1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng kế hoạch dạy học phát triển năng lực môn giáo dục công dân ở bậc trung học cơ sở theo chương trình mới

100 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nhằm đáp ứng định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục sau năm 2015, thiết kế bài dạy môn GDCD theo định hướng phát triển năng lực cũng đã nhận được s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM- ĐHĐN

KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ - -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài :

XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI

Giảng viên hướng dẫn : TS Đinh Thị Phượng Sinh viên thực hiện : Huỳnh Thị Tuyết Trinh Lớp : 16SGC

Đà nẵng, tháng 01 năm 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất cứ hình thức nào trước đây Nếu phát hiện có bất cứ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của khóa luận

Đà Nẵng, tháng 1 năm 2020

Sinh viên thực hiện

Huỳnh Thị Tuyết Trinh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Đinh Thị Phượng, người đã tận tình hướng dẫn, động viên, khích lệ, dành nhiều thời gian để trao đổi về nội dung, hình thức của đề tài, định hướng toàn bộ quá trịnh nghiên cứu cho em trong suốt quá trình hoàn thiện đề tài

Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Chính trị Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã tào điều kiện, giúp

đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành đề tài Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện, thầy cô là người luôn dẫn dắt, đồng hành cùng em trên con đường chiếm lĩnh tri thức, những thành tích mà em đã gặt hái được, phần lớn là nhờ công ơn dưỡng dục của thầy cô Không chỉ vậy thầy, cô còn là người dạy cho em những kinh nghiệm sống quý báu, chỉ cho em giá trị của những điều xảy ra trong cuộc sống… Cuối cùng, em xin gửi tấm lòng ân tình tới gia đình, người thân, bạn bè của em là nguồn động lực lớn giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai xót và hạn chế Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô, các bạn và những người có kinh nghiệm để được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 1 năm 2020

Tác giả

Huỳnh Thị Tuyết Trinh

Trang 4

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3.Đối tượng nghiên cứu 2

4.Phạm vi nghiên cứu 2

5.Phương pháp nghiên cứu 2

6.Bố cục đề tài 2

7.Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

B NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA KẾ HOẠCH DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ 6

1.1 Dạy học phát triển năng lực 6

1.1.1 Khái niệm phẩm chất, năng lực 6

1.1.2 Dạy học chú trọng nội dung và dạy học phát triển năng lực 8

1.1.3 Đặc trưng của dạy học phát triển năng lực 15

1.1.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến dạy học phát triển năng lực 16

1.2.Chương trình môn Giáo dục công dân mới ở bậc trung học cơ sở 18

1.2.1Quan điểm xây dựng chương trình 18

1.2.2Mục tiêu của chương trình 21

1.2.3Nội dung, kết cấu của chương trình 22

1.2.4 Năng lực phát triển trong chương trình 32

1.3Kế hoạch dạy học phát triển năng lực môn Giáo dục công dân bậc trung học cơ sở 36

1.3.1Định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc xây dựng kế hoạch dạy học phát triển năng lực 36

1.3.2Kế hoạch dạy học môn Giáo dục công dân bậc trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay 39

Tiểu kết chương 1 54

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ 55

Trang 5

2.1 Các hoạt động cơ bản trong kế hoạch dạy học phát triển năng lực môn Giáo dục

công dân bậc trung học cơ sở 55

2.1.1 Hoạt động khởi động 55

2.1.2 Hoạt động hình thành kiến thức mới 57

2.1.3 Hoạt động luyện tập 57

2.2 Thiết kế kế hoạch dạy học phát triển năng lực môn Giáo dục công dân ở bậc trung học cơ sở 59

2.2.1 Kế hoạch dạy học theo chủ đề 1 (GDCD 7) 59

2.2.2.Kế hoạch dạy học theo chủ đề 2 (GDCD 7) 69

2.3..Khuyến nghị 79

2.3.1 Đối với nhà quản lý 80

2.3.2 Đối với lực lượng giáo viên Giáo dục công dân 81

2.3.3 Đối với học sinh 81

Tiểu kết chương 2 82

C KẾT LUẬN 83

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 7

3 Bảng 2.3: Về công cụ sử dụng để đánh giá năng lực, phẩm chất của học sinh

THCS của các giáo viên

4 Sơ đồ 1.1: Sơ đồ năng lực điều chỉnh hành vi

5 Sơ đồ 1.2: Sơ đồ năng lực phát triển bản thân

6 Sơ đồ 1.3: Năng lực tìm hiểu và tham gia hoạt động kinh tế - xã hội

Trang 9

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lao động sư phạm là dạng lao động đặc biệt được thể hiện trong mục đích, chủ thể, khách thể, sản phẩm, quá trình, không gian và thời gian v.v…Trong dạy học, người dạy là chủ thể không ngừng tác động đến khách thể là người học qua các hoạt động do người dạy tổ chức Muốn cho quá trình tác động này diễn ra theo mục tiêu nhất định và có hiệu quả, người dạy không ngừng phải đổi mới phương pháp, kỹ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học; khắc phục lối truyền thụ một chiều, ghi nhớ máy móc Nói cách khác, người dạy phải có kế hoạch xây dựng các kế hoạch tổ chức dạy học để người học với vai trò của mình tích cực tham gia hoạt động, phát huy hết những kỹ năng, năng lực vốn có tạo ra sản phẩm Làm được như vậy có nghĩa là giáo dục đã và đang thực hiện bước chuyển mình từ giáo dục truyền thụ áp đặt một chiều sang dạy học phát huy tính tích cực, phẩm chất và năng lực người học, đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây cũng chính

là quá trình giáo dục Việt Nam nghiêm túc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ XI; Nghị quyết hội nghị Trung ương 8 khóa XI; Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020; Luật giáo dục; Nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản

và toàn diện giáo dục v.v…

Để quá trình đổi mới đi vào chiều sâu và đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn, Bộ

GD & ĐT tiếp tục có những định hướng trong hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn Theo

đó, dạy học cần phải được thiết kế thành các hoạt động Cụ thể: Hoạt động khởi động; hình thành kiến thức mới; luyện tập; vận dụng và mở rộng Trong các hoạt động đó, người dạy thực hiện tốt vai trò tổ chức, định hướng, thiết kế và xuất lệnh; người học là người nhận lệnh, thực hiện lệnh và tạo ra sản phẩm Quá trình kết hợp nhịp nhàng của người dạy và người học là mấu chốt của hiệu quả giờ dạy Tuy nhiên, hiệu quả của quá trình dạy học còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố

Việc thiết kế đến cách dạy học theo định hướng nội dung là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho việc dạy các bài trở nên khô khan, nhàm chán, thiếu tính thực tiễn, từ đó không tạo được hứng thú học tập nơi học sinh Học sinh dần mất đi động lực học tập, không có cơ hội phát huy tính tích cực, sáng tạo trong quá trình học tập Để khắc phục những hạn chế nêu trên, việc chuyển từ thiết kế bài dạy định hướng nội dung sáng thiết kế bài dạy định hướng phát triển năng lực là một hướng đi mới,

Trang 10

phù hợp với yêu cầu, xu thế phát triển của xã hội; đảm bảo được “định hướng đầu ra” cho học sinh, đó là những năng lực chung và năng lực đặc thù mà mỗi công dân phải

có để phục vụ cho bản thân trong đời sống xã hội ngày nay

Xuất phát từ những vấn đề trên tôi chọn đề tài “ Xây dựng kế hoạch dạy học phát triển năng lực môn Giáo dục công dân ở bậc Trung học cơ sở theo chương trình mới”

làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Thiết kế giáo án phát triển năng lực môn Giáo dục công dân cấp Trung học cơ sở; đưa ra các khuyến nghị đối với nhà quản lý, lực lượng giáo viên giáo dục công dân và người học góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy – học môn Giáo dục công dân theo chương trình mới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài có nhiệm vụ sau:

Thứ nhất: Làm sáng tỏ về cơ sở lý luận và thực tiễn của kế hoạch dạy học phát

triển năng lực môn Giáo dục công dân ở bậc Trung học cơ sở trong chương trình mới

Thứ hai: Xây dựng kế hoạch dạy học phát triển năng lực môn Giáo dục công dân ở

bậc Trung học cở sở theo chương trình mới

3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài có đối tượng nghiên cứu là kế hoạch dạy học phát triển năng lực môn Giáo dục công dân bậc trung học cơ sở theo chương trình năm 2018

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài có phạm vi nghiên cứu là chương trình giáo dục công dân bậc trung học cơ

sở trong chương trình mới

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, thu thập, khái quát hóa…để thu thập xử lí thông tin từ nhiều nguồn khác nhau nhằm làm

rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Ngoài ra đề tài sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu hỏi để có cơ sở trong việc đưa ra và đánh giá những phẩm chất và năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên dạy môn Giáo dục công dân trong chương trình mới

6 Bố cục đề tài

Trang 11

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của kế hoạch dạy học phát triển năng lực môn Giáo dục công dân ở bậc Trung học cơ sở theo chương trình mới

Chương 2: Xây dựng kế hoạch dạy học phát triển năng lực môn Giáo dục công dân bậc Trung học cơ sở

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nhằm đáp ứng định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục sau năm 2015, thiết kế bài dạy môn GDCD theo định hướng phát triển năng lực cũng đã nhận được sự quan tâm, nghiên cứu từ các nhà giáo dục, giáo viên,…Xung quanh vấn đề này, đã có những công trình nghiên cứu, bài báo, sách, kỷ yếu hội thảo khoa học… đề cập đến những nội dung liên quan, phục vụ cho việc thiết kế bài dạy học môn GDCD ở bậc THPT nói chung và THCS nói riêng ngày càng hiệu quả, phát huy tối đa tính tích cực của người học

Thứ nhất, bàn về thiết kế bài dạy học: Nguyễn Đức Chính (2008), Thiết kế và

đánh giá chương trình giáo dục, Hà Nội;… Một số bài viết khác cũng đã đi vào nghiên cứu cụ thể trong môn GDCD như: Vũ Đình Bảy, Trần Quốc Cảnh (2006), Thiết kế bài dạy học và trắc nghiệm khách quan môn GDCD ở trường THPT, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Vũ Đình Bảy, Đặng Xuân Điều, Hoàng Thanh Hiến, Nguyễn Thị Mai (2014), Thiết kế bài dạy học GDCD 10, 11, 12 theo chuẩn kiến thức kỹ năng, Nxb Đại học Huế; Tác giả Hồ Xuân với “Mấy suy nghĩ về dạy và học môn GDCD” Tác giả Bùi Minh Tuấn với : “Đừng xem GDCD là “Môn phụ”; Phạm Quỳnh với: “Đừng đổi tên môn GDCD” Phạm Nguyên Nhung với: “Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong trường phổ thông hiện nay”; Đỗ Mười với: “Phát triển mạnh Giáo dục – Đào tạo phục

vụ đắt lực sự nghiệp hóa công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” v.v… Các công trình bài viết này đã nghiên cứu những vấn đề lí luận về thiết kế bài dạy nói chung và thiết kế bài dạy học môn GDCD ở trường phổ thông, trình bày các quan điểm cụ thể trong thiết kế các bài dạy học phục vụ cho công tác giảng dạy trên lớp và thực hiện các nhiệm vụ giáo dục trong từng giai đoạn Đóng góp, giới thiệu một số kinh nghiệm, hướng đi mới nhằm định hướng cho người ứng dụng có thể thiết kế được những bài dạy hiệu quả nhất

Thứ hai, “Định hướng năng lực” là một trong những các tiếp cận mới đang được

chú ý nhằm khắc phục những tồn tại trong dạy học bấy lâu nay theo lối “định hướng nội dung” để từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học ở trường phổ thông, cũng không có ít các công trình nghiên cứu, bài viết chia sẻ về vấn đề này: Đỗ

Trang 12

Ngọc Thống (2011), Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực, Hà Nội; Nguyễn Vũ Bích Hiền (2012), Các xu hướng phát triển chương trình đào tạo theo quan điểm lấy người học làm trung tâm, Tạp chí khoa học, 57/148-155; mai Văn Hưng (2013), Bàn về năng lực chung và chuẩn bị đầu ra về năng lực của học sinh phổ thông trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015, Hội thảo một số vấn đề chung về xây dựng trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015; Nguyễn Công Khanh (2013), Đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh theo cách tiếp cận năng lực, Hà Nội; Bộ GD&ĐT – Vụ giáo dục trung học (2014), Đổi mới kiểm tra đánh giá theo năng lực; Bộ GD&ĐT (2014), Dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh, Tài liệu tập huấn; Nguyễn Thị Hạnh (2015), Phương pháp thiết kế chuẩn đầu ra môn học theo định hướng phát triển năng lực, Tạp chí khoa học giáo dục, 118; Nguyễn Thúy Hồng (2015), Thiết kế một giờ học theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học;… đã cung cấp những thông tin, nội dung, giải pháp trong việc định hướng, xây dựng, thiết kế chương trình môn học và giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực, hỗ trợ tích cực cho việc xây dựng kế hoạch dạy học phát triển năng lực môn GDCD ở bậc THCS Các tác giả cũng đề cập đến bất cập, một số hạn chế trong chương trình giáo dục phổ thông mới trong đó có phần “xây dựng kế hoạch dạy học phát triển năng lực”, để qua đó đề xuất các phương án, hướng

đi mới, mở ra các phương án thiết kế kế hoạch dạy học để giảng dạy môn học ngày càng hiệu quả hơn Thiết nghĩ, đây là một trong những việc làm cần thiết nhất trong bối cảnh giáo dục nước nhà cải cách sâu sắc sau năm 2015

Thứ ba, bàn về chương trình GDPT mới và môn GDCD ở THCS đã được đề cập

đến qua một số quy định Bộ GD&ĐT, các bài báo và các công trình tiêu biểu: Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW

về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” [33]; Bộ GD&ĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông môn Giáo dục công dân [34], Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GD&ĐT [2]; Đề án “Đổi mới chương trình, sách Giáo khoa Giáo dục phổ thông” ban hành theo quyết định số 404/QĐ-TTg (2015) [11] Tác giả Nguyễn Minh Thuyết với bài viết “Chương trình giáo dục phổ thông mới: Phát triển phẩm chất và năng lực của người học” (2018) [53]

và bài viết “Bước phát triển mới của chương trình môn Giáo dục công dân” trong Kỷ

Trang 13

yếu hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới đào tạo giáo viên Giáo dục công dân đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới [40]

Các công trình nói trên vừa là nguồn tham khảo hữu ích, vừa gợi mở hướng tiếp cận cho tôi khi nghiên cứu đề tài này Mặc dù không có ít các bài viết nghiên cứu về thiết kế bài dạy học theo định hướng năng lực nhưng lại chưa có một công trình nào nghiên cứu về xây dựng kế hoạch dạy học phát triển năng lực môn Giáo dục công dân

ở bậc Trung học cơ sở theo chương trình mới Với tính mới mẻ của vấn đề, tôi có rất nhiều động lực để nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này với mong muốn được đóng góp vào tiến trình cùng cả nước chung sức nâng cao hiệu quả đào tạo và khẳng định tầm quan trọng của môn học “làm người”- môn GDCD trong trường phổ thông

Nhìn chung đề tài “Xây dựng kế hoạch dạy học phát triển năng lực môn Giáo dục công dân ở bậc Trung học cơ sở theo chương trình mới” do tác giả thực hiện, mạnh

dạng đi khai thác cái mới, ứng dụng vào chương trình thực tế đổi mới của môn GDCD

Trang 14

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA KẾ HOẠCH DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Dạy học phát triển năng lực

1.1.1 Khái niệm phẩm chất, năng lực

Theo từ điển Tiếng Việt: Phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay vật, tr.3-4 [36] Phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáo dục

Tâm lí học phân biệt phẩm chất tâm lí – “những đặc điểm thuộc tính tâm lý, nói lên mặt đức (theo nghĩa rộng) của một nhân cách” với phẩm chất trí tuệ - “những đặc

điểm đảm bảo cho hoạt động nhận thức của một người đạt kết quả tốt, bao gồm những phẩm chất của tri giác (óc quan sát), của trí nhớ (nhớ nhanh, nhớ chính xác,…), của tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ và chú ý Trí thông minh là hiệu quả của tổng hợp của phẩm chất trí tuệ”

Có thể hiểu một cách đơn giản nhất về phẩm chất là tư cách, tính cách bên trong của con người hay còn gọi là tư cách đạo đức trong con người Các yếu tố chính cấu thành nên phẩm chất là: Ý thức, tình cảm,thuộc tính tâm lí, xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực Phẩm chất là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với con người Phẩm chất thể hiện qua cách ứng xử của con người đối với người khác cũng như đối với sự việc trong cuộc sống Con người về cơ bản đều mang những phẩm chất tốt Theo thời gian, phẩm chất cũng thay đổi Phẩm chất cũng được nâng cấp và phát triển liên tục

Cũng theo từ điển Tiếng Việt, “năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc

tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Cụ thể hơn năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định” [18] Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực đặc thù Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có

để sống và học tập, làm việc Ví dụ như: năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực

về ngôn ngữ và tính toán; năng lực giao tiếp, năng lực vận động… Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình

Trang 15

động khác nhau Năng lực đặc thù thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù môn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học

đó tạo nên Ví dụ năng lực đặc thù trong môn Giáo dục công dân là năng lực phát triển bản thân, điều chỉnh hành vi đạo đức, hành vi pháp luật và giải quyết vấn đề về kinh tế phù hợp với lứa tuổi

Trong Cải cách chương trình giáo dục ở Indonesia đã giới thiệu về Tư tưởng cơ bản của khái niệm năng lực Theo đó khái niệm năng lực trong chương trình giáo dục

phổ thông được hiểu như sau: Năng lực đề cập đến khả năng của học sinh khi làm một cái gì đó trong những bối cảnh khác nhau; Năng lực thể hiện kinh nghiệm học tập, ở

đó học sinh phải là người thành thạo; Kết quả học tập theo năng lực thể hiện ở việc giải thích sự vật thông qua phương pháp học tập của học sinh; Những học sinh có năng lực khi làm một cái gì đó cần xác định rõ khả năng trong một tiêu chuẩn rộng, có thể đạt được kết quả thông qua việc thực hiện và có thể đo đếm được

Trong tâm lý học,” năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp

với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả

Năng lực là một mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị khả năng hoàn

thành có kết quả một hoạt động nào đó”[34]

Phẩm chất và năng lực là hai thành phần chủ yếu cấu thành nhân cách con người

do vậy có thể xem quá trình hình thành và phát triển nhân cách gắn liền với quá trình

tích tụ, phát triển các yếu tố của phẩm chất và năng lực Khái niệm phẩm chất nêu trong chương trình giáo dục Phổ thông tổng thể có nghĩa là đạo đức Yêu cầu “phát

triển toàn diện về phẩm chất và năng lực” là sự tiếp nối truyền thống xây dựng con người toàn diện có đức có tài, vừa hồng vừa chuyên của dân tộc Trong giáo dục, phẩm chất (đức) được đánh giá bằng hành vi, còn năng lực (tài) được đánh giá bằng hiệu quả của hành động

Trong lịch sử, yêu cầu về nhân cách nói chung và phẩm chất, năng lực nói riêng của con người trong xã hội cũng có những thay đổi phù hợp với mọi yêu cầu của thời đại Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những tác động tích cực của nền kinh tế tri thức và tiến bộ của thông tin, truyền thông, giáo dục cần phải giúp người học hình thành một hệ thống năng lực đáp ứng được với yêu cầu mới Hệ thống năng lực đó được cụ thể hóa phù hợp với sự phát triển tâm lý, sinh lý của người học, phù hợp với đặc điểm môn học và cấp học, lớp học Những phát triển

Trang 16

của năng lực người học trong quá trình giáo dục cũng sẽ là quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện bản thân con người

Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực vừa là mục tiêu giáo dục (xét về mục đích,

ý nghĩa của dạy học), vừa là một nội dung giáo dục (xét về các tiêu chuẩn, tiêu chí cần đạt của người học) đồng thời cũng là một phương pháp giáo dục (xét về cách thức thực hiện)

1.1.2 Dạy học chú trọng nội dung và dạy học phát triển năng lực

Một trong những điểm mới và cũng là xu thuế chung của chương trình giáo dục phổ thông nhiều nước trên thế giới từ đầu thế kỉ XXI đến nay là chuyển từ dạy học truyền tải nội dung sang dạy học theo hướng phát triển năng lực người học Ở Việt Nam, đây là yêu cầu mang tính đột phá của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện theo Nghị quyết 29 của Đảng và Nghị quyết 88 (2014) của Quốc hội Để thực hiện triển khai chương trình theo định hướng ấy, giáo viên cần phân biệt dạy học định hướng nội dung và dạy học phát triển năng lực, mối quan hệ giữa hai định hướng dạy học này

“Thiết kế chương trình gíao dục phổ thông, người ta thường nêu lên hai cách tiếp cận chính: tiếp cận dựa vào nội dung hoặc chủ đề và tiếp cận dựa vào kết quả đầu ra

Và cách gọi đó được coi là chương trình theo nội dung và cách thứ hai là chương trình theo kết quả đầu ra” [13, tr.11]

Chương trình theo nội dung là chương trình tập trung xác định và nêu ra một đề

tài, chủ đề của một lĩnh vực/môn học nào đó Tức là tập trung trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn học sinh cần biết biết những gì? Cách tiếp cận này chủ yếu dựa vào cấu trúc nội dung học vấn của một khoa học bộ môn tương ứng ở bậc Đại học để thu nhỏ lại cho cấp phổ thông nên thường mang tính “hàn lâm”, nặng về lý thuyết và tính hệ thống, nhất là khi người thiết kế ít chú ý đến các giai đoạn phát triển, nhu cầu, hứng thú và điều kiện của người học” [13, tr.11]

Chương trình dạy học truyền thống hiện nay được gọi là chương trình giáo dục

“định hướng nội dung” dạy học hay “định hướng đầu vào” Đặc điểm cơ bản của

chương trình giáo dục định hướng nội dung là chú trọng việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trình dạy học Những nội dung của các môn học này dựa trên các khoa học chuyên ngành tương ứng Người

ta chú trọng việc trang bị cho người học hệ thống tri thức khoa học khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên chương trình giáo dục định hướng nội dung chưa

Trang 17

những tình huống thực tiễn Mục tiêu dạy học theo chương trình định hướng nội dung được đưa ra một cách chung chung, không chi tiết không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được một cách cụ thể nên không đảm bảo rõ ràng về việc đath được chất lượng dạy học theo mục tiêu đã đề ra Việc quản lý giáo dục ở đây tập trung vào “điều khiển đầu vào” là nội dung dạy học Ưu điểm của chương trình dạy học định hướng nội dung là việc truyền thụ cho người học một hệ thống tri thức khoa học và hệ thống nhưng ngày nay chương trình dạy học định hướng nội dung không còn thích hợp, trong đó có những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, tri thức thay đổi và bị lạc hậu một cách nhanh chóng, việc quy định

cứng nhắc nội dung chi tiết trong chương trình dạy học dẫn đến tình trạng nội dung chương trình dạy học nhanh bị lạc hậu so với tri thức hiện đại Do đó việc rèn luyện phương pháp học tập ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị cho con

người có khả năng học tập suốt đời Thứ hai, chương trình dạy học định hướng nội

dung dẫn đến xu hướng việc kiểm tra đánh giá chủ yếu dựa trên việc kiểm tra khả năng tái hiện tri thức mà không định hướng vào khả năng vận dụng tri thức trong những tình

huống thực tiễn Thứ ba, do phương pháp dạy học mang tính thụ động và ít chú ý đến

khả năng ứng dụng nên sản phẩm của giáo dục là những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động Do đó chương trình giáo dục này không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và thị trường lao động đối với

người lao động vể năng lực và hành động, khả năng sáng tạo và tính năng động

Chương trình theo kết quả dầu ra như NIER (1999) đã xác định “là cách tiếp cận

nêu rõ kết quả, những khả năng hoặc kỹ năng mà học sinh muốn đạt được vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường ở một môn học cụ thể” Nói cách khác, chương trình này nhằm trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn học sinh biết và cần làm những gì?” [13, tr.11-12]

Từ hai loại chương trình nêu trên, cũng theo NIER, “xu hướng chung trong việc thiết kế chương trình giáo dục của các nước là kết hợp cả hai Ví dụ như Pháp, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Philippines và Hoa Kỳ khi thiết kế chương trình đều sử dụng kết hợp hai cách tiếp cận này một cách đa dạng Các nước Australia, New Zealand và Thái Lan chủ yếu sử dụng theo chương trình kết quả đầu

ra, trong đó cộng hòa Fiji, Indonesia và Việt Nam chủ yếu sử dụng chương trình theo nội dung, Ấn Độ, Sri Lanka đang chuyển chương trình theo nội dung sáng chương trình kết quả đầu ra”

Trang 18

Bước sang thế kỷ XXI, do tốc độ phát triển của xã hội hết sức nhanh chóng, với những biến đổi liên tục; để chuẩn bị cho một thế hệ trẻ đối mặt và đứng vững trước những thách thức của đời sống, vai trò của giáo dục ngày được càng các quốc gia chú trọng và đầu tư hơn bao giờ hết Chú trọng thay đổi, đổi mới, cải tiến chương trình, thậm chí cải cách giáo dục đã được nhiều nước tiến hành Có khá nhiều vấn đề đặt ra khi xem xét chỉnh sửa, đổi mới chương trình giáo dục Trước hết là việc xem xét, thiết

kế lại chương trình theo định hướng nào? Bản chất của chương trình ấy là gì? Và tại sao phải theo định hướng này? Khảo sát và nghiên cứu việc phát triển chương trình giáo dục của một số nước phát triển của các nhà nghiên cứu cho thấy xu thế thiết kế chương trình theo hướng phát triển năng lực được khá nhiều quốc gia quan tâm Tên gọi chương trình này có khác nhau nhưng thuật ngữ được dùng khá phổ biến là

Competency – based curriculum (chương trình dựa trên cơ sở năng lực – gọi tắt là chương trình năng lực)

Vậy chương trình năng lực là gì và tại sao phải chuyển sang loại chương trình ấy?

Theo cách mô tả và lý giải của một số nước thì chương trình năng lực thực chất vẫn là chương trình dựa trên kết quả đầu ra như đã nói ở trên Tuy nhiên cần lưu ý, có

rất nhiều dạng “kết quả đầu ra” Đầu ra của cách tiếp cận mới này tập trung vào hệ thống năng lực cần có ở mỗi người học; xuất phát từ những năng lực thiết yếu, cần có

này mà lựa chọn và đề xuất các nội dung dạy học Chương trình năng lực chủ trương giúp học sinh không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm; phải thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra Hay nói cách khác là phải gắn với thực tiễn đời sống

Chương trình theo nội dung chủ yếu yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: Biết cái gì? Chương trình năng lực luôn đặt ra câu hỏi: Biết làm gì từ những điều đã biết? Trong lời nói đầu chương trình New Zealand có đoạn: “Chương trình hướng vào kết quả đầu

ra là chương trình nhằm xác định được những gì chúng ta muốn học sinh biết và có thể làm được” Chương trình giáo dục New Zealand nêu rõ năng lực chính nhằm giúp học sinh củng cố kiến thức, tham gia xã hội có hiệu quả và nhấn mạnh học suốt đời” [13, tr.11-12]

Cũng giống như New Zealand, nhiều nước tuyên bố đổi thiết kế chương trình sang hướng phát triển năng lực cũng vì lý do tương tự Chương trình giáo dục Québec của Canada: “Sự thành công của giáo dục được thể hiện ở chổ giúp cho học sinh sử dụng

Trang 19

dẫn các hoạt động của chúng Điều đó lí giải vì sao chương trình giáo dục Québec lại được kế thừa dựa trên cơ sở năng lực.”

So với chương trình nội dung, thiết kế chương trình năng lực có sự khác biệt Thiết kế chương trình nội dung hướng bắt đầu từ mục tiêu giáo dục, sau đó xác định các lĩnh vực/ môn học, chuẩn kiến thức và kỹ năng, phương pháp dạy học và cuối cùng là đánh giá Thiết kế chương trình năng lực trước hết cần xác định các năng lực cần trang bị và phát triển cho học sinh Từ các năng lực này mới xác định các lĩnh vực/ môn học bắt buộc cần thiết có vai trò trong việc phát triển năng lực; sau đó phải xác định được chuẩn năng lực cho mỗi giai đoạn/ cấp/ lớp; tiếp đến là xác định nhưng năng lực mà mọi môn học bắt buộc có thể đảm nhận; chẳng hạn như chương trình của New Zealand môn Tiếng Anh sẽ đảm bảo bốn năng lực: một là, sử dụng ngôn ngữ nói

và viết trong giao tiếp và học tập; hai là, trình bày các việc viết và nói thông qua các phương tiện thông tin đại chúng khác nhau; ba là, đọc và nghe các văn bản viết, nói và văn bản thông tin đại chúng; bốn là, viết được các thể loại khác nhau với những mục đích cá nhân và xã hội

Có thể nói dạy học theo hướng nội dung lấy khối lượng kiến thức, kỹ năng làm mục tiêu hướng tới; do đó càng cũng cố nhiều nội dung, học sinh biết càng nhiều càng tốt Cách dạy học này không quan tâm nhiều đến việc vận dụng những kiến thức đã biết và hiểu vào thực hành, liên hệ và ứng dụng vào các tình huống của đời sống Hệ quả là học sinh có thể biết rất nhiều nhưng làm thì không được bao nhiêu; kiến thức rất uyên bác nhưng thực hành thì lúng túng, vụng về Dạy học theo hướng phát triển năng lực nhằm khắc phục hạn chế nêu trên của dạy học nội dung Vì thế mục tiêu cuối cùng của dạy học phát triển năng lực không phải là hệ thống kiến thức, là khối lượng nội dung, là biết thật nhiều,… mà là năng lực có để sống tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội đang thay đổi từng ngày Nội dung kiến thức

ở đây là phương tiện để đạt được mục đích cuối cùng là năng lực Tư tưởng này chi phối cách lựa chọn nội dung dạy học và phương pháp dạy học Mỗi khi dạy một vấn

đề, một kiến thức nào đó, người giáo viên cần phải xác định rõ dạy cái này để làm gì, giúp ích được gì cho người học; những hiểu biết ấy có vận dụng vào những tình huống nào trong cuộc sống Người học cũng phải luôn đặt ra những câu hỏi tương tự và tìm hiểu, trả lời Tuy nhiên, chú ý mục tiêu phát triển năng lực không có nghĩa là xem nhẹ kiến thức Không có kiến thức thì không thể có năng lực Kiến thức vẫn là cốt lõi để tạo ra năng lực Năng lực giống như một khối bê tông trong đó tổng hợp nhiều chất

Trang 20

liệu: sắt, thép, xi măng, cát sỏi, đá, nước và các chất phụ gia khác Trong cái khối bê tông ấy, sắt thép làm rường cột, sắt thép chính là kiến thức

Chương trình theo nội dung cũng quan tâm đến tất cả, nhưng đặt biệt coi trọng “sắt thép”; hơn nữa các chất liệu lại rời rạc, mỗi thứ mỗi nơi; chúng chưa được nhào nặn, gắn kết thành khối bê tông vững chắc Dạy học phát triển năng lực vì thế quan tâm không chỉ đến chất liệu (kiến thức, kỹ năng, thái độ, ) mà rất cần chú ý dến cách thức, phương pháp Sau mỗi giờ học theo định hướng này, học sinh không chỉ được mở mang về tri thức mà còn hiểu và biết cách tìm ra tri thức đó; biết tri thức đó giúp được

gì cho mình trong cuộc sống hàng ngày và để đi xa hơn trong tương lai Không nhồi nhét, cung cấp thức ăn có sẵn như dạy học nội dung; dạy học phát triển năng lực yêu cầu học sinh tham gia tích cực vào giờ học, tự tìm kiếm, phát hiện vấn đề, tranh luận, trao đổi để đi đến những hiểu biết về kiến thức và cách làm Người giáo viên có vai trò quan trọng trong việc nêu vấn đề, giao nhiệm vụ, tổ chức cho học sinh làm việc, trao đổi,… cùng tham gia với học sinh và nêu lên những nhận xét của mình nếu thấy cần thiết

Tóm lại, dạy học phát triển năng lực vẫn coi trọng nội dung kiến thức, tuy nhiên chỉ một mình nội dung kiến thức chưa đủ; cần thay đổi cách dạy và cách học theo hướng học sinh chủ động tham gia kiến tạo nội dung kiến thức, vận dụng tri thức vào cuộc sống và hình thành phương pháp tự học để có thể học suốt đời.[12, tr 12-15] Dạy học phát triển năng lực là phương pháp tích tụ dần dần các yếu tố năng lực người học

để chuyển hóa và góp phần cho việc hình thành, phát triển nhân cách Trong chương trình GDPT mới, yêu cầu cần đặt ra cho mỗi tiết dạy là phát triển cho học sinh những

năng lực chung và năng lực chuyên biệt Dạy học phát triển năng lực là yếu tố không

thể tách rời của quá trình dạy học hiện nay bởi đối với người giáo viên, khi tiến hành quá trình dạy học, họ phải xác định rõ mục tiêu của bài học, nội dung và phương pháp cũng như kỹ thuật tổ chức quá trình dạy học sao cho phù hợp với đối tượng người học

và đạt chất lượng hiệu quả theo mục tiêu đã đề ra Muốn biết quá trình dạy-học có chất lượng, hiệu quả hay không, người giáo viên phải thu thập thông tin phản hồi từ học sinh để đánh giá và qua đó điều chỉnh phương pháp dạy, kỹ thuật dạy của mình và giúp học sinh điều chỉnh các phương pháp học định hướng được năng lực sẽ hình thành cho học sinh Như vậy, dạy học phát triển năng lực là mục tiêu không thể tách rời của quá trình dạy học và có thể nói nó là động lực để thúc đẩy sự đổi mới quá trình

Trang 21

Khi tách biệt các mục tiêu giáo dục chung ra các lĩnh vực nhận thức, kĩ năng, tình cảm – thái độ hoặc chi tiết hơn thành các mục tiêu học tập cụ thể, giáo viên thường có

xu hướng thiên lệch chú ý quá nhiều đến lĩnh vực nhận thức hoặc mục tiêu nhận thức

cụ thể mà ít chú ý đến các mục tiêu kĩ năng (vận dụng kiến thức, thao tác hóa các khái niệm…) hoặc tình cảm – thái độ Như vậy mục tiêu về nhận thức có vẻ dễ thực hiện hơn và dễ đánh giá hơn Để tránh sự thiên lệch đó, xu hướng mới khi xây dựng chương trình giáo dục và công cụ đánh giá, nhiều nước đã đưa ra các mục tiêu có tính tổng

hợp, đó là các mục tiêu về năng lực Thực chất là năng lực nào đó của một con người thường là tổng hòa của kiến thức, kĩ năng, tình cảm – thái độ được thể hiện bằng hành

động hiệu quả nhằm đạt mục đích, mục tiêu trong bối cảnh có ý nghĩa, tôi xin đưa ra bảng so sánh sự khác nhau giữa dạy học nội dung và dạy học phát triển năng lực trong bảng sau:

- Hình thành, phát triển các năng lực cụ thể

- Mô tả chi tiết, có thể quan sát, đánh giá được

- Không chỉ dừng lại ở việc tiếp cận tri thức mà học sinh cần phải vận dụng được tri thức đó

Nội dung bài

học

- Mang tính hàn lâm, không gắn với các tình huống, vấn đề nảy sinh trong thực tiễn

- Được quy địnhchi tiết trong chương trình sách giáo khoa

- Lựa chọn những nội dung gắn liền với những năng lực cần hình thành và phát triển ở học sinh

- Chỉ quy định những nội dung chính

Hoạt động

của người dạy

Giữ vai trò trung tâm, là người truyền đạt tri thức

Là người tổ chức, thúc đẩy và tạo điều kiện cho học sinh tích cực lĩnh hội tri thức, hình thành năng lực

Trang 22

- Theo một quy trình đã định trước so với sự điều khiển, giám sát của giáo viên

- Độc lập, trách nhiệm và tự giám sát

- Môi trường hoạt động chủ yếu giới hạn trong phạm vi lớp học

- Phương tiện dạy học đa dạng;

có sự đầu tư, chuẩn bị phù hợp với nội dung; đảm bảo được tính khoa học và thẩm mỹ

- Môi trường học tập mở

Phương pháp

dạy học

Chủ yếu sử dụng các phương pháp giảng dạy truyền thống:

thuyết trình, vấn đáp, giảng giải,

- Sử dụng các phương pháp mới, tích cực

- Khuyến khích, thúc đảy học sinh tự khám phá, lập luận, giải quyết vấn đề

Bảng 1.1: So sánh các đặc trưng cơ bản của hoạt động thiết kế bài dạy theo định

hướng nội dung và định hướng năng lực

Trong dạy học định hướng phát triển năng lực, giáo viên phải quan tâm tới việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, năng lực vận dụng kiến thức vào trong học tập và thực tiễn cho học sinh; Khai thác được tâm tư tình cảm để tác động tư tưởng, đem lại niềm vui, hứng khởi trong học tập cho học sinh Làm sao đó để phát huy được năng lực học tập của từng đối tượng, đồng thời tận dụng được thế mạnh tổng hợp của các phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá nhằm hình

Trang 23

thể thấy rất rõ việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện được nhiều

ưu thế hơn trong việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh

1.1.3 Đặc trưng của dạy học phát triển năng lực

Giờ học định hướng phát triển năng lực phải đáp ứng được những yêu cầu mới như: Giáo viên là người tổ chức các hoạt động cho học sinh theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, rèn luyện kỹ năng tự học, tự vận động để giải quyết vấn đề; điều chỉnh thái độ; có sự tương tác nhiều chiều Về bản chất, đây là giờ học

có sự học tập cá thể với học tập hợp tác;chú trọng gắn kết nội dung bài học với thực tiễn; phát huy được thế mạnh các phương pháp dạy học mới, các phương tiện dạy học, tận dụng tối ưu lợi thế của việc ứng dụng công nghệ thông tin; chú trọng hoạt động đanh giá và tự đánh giá từ học sinh Để đảm bảo tính định hướng năng lực, hoạt động dạy học phát triển năng lực phải thể hiện được các đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất: tổ chức hoạt động phong phú và đa dạng

Thiết kế tổ chức các hoạt động phong phú đa dạng của giáo viên để giúp học sinh lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng Điều này có nghĩa là giáo viên phải tổ chức cho học sinh hoạt động một cách tích cực, làm cho học sinh là người tham gia các hoạt động ấy, chúng tự tìm tòi, khám phá,… một cách tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viên, ví dụ: giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi thảo luận để giải quyết vấn đề, nhiệm vụ, học sinh được đóng vai, được tham gia vào trò chơi học tập, đóng kịch diễn xuất…Giáo viên chú ý cho học sinh nhiều cơ hội thực hành, thực tập, được thể hiện, được phát biểu trên lớp…

Thứ hai: tổ chức các hoạt động phát triển khả năng tự học của học sinh

Tổ chức hướng dẫn học sinh cách tự học, cách đọc sách, cách lấy thông tin, cách đọc và hiểu thông tin, cách quan sát hiện tượng xung quanh…Tự học là kỹ năng quan trọng nhất cần hình thành ở người học Nếu học sinh không có kỹ năng này thì việc học gặp rất nhiều khó khăn nhất là trong bối cảnh đổi mới hiện nay, và học sinh sẽ có

ít khả năng sáng tạo sau này Phần lớn những kiến thức và kinh nghiệm có được trong cuộc đời là nhờ vào việc tự học

Thứ ba: tổ chức các hoạt động dạy học bằng cách đưa ra một hệ thống các câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm ra được kết quả

Những câu hỏi của giáo viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với học sinh Học sinh có sự hứng thú, tò mò hay không? Học sinh có tìm được câu trả lời hay không? Học sinh có cảm giác chiến thắng khi tìm thấy kết quả hay không? Tất cả những điều

Trang 24

này phụ thuộc vào câu hỏi của giáo viên đưa ra Có những câu hỏi tạo ra sự tích cực, sáng tạo và cũng có những câu hỏi không gây nên phản ứng gì cho học sinh Vậy câu hỏi nên như thế nào? Hiệu quả của những câu hỏi phụ thuộc vào kỹ năng đặt câu hỏi” [41, tr.46]

Thứ tư: linh hoạt trong phương pháp và ứng xử sư phạm

Sự linh hoạt trong sử dụng phương pháp dạy học, ứng xử sư phạm để thích ứng với sự thay đổi của đối tượng và hoàn cảnh là yếu tố quan trọng cho sự thành công của mỗi bài dạy Phối hợp nhiều phương pháp dạy học sẽ giúp cho học sinh đỡ nhàm chán,

và có hứng thú hơn đối với môn học, đặt biệt trẻ càng nhỏ, sự luôn thay đổi lại càng cần thiết Hơn nữa sự phong phú về phương pháp dạy học sẽ đáp ứng được yêu cầu giáo dục cá biệt và đáp ứng được lớp học đông người Mỗi học sinh có mỗi thói quen hoạt động trí óc khác nhau nên một phương pháp dạy học chỉ có thể phù hợp đối với một số đối tượng nhất định Linh hoạt trong sử dụng nhiều phương pháp dạy học sẽ giúp cho mọi học sinh đều có cơ hội bình đẳng trong lĩnh hội kiến thức và kỹ năng kỹ xảo

Thứ năm: luôn kiểm tra, đánh giá kiến thức và kỹ năng đạt được ở học sinh

Kiểm tra và đánh giá là khâu then chốt của quá trình dạy học Đánh giá vừa nhằm mục đích xác định mức độ năng lực và kiến thức được hình thành ở người học, vừa giúp người thầy điều chỉnh hoạt động dạy học của mình Sự đánh giá của giáo viên về kết quả học tập của học sinh phải chuyển sang kỹ năng tự đánh giá ở học sinh Sự tự đánh giá giúp cho sự phát triển khả năng tự học của học sinh Đánh giá phải theo những mục tiêu bài dạy đã đề ra theo đúng cấp độ năng lực, tr.47 [32]

Nhờ có kiểm tra mà người ta có thể giám sát được việc thực hiện mục tiêu dạy học, kết quả sử dụng phương pháp học, hình thức và phương tiện dạy học của giáo viên Điều quan trọng hơn nữa là đánh giá được kết quả học tập, rèn luyện ở học sinh Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả của học sinh theo định hướng năng lực nhằm làm sáng tỏ mức độ đạt được của học sinh về kiến thức, kỹ năng và thái độ so với mục tiêu

và chuẩn chương trình môn học; công khai hóa các nhận định về kết quả học tập của mỗi học sinh và tập thể lớp Kết quả kiểm tra đánh giá là một căn cứ quan trọng giúp các tác giả điều chỉnh, hoàn tất chương trình và sách giáo khoa

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến dạy học phát triển năng lực

Để phát triển toàn bộ năng lực ở học sinh cần tác động vào cả 4 nhóm yếu tố ảnh

Trang 25

sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội

Giáo viên: Ngoài yếu tố chuyên môn, hiểu biết về phương pháp dạy học thì các

yếu tố như: nhận thức của giáo viên về chương trình phổ thông mới, các lực lượng giáo dục, cơ sở vật chất, phương tiện dạy học… đều có ảnh hưởng nhất định đến dạy học phát triển năng lực học sinh và sự phát triển của năng lực này ở mỗi giáo viên

Học sinh: Để phát triển được năng lực ở học sinh trong dạy học giáo viên cần phải

phá bỏ những rào cản trói buộc sự sáng tạo của các em Cản trở bên trong “không phải

là những cản trở về chức năng hay nhận thức mà là sự dày vò về cảm xúc hay tâm lí” Trạng thái này xuất hiện là do sự tự phê phán trong bản thân con người, nó gây ra sự

sợ hãi, thiếu tự tin vì những gì mình định làm hay đang làm Nhiều học sinh thường không dám chia sẻ ý kiến của mình với bạn bè hay bố mẹ mà chỉ “miễn cưỡng” nộp cho thầy cô vì yêu cầu bắt buộc cũng một phần vì các em không tự tin vào bản thân

Để xoá bỏ những cản trở này, giáo viên phải giúp học sinh có cái nhìn cởi mở hơn với chính mình, giúp các em mạnh dạn chia sẻ, bày tỏ những ý tưởng của bản thân với mọi người Giáo viên có thể vận dụng những kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học để học sinh có điều kiện chia sẻ ý kiến, phát triển được năng lực, ý tưởng của mình như kĩ

thuật phòng tranh, kĩ thuật khăn phủ bàn…

Sự phối hợp của gia đình, nhà trường và xã hội: Việc giáo dục, bồi dưỡng, rèn

luyện các phẩm chất và năng lực nhằm giúp học sinh phát triển một cách toàn diện là một quá trình lâu dài liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan rất nhiều đến các mối quan hệ xã hội phức tạp Vì thế, việc giáo dục luôn luôn đòi hỏi sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ của nhiều lực lượng xã hội và nhất là đòi hỏi sự quan tâm

đúng cách của nhà trường, gia đình và mọi người trong xã hội

Chúng ta đều biết rằng trong thực tế, trong môi trường xã hội mà con người đang sống, học tập và phát triển bên cạnh các mặt tác động tốt, các ảnh hưởng tích cực luôn luôn tồn tại, hàm chứa các yếu tố có thể gây nguy hại đến sự phát triển của học sinh và với đặc điểm hiếu động và ít vốn sống dần dần trở thành thói quen xấu, tác động tiêu cực đến sự phát triển của học sinh Nhất là khi thiếu sự phối hợp đúng đắn, thiếu sự thống nhất tác động giáo dục giữa nhà trường và gia đình thì hậu quả xấu trong giáo dục sẽ xuất hiện, nếu không kịp thời khắc phục hậu quả sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình giáo dục nói chung và giáo dục phát triển năng lực học sinh nói riêng Những yếu tố trong môi trường sống có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự sáng tạo của con người như thói quen, phương pháp giáo dục và điều kiện chính trị - xã hội…

Trang 26

Những thói quen sinh hoạt, cách giao tiếp cho đến suy nghĩ, quan niệm của người lớn

dù có vai trò tích cực trong việc bồi dưỡng vốn sống nhưng lại ít nhiều mâu thuẫn, xung đột với sự sáng tạo của học sinh Vì thế, nếu học sinh bị yêu cầu phải phải chấp nhận và làm theo những thói quen đã được định hình từ trước thì các em sẽ không phát triển được khả năng sáng tạo của mình Những cản trở do thói quen có thể thấy rất rõ trong lối giáo dục con cái của cha mẹ theo kiểu “cá không ăn muối cá ươn/con không nghe lời cha mẹ, trăm đường con hư” Bố mẹ thường muốn con cái là những đứa trẻ biết nghe lời, chấp nhận mà ít chú ý khơi gợi, khuyến khích những ý tưởng mới của các em

Năng lực của học sinh không chỉ bị cản trở bởi những thói quen trong gia đình

mà còn chịu sự tác động chủ yếu bởi phương pháp giáo dục trong nhà trường Một nền giáo dục áp đặt, giáo điều sẽ chỉ tạo ra những con người “công cụ” mà không phát triển được những năng lực tiềm ẩn trong mỗi cá nhân, nhất là năng lực sáng tạo Nền giáo dục đó sẽ biến họ trở thành những con người thụ động, chỉ biết an phận, biết chấp hành mà thiếu đi ý tưởng, không dám bộc lộ quan điểm của cá nhân Cùng với hoạt động giáo dục nói chung, dạy học phát triển năng lực ở môn giáo dục công dân hiện nay cũng còn tồn tại những hạn chế, lâu dần trở thành rào cản đối với sự sáng tạo của học sinh

Để có được những con người đảm bảo yêu cầu của đổi mới xã hội cần có sự kết hợp nhịp nhàng đồng bộ và hỗ trợ giữa ba môi trường giáo dục: gia đình – nhà trường

và xã hội, tác động mạnh vào việc phát triển năng lực ở học sinh Phối hợp với địa phương tổ chức cho học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động văn hóa xã hội như: xóa đói giảm nghèo, dân số kế hoạch hóa gia đình, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng gia đình văn hóa mới,…nhằm góp phần cải tạo môi trường gia đình và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn

1.2.1 Quan điểm xây dựng chương trình

Chương trình giáo dục phổ thông là văn bản thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông,

quy định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, làm căn cứ quản lí chất lượng giáo dục phổ thông; đồng thời là cam kết của Nhà nước nhằm bảo

đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ thông

Trang 27

Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; kế thừa và phát triển những ưu điểm của các chương trình giáo dục phổ thông đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu thành tựu nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm xây dựng chương trình theo mô hình phát triển năng lực của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới; gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, những tiến bộ của thời đại về khoa học - công nghệ và xã hội; phù hợp với đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của nhân loại cũng như các sáng kiến và định hướng phát triển chung của UNESCO về giáo dục; tạo cơ hội bình đẳng về quyền được bảo vệ, chăm sóc, học tập và phát triển, quyền được lắng nghe, tôn trọng và được tham gia của học sinh; đặt nền tảng cho một xã hội nhân văn, phát triển bền vững và phồn vinh

Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hoà đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học

để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở các lớp học trên; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh, các phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đó

Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học với nhau và liên thông với chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình giáo dục đại học Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng theo hướng mở, cụ thể là:

Thứ nhất, chương trình bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục

cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương, nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của nhà trường, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội

Thứ hai, chương trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu

cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và việc đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết, để tạo điều kiện

Trang 28

cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình

Thứ ba, chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển trong quá trình thực

hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa học - công nghệ và yêu cầu của thực tế

Quan điểm xây dựng chương trình môn GDCD: Đảm bảo các định hướng trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: Định hướng chung cho tất cả các môn học

về quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt, kế hoạch giáo dục; nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả, điều kiện thực hiện và phát triển chương trình; Định hướng xây dựng chương trình môn GDCD

Bảo đảm tính khoa học, tính sư phạm và tính thực tiễn, được xây dựng trên cơ sở: Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; Thành tựu nghiên cứu về tâm lý học, giáo dục học, đạo đức học, luật học, lí luận chính trị và kinh tế học; kinh nghiệm trong nước và quốc tế về phát triển chương trình môn GDCD, đặc biệt là chương trình môn GDCD những năm gần đây của Việt Nam và của những quốc gia phát triển; các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam và giá trị chung của nhân loại; thực tiễn xã hội, giáo dục, điều kiện kinh tế

và truyền thống văn hoá Việt Nam, sự đa dạng của đối tượng HS xét về phương diện vùng miền, điều kiện và khả năng học tập

Chương trình chú trọng tích hợp nhiều nội dung giáo dục cơ bản, thiết thực, hiện đại về giá trị sống, kỹ năng sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế; tích hợp nhiều chủ đề giáo dục cần thiết như: giáo dục quyền trẻ em, giáo dục môi trường, giáo dục bình đẳng giới, giáo dục sức khoẻ vị thành niên, giáo dục phòng chống ma tuý, phòng tránh HIV/AIDS, giáo dục tài chính, Những nội dung này gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực tiễn của học sinh, gắn liền với các sự kiện có tính thời sự trong đời sống đạo đức, pháp luật, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của địa phương, đất nước và thế giới Đảm bảo tính hệ thống Ở giai đoạn giáo dục cơ bản, nội dung chương trình môn Đạo đức (cấp TH) và GDCD ( cấp THCS) được xây dựng theo hướng đồng tâm và phát triển, xoay quanh các mối quan hệ của con người với bản thân, với người khác, với cộng đồng, đất nước, nhân loại, với công việc, với môi trường tự nhiên; mở rộng

và nâng cao dần từ tiểu học đến trung học cơ sở Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, nội dung chương trình môn Giáo dục kinh tế và pháp luật (trung học phổ thông) được xây dựng theo hướng phát triển tuyến tính, xoay quanh các quan hệ kinh

Trang 29

tế và pháp luật, từ kinh tế vĩ mô đến kinh tế vi mô, từ hệ thống chính trị và pháp luật đến quyền và nghĩa vụ công dân

Được xây dựng theo hướng mở, thể hiện ở việc không quy định nội dung dạy học chi tiết cho từng bài học mà chỉ quy định những yêu cầu cần đạt; những nội dung dạy học cơ bản, cốt lõi cho mỗi cấp học, lớp học nhằm đáp ứng yêu cầu cần đạt; những định hướng chung về phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục của HS Căn

cứ vào các yêu cầu cần đạt và các định hướng chung bắt buộc này, các tác giả sách giáo khoa, cơ sở giáo dục và giáo viên (GV) hoàn toàn chủ động, sáng tạo trong việc triển khai các nội dung dạy học, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục cụ thể theo yêu cầu phát triển chương trình GV được lựa chọn sách giáo khoa và sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau để dạy học, nhưng phải bám sát mục tiêu và đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình

1.2.2 Mục tiêu của chương trình

Chương trình môn Giáo dục công dân góp phần hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm;các năng lực của người công dân Việt Nam, đặc biệt là năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực phát triển bản thân, năng lực tìm hiểu và tham gia hoạt động kinh tế – xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhânvà yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới

Mục tiêu chung

Giúp HS hình thành, phát triển:

Các phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm các phẩm chất đạo đức này được hình thành, phát triển gắn liền với quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam

Các năng lực của người công dân Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội theo yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới, đặc biệt là yêu cầu của

sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: năng lực phát triển bản thân; năng lực điều chỉnh hành vi đạo đức, năng lực điều chỉnh hành vi pháp luật; năng lực giải quyết vấn đề về kinh tế Trên cơ

sở đó, góp phần giúp HS hình thành, phát triển các năng lực chung như: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Trang 30

Mục tiêu cấp Trung học cơ sở Giúp học sinh có hiểu biết về những chuẩn mực đạo

đức, pháp luật cơ bản và giá trị, ý nghĩa của các chuẩn mực đó; tự hào về truyền thống gia đình, quê hương, dân tộc tôn trọng, khoan dung, quan tâm, giúp đỡ người khác; tự giác, tích cực học tập và lao động; có thái độ đúng đắn, rõ ràng trước các hiện tượng,

sự kiện trong đời sống; có trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường, xã hội, công

việc và môi trường sống

Giúp học sinh có tri thức phổ thông, cơ bản về đạo đức, kĩ năng sống, kinh tế, pháp luật; đánh giá được thái độ, hành vi của bản thân và người khác; tự điều chỉnh và nhắc nhở, giúp đỡ bạn bè, người thân điều chỉnh thái độ, hành vi theo chuẩn mực đạo đức, pháp luật; thực hiện được các công việc để đạt mục tiêu, kế hoạch hoàn thiện, phát triển bản thân; biết cách thiết lập, duy trì mối quan hệ hoà hợp với những người xung quanh, thích ứng với xã hội biến đổi và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống của cá nhân, cộng đồng phù hợp với giá trị văn hoá, chuẩn mực đạo đức, quy tắc của cộng đồng, quy định của pháp luật và lứa tuổi

Ngoài ra môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở giúp học sinh:

Có ý thức tự điều chỉnh, tự hoàn thiện bản thân theo các chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật dựa trên nhận thức, thái độ và hành vi đúng đắn, tích cực về quyền, bổn phận, nghĩa vụ và trách nhiệm công dân trong quan hệ với gia đình, xã hội, với công việc, với môi trường thiên nhiên, với đất nước và nhân loại

Củng cố, nâng cao các năng lực đã được hình thành, phát triển ở tiểu học; hình thành, duy trì mối quan hệ hoà hợp với những người xung quanh; thích ứng một cách linh hoạt với xã hội biến đổi và thực hiện mục tiêu, kế hoạch của bản thân trên cơ sở các giá trị đạo đức, quy định của pháp luật; hình thành phương pháp học tập, rèn luyện, hoàn chỉnh tri thức và kĩ năng nền tảng để tiếp tục học lên THPT, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động

1.2.3 Nội dung, kết cấu của chương trình

Thời lượng thực hiện chương trình ở các lớp (theo số tiết học): lớp 6: 35 tiết; lớp 7: 35 tiết; lớp 8: 35 tiết; lớp 9: 35 tiết Ở cấp trung học phổ thông, mỗi lớp có thêm 35 tiết/năm học cho các chuyên đề học tập lựa chọn

Thời lượng dành cho các nội dung giáo dục ở các lớp Thời lượng dành cho các nội dung giáo dục do tác giả sách giáo khoa và giáo viên chủ động sắp xếp căn cứ vào yêu cầu cần đạt ở mỗi lớp và thực tế dạy học Tỉ lệ % thời lượng các nội dung giáo dục

Trang 31

Giáo dục đạo đức: lớp 6: 35%; lớp 7: 35%; lớp 8: 35%; lớp 9: 35% Giáo dục kĩ năng sống: lớp 6: 20%; lớp 7: 20%; lớp 8: 20%; lớp 9: 20% Giáo dục kinh tế: lớp 6: 10%; lớp 7: 10%; lớp 8: 10%; lớp 9: 10% Giáo dục pháp luật: lớp 6: 25%; lớp 7: 25%

; lớp 8: 25%; lớp 9: 25%.Thời lượng còn lại của chương trình dành cho các hoạt động đánh giá định kì

Nội dung cụ thể và yêu cầu cần đạt ở các lớp cấp THCS:

Đối với học sinh lớp 6, chú trọng giáo dục cho học sinh hình thành những phẩm

chất sau thông qua các chủ đề trong hệ thống chương trình:

Phẩm chất yêu nước: Tự hào về truyền thống gia đình, dòng họ Trong chủ đề này yêu cầu học sinh đạt được những mục tiêu sau: Nêu được một số truyền thống của gia đình, dòng họ; Giải thích được một cách đơn giản ý nghĩa của truyền thống gia đình, dòng họ; Biết giữ gìn, phát huy truyền thống gia đình, dòng họ bằng những việc làm

cụ thể phù hợp

Phẩm chất nhân ái: chủ đề “yêu thương con người” Yêu cầu cần đạt trong bài này là:Nêu được khái niệm và biểu hiện của tình yêu thương con người; Trình bày được giá trị của tình yêu thương con người; Thực hiện được những việc làm thể hiện tình yêu thương con người; Đánh giá được thái độ, hành vi thể hiện tình yêu thương của người khác; Phê phán những biểu hiện trái với tình yêu thương con người

Phẩm chất chăm chỉ: Siêng năng, kiên trì Yêu cầu cần đạt trong chủ đề này là: Nêu được khái niệm, biểu hiện của siêng năng, kiên trì; Nhận biết được ý nghĩa của siêng năng, kiên trì; Siêng năng, kiên trì trong lao động, học tập và cuộc sống hằng ngày; Đánh giá được sự siêng năng, kiên trì của bản thân và người khác trong học tập, lao động; Quý trọng những người siêng năng, kiên trì; góp ý cho những bạn có biểu hiện lười biếng, hay nản lòng để khắc phục hạn chế này

Phẩm chất trung thực: Tôn trọng sự thật Yêu cầu cần đạt: Nhận biết được một số biểu hiện của tôn trọng sự thật; Hiểu vì sao phải tôn trọng sự thật; Luôn nói thật với người thân, thầy cô, bạn bè và người có trách nhiệm; Không đồng tình với việc nói dối hoặc che giấu sự thật

Phẩm chất trách nhiệm: chủ đề “Tự lập” Yêu cầu cần đạt: Nêu được khái niệm tự lập; Liệt kê được các biểu hiện của người có tính tự lập; Hiểu vì sao phải tự lập; Đánh giá được khả năng tự lập của bản thân và người khác; Tự thực hiện được nhiệm vụ của bản thân trong học tập, sinh hoạt hằng ngày, hoạt động tập thể ở trường và trong cuộc sống cộng đồng; không dựa dẫm, ỷ lại và phụ thuộc vào người khác

Trang 32

Giáo dục kỹ năng sống bao gồm những kỹ năng: Kĩ năng nhận thức, quản lí bản

thân qua nội dung bài học “Tự nhận thức bản thân” Yêu cầu cần đạt: Nêu được thế nào là tự nhận thức bản thân; Nhận biết được ý nghĩa của tự nhận thức bản thân; Tự nhận thức được điểm mạnh, điểm yếu, giá trị, vị trí, tình cảm, các mối quan hệ của bản thân; Biết tôn trọng bản thân; Xây dựng được kế hoạch phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu của bản thân

Kĩ năng tự bảo vệ: chủ đề “Ứng phó với tình huống nguy hiểm” Yêu cầu cần đạt: Nhận biết được các tình huống nguy hiểm và hậu quả của những tình huống nguy hiểm đối với trẻ em; Nêu được cách ứng phó với một số tình huống nguy hiểm; Thực hành được cách ứng phó trước một số tình huống nguy hiểm để đảm bảo an toàn

Giáo dục kinh tế: Hoạt động tiêu dùng được giáo dục thông qua nội dung bài học

“Tiết kiệm” Yêu cầu cần đạt: Nêu được khái niệm tiết kiệm và biểu hiện của tiết kiệm (tiền bạc, đồ dùng, thời gian, điện, nước, ); Hiểu vì sao phải tiết kiệm; Thực hành tiết kiệm trong cuộc sống, học tập; Nhận xét, đánh giá được việc thực hành tiết kiệm của bản thân và những người xung quanh; Phê phán những biểu hiện lãng phí

Giáo dục pháp luật: Quyền và nghĩa vụ của công dân: Công dân nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Yêu cầu cần đạt: Nêu được khái niệm công dân; căn cứ xác định công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nêu được quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; Bước đầu thực hiện được một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Chủ đề “Quyền trẻ em” Yêu cầu cần đạt: Nêu được các quyền cơ bản của trẻ em;

ý nghĩa của quyền trẻ em và việc thực hiện quyền trẻ em; trách nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội trong việc thực hiện quyền trẻ em; Phân biệt được hành vi thực hiện quyền trẻ em và hành vi vi phạm quyền trẻ em; Thực hiện tốt quyền và bổn phận của trẻ em; Nhận xét, đánh giá được việc thực hiện quyền trẻ em của bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng; bày tỏ được nhu cầu để thực hiện tốt hơn quyền trẻ em

Trang 33

Yêu nước

thống quê hương

hương; Thực hiện được những việc làm phù hợp để giữ gìn, phát huy truyền thống của quê hương; Phê phán những việc làm trái ngược với truyền thống tốt đẹp của quê hương

Nhân ái Quan tâm,

cảm thông

và chia sẻ

Nêu được những biểu hiện của sự quan tâm, cảm thôngvà chia sẻ với người khác; Hiểu vì sao mọi người phải quan tâm, cảm thôngvà chia sẻ với nhau; Thường xuyên có những lời nói, việc làm thể hiện sự quan tâm, cảm thôngvà chia sẻ với mọi người; Khích lệ, động viên bạn bè quan tâm, cảm thông và chia sẻ với người khác; phê phán thói ích

kỉ, thờ ơ trước khó khăn, mất mát của người khác

Chăm chỉ

Học tập tự giác, tích cực

Nêu được các biểu hiện của học tập tự giác, tích cực; Hiểu vì sao phải học tập tự giác, tích cực; Thực hiện được việc học tập tự giác, tích cực; Biết góp ý, nhắc nhở những bạn chưa tự giác, tích cực học tập để khắc phục hạn chế này

Trang 34

hoá; Liệt kê được các hành vi vi phạm pháp luật về bảo tồn di sản văn hoá và cách đấu tranh, ngăn chặn các hành vi đó; Thực hiện được một số việc cần làm phù hợp với lứa tuổi để góp phần bảo vệ di sản văn hoá

Nêu được các tình huống thường gây căng thẳng; Nhận biết được biểu hiện của cơ thể khi bị căng thẳng; Nêu được nguyên nhân và ảnh hưởng của căng thẳng; Nêu được cách ứng phó tích cực khi căng thẳng; Thực hành được một số cách ứng phó tích cực khi căng thẳng

Kỹ năng

tự bảo vệ

Phòng, chống bạo lực học đường

Nêu được các biểu hiện của bạo lực học đường; nguyên nhân và tác hại của bạo lực học đường; Nêu được một số quy định cơ bản của pháp luật liên quan đến phòng, chống bạo lực học đường; Biết cách ứng phó trước, trong và sau khi bị bạo lực học đường; Tham gia các hoạt động tuyên truyền phòng, chống bạo lực học đường do nhà trường, địa phương tổ chức; Phê phán, đấu tranh với những hành vi bạo lực học đường; sống tự chủ,

không để bị lôi kéo tham gia bạo lực học đường

Giáo dục kinh tế Quản lý tiền

Nêu được ý nghĩa của việc quản lí tiền hiệu quả; Nhận biết được một số nguyên tắc quản lí tiền

có hiệu quả; Bước đầu biết quản lí tiền và tạo

nguồn thu nhập của cá nhân

Nêu được khái niệm tệ nạn xã hội và các loại tệ nạn xã hội phổ biến; Giải thích đượcnguyên nhân, hậu quả của tệ nạn xã hội đối với bản thân, gia đình

và xã hội; Nêu được một số quy định của pháp luật

Trang 35

Quyền và nghĩa vụ của công dân trong gia đình

Nêu được khái niệm và vai trò của gia đình; quy định cơ bản của pháp luật về quyền và nghĩa

vụ của các thành viên trong gia đình; Nhận xét được việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong gia đình của bản thân và của người khác; Thực hiện được nghĩa vụ của bản thân đối với ông bà, cha mẹ

và anh chị em trong gia đình bằng những việc làm

cụ thể

Lớp 8

Giáo dục đạo đức gồm lòng yêu nước qua chủ đề tự hào về truyền thống dân tộc

Việt Nam Yêu cầu cần đạt: Nêu được một số truyền thống của dân tộc Việt Nam; Nhận biết được giá trị của các truyền thống của dân tộc Việt Nam; Kể được một số biểu hiện của lòng tự hào về truyền thống của dân tộc Việt Nam; Đánh giá được hành

vi, việc làm của bản thân và những người xung quanh trong việc thể hiện lòng tự hào

về truyền thống của dân tộc Việt Nam; Thực hiện được những việc làm cụ thể để giữ gìn, phát huy truyền thống của dân tộc

Nhân ái: Tôn trọng sự đa dạng của các dân tộc Yêu cầu cần đạt: Nêu được một số biểu hiện của sự đa dạng của các dân tộc và các nền văn hoá trên thế giới; Hiểu được ý nghĩa của việc tôn trọng sự đa dạng của các dân tộc và các nền văn hoá trên thế giới; Thể hiện được bằng lời nói và việc làm thái độ tôn trọng sự đa dạng của các dân tộc và các nền văn hoá trên thế giới; Phê phán những hành vi kì thị, phân biệt chủng tộc và văn hoá

Chăm chỉ: Lao động cần cù, sáng tạo Yêu cầu cần đạt: Nêu được khái niệm cần

cù, sáng tạo trong lao động và một số biểu hiện của cần cù, sáng tạo trong lao động; Giải thích được ý nghĩa của cần cù, sáng tạo trong lao động; Thể hiện được sự cần cù,

Trang 36

sáng tạo trong lao động của bản thân; Trân trọng những thành quả lao động; quý trọng

và học hỏi những tấm gương cần cù, sáng tạo trong lao động; phê phán những biểu hiện chây lười, thụ động trong lao động

Trung thực: Bảo vệ lẽ phải Yêu cầu cần đạt: Giải thích được một cách đơn giản về

sự cần thiết phải bảo vệ lẽ phải; Thực hiện được việc bảo vệ lẽ phải bằng lời nói và hành động cụ thể, phù hợp với lứa tuổi; Khích lệ, động viên bạn bè có thái độ, hành vi bảo vệ lẽ phải; phê phán những thái độ, hành vi không bảo vệ lẽ phải

Trách nhiệm: Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Yêu cầu cần đạt: Giải thích được sự cần thiết phải bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên; Nêu được một số quy định cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên; một số biện pháp cần thiết để bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên; Nêu được trách nhiệm của học sinh trong việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên; Thực hiện được việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên bằng những việc làm phù hợp với lứa tuổi; Phê phán, đấu tranh với những hành vi gây ô nhiễm môi trường và phá hoại tài nguyên thiên nhiên

Giáo dục kỹ năng sống bao gồm những kỹ năng: Kĩ năng nhận thức, quản lí bản

thân: Xác định mục tiêu cá nhân Yêu cầu cần đạt: Nhận biết được thế nào là mục tiêu

cá nhân; các loại mục tiêu cá nhân; Hiểu vì sao phải xác định mục tiêu cá nhân; Nêu được cách xác định mục tiêu và lập kế hoạch thực hiện mục tiêu cá nhân; Xây dựng được mục tiêu cá nhân của bản thân và kế hoạch hành động nhằm đạt mục tiêu đó

Kĩ năng tự bảo vệ: Phòng, chống bạo lực gia đình Yêu cầu cần đạt: Kể được các hình thức bạo lực gia đình phổ biến; Phân tích được tác hại của hành vi bạo lực gia đình đối với cá nhân, gia đình và xã hội; Nêu được một số quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; Biết cách phòng, chống bạo lực gia đình; Phê phán các

hành vi bạo lực gia đình trong gia đình và cộng đồng

Giáo dục kinh tế: giáo dục hoạt động tiêu dùng qua nội dung bài học lập kế hoạch

chi tiêu Yêu cầu cần đạt: Nhận biết được sự cần thiết phải lập kế hoạch chi tiêu; Nêu được cách lập kế hoạch chi tiêu; Lập được kế hoạch chi tiêu và tạo thói quen chi tiêu

hợp lí; Giúp đỡ bạn bè, người thân lập kế hoạch chi tiêu hợp lí

Giáo dục pháp luật: Quyền và nghĩa vụ của công dân: Phòng ngừa tai nạn vũ khí,

cháy, nổ và các chất độc hại Yêu cầu cần đạt: Kể được tên một số tai nạn vũ khí, cháy,

nổ và chất độc hại; nhận diện được một số nguy cơ dẫn đến tai nạn vũ khí, cháy, nổ và

Trang 37

được quy định cơ bản của pháp luật về phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy, nổ và các chất độc hại; Nhận biết được trách nhiệm của công dân trong việc phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy, nổ và các chất độc hại; Thực hiện được việc phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy, nổ và các chất độc hại; Nhắc nhở, tuyên truyền người thân, bạn bè chủ động phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy, nổ và các chất độc hại

Quyền và nghĩa vụ lao động của công dân Yêu cầu cần đạt: Phân tích được tầm quan trọng của lao động đối với đời sống con người; Nêu được một số quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ lao động của công dân và lao động chưa thành niên; Nêu được một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên tham gia hợp đồng lao động; lập được hợp đồng lao động có nội dung đơn giản giữa người sử dụng lao động và người lao động; Tích cực, chủ động tham gia lao động ở gia đình, trường, lớp và cộng đồng

- Chủ đề:

khoan dung

- Yêu cầu cần đạt: Nêu được khái niệm khoan dung và biểu hiện của khoan dung;

Nhận biết được giá trị của khoan dung; Thực hiện được những việc

 Phẩm chất chăm chỉ

- Chủ đề:

Tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng

Yêu cầu cần đạt: Hiểu được thế nào là hoạt động cộng đồng; nêu được một số hoạt động cộng đồng; Giải thích được sự cần thiết phải

 Phẩm chất trung thực

- Chủ đề:

Khách quan và công bằng

- Yêu cầu cần đạt: Nhận biết được những biểu hiện khách quan, công bằng;

Hiểu được ý nghĩa của khách quan, công bằng; tác hại của sự thiếu khách

 Phẩm chất trách nhiệm

- Chủ đề: Bảo vệ hòa bình

- Yêu vầu cần đạt: Nêu được thế nào

là hoà bình và bảo vệ hoà bình; các biểu hiện của hoà bình; Giải thích được vì sao cần phải bảo vệ hoà bình; Nhận ra

Giáo dục đạo đức:

Trang 38

tham gia các hoạt động cộng đồng; Nhận biết được trách nhiệm của học sinh trong việc tham gia vào các hoạt động cộng đồng;

Tham gia tích cực, tự giác các hoạt động chung của cộng đồng phù hợp với lứa tuổi do lớp, trường, địa phương tổ chức; Phê phán biểu hiện thờ

ơ, thiếu trách nhiệm với các hoạt động cộng đồng

quan, công bằng; Thể hiện được thái độ khách quan, công bằng trong cuộc sống hằng ngày; Phê phán những biểu hiện không khách quan, công bằng

được những biện pháp để thúc đẩy và bảo vệ hoà bình; Biết lựa chọn và tham gia những hoạt động phù hợp để bảo vệ hoà bình; Phê phán xung đột sắc tộc và chiến tranh phi nghĩa

Giáo dục kỹ năng

 Kỹ năng nhận thức, quản lý bản

thân

- Chủ đề: Quản lý thời gian hiệu quả

- Yêu cầu cần đạt: Hiểu được thế

nào là quản lí thời gian hiệu quả;

 Kỹ năng tự bảo vệ

- Chủ đề: Thích ứng với thay đổi

- Yêu cầu cần đạt: Nêu được một số thay đổi có khả năng xảy ra trong cuộc

Trang 39

lí thời gian hiệu quả; Nêu được cách

quản lí thời gian hiệu quả; Thực hiện

được kĩ năng quản lí thời gian hiệu

quả

biết được ý nghĩa của việc thích ứng trước những thay đổi trong cuộc sống; Nêu được các biện pháp để thích ứng với thay đổi trong cuộc sống; Thích ứng được với một số thay đổi (nếu có) trong cuộc sống của bản thân

Giáo dục kinh tế/ Giáo dục pháp luật

tiêu dùng thông minh và

kém thông minh; Nêu được

- Yêu cầu cần đạt: Nêu

được khái niệm vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí; các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí; Nêu được ý nghĩa của trách nhiệm pháp lí;

Phân tích, đánh giá được các hành vi vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí trong một số tình huống cụ thể; Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; tích cực ngăn ngừa và đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp

luật

- Chủ đề: Quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế

- Yêu cầu cần đạt: Nêu được quy định cơ bản của pháp luật về quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế; Phân tích, đánh giá được hậu quả của hành

vi vi phạm pháp luật về quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế; Nhận biết được trách nhiệm công dân trong việc thực hiện quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế; Vận động gia đình, người thân thực hiện tốt quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế

Trang 40

dùngthông minh

1.2.4 Năng lực phát triển trong chương trình

Các năng lực được hình thành, phát triển trong môn Giáo dục công dân(năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực phát triển bản thân, năng lực tìm hiểu và tham gia hoạt động kinh tế - xã hội) là biểu hiện đặc thù của các năng lực chung và năng lực khoa học đã nêu trong Chương trình tổng thể Yêu cầu cần đạt về các năng lực này đối với cấp THCS như sau:

Nhận biết được sự cần thiết phải tiết kiệm tiền; nguyên tắc quản lí tiền; cách lập kế hoạch chi tiêu và tiêu dùng thông minh

TPNL 2: Đánh giá hành vi của bản thân và người khác

Đánh giá được tác dụng và tác hại của thái độ, hành vi đạo đức và pháp luật của bản thân và người khác trong học tập và sinh hoạt

Đồng tình, ủng hộ những thái độ, hành vi tích cực; phê phán, đấu tranh với những thái độ, hành vi tiêu cực về đạo đức và pháp luật

Đánh giá được bối cảnh giao tiếp, đặc điểm và thái độ của đối tượng giao tiếp; khả năng của bản thân và nguyện vọng, khả năng của các thành viên trong nhóm hợp tác

Ngày đăng: 06/05/2021, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w