầu của đôi trước có dạng tấm nối với mặt ngoài của cơ rút chân và gốc chân tạo thành một góc

450, còn một đầu có dạng bó dính ở phía trong ổ đỉnh vỏ Đôi sau một đầu nối với phần trên của chân còn môt phần nối với phía sau ổ đỉnh vỏ

Cơ rút chân gồm có một đôi nằm ở phần giữa phía trước cơ khép vỏ Có một đầu to dính vào cơ khép vỏ, còn một đầu nối với chân

Tơ chân của trai ngọc có dạng chùm Tơ chân do tuyến tơ chân nằm ở điểm giao nhau giữa 2 cơ rút chân trái phải tiết ra

4 Hệ cơ

Trai ngọc ở giai đoạn ấu trùng có hai cơ khép vỏ trước và sau, nhưng từ giai đoạn sống bán cố định thì cơ khép vỏ trước thoái hoá và tiêu biến dần, chỉ còn cơ khép vỏ sau phát triển Cơ khép vỏ sau được cấu tạo gồm hai phần:

+ Phần trong suốt hơi vàng nằm ở phía trước tạo thành các bó cơ hình đa giác gọi

là cơ vân ngang, có nhiệm vụ khép vỏ, giúp cho vỏ nhanh chóng đóng lại

+ Phần màu trắng gọi là cơ trơn, cơ trơn vận động chậm chạp nhưng nó có thể làm cho vỏ được khép chặt

- Ngoài ra trai ngọc còn có:

+ Cơ vòng: nằm xung quanh mép màng áo

+ Cơ phóng xạ: phân bố dọc theo màng áo

II Cấu tạo trong

1 Hệ thần kinh

Hệ thần kinh của trai ngọc gồm có 3 đôi hạch: hạch não, hạch chân và hạch

Trang 30

Hạch não gồm 2 chiếc trái phải nằm ở gốc xúc biện, nối liền nhau nhờ dây thần kinh liên kết chạy vòng qua thực đạo Từ hạch thần kinh não có các dây thần kinh đi đến hạch thần kinh nôi tạng và hạch thần kinh chân Hạch thần kinh nội tạng gồm

có 2 chiếc trái phải nằm gần cơ khép vỏ Từ đây có các dây thần kinh đi đến các cơ quan não, nội tạng, mang, màng áo…Hạch thần kinh chân gồm có hai chiếc được nối với nhau bắng các dây thần kinh, nằm ở phía trên gốc chân Từ hạch thần kinh chân có các dây thần kinh đi đến cơ co chân và cơ rút chân của trai ngọc

2 Hệ hô hấp

Trai ngọc cũng như nhiều loại động vật thân mềm khác hoạt động hô hấp chủ yếu dựa vào mang, ngoài ra chúng còn có thể tiến hành trao đổi khí dựa vào hệ thống mạch máu phân bố ở màng áo

Cấu tạo của mang: gồm hai đôi mang tơ đối xứng phải trái với nhau nằm ở phía trước mặt bụng của thận và được bao bọc bởi lớp màng áo Hai tấm mang ở phía ngoài bên phải và trái hơi hẹp gọi là tấm mang ngoài, hai tấm mang ở phía trong rộng hơn gọi là tấm mang trong Mỗi một tấm mang đều có một lớp trên và một lớp dưới Lớp mang trên và lớp mang dưới dính liền với nhau ở rìa trước tạo nên đường rãnh làm nhiệm vụ vận chuyển thức ăn Gốc của lớp mang trên tấm mang ngoài dính liền với nội tạng, còn gốc của lớp mang còn lại dính với nhau tạo thành hình chữ W Phần chính giữa của chữ W là trụ mang có chức năng nâng đỡ các tấm mang

3 Hệ tuần hoàn

Hệ tuần hoàn của trai ngọc là hệ tuần hoàn hở Tim nằm trong xoang bao tim, gồm một tâm thất và 2 tâm nhĩ Tâm nhĩ màu nâu đỏ nằm ở phía dưới của xoang bao tim gồm 2 chiếc trái phải thông với nhau ở phía bên trong mặt bụng Máu từ màng áo ngoài và tĩnh mạch chảy ra mang rồi chảy đến tâm nhĩ và cuối cùng đổ vào tâm thất Tâm thất có dạng túi, màu trắng, vách rất dày Giữa tâm nhĩ và tâm thất có van giữ cho máu cháy một chiều Ở trai không có tim phụ

Động mạch chủ phía trước bắt đầu từ phía trước mé lưng tâm thất và chia ra làm động mạch nội tạng, động mạch sau manh nang tiêu hóa, động mạch chân và manh nang tiêu hóa, động mạch xúc biện trên và động mạch trước màng áo Động mạch chủ phía sau đi từ phía sau lưng tâm thất xuống phía dưới ở mép sau cơ khép

vỏ và phân bố ở màng áo

Trang 31

4 Hệ tiêu hóa

Bộ máy tiêu hóa của trai ngọc bao gồm: xúc biện, miệng, thực quản, dạ dày, ruột

và hậu môn Xúc biện có hình tam giác vuông gồm 2 tấm: tấm ngoài lớn hơn tấm trong Mép sau của cả 2 tấm xúc biện đều dính với mép màng áo còn mép trước tự do Miệng của trai ngọc có hình bầu dục, nằm ở chính giữa đỉnh của tấm xúc biện trong và ngoài Thực quản ở trai rất ngắn và dẹt, chạy qua cơ ruỗi chân trước đến phía trước dạ dày Dạ dày rất to dạng túi, không có hình thể nhất định, phía bên ngoài bị tuyến sinh dục và manh nang tiêu hóa bao phủ Vách dạ dày có nhiều nếp gấp và có lỗ thông với manh nang tiêu hóa Bên phía trái phần lưng của dạ dày có mộc dạ dày rất phát triển Ruột của trai ngọc rất dài bắt đầu từ phía sau bên trái dạ dày đi xuống cuối gờ bụng rồi gấp khúc đi lên Đoạn ruột đi xuống chạy song song với nang sợi keo, giữa ruột và nang sợi keo có khe nhỏ thông với nhau Đoạn ruột đi lên qua phía trước xoang bao tim rồi xuyên qua khối nội tạng thành trực tràng Trực tràng đi xuống ở phía sau cơ khép vỏ và mở ra ở đoạn cuối tạo thành hậu môn

5 Hệ sinh dục

Cơ quan sinh dục của trai ngọc được cấu tạo từ 3 bộ phận:

+ Bao noãn (follicle): là những nhánh của ống sinh dục ẩn trong mô liên kết dạng lưới Đây là nơi mà các nguyên bào sinh dục phát dục tạo thành trứng và tinh trùng + Ống sinh dục (genital canal): gồm nhiều ống nhỏ đối xứng hai bên, có dạng như gân lá phân bố ở quanh nang nội tạng Đây là nơi chủ yếu tạo ra sản phẩm sinh dục là tinh trùng và trứng

+ Ống vận chuyển sinh dục (gonoduat): là một ống to được tạo thành từ rất nhiều ống sinh dục Mặt ngoài của ống được bao bọc bởi mô liên kết và mô cơ Ống sinh dục

mở ở khe niệu sinh dục tại mặt bụng của cơ khép vỏ, phía trong có các tiêm mao có tác dụng vận chuyển trứng và tinh trùng đã thành thục ra ngoài

Vào mùa sinh sản thì tuyến sinh dục của trai ngọc phát triển đầy khắp gờ bụng

và bao phủ cả mặt ngoài của manh nang tiêu hóa

6 Hệ bài tiết

Cơ quan bài tiết của trai ngọc là thận có cấu tạo thận dạng 1(xoang bao tim và xoang màng áo nối thông với nhau) Thận có dạng túi dài, màu nâu nhạt nằm ở giữa

Trang 32

một đầu mở ở xoang bao tim, còn một đầu mở ở trong nang thận Ống đại thận mở

ở trong xoang màng áo

II Một số đặc điểm sinh học khác

1 Phân bố

Trai ngọc là loài hẹp nhiệt và hẹp muối, thường phân bố ở vịnh, biển cạn Nhiệt

độ thích hợp trong khoảng: 10 – 350C và độ mặn là 22 – 35ppt, pH: 7.5 – 8.5 Chất đáy là cát, cát sạn; cát, ít bùn; cát, pha lẫn vỏ động vật thân mềm Trai là loài sống ở

độ trong khá cao, độ sâu từ -1m tới -10m nước

Ở nước ta trai ngọc phân bố nhiều ở môt số vùng sau:

- Vịnh Hạ Long: đảo Côtô, đảo Minh Châu, đảo Quan Lạn

- Biện Sơn – Thanh Hóa

- Lăng Cô – Thừa Thiên - Huế Ngoài ra còn có ở Bình Thuận, vịnh Thái Lan

2 Phương thức sống

Trai là loài sống bán cố định Khi điều kiện môi trường bất lợi trai sẽ tự đứt tơ chân để di chuyển đến nơi có điều kiện môi trường thích hợp khi đó trai sẽ tự tái sinh tơ chân Tuy nhiên, hoạt động di động trong ngày của trai có chu kỳ ngày đêm

rõ rệt: ngày nghỉ, đêm di chuyển

3 Thức ăn và phương thức bắt mồi

Phương thức bắt mồi: trai là loài bắt mồi bị động bằng cách lọc nhiều lần Thức ăn của trai thay đổi theo các giai đoạn phát triển của cơ thể

Giai đoạn ấu trùng: thức ăn của trai là thực vật phù du: Chlorella, Monas,

Nanochloropsis, Tetraselmin, Cryptomonas

Giai đoan con non và trưởng thành thức ăn của trai phong phú hơn:

- Thực vật phù du: Coscinodiscus, Thalassiosira, Thalassionema, Navicula,

Synedra, Chactoceros, Skeletonema…

- Động vật phù du: ấu trùng Copepoda và Copepoda nhỏ, Rotifer

- Mùn bã hữu cơ

 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình bắt mồi của trai:

Trai ngọc là loài hẹp nhiệt và hẹp muối do đó biên độ dao động của nhiệt độ và

độ mặn có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình bắt mồi của trai:

- Nhiệt độ nước: 28 – 300C bắt mồi tăng mạnh

Trang 33

- Độ mặn: 22 – 35ppt bắt mồi mạnh Ở nhiệt độ nhỏ hơn 22ppt và lớn hơn 35ppt thì khả năng bắt mồi của trai sẽ giảm

- Thủy triều: trai là loài bắt mồi theo kiểu lọc bị động nên phụ thuộc nhiều vào chế độ thủy triều:

+ Nước cường, thủy triều lên: bắt mồi tăng

+ Nước kém, thủy triều xuống: bắt mồi giảm

- Lượng thức ăn trong nước:

+ Nghèo thức ăn: bắt mồi tăng

+ Giàu thức ăn: bắt mồi giảm

- Phương thức sinh sản: noãn sinh (thụ tinh ngoài, phôi phát triển ngoài nhờ dinh dưỡng của noãn hoàng)

5 Quá trình phát triển phôi và ấu trùng

Trứng của trai khi thành thục có hình tròn, đường kính khoảng 48µm, chính giữa trứng có một nhân lớn, màng trứng mỏng, bề mặt nhẵn Tinh trùng gồm có 3 phần: đầu, thân và đuôi, dài khoảng 60µm Đầu có hình nón lùn

Trứng sau khi được thu tinh sẽ co lại thành hình tròn đường kính khoảng 45µm

và có hai màng trứng rõ rệt Sự phân cắt trứng của trai ngọc cũng giống như của hầu cửa sông: sau khi cực thể thứ nhất, thứ hai xuất hiện thì cực diệp mọc ra, bắt đầu phân cắt trải qua các giai đoạn phôi tang (3 giờ), phôi nang (4 giờ), đến giai đoạn ấu trùng bánh xe (12 giờ) rồi phát triển thành ấu trùng đĩa bơi (40 giờ)

Từ giai đoạn ấu trùng bánh xe rồi đến các giai đoạn ấu trùng sơ kỳ, trung kỳ và hậu kỳ đỉnh vỏ thì ấu trùng đã hình thành tuyến tiêu hóa đơn giản và ấu trùng đã dựa vào đĩa bơi để vận động và bắt mồi Ở giai đoạn ấu trùng hậu kỳ đỉnh vỏ đã

Trang 34

thích hợp thì khoảng 20 ngày sẽ phát triển thành ấu trùng bò lê và sau 5 ngày nữa thì sẽ phát triển thành ấu trùng bám Vì ấu trùng bám có tính hướng quang âm nên khi bám nó thường tiết ra tơ chân để bám vào các khe tối trên vật bám

 Các tác nhân ảnh hưởng đến quá trình phát triển phôi và ấu trùng trai ngọc

Vì trai ngọc là loài hẹp muối và hẹp nhiệt nên nhiệt độ và độ mặn ảnh hưởng rất lớn đến qúa trình phát triển phôi và ấu trùng

Nhiệt độ và độ mặn thích hợp nhất cho sự phát triển phôi và ấu trùng của trai là

28 – 300C và 28 – 30ppt Nếu nhiệt độ lớn hơn 320C và nhỏ hơn 240C thì phôi sẽ bị

dị hình không phát triển được Nếu độ mặn lớn hơn 35ppt và nhỏ hơn 27ppt thì phôi

sẽ bị dị hình không phát triển được

Trứng của trai ngọc chỉ được thụ tinh ở điều kiện pH lớn hơn 7.5 vì nó có một lớp màng bao bọc phía ngoài, do vậy mà pH nhỏ hơn 7.5 sẽ không phá vỡ được lớp màng này nên trứng sẽ không được thụ tinh

6 Khả năng phân tiết ngọc

 Cấu tạo và chức năng tạo vỏ của màng áo

Màng áo là nơi có chức năng chính tạo ra vỏ của trai ngọc Tế bào đầu của nếp tạo vỏ có chức năng sinh ra tầng da vỏ, còn tế bào mặt lưng của mép màng áo có chức năng sinh ra tầng đá vôi Còn tế bào biểu bì mặt ngoài có chức năng tạo ra tầng ngọc trai của vỏ

 Khả năng tạo ngọc của trai

Bằng các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phương pháp đồng vị phóng xạ Ca45

đã cho thấy tế bào biểu bì mặt ngoài gần mép màng áo là vị trí tạo ngọc nhiều nhất

 Thành phần hóa học của ngọc trai

Thành phần chính của ngọc trai là CaCO3 chiếm tỷ lệ 91.72%, tiếp đến là hợp chất hữu cơ protein và polysaccarite với tỷ lệ 5.94% Các hợp chất vi lượng khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ với 2.34%, nhưng thành phần và hàm lượng các nguyên tố vi lượng này lại quyết định đến màu sắc của ngọc trai

Thành phần và hàm lượng của các nguyên tố vi lượng: Al: 0.03%, Si: 0.03%, Ag: 0.1%, Se: 0.03-0.1%, Fe: 0.3-1%, Mn: 0.003%, Ti: 0.003%, Au: 0.003%

0.01- Cơ chế tạo ngọc của trai ngọc

Trang 35

Các ion Ca+ và các ion kim loại vi lượng được tạo ra từ các tế bào biểu bì mặt ngoài của màng áo kết hợp lại với nhau tạo thành các phiến viên gạch Trong khi đó thì các hợp chất vô cơ protein và polysaccarite kết hợp lại với nhau tạo thành dung dịch keo gắn kết các phiến viên gạch lại với nhau Sự gắn kết các phiến viên gạch này lại với nhau sẽ tạo thành tầng ngọc trai

IV Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của trai ngọc

1 Yếu tố vô sinh

- Độ mặn: Sự thay đổi độ mặn sẽ làm cho áp suất thẩm thấu trong và ngoài cơ thể trai bị mất cân bằng Nếu độ mặn hạ xuống quá thấp thì trai sẽ bị trương nước, sinh trưởng kém Tình trạng này kéo dài hay độ mặn tiếp tục bị hạ xuống thấp hơn nữa thì trai sẽ bị chết Ngược lại, nếu độ mặn quá cao cũng sẽ ảnh hưởng đến đời sống của trai

- Nước thải công nghiệp: khu vực nuôi trai phải đảm bảo không có nguồn nước thải công nghiệp chảy vào, vì trong đó có rất nhiều hoá chất có hại cho sinh trưởng

và phát triển của trai

- Bão lụt: bão lụt sẽ làm độ mặn và pH giảm ảnh hưởng trực tiếp đến trai Ngoài ra nó còn làm cho độ trong của vùng nuôi giảm làm cho trai nuôi bị phủ lấp không lọc được thức ăn, hay gây hư hại cho các thiết bị nuôi…

2 Các yếu tố hữu sinh

- Thực vật phù du (plankton): khi thực vật phù du phát triển quá mạnh thì khi

về đêm sẽ gây hiện tượng thiếu O2, thừa CO2, hay chúng bám vào mang ảnh hưởng đến quá trình lọc thức ăn của trai Một số bọn còn tiết ra chất độc gây hại cho trai

- Hiện tượng thủy triều đỏ (red tide): hay còn gọi là hiện tượng nở hoa của nước

do sự tàn lụi hàng loạt của các loài tảo như: Gymodium, Pyrodinium, Noctinuca,

Glinodinium…khi chúng phân hủy sẽ gây sự thiếu hụt O2 nghiêm trọng và sinh ra các khí độc như: H2S, NH3 và một số chất độc khác ảnh hưởng trực tiếp đến trai

- Động vật ăn thịt: các loại ốc ăn thịt như: ốc đỏ Rapana thomasiana, ốc gai

Thais clavigera, ốc ngọc Natica, ốc gai xương Murrin, sao biển Pisarter ochraceus,

cua biển Cylla serrata, cá nhám xanh Carcharias glaucus… các loài này đều có

răng lưỡi sắc nhọn có thể đục thủng vỏ trai để ăn phần thịt bên trong

Trang 36

- Sinh vật bám tranh vật bám: sun Balanus sp, điệp bám Anomya cyteum, đài tiên trùng Bryozoa, hải tiên Ascidia chúng cạnh tranh thức ăn, và bám vào lồng

nuôi trai làm cản trở quá trình lọc thức ăn của trai, cản trở sự lưu thông nước, làm hỏng lồng nuôi và khi chết chúng sẽ gây ô nhiễm cho vùng nuôi trai Ngoài ra một

số loài còn có khả năng tiết ra độc tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của trai

- Sinh vật khoan lỗ: Bannia, Martesia, Pholas, Terado… chúng đục thủng vỏ

trai ở vị trí cơ khép vỏ làm cho vỏ trai không khép lại được tạo điều kiện để các động vật khác ăn thịt trai

- Sinh vật ký sinh: bọn Cercaria ký sinh làm giảm tốc độ sinh trưởng của trai

và làm cho ngọc trai bị bẩn

V Kỹ thuật nuôi trai ngọc

1 Kỹ thuật lấy giống

 Bãi lấy giống: bãi lấy giống trai phải đảm bảo được các yêu cầu sau:

- Vị trí: vùng vịnh ít sóng gió, có nguồn nước lưu thông tốt, giàu thức ăn và phải có nhiều trai bố mẹ phân bố

- Điều kiện môi trường:

+ Độ mặn: độ mặn thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của trai ngọc là 25 – 30ppt + Nhiệt độ thích hợp trong khoảng: 10 – 350C

+ pH: thích hợp cho sinh trưởng của trai là 7.5 – 8.5

+ Độ sâu: tốt nhất là -1m đến - 4m nước

+ Chất đáy: chất đáy tốt nhất là cát, cát sạn

Ngoài ra khu vực bãi lấy giống phải đảm bảo không có nguồn nước thải công nghiệp chảy vào và không cản trở giao thông

 Mùa vụ lấy giống: từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm

 Phương pháp lấy giống

- Lấy giống ở đáy (S):

+ Nguyên tắc: rải vật bám trên nền đáy

+ Yêu cầu của vật bám: trai có thể bám trên bất cứ vật rắn nào có trong nước,

do đó khả năng sử dụng vật bám để lấy giống rất rộng rãi Tuy nhiên vật bám phải đảm bảo các yêu cầu sau: sạch, không có chất độc, không có mùi vị lạ, cứng, nháp, sẵn có, giá rẻ, sử dụng tiện lợi và phù hợp với điều kiện tự nhiên của bãi nuôi

Trang 37

Ngoài ra, khi làm vật bám để lấy giống trai ta phải chú ý đến đặc điểm trai là loài có đặc tính hướng âm Do đó, ấu trùng bám của trai sẽ bám nhiều ở phía mặt âm hơn,

vì vậy ta phải chú ý tạo ra vật bám có nhiều mặt âm Các loại vật liệu có thể làm vật bám là: vỏ thân mềm, đá, gạch, ngói, cọc xi măng, gỗ…

o Lấy giống ở bãi cạn:

+ Vị trí: vùng trung triều đến vùng hạ triều

+ Tiến hành: khi nước cạn ta san bãi thành luống, sau đó cắm cọc đánh dấu Khi nước lên dùng thuyền chở vật bám rải đều Khi nước xuống ta tiến hành chỉnh lý xếp lại các vật bám, xếp 4 – 5 vật bám thành một cụm, khoảng cách giữa hai cụm là 20 – 30cm

o Lấy giống ở bãi sâu:

+ Vị trí: từ hạ triều trở xuống

+ Tiến hành: dùng thuyền chở vật bám rải đều trên nền đáy

- Lấy giống lập thể (V):

+ Nguyên tắc: treo vật bám trong nước

+ Làm dây vật bám: vỏ hầu, ngói… tiến hành đục lỗ, sau đó rửa sạch rồi sâu dây + Lấy giống bằng dàn: sử dụng cọc gỗ, tre để làm giàn treo dây vật bám Chiều dài của giàn là 10m, chiều rộng 0.8m Trên giàn treo dây vật bám cách nhau 20cm, dây vật bám cách đáy ≥ 50cm Chiều dài dây vật bám là 1.5m

+ Lấy giống bằng bè: sử dụng cọc tre và phao nổi làm bè, diện tích 50m2 Bốn đầu bè sử dụng neo để cố định Trên bè treo các dây vật bám để lấy giống, khoảng cách giữa các dây vật bám là 20cm, khi thủy triều rút dây vật bám cách đáy ≥ 50cm

 Ương giống: đối với hai phương pháp lấy giống ở đáy và lấy giống lập thể

thì trong quá trình ương giống phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Không để trai bị vùi lấp

- Nếu mật độ trai giống quá dầy thì phải san thưa

- Khi trai giống đạt kích thước 1cm thì ta chuyển trai sang ương trong các lồng ương Lồng ương có hình trụ không đều, khung bằng thép được bọc nhựa, đường kính miệng lồng là 30 – 40cm, đường kính đáy lồng là 40 – 50cm, chiều cao lồng là

10 – 20cm Xung quanh và đáy của lồng ương có bọc lưới với kích thước mắt lưới 2a=1-1.5cm

Trang 38

Hình 2.2: Dàn ương giống trai ngọc

- Quản lý và chăm sóc: trong qúa trình nuôi chất bẩn, rong hay các sinh vật bám bám vào lồng ương làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của trai nên ta phải định kỳ vệ sinh lồng ương: dùng dao cạo nhẹ bề mặt lồng rồi dùng bàn chải nhựa rửa sạch lưới của lồng ương

Trong qúa trình ương giống nếu độ mặn xuống thấp hơn 12ppt vào mùa mưa lũ thì

ta phải di chuyển lồng ương đến vùng nuôi mới có độ mặn thích hợp cho sinh trưởng của trai Nếu nhiệt độ nước vào mùa đông giảm xuống thấp hơn 100C sẽ làm cho quá trình bắt mồi của trai giảm, khi đó ta phải di chuyển lồng ương đến vùng có nhiệt độ cao hơn Khi trai giống đạt đến kích thước 3cm thì ta tiến hành thu hoạch và chuyển sang nuôi lớn

2 Kỹ thuật nuôi thương phẩm trai ngọc (nuôi trai nguyên liệu)

 Bãi nuôi:

- Vị trí: vùng cửa sông, eo, vịnh, đầm, phá, nơi nước lưu thông, giàu dinh dưỡng, ít sóng gió

- Điều kiện môi trường:

+ Độ mặn: trai là loài hẹp muối nên độ mặn thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của chúng là 22 – 35ppt, vào mùa mưa độ mặn không xuống quá 15ppt

+ Nhiệt độ thích hợp trong khoảng: 10 – 35oC

+ pH: thích hợp cho sinh trưởng của trai là 7.5 – 8.5

+ Độ sâu: từ vùng dưới hải triều trở xuống

+ Chất đáy: cát, cát sạn; cát, ít bùn

+ Ngoài ra khu vực bãi nuôi phải đảm bảo không có nguồn nước thải công nghiệp chảy vào và không cản trở giao thông

 Phương pháp nuôi:

Trang 39

Đối với trai ngọc chủ yếu sử dụng phương pháp nuôi lập thể: treo các lồng nuôi trên dàn hay bè nuôi

Cách làm lồng nuôi: lồng nuôi có hình trụ không đều, khung bằng thép được bọc nhựa, đường kính miệng lồng là 30 – 40cm, đường kính đáy lồng là 40 – 50cm, chiều cao lồng là 20 – 30cm Xung quanh và đáy của lồng có bọc lưới với kích thước mắt lưới 2a = 3cm

Mật độ nuôi: 100 con/lồng nuôi

Sử dụng cọc gỗ, tre đóng thẳng hàng theo chiều vuông góc với dòng chảy của nước để tạo thành các giàn nuôi Khoảng cách mỗi cọc từ 1.5 – 2m Trên gian treo các lồng nuôi cách nhau 30cm, cách đáy ≥ 50cm Giàn treo cách mặt bãi khoảng 1 – 2m Hoặc có thể sử dụng cọc gỗ và phao nổi để làm thành các bè nuôi

Quản lý và chăm sóc:

- Vệ sinh lồng nuôi: trong qúa trình nuôi chất bẩn, rong hay các sinh vật bám bám vào lồng ương làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của trai nên ta phải định kỳ vệ sinh lồng nuôi: dùng dao cạo nhẹ bề mặt lồng rồi dùng bàn chải nhựa rửa sạch lưới của lồng Đồng thời, phải tiến hành vệ sinh trai: dùng dao cạo sạch sinh vật bám trên vỏ trai rồi dùng bàn chải nhựa rửa sạch vỏ trai Nếu lồng nuôi quá bẩn thì phải thay lồng nuôi mới

- Vào mùa mưa lũ nhiệt độ xuống thấp hơn 100C và độ mặn thấp hơn 12ppt thì phải di chuyển lồng nuôi đến vùng mới thích hợp hơn

- Thường xuyên theo dõi hàm lượng thức ăn và quá trình sinh trưởng của trai: + Hàm lương dinh dưỡng của vùng nuôi nhiều và điều kiện môi trường thuận lợi thì trai sẽ sinh trưởng mạnh: kích thước lớn, phiến sinh trưởng thưa, rõ, vân phóng xạ rõ, đều + Hàm lượng dinh dưỡng ít, điều kiện môi trường bất lợi: kích thước trai nhỏ, phiến sinh trưởng dày, không rõ, vân phóng xạ không rõ Khi đó, phải di chuyển lồng nuôi đến vùng nuôi mới có điều kiện môi trường thuận lợi và hàm lượng dinh dưỡng cao

- Thường xuyên kiểm tra lồng nuôi, thiết bị nuôi để kịp thời phát hiện những chỗ hư hỏng và sửa chữa Tăng cường công tác bảo vệ lồng nuôi khi gần thu hoạch Sau một thời gian nuôi, khi trai đạt kích thước 4 – 5cm thì tiến hành san thưa với mật độ: 35 – 40 con/lồng Khi trai nuôi đạt kích thước 6 – 9cm thì sẽ thu hoạch

Trang 40

VI Kỹ thuật cấy ngọc trai nhân tạo

1 Cơ sở khoa học của kỹ thuật cấy ngọc trai nhân tạo

 Thuyết nội nhân: theo thuyết này thì nguyên nhân tạo thành ngọc trai là do

các nguyên tố bên trong gây ra Khi màng áo ngoài bị mắc bệnh, một phần tế bào thương bì của màng áo bị bong ra và chìm trong mô liên kết và khi đó các tế bào phân tiết của màng áo ngoài sẽ tiết ra chất dịch ngọc để bao lại và từ sau một thời gian thì sẽ tạo thành ngọc

 Thuyết nội nhân: theo thuyết này thì nguyên nhân tạo thành ngọc là do các

nhân tố bên ngoài gây ra một cách ngẫu nhiên Trong tự nhiên khi một dị vật cứng rơi vào màng áo nó sẽ làm cho tế bào biểu bì mặt ngoài của màng áo lõm xuống, sau đó các tế bào biểu bì mặt ngoài của màng áo sẽ phát triển bao lấy dị vật đồng thời tiết ra tầng ngọc trai bám lấy dị vật từ đó tạo thành ngọc tự nhiên

Qúa trình trên xảy ra là do dị vât tác động vào tế bào biểu bì mặt ngoài màng

áo làm cho tế bào phân tiết ra ngọc

Như vậy muốn tạo ra ngọc phải tạo nên sự kích thích mô phân tiết chất ngọc

để tạo thành các túi ngọc rồi sẽ sinh ra ngọc Trong điều kiện nhân tạo, tiến hành cấy dị vật và miếng màng áo của trai nguyên liệu vào trai kỹ thuật Sau khi cấy 2 ngày, tế bào biểu bì mặt trong của miếng màng áo sẽ hòa lẫn với mô liên kết của trai

kỹ thuật Và sau 4 ngày thì tế bào biểu bì mặt ngoài của miếng màng áo sẽ phát triển bao lấy nhân cấy Sau 7 đến 10 ngày thì sẽ tạo thành ngọc trai nhân tạo

 Các loại ngọc: ngọc trai có nhiều loại khác nhau được phân biệt dựa vào vị

trí hình thành và hình dạng của ngọc

- Ngọc tròn: là loại ngọc thường có hình tròn, được hình thành trong phần thân mềm và không bị dính cố định vào bộ phận nào nên còn gọi là ngọc tự do Căn cứ vào vị trí hình thành và chất lượng ngọc mà có thể chia làm 4 loại sau đây:

+ Ngọc túi: hình thành ở mép màng áo, phần lớn có hình tròn, kích thước lớn

và là loại ngọc tốt nhất

+ Ngọc tai: hình thành ở màng áo ngoài hay trong các mô ở gần tai vỏ phía dưới bản nề nên còn gọi là ngọc nề Ngọc nề có thể sinh ra 2, 3 viên ở cùng một chỗ Loại ngọc này thường nhỏ, hình dáng không đều và chất lượng không tốt lắm

Ngày đăng: 06/05/2021, 17:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm