Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non .... DANH MỤC BẢNG BIỂU Số hiệu bảng Bảng 5.1
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP KỶ LUẬT KHÔNG NƯỚC MẮT THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC CHO TRẺ 3-4 TUỔI
Ở TRƯỜNG MẦM NON
GVHD : Th.s Mai Thị Cẩm Nhung SVTH : Cao Thị Trâm
Lớp : 16 SMN
Đà Nẵng, tháng 02 năm 2020
Trang 2Qua đây, em xin gửi tới Ban giám hiệu và các cô giáo trường Mầm non 1-6 thành phố Đà Nẵng cùng các bạn sinh viên khoa Giáo dục mầm non lời cảm ơn chân thành nhất Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn
thiện hơn
Trang 3MỤC LỤC
PHẨN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
3.1 Khách thể nghiên cứu 2
3.2 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Giả thuyết khoa học 2
7 Phương pháp nghiên cứu 3
7.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lý luận 3
7.2 Phương pháp quan sát 3
7.3 Phương pháp đàm thoại 3
7.4 Phương pháp điều tra bằng Anket 3
7.5 Phương pháp thực nghiệm 3
7.6 Phương pháp thống kê toán học 3
8 Bố cục của đề tài 3
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5
1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Các khái niệm thuật ngữ liên quan 7
1.2.1 Kỉ luật không nước mắt 7
1.2.2 Chăm sóc trẻ 7
1.3 Lý luận về phương pháp kỉ luật không nước mắt 8
1.3.1 Triết lí từ chối bạo lực 8
1.3.2 Các quy tắc thưởng phạt theo tinh thần giáo dục dân chủ 10
1.3.3 Nghệ thuật khen chê và từ chối bạo lực 12
1.3.4 Quy tắc ứng xử theo tinh thần dân chủ 17
1.3.5 Mục đích của phương pháp kỷ luật không nước mắt 20
1.3.6 Yếu tố chi phối việc vận dụng phương pháp kỷ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi 20
1.4 Vấn đề lí luận về hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non 20
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 3-4 tuổi 20
1.4.2 Mục tiêu hoạt động chăm sóc trẻ mầm non 24
Trang 41.4.3 Nội dung hoạt động chăm sóc 24
1.4.4 Yêu cầu của hoạt động chăm sóc trẻ 30
1.5 Ưu thế của phương pháp kỉ luật không nước mắt đối với hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP KỈ LUẬT KHÔNG NƯỚC MẮT VÀO HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC TRẺ 3-4 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON 1-6 33
2.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng 33
2.2 Vài nét về trường mầm non 1-6 33
2.3 Nội dung nghiên cứu 34
2.4 Phương pháp khảo sát 34
2.4.1 Quan sát sư phạm 34
2.4.2 Điều tra bằng Anket 35
2.4.3 Đàm thoại 35
2.4.4 Thu thập, nghiên cứu, phân tích kế hoạch tổ chức hoạt động chăm sóc trẻ 35
2.5 Kết quả nghiên cứu 35
2.5.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non 35
2.5.2.Thực trạng mức độ sử dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non 37
2.5.3 Nhận thức của GV về những điều kiện và những khó khăn của việc vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non 39
2.5.4 Thực trạng vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt cho trẻ thông qua hoạt động chăm sóc ở trường mầm non1-6, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 40
2.5.5 Thực trạng mức độ biểu hiện của trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non khi giáo viên sử dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt 42
2.5.6 Nguyên nhân thực trạng 47
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 49
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP KỈ LUẬT KHÔNG NƯỚC MẮT CHO TRẺ 3-4 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC 50
3.1 Căn cứ đề xuất các biện pháp kỉ luật không nước mắt cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động chăm sóc 50
3.1.1 Căn cứ vào mục tiêu giáo dục trẻ mầm non 50
3.1.2 Căn cứ vào đặc điểm phát triển của trẻ 3-4 tuổi 50
3.1.3 Căn cứ vào đặc trưng của hoạt động chăm sóc 51
Trang 53.1.4 Căn cứ vào quá trình vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt cho trẻ
3-4 tuổi thông qua hoạt động chăm sóc 52
3.2 Quy trình vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động chăm sóc 52
3.3 Vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt thông qua hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi 53
3.3.1 Hệ quả tự nhiên và logic 53
3.3.2 Góc bình yên 57
3.3.3 Nghệ thật khen 58
3.4 Thực nghiệm sư phạm 59
3.4.1 Mục đích thực nghiệm 59
3.4.2 Nội dung thực nghiệm 59
3.4.3 Thời gian thực nghiệm 59
3.4.4 Tiêu chí đánh giá và cách đánh giá thực nghiệm 59
3.4.5 Tiến trình thực nghiệm 60
3.4.6 Phân tích kết quả thực nghiệm 60
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu bảng
Bảng 5.1.1.3 Về những điều kiện cần thiết giúp phương pháp kỉ luật không nước
mắt được áp dụng hiệu quả hơn
39
Bảng 2.5.4.2 Kết quả khảo sát mức độ giáo viên vận dụng phương pháp kỉ luật
không nước mắt cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động chăm sóc trẻ 41 Bảng 2.3
Mức độ đánh giá biểu hiện của trẻ khi giáo viên áp dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non
So sánh mức biểu hiện của trẻ khi giáo viên áp dụng phương pháp
kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc của trẻ ở nhóm
71
Bảng 3.10
Kết quả kiểm định sự khác biệt về mức độ biểu hiện của trẻ khi giáo viên áp dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc ở nhóm TN trước và sau TN tác động
72
Trang 737
Biểu đồ 2.5.4.1
Kết quả khảo sát ý kiến tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non
41
Biểu đồ 2.1
Mức độ biểu hiện của trẻ khi giáo viên áp dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ ở trường Mầm non 1-6
46
Biểu đồ 2.4
Mức độ biểu hiện của trẻ giáo viên áp dụng phương pháp
kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc ở tiêu chí
62
Biểu đồ 3.2
Mức độ biểu hiện của trẻ khi giáo viên áp dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc ở hai nhóm TN và ĐC sau khi TN (tính theo %)
64
Biểu đồ 3.3
Mức độ biểu hiện của trẻ khi giáo viên áp dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc ở hai nhóm TN và ĐC sau khi TN theo tiêu chí 1
65
Biểu đồ 3.4
Mức độ biểu hiện của trẻ khi giáo viên áp dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc ở hai nhóm TN và ĐC sau khi TN theo tiêu chí 2
65
Biểu đồ 3.5
Mức độ biểu hiện của trẻ khi giáo viên áp dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc ở hai nhóm TN và ĐC sau khi TN theo tiêu chí 3
66
Trang 8Biều đồ 3.6
So sánh mức độ biểu hiện của trẻ khi giáo viên áp dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc ở nhóm ĐC lúc TTN và STN
67
Biểu đồ 3.7
So sánh mức biểu của trẻ khi giáo viên áp dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc ở nhóm TN lúc TTN và STN
68
Biểu đồ 3.8
Mức độ biểu hiện của trẻ khi giáo viên áp dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc ở nhóm TN TTN và STN tiêu chí 1
70
Biểu đồ 3.9
Mức độ biểu hiện của trẻ khi giáo viên áp dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc ở nhóm TN TTN và STN tiêu chí 2
Trang 10PHẨN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là nước đầu tiên trong khu vực Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em Bảo vệ và chăm sóc trẻ em là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước, gia đình và xã hội Sự quan tâm này đã được thể chế hóa trong Hiến pháp, hệ thống pháp luật quốc gia và các chương trình quốc gia bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ còn là sự đồng thuận và tham gia của toàn xã hội, trờ thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, dành mọi
sự yêu thương cho trẻ em, luôn đặt lợi ích của trẻ em lên hang đầu với phương châm “ Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”
Khi xã hội ngày càng hiện đại thì chất lượng cuộc sống của con người được nâng lên nhưng kéo theo nó biết bao nhiêu mặt trái Đặc biệt trong đó có những nguy cơ có thể rình rập trẻ em như: bị bắt cóc, bị lạm dụng, bị hành hung, bị lôi kéo vào những việc làm không tốt… Ngoài ra chính ở trong môi trường quen thuộc như gia đình trường học đôi khi xảy ra những vấn đề không mong muốn như cha mẹ la mắng con, giáo viên hành
xử không đúng khi con có lỗi để con phải khóc và không hề biết trẻ đã làm sai những gì Những điều đó dẫn đến nguy cơ ảnh hưởng đến thân thể, sức khỏe và nhân cách của trẻ
Việc chăm sóc trẻ em là trách nhiệm của mỗi người Tuy nhiên, người lớn chúng
ta không phải lúc nào cũng chăm sóc đúng cách Nhất là đối với trẻ 3-4 tuổi, ý thức còn nhiều hạn chế, hành vi của trẻ về cơ bản vẫn mang tính vô thức, khả năng làm chủ hành
vi của trẻ chưa cao, ngay cả những hành vi thỏa mãn nhu cầu cơ bản của trẻ vẫn ảnh hưởng trực tiếp bởi môi trường bên ngoài, hành vi của trẻ ít chịu chi phối bởi ý chí mà chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi cảm xúc Trong nhiều trường hợp, hành vi của trẻ chưa phù hợp với chuẩn mực xã hội hoặc điều kiện khách quan, nhưng trẻ chưa biết được đó là hành vi sai lầm của mình Vì vậy việc kỉ luật trẻ khi trẻ có hành vi sai cũng là việc mà người lớn cần quan tâm, kỉ luật như thế nào để trẻ hiểu được hành vi của mình là sai, nhiều giáo viên cứ lá mắng đánh đập trẻ mà không biết được hậu quả về sau đối với trẻ
Ở trường mầm non, hoạt động chăm sóc được tổ chức thường xuyên cho trẻ Bên cạnh đó thông qua hoạt động ngoài trời chúng ta có thể vận dụng các phương pháp kỉ luật khi trẻ phạm lỗi trong hoạt động chăm sóc Sự ứng xử khéo léo của giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ Một trong những
kỹ năng sư phạm mà bất cứ một người giáo viên nào cũng cần trau dồi và học hỏi thêm
Trang 11là “Kỹ năng quản lý cảm xúc và Kỷ luật không nước mắt” Các giáo viên phải biết cách quản lý cảm xúc của bản thân, các giải pháp để chuyển hóa cảm xúc tiêu cực thành tích cực, với lòng kiên nhẫn, cô giáo dễ dàng nhận biết cách giúp trẻ kiềm chế được cảm xúc, từ đó uốn nắn trẻ hướng đến những suy nghĩ tích cực để trẻ có những hành động tự giác ngay từ nhỏ, bắt đầu từ những việc đơn giản nhất, chính là biện pháp tốt nhất để gieo vào tâm hồn các em ý thức tự chủ trong mọi hành vi ứng xử sau này, giáo viên cần biết vận dụng phương pháp kỷ luật không nước mắt vào quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ như thế nào để đạt hiệu quả cao, giúp trẻ phát triển tốt về mọi mặt cả về thể chất lẫn tinh thần
Từ những lý do trên nên em đã chọn đề tài “ Vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non 1-6 Thành phố Đà Nẵng
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi tại trường Mầm non Trên cơ
sở đó đề xuất biện pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi tại
trường Mầm non và thực nghiệm sư phạm
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động chăm sóc trẻ ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non
- Khảo sát thực trạng việc vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi tại trường Mầm non 1-6
- Đề xuất biện pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi tại trường Mầm non 1-6 và thực nghiệm sư phạm
Trang 12Hoạt động chăm sóc đối với trẻ 3-4 tuổi biểu hiện ở nhiều hình thức khác nhau Nếu giáo viên biết vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ thì hoạt động chăm sóc trẻ sẽ hiệu quả hơn
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lý luận
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, cụ thể hóa lý thuyết nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Phương pháp quan sát
+ Dự giờ quan sát quá trình tổ chức hoạt động chăm sóc và các biện pháp kỉ luật không nước mắt mà giáo viên sử dụng để kỉ luật trẻ khi trẻ có những hành vi ứng xử tiêu cực
+ Quan sát biểu hiện của trẻ 3-4 tuổi trong các hoạt động và sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non khi cô sử dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt
7.3 Phương pháp đàm thoại
+ Đàm thoại với giáo viên nhằm làm rõ những thuận lợi và khó khăn mà giáo viên gặp phải cũng như cách thức và phương pháp kỉ luật không nước mắt đối với trẻ 3-4 tuổi
+ Trò chuyện với trẻ nhằm tìm hiểu biểu hiện của trẻ với phương pháp kỉ luật không nước mắt mà cô sử dụng
7.4 Phương pháp điều tra bằng Anket
Sử dụng phiếu thăm dò, điều tra các giáo viên ở trường mầm non 1-6, thành phố
Đà Nẵng để nắm được thực trạng việc vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt
và đặc điểm của trẻ 3-4 tuổi trong hoạt động chăm sóc trẻ
7.5 Phương pháp thực nghiệm
Sử dụng các biện pháp đã đề xuất trong việc kỉ luật không nước mắt cho trẻ 3-4 tuổi vào hoạt động chăm sóc nhằm xác định tính hiệu quả, tính khả thi của các biện pháp
đã đề ra
7.6 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các công thức thống kê toán học để xử lý số liệu
Trang 13Chương 2: Thực trạng việc vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi tại trường Mầm non 1-6
Chương 3: Đề xuất và thực nghiệm biện pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi tại trường Mầm non 1-6
Trang 14PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Kỷ luật thường bị liên tưởng với trừng phạt Có một số nên văn hóa ủng hộ đòn roi nhưng cũng có nhiều quốc gia phản đối trừng phạt thể chất Đòn roi có thể sẽ dẫn đến những thay đổi tiêu cực cho trẻ em, khiến trẻ cảm thấy xấu hổ và mất lòng tin Nếu trẻ
có phạm sai lầm thì kỷ luật lành mạnh và công bằng và không nên dùng đòn roi, giúp trẻ trưởng thành cả về cảm xúc và nhận thức
Theo ông Đặng Hoa Nam, Cục trưởng Cục Trẻ em, Bộ LĐTB&XH, trên thế giới
có khoảng 300 triệu trẻ em từ 2 đến 4 tuổi thường xuyên bị cha mẹ áp dụng các hình thức kỷ luật về thể chất hoặc tâm lý Trên toàn cầu, khoảng 1,1 tỷ người chăm sóc trẻ cho rằng: trừng phạt về thể chất là phương pháp cần thiết để giáo dục trẻ
Tuy nhiên, những con số trên đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm Thực trạng bạo hành trẻ xuất phát từ các hành vi kỉ luật thô bạo vẫn diễn ra âm thầm trong nhiều gia đình Những tổn thương về mặt thể chất, tinh thần của trẻ đang bị bỏ ngỏ Và câu chuyện về sự mâu thuẫn trong phương pháp giáo dục con đã khiến nhiều cha mẹ rơi vào
bế tắc
Nói về nguyên nhân, ông Nam cho hay có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo hành trẻ em Thường thường sự trừng phạt con đến từ cơn giận dữ bất thình lình của cha mẹ Chúng ta có rất nhiều lý do để dẫn đến con giận dữ như thế Nguyên nhân thứ hai chính
là chúng ta không có kinh nghiệm dạy con Thứ ba, cha mẹ chưa dạy cho biết xử lý như thế nào trong các tình huống với con Thứ tư, cha mẹ không rút kinh nghiệm từ những
sự việc trước
“Khả năng kiềm chế cơn nóng giận của người lớn dường như không có Điều này biến trẻ con thành người đầu tiên hứng chịu tất cả các cơn nóng giận của cha mẹ, ông bà,… trong gia đình Vì những đứa trẻ không có sức kháng cự” – ông Nam nói
Ông Nam cũng chia sẻ một câu chuyện tại một cuộc thi, một cô bé đã vẽ bàn tay
Em nói rằng đây là bàn tay của mẹ Bàn tay ấy nấu cơm cho em ăn, cho em uống thuốc khi em ốm, xoa lưng cho em ngủ Nhưng cũng bàn tay ấy thi thoảng vẫn đánh em “Mỗi một lần bố mẹ muốn đánh mắng con mình, hãy nhớ trẻ em nghĩ gì về bàn tay của mình
” – ông Nam chia sẻ
Theo chuyên gia giáo dục quốc tế Steven Foster – Chuyên gia 20 năm kinh nghiệm đào tạo Kỷ luật tích cực tại Mỹ, Trung Quốc và các quốc gia trên thế giới, đa phần chúng
Trang 15ta đều lớn lên và trưởng thành đều từng bị bố mẹ đánh, la hét vào mặt Câu hỏi đặt ra ranh giới giữa giáo dục và bạo hành là gì? “Các bạn biết rằng có rất nhiều nghiên cứu
về não bộ Từ đó, chúng ta sẽ biết rằng việc bạo hành con về mặt thể xác gây ra rất nhiều
hệ quả vô cùng khôn lường đến cho con trẻ Và nó thay đổi cái cách não bộ vận hành Những đứa trẻ có tiền sử bị bạo hành trong thời gian nhất định thì chúng chủ yếu sử dụng phần não để sinh tồn thay vì sử dụng phần nào để lý trí, để suy nghĩ” – chuyên gia Steven chia sẻ
Trẻ con cũng có quyền được sai
Tại buổi tọa đàm, câu chuyện của hai bà mẹ khiến tất cả mọi người tham gia đều phải suy nghĩ Một bà mẹ cho biết con chị bị tổn thương khi nghe mẹ nói không yêu Nhưng một bà mẹ thì lại bị tổn thương khi con “dọa” không yêu mẹ
Chuyên gia giáo dục Hoàng Anh Đức, giám đốc Học thuật trường PTLC quốc tế Gateway đã đưa ra những lưu ý về tâm sinh lý đối với từng lứa tuổi “Giáo dục” là một quá trình, và “dạy” là một thao tác Nhiều khi, phụ huynh và giáo viên đều nôn nóng, muốn quá trình “giáo dục” được diễn ra nhanh gọn như thao tác “dạy” Đây chính là điều kiện để “giấc mơ cha đè nát cuộc đời con” – ông Hoàng Anh Đức chia sẻ
Do vậy, theo ông Anh Đức, điều ta nên làm là trở thành một người bạn và đồng hành cùng với trẻ Ta cần cùng trẻ đặt ra những luật chơi và tuân thủ những luật chơi
đó Mức độ phức tạp của luật chơi có thể tăng dần, và độ cam kết từ cả hai bên cũng cần phải tăng dần Khi ta hoặc trẻ vi phạm luật chơi, bất luận là ai, cũng phải tự nhìn ra hậu quả của việc vi phạm đó và tự đề ra giải pháp khắc phục, đồng thời xem xét cập nhật luật chơi nếu cần thiết
Cần phân biệt rõ ràng giữa Kỷ luật và Hình phạt Kỷ luật là duy trì nền nếp, hành vi; còn Hình phạt là sự trả giá
Theo ông Đặng Hoa Nam, trẻ em cũng cần có quyền được sai để hiểu về cái đúng
“Cũng giống như việc người lớn nhìn cốc nước nóng là biết nguy hiểm, nhưng trẻ con thấy cốc nước nóng là lao vào Vì vậy, có thể để cho cốc nước bớt nóng, con không bị bỏng, cho con sờ vào Lần sau con sẽ không dám đến gần cốc nước nóng nữa” – ông Nam ví dụ
Chuyên gia Steven Foster thì cho rằng giáo viên và phụ huynh cần được học cách
để biết đâu là giới hạn của kỷ luật Kỷ luật luôn hướng về giảng dạy Bạo lực luôn hướng
về kiểm soát Kỷ luật tích cực cần dựa trên nền tảng của sự tôn trọng, thấu hiểu giữa cha
mẹ và con cái, ở đó phụ huynh cần sử dụng cả tình yêu thương và sự kiên định cùng một lúc
Trang 16“Bố mẹ nào cũng yêu thương con, nhưng để yêu con đúng cách cần phải học” – Chuyên gia Steven khẳng định.[14]
1.1.2 Ở Việt Nam
Hiện nay giáo dục ở Việt Nam cũng đang dần cũng cố và nghiêm cấm đòn roi trong học đường, bạo hành trẻ em trong các trường học Đề cao quyền lợi của trẻ em cả trong gia đình và giáo dục Đòn roi trong giáo dục là câu chuyện không còn mới trong cách dạy con trẻ Không chỉ riêng cha mẹ mà ngay cả giáo viên những người được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và nhận thức rõ đòn roi là phản giáo dục
Theo nhiều tin tức từ mạng xã hội, và thực tế đều thấy giáo dục ở Việt Nam vẫn còn một vài trường hợp sử dụng đòn roi để dạy trẻ, bạo hành trẻ em vẫn còn xảy ra trong các trường mầm non Dùng đòn roi để dọa nạt giáo dục khó có hiệu quả, gây tổn thương tới trẻ, điều cần làm là xây dựng hình thức kỷ luật không nước mắt
Những ngày gần đây, xã hội không khỏi bức xúc khi liên tiếp xảy ra các vụ bạo lực của giáo viên với học sinh ngay tại lớp học, diễn ra tại nhiều địa phương Ông Đặng Hoa Nam, Cục trưởng Cục Trẻ em (Bộ LĐ-TB-XH) chia sẻ về vấn đề này Đây là những việc thực sự đau lòng, các em bị bạo hành trong chính trường học - nơi được coi là an toàn với trẻ
Hội thảo Kỷ luật không nước mắt do Thạc Sĩ Trần Thị Ái Liên diễn giả đang gây cơn sốt tại Hà Nội và TP HCM Với thông điệp “Con luôn luôn tốt, chỉ có hành động
là xấu”, Thạc sĩ Ái Liên muốn các bậc cha mẹ cũng như giáo viên mầm non tin rằng, bất kỳ đứa trẻ nào cũng thật tuyệt vời theo cách riêng của bé mà không cần đến đòn roi.[13]
1.2 Các khái niệm thuật ngữ liên quan
1.2.1 Kỉ luật không nước mắt
Kỷ luật (Discipline) là sự rèn luyện đặc biệt về tinh thần và tính cách nhằm tạo ra
sự tự chủ, phục tùng Kỷ luật giúp đào tạo con người, nhờ có kỷ luật năng lực con người được tập trung để hướng đến một mục tiêu, nhờ đó ta có thể đi tới chỗ thành công
Kỉ luật không nước mắt là phương pháp giáo dục không dùng bạo lực, trách mắng hay làm trẻ hoảng loạn, ngược lại sẽ sử dụng những biện pháp mềm dẻo, khéo léo [10]
1.2.2 Chăm sóc trẻ
Chăm sóc là sự quan tâm chặt chẽ hoặc mối quan tâm với tinh thần trách nhiệm hoặc dành tình yêu thương cho ai đó hoặc một cái gì đó, là làm những điều cần thiết cho người cần sự giúp đỡ hoặc bảo vệ, là sự tác động một cách cẩn thận để họ luôn ở trong điều kiện tốt
Trang 17Chăm sóc trẻ hoặc giữ trẻ là quá trình tương tác , săn sóc và giám sát một hoặc nhiều đứa trẻ cùng một lúc có độ tuổi từ sáu tuần đến mười ba tuổi Chăm sóc trẻ là hành động hoặc kĩ năng tương tác tạo cảm giác yêu thương , thể hiện sự quan tâm, chu đáo
và trách nhiệm với trẻ em bởi một trung tâm chăm sóc ban ngày, bảo mẫu, người giũ trẻ, giáo viên hoặc các nhà cung cấp khác
Chăm sóc trẻ là một chủ đề rộng bao gồm nhiều bối cảnh, các hoạt độmg các công ước văn hóa – xã hội và các tổ chức Người chăm sóc trẻ là người chịu pháp lí đối với người hoặc tài sản của người khác được pháp luật coi là không đủ năng lực để quản lí công việc hay bản thân mình Chăm sóc trẻ là việc làm quan trọng và không thể bỏ qua trong sự phát triển của trẻ Chất lượng chăm sóc từ khi trẻ còn nhốc thể tác động rất lớn đến thành công trong tương lai của các em Trọng tâm chính của chăm sóc là sự phát triển của trẻ, cho dù đó là thể chất, tinh thần, xã hội hay tâm ý.[12]
1.3 Lý luận về phương pháp kỉ luật không nước mắt
1.3.1 Triết lí từ chối bạo lực
Từ chối bạo lực là không dùng bạo lực để ép người khác làm theo ý mình hoặc mình không làm theo ý người khác chỉ vì sợ bạo lực mà họ dùng với mình, chỉ làm nếu chúng ta thấy đúng cho dù có bạo lực hay không Chúng ta phải tin rằng bạo lực là phi nghĩa, từ chội bạo lực là một triết lý mạnh mẽ Kỉ luật không nước mắt thực ra chỉ là những phương pháp rất đơn giản, do đó nếu chúng ta sử dụng triết lý này một cách máy móc mà không hiểu nguyên lý bên trong thì chắc chắn chúng ta sẽ thất bại Vì phương pháp chỉ là ngọn cây, sự thường xuyên sử dụng phương pháp như một lối sống mới có thể tạo ra thành công, và lối sống đó là lối sống dưới ánh sáng của triết lý từ chối bạo lực
Vd: Gandhi người Ấn Độ đã từ chối triết lí bạo lực để mang lại quyền tự do cho dân tộc Ấn Độ Gandhi nói rằng: “Quyền lực chỉ có sức mạnh khi mình đồng ý nó, và khi mình từ chối nó thì mình vô hiệu hóa nó"
Vd: Nelson Mandela- vị tổng thống da màu đầu tiên của Nam Phi luôn cho rằng không thể xây dựng một quốc gia từ sự giận dữ và bạo lực Ông nói: “Chúng ta đang đấu tranh cho tiến bộ theo một cách thức và hướng tới một kết quả giúp bảo đảm rằng, tất cả người dân, bất luận da trắng hay da đen, đều trở thành những người chiến thắng" Với tấm lòng khoan dung độ lượng, ông đã thúc đẩy hòa giải chủng tộc, thông qua đàm phán để thúc đẩy tiến trình dân chủ ở Nam Phi, tạo nên một hình mẫu về việc thông qua giải pháp chính trị để giải quyết xung đột
Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ coi là chính đáng để dùng bạo lực với trẻ em Bạo lực thể chất hoặc tinh thần đều có hại cho sự phát triển cũng như hạnh phúc và thành
Trang 18công trọn đời của trẻ Ngay cả việc chỉ đánh khẽ hay chê bai nhẹ lời cũng khiến bé căng thẳng
Nếu căng thẳng kéo dài, trong cơ thể bé sẽ tiết ra hooc môn Cortisol tăng vọt Lâu lâu một lần thì tốt, nhưng thường xuyên sẽ làm bé chậm phát triển toàn diện, nghĩa là tim nhỏ hơn, phổi nhỏ hơn, mạch máu nhỏ hơn, hộp sọ bé hơn, vậy thì não cũng nhỏ hơn.… Mẹ đánh vì con không chịu học Vậy thì bé sẽ học cùng Cortisol Cha đánh vì con không ăn-bé sẽ ăn cùng Cortisol Bà đánh vì cháu lười tắm - cháu sẽ tắm cùng Cortisol và bé sẽ chậm phát triển toàn diện Tâm thức của chúng ta có 3 phần: vô thức,
ý thức, tiếm thức Vô thức như chúng ta có thể thấy trẻ em sinh ra là tự nhiên biết bú, tự nhiên biết bò, tự nhiên biết đi Ý thức là nơi mình chủ động suy nghĩ và hành động Tiếm thức là nơi mình không chủ động được, không biết tiềm thức nghĩ gì nhưng tiềm thức mới là nơi quyết định hành vi và tính cách của một con người
Ví dụ: Sáng mai có việc quan trọng nên chúng ta định ngủ sớm, nằm ngủ không suy nghĩ gì nhưng vẫn không ngủ được vì ý thức của chúng ta chủ động được thì muốn
đi ngủ nhưng tiềm thức tiếp tục suy nghĩ mà mình cũng không hề hay biết tiếm thức đang suy nghĩ Người ta hay giáo dục trẻ em chú trọng vào ý thức mà quên đi tiếm thức mới là nơi quyết định hành vi và tính cách của một con người Vì vậy, khi một người bố đánh cho trẻ ăn , một người mẹ la mắng cháu học, một người bà quát mắng cháu tắm thì
ý thức sẽ hiểu đó là những cách giải quyết vấn đề đó đều khác nhau nhưng tiềm thức thì lại hiểu moi người đang giải quyết vấn đề ăn, học, ngủ nghỉ của mình bằng bạo lực Không những vậy, từ những việc trên, tiềm thức sẽ rút ra kết luận là mọi người đang giải quyết vấn để bằng bạo lực Và nếu giải quyết vấn đề bằng bạo lực thì tiềm thức của đứa trẻ hình thành sẽ là bạo lực và lớn lên đứa trẻ cũng sẽ thích dùng bạo lực và coi bạo lực là phương tiên duy nhất để giải quyết mọi vấn đề, điều này là rất nguy hiểm
Điều đáng sợ hơn xảy ra với con gái chúng ta là nếu một cô gái được sinh ra trong gia đình có bạo lực, ý thức cô sẽ rất sợ hãi bạo lực nhưng tiếm thức lại quen dần với bạo lực và có xu hướng thích người bạo lực điều đó ảnh hưởng đến hạnh phúc hôn nhân, sức khỏe cũng như tinh thần của cô sau này Vì vậy hãy từ chối bạo lựa hai chiều, chiều thứ nhất: không dùng bạo lực ép buộc người khác; chiều thứ hai là không ai có thể dùng bạo lực để ép mình làm gì
VD: nếu chúng ta xử dụng bạo lực với một người và người kia cũng phản kháng bằng bạo lực thì cũng giống như việc chúng ta chơi tenis, có một trái banh cứ đánh qua đánh lại mà không hồi kết
Phật Tổ có câu: “Lấy ân báo oán thì oán ấy tiêu tan; lấy oán báo oán thì oán ấy
Trang 19nhiếc, la mắng, đánh đập bé thì cũng giống như đang chơi trận banh tenis bạo lực với con của mình, không bao giờ dừng được, hãy tin rằng từ chối bạo lực là cách duy nhất
để đối đầu với bạo lực
Cha mẹ nào cũng muốn con ngoan ngoãn, thông minh, tự chủ Nhưng sự tự chủ ấy phải đến từ ý thức của chính bé chứ không phải vì nỗi sợ hãi bị roi vọt Để đưa trẻ vào khuôn khổ, trong gia đình phải có “luật"- hay còn gọi là quy tắc Quy tắc này do cha mẹ, con cái cùng thảo luận, thông nhất rồi thực hiện Nếu quy tắc nào chưa thống nhất thì nhờ khoa học làm trọng tài Chẳng hạn, con muốn đi ngủ lúc 12 giờ, mẹ muốn con ngủ lúc 9 giờ tối, khoa học nói trẻ con nên đi ngủ lúc 9 giờ tối thì con phải nghe theo mẹ Quy tắc phải nghiêm minh - có thưởng phạt rõ ràng nhưng phải rất nhân đạo, thể hiện qua tình thương vô điều kiện và biểu hiện đúng cách Nghĩa là cha mẹ vui theo cái vui của con, đau theo cái đau của con, hiểu theo cách hiểu của con chứ không phải là
ép buộc con phải vui theo cách của bố mẹ và không được giận trong trường hợp này hoặc phải vui trong trường hợp khác
1.3.2 Các quy tắc thưởng phạt theo tinh thần giáo dục dân chủ
1.3.2.1 Nghệ thuật thưởng phạt theo tinh thần dân chủ
Cốt lõi của việc Thưởng và Phạt là ảnh hưởng tâm lý lên đứa trẻ như: Thưởng sẽ làm trẻ vui sướng, phạt thì sẽ làm trẻ sợ hãi và buồn khổ Vì thế mà có sự tương quan giữa hai hệ thống trên Nếu không làm gì có lỗi thì không bị đánh, nhưng nếu làm tốt thì được thưởng để động viên Chính vì vậy, các bậc cha mẹ phải làm sao để trẻ được thích thú, cảm thấy được tôn trọng mỗi ngày Thực ra khi chúng ta không sử dụng bạo lực với con, để con hiểu và chấp hành những điều mà chúng ta buộc con phải làm vì sự an toàn
và lành mạnh, đương nhiên phải cho con trả giá Sự trả giá nhỏ chính là các hình phạt,
nó sẽ giúp con rất nhiều mà lại tránh cho con một sự trả giá thật, vô cùng đau đớn Con người trưởng thành, không ai mà không từng phải trả giá Nhưng nếu ta đồng cảm với con, hòa đồng với con sẽ dễ dàng hơn trong việc dạy dỗ Vì thế, cha mẹ đừng bao giờ nghĩ mình là tướng, con là quân Cha mẹ và con cái phải cùng nhau sống và phải tôn trọng nhau, cha mẹ cần ở trẻ là sự hợp tác chứ không phải chỉ là sự vâng lời
Trẻ thường coi trọng lẽ phải chứ không sợ hãi quyền lực Khi phạm lỗi, trẻ sẽ sẵn sàng chịu phạt và cảm thấy rất hoan hỉ, thoải mái vì biết bố mẹ công bằng, dân chủ Khi dạy con, các phụ huynh phải nhất quán "trước sau như một" Cùng một việc làm, không thể lần này bị phạt, lần khác không phạt Nếu bố phạt, mẹ dứt khoát không được phản đối trước mặt trẻ Mức độ phạt và thưởng phải tăng dần Nếu trẻ liên tục bị điểm xấu ở trường, cần phải xử lý ngày càng nghiêm khắc Thế nhưng, nếu trẻ cố gắng sửa chữa khuyết điểm và học hành tiến bộ, thì cần chuẩn bị phần thưởng cho con
Trang 201.3.2.2 Nhu cầu căn bản của trẻ
Được chấp nhận : chấp nhận trẻ như chính con người của trẻ, nói cho trẻ biết mỗi khi trẻ cư xử không đúng mực, hãy nói cho trẻ làm như thế nào để tốt hơn, vẫn yêu quý trẻ cùng với những lỗi lầm của trẻ
Thời gian và sự quan tâm: dành một khoảng thời gian thực sự cho trẻ
Sự dịu dàng: Thể hiện sự yêu thương với trẻ qua các cử chỉ, ánh mắt, hành động Vd: âu yếm, ôm, hôn, vuốt ve
Sự tin tưởng an tâm: đem lại cho trẻ có cảm giác an toàn, luôn có người ở bên trẻ cho trẻ biết chuyện gì sẽ đến để trẻ an tâm hơn
Sự chăm lo, chăm sóc: Trẻ cần sự chăm lo, săn sóc từ cha mẹ vì trẻ còn nhỏ chưa
có khả năng tự chăm sóc tốt cho bản thân mình
Sự bảo vệ chở che: Trẻ cần sự bảo vệ của người lớn nên đôi lúc trẻ không biết tránh xa những thứ nguy hiểm, bố mẹ cần phải bảo vệ con và chỉ cho trẻ biết những nguy hiểm cần phải tránh xa Không được để cho trẻ cảm thấy bị bỏ rơi, giúp trẻ trở nên mạnh mẽ hơn mỗi khi trẻ sợ hãi
Để trẻ tự làm những điều có thể làm được, tự mình trải nghiệm nó : Người lớn luôn quan sát trẻ, để biết được trẻ đã tự làm gì, cho trẻ thấy được sự tin tưởng của người lớn đổi với trẻ, thế hiện lòng kiên nhẫn, không thúc giục đòi hỏi quá lớn đối với trẻ
1.2.2.3 Cách phạt trẻ không đòn roi
Có hai cách phạt con không cần đòn roi :
Góc bình yên (hiệu quả nhất cho trẻ 3-10 tuổi) và bảng điểm (4-18 tuổi) Mục đích chung của các hình phạt là nhằm giáo dục trẻ Giáo dục là thay đổi hành vi và tư duy Góc bình yên:
• Giúp trẻ có có hội được nhắc tới lỗi của mình, để bé suy nghĩ về việc bé đã làm,
đã nói từ đó rút kinh nghiệm trong tương lai
• Giúp bé quản lí cảm xúc: nhất là trí tuệ cảm xúc chiếm 75% thành công khi bé trưởng thành Khi bé đang ngồi ở góc bình yên lúc bé mắc lỗi nghĩa là lúc mà bé đang giận, đang buồn mà bé vẫn ngồi yên thì khả năng quản lí cảm xúc của bé sau này rất tốt
• Hãy chọn ra một không gian thích hợp để phạt: không gian càng tĩnh lặng và nhàm chán càng tốt Đó có thể là phòng tắm, hành lang, nhà vệ sinh hoặc phòng của trẻ nếu không có tivi và máy tính ở bên trong Thời gian cách ly cần được quy định rõ ràng hãy sử dụng đồng hồ báo thức, tốt nhất là đồng hồ điện tử Tốt hơn hết ở góc bình yên
đó đừng để trẻ có cảm giác bị bỏ rơi hoặc trong tầm ngắm của phụ huynh Hãy giải thích
Trang 21gian bình tĩnh Mẹ sẽ đặt đông hồ 5 phút Khi con bình tĩnh lại, mọi chuyện sẽ ổn Nếu con bực tức hoặc tự ý bỏ ra ngoài thời gian ngồi ở đó sẽ kéo dài thêm, tất cả do con quyết định)
• Tốt hơn hết khi ở góc bình yên đó đừng để cho con trẻ có cảm giác bị bỏ rơi, để cho bé ngồi ở đó trong tầm ngắm của mình, bảo đảm ở góc này không có bất kì đồ chơi nào, không có tiếng ồn của tivi, cuộc nói chuyện của gia đình
• Theo khuyến cáo số tuổi tương ứng với số phút trẻ phải ngôi ở góc bình yên, nhưng nó có thể kết thúc sớm hơn nếu trẻ nhanh chóng bình tĩnh và kiểm soát lại mình Ngay cả khi trẻ ngỗ ngược ở nhà hàng hay siêu thị thì bạn vẫn áp dụng hình phạt này Đưa ra hình phạt dựa trên nguyên tắc ba không “không đau , không sợ, không khó chịu" đưa ra luật cho trẻ, Luật phải nghiêm khắc nhưng nhân đạo" có nghĩa là cho phép trẻ được từ chối nhận hình phạt nhưng phải thuyết phục đến khi lời biện hộ từ chối được chấp nhận
• Trẻ sẽ mắc lỗi và đó là cơ hội cho trẻ chỉnh sửa và hoàn thiện bản thân
Bảng điểm:
• Cô giáo, ba mẹ và các con nên lập ra các bảng điểm có tiêu chí đánh giá tùy theo khả năng của từng thành viên, hay đó là những việc nên làm hoặc không nên làm Những việc nên làm thì có điểm cộng và ngược lại bị trừ điểm Những điều nên hay không nên làm cần đơn giản (không quá 10 điều) và phải định lượng , đo đạc được
• Bảng điểm dựa vào tinh thần thắng thua giúp cho từng người cố gắng (có nghĩa
là con chỉ thắng khi ba mẹ thua, con được khi ba me mất, con có khi ba mẹ không, con chỉ tốt khi ba mẹ kém, chẳng hạn ) như không công bằng đối với trẻ trẻ sẽ hoàn thành nhằm đạt được cái mình muốn chứ không tự giác thực hiện
• Bảng điểm cần áp dụng tinh thần cùng thắng tinh thần này hỗ trợ và bổ sung cho nhau không đặt nặng vấn để thắng thua mà chỉ cố gắn hết sức để thực hiện Bảng điểm đặt ra các tiêu chí tiến bộ và đạt được mục tiêu của riêng mình Tiêu chí chung có thể so sánh với nhau nhưng kết quả thì không nên đem ra so sánh với trẻ Trẻ thực hiện được nhiều thưởng nhiều tất cả đều có phần thưởng Phần thưởng lúc này là thứ trẻ “muốn"
và lấy dần đi nếu trẻ vi phạm, nghệ thuật khen chê và cam kết từ chối bạo lực thưởng
1.3.3 Nghệ thuật khen chê và từ chối bạo lực
Lời khen và tiếng chê luôn là gia vị không thể thiếu trong cuộc sống Con người ta
dù ở lứa tuổi nào cũng thường ưa những lời nói ngọt Đặc biệt đối với trẻ nhỏ, những lời khen ngợi luôn là động lực và vũ khí mà người lớn thường xuyên sử dụng nhằm đạt được những mục tiêu giáo dục nhất định “Khen đúng cách khích lệ tinh thần, khuyến khích trẻ phát huy làm việc tốt Chê đúng cách giúp trẻ hoàn thiện bản thân" Tuy nhiên,
Trang 22khen – chê nếu không đúng cách sẽ trở nên phản tác dụng và giảm giá trị, thậm chí gây hậu quả không tốt đối với sự phát triển nhân cách của trẻ Lời khen không đúng cách sẽ khuyến khích trẻ thực hiện những hành động không đáng khen Chê không đúng cách ảnh hưởng đến tâm lý trė Khen chế cũng chính là thưởng phạt tinh thần Theo nghiên cứu ở Mỹ, thưởng phạt bằng tinh thần tốt hơn vật chất rất là nhiều và còn không tốn tiền,
vì vậy nên sử dụng nó nhiều hơn
1.3.3.1 Nghệ thuật khen
Khen là thưởng tinh thần do đó lời khen phải có các yếu tố sau:
+ Lời khen trung thực: nếu khen không trung thực sẽ khuyến khích những hành động không đáng khen
+ Lời khen chân thành: nếu không chân thành sẽ là “hối lộ tinh thần" dẫn đến lời khen không có giá trị giáo dục
+ Lời khen phải chi tiết: có sao nói vậy, và chỉ nói cái chi tiết nhỏ đáng khen, không cần phải nói đến cái tổng thể không khen được Ví dụ như chỉ khen mái tóc đẹp, hay đôi mắt đẹp… Khen có nghệ thuật là lời khen có đủ các yếu tố hình thành một lời khen đúng bên cạnh đó sử dụng ngôn từ đúng mực, rõ ràng, không sử dụng ngôn từ khen thái quá đối với trẻ khiến lời khen mất đi giá trị khuyến khích Một em bé mà lúc nào cũng chỉ nghe thấy những tán dương như “Con giỏi quá", “Con thông minh quá", thì
sẽ đến lúc những lời khen “hết tầm" như thế sẽ không còn giá trị Điều đáng nói là, những lời khen “khủng" cho một việc làm vừa tầm sẽ khiến trẻ dần có xu hướng trở thành người chỉ ưa nói ngọt, khó nhận ra khuyết điểm của mình khi phải đối mặt với các tình huống cụ thể và đa dạng trong cuộc sống cha mẹ thường khen con, nhưng sợ con tự mãn nên sẽ kèm theo lời chê Chính điều này sẽ làm phản tác dụng đối với trẻ Ví dụ: thấy con trẻ ngồi viết bài, ba mẹ liền nói “sao hôm nay lại chăm viết chữ vậy, ngày thường nhác viết lắm mà" Như thế thì con chưa kịp lên thì đã bị rơi xuống rồi
- Khen cũng cần phải có công thức: CON + HÀNH ĐỘNG Tại sao lại sử dụng công thức này? Vì khi chúng ta không nói ra con đã làm việc gì tốt để được khen thì sao con biết được Ví dụ như nói “con giỏi quá", nhưng ba mẹ ơi, con làm cái gì giỏi? Khi
đó, công thức được áp dụng “Con biết giúp đỡ bạn bè, con giỏi quá!" hoặc là “ lời khen
và sự ghi nhận của người lớn cho những nỗ lực của mình luôn có nay con biết dọn dẹp
đồ chơi gọn gàng sau khi chơi, con ngoan lắm!" chẳng hạn là như thế! giá trị hơn mọi thứ phần thưởng Lời động viên kèm theo một thái độ chân thành luôn làm trẻ cảm thấy
an tâm và tự tin hơn trong mọi trường hợp
Trang 231.3.3.2 Nghệ thuật chê
Chê là phạt tinh thần, là cho trẻ biết về hành vi nào đó là không đúng, không được phép lặp lại Và khi chê, chỉ nên chê hành động thôi Vì sao? Vì hình phạt không đau không sợ không khó chịu thì lời chê phải không tổn thương
Nhưng trong cách dạy con tại nhiều gia đình hiện nay, không khó để quan sát thấy, trẻ bị bao phủ bởi những lời chê trách từ người lớn Một cô bé vừa tròn 5 tuổi thường được nghe nhiều lần trong ngày một câu y hệt nhau từ tất cả những người lớn trong nhà:
“Con hư lắm không biết nhường em gì cả" hay “Con lớn thế rồi mà chả biết gì" hay những câu nói có hàm ý chê trách tương tự thì không kể hết Cứ như thế, lặp đi lặp lại Sau một thời gian có thêm em nhỏ, mọi người lớn trong nhà đều rút ra một kết luận rằng: Con bé này ngày càng ương bướng, không biết nghe lời Và những lời chê trách lại tiếp tục xuất hiện mỗi lúc gặp tình huống cụ thể trong những cuộc giao tiếp của người lớn trong nhà với những đối tượng khác nhau Bé 3 tuổi học ở trường mầm non, đến lớp khóc nhè hay tè dầm là bị cô giáo và các bạn "lêu lêu" làm cho xấu hổ Hoặc nếu làm trái lời cô sẽ bị phạt đứng góc lớp, Hậu quả dễ nhận thấy nhất là sau những lần như thế
bé dần dần giảm hứng thú đến trường
Chê không đúng cách sẽ khiến trẻ có những tôn thương về mặt tâm lý, khiến trẻ trở nên rụt rẻ và thiếu tính tự lập do sợ bị chế bai, quát mắng không những vậy có thể khiến trẻ trở nên càng ương bướng hơn, lời chê sẽ mất đi tác dụng giáo dục của nó Do vậy lời chế cũng cần phải có sự khéo léo, nghệ thuật
Nghệ thuật chế gồm các yếu tố:
+ Nói tên hành động rõ ràng, chi tiết
+ Giải thích tại sao hành động này là không nên Nó có tác hại gì, cho ai
+ Không sử dụng các từ mang tính chất hạ nhục danh dự, nhân phẩm, không dùng
từ chung chung và mang tính phán xét như hư, lỳ, quậy phá, mất dạy
+ Chê đúng lúc, ngay tại lúc hành động sai trái diễn ra, không sử dụng lời chế lặp
đi lặp lại nhiều lần đem lại cảm giác nặng nề, tội lỗi cho trẻ
Chủ ngữ của chúng ta sẽ không bao giờ là “con" Ví dụ như thay vì nói “ Con làm rơi vãi cơm rồi này" thì chúng ta sẽ chỉ nói “ cơm bị rơi vãi rồi này"
Khi nói như vậy nghĩa là trực tiếp nói con hư hỏng và dẫn đến trong tiềm thức của trẻ sẽ mà bản thân trẻ hư và trở nên tự ti, mặc cảm Sau này bị ai chê trẻ sẽ dễ dàng bị suy sụp hoặc là sẽ chống lại lời chê thay vì tiếp nhận để chỉnh sửa Vì vậy phải làm cho con nhớ là con luôn tốt, chỉ có hành động là xấu, nên con cần sửa những hành động
Trang 24Hãy nói tên hành động rõ ràng Ví dụ “con ơi, vứt đồ chơi là không nên" và đi đôi
sẽ là lời giải thích Chúng ta có quyền giải thích với con trẻ, thì con trẻ cũng có quyền giải thích với chúng ta Đó mới được gọi là “Dân chủ"
Hãy luôn luôn khuyến khích con bằng cách đặt ra câu hỏi “ tại sao, vì sao?" hay
"con muốn gì" và “ bài học kinh nghiệm là gì?" Ví dụ chúng ta hỏi “ tại sao con quăng
đồ chơi?" Trẻ trả lời “ vì con thấy vui " Câu trả lời chính đáng không mọi người? Vui
là điều chính đáng! Nhưng phải cho trẻ biết rằng, vui mà không làm hư đồ chơi thì lần sau con lại có thể vui như thế, nhưng đừng vui bằng cách hại mình hại bạn hay hại vật Hãy ném những gì không thể như bong bóng chẳng hạn, đây chính là chỉ ra cho trẻ bài học kinh nghiệm Như thế, chúng ta tấn công vấn đề chứ không phải tấn công con Khen Chê Cũng Cần Có Nghệ Thuật - Nghệ thuật khen - chê quan trọng nhất chính
là sự “ vừa đủ " Khen tặng mà không đúng lúc và đúng mức cũng gây hại chẳng kém
gì những lời chê bai, trách móc Khen, chê là quyền của mỗi người Tuy nhiên để mang lại giá trị cho những lời nói của mình, người lớn cũng rất cần “ lựa lời mà nói " để tránh làm tôn thương trẻ hoặc biến trẻ dần trở thành tư tin thái quá
Làm sao để lời khen, tiếng chê mang ý nghĩa giáo dục, không gì khác ngoài nguyên tắc “chân thành" Ngay từ những bài học đầu tiên của cuộc sống, trẻ đã cần được nêm thứ gia vị sẽ có thường ngày trong suốt cuộc đời, đó là lời khen và tiếng chê Chính bởi vậy, người giáo dục trẻ cần phải biết lựa và ý thức sâu sắc rằng, Thiện - Ác có thể phân biệt được chỉ qua một lời khen Và điều quan trọng nữa là dạy trẻ kỹ năng phân biệt ranh giới vốn mong manh giữa "khen" và “nịnh" như lời Tuân Tử: “ Người khen ta mà khen đúng là bạn ta Kẻ chê ta mà chê đúng là thầy ta Còn kẻ nịnh ta là thù địch ta vậy"
1.3.3.3 Cam kết từ chối bạo lực
Cam kết từ chối bạo lực không tự nhiên sinh con ra đời là mình thành cha mẹ tốt, cũng như biết bơi không có nghĩa là biết cứu người chết đuối Sanh con là bản năng tự nhiên của con người, nhưng nuôi dạy con trong thời hiện đại này thì phải học hỏi và rèn luyện
- Muốn con ngoan thì phải học cách dạy con
- Muốn con khỏe thì phải học cách nuôi con
- Muốn con thành công thì phải học cách hướng dẫn và đồng hành cùng con
- Muốn con gần gũi gắn bó với mình, thì phải học cách lắng nghe và chia sẽ cùng con Đừng buộc con phải lớn lên như kiểu cây Bonsai, đừng để con phải lớn lên như cây dại Hãy tạo điều kiện cho con lớn lên như cây trong vườn quốc gia Tự nhiên phát triển hết tiềm năng của mình, và được che chở để tránh những đe dọa của môi trường
Trang 25Cha mẹ chúng ta đã sinh ra và lớn lên trong bạo lực nên họ đã học cách giải quyết vấn đề bằng bạo lực Chúng ta không cần bắt chước họ, lại càng không nên trách họ Hãy tha thứ cho hành động bạo lực sai trái của cha mẹ và thông cảm vì họ thật sự muốn tốt cho con nhưng không biết làm sao khác hơn Chúng ta cần cam kết từ chối bạo lực trong việc nuôi dạy con Vậy tại sao cần phải cam kết từ chối bạo lực?
Bạo lực gia đình ở trẻ em dễ đẩy chúng rơi vào tình trạng bể tắc, tạo nên những cú sốc đầu đời của trẻ Tâm lý trẻ ở từng độ tuổi là vô cùng phức tạp, nếu phụ huynh cư xử không khéo, hay la rầy, mắng chửi… các em sẽ cảm thấy rất khó chịu và thậm chí là chịu tổn thương sâu sắc Những hành vi bạo lực của cha mẹ đối với con cái dù là vô tình hay cố ý thì nó dễ khiến cho những đứa trẻ không thể phát triển một cách bình thường, chúng tổn thương con chúng ta toàn diện và trọn đời
Biểu đồ tinh thần Tinh thần của một đứa trẻ trong xã hội văn minh dân chủ luôn luôn cao hơn tinh thần của một đứa trẻ sống trong xã hội phong kiến VD: Việc đi học đúng giờ của 2 đứa trẻ A (sống trong xã hội văn minh dân chủ) và B (sống trong xã hội phong kiến, vua tôi độc tài) Việc B đi học thường xuyên nhưng không được khen thường xuyên nên trạng thái tinh thần của B là bình thường Một hôm B lỡ đi học trễ thì
bị la nên tinh thần đi xuống, và B lại cố gắng đi học đúng giờ nên tinh thần lại bình thường Nhưng đối với A thì lại hoàn toàn khác, việc A đi học đúng giờ luôn luôn được khen, hôm đó đi trễ bị la thì tinh thần trở về trạng thái bình thường không đi xa hơn nữa
Từ ví dụ trên ta thấy rõ trạng thái tâm lý của A và B luôn cách nhau một đoạn rõ rệt Khi không có lỗi A được khen còn B không được khen thì tinh thần của 2 người họ cũng
đã cách biệt nhau Tương tự khi có lỗi A không bị la nhưng B bị la thì tinh thần của họ cũng cách biệt nhau Nếu ta xét 2 cực của một vấn để cùng bản chất, nếu chúng ta sử dụng cách thưởng khen hay chê phạt thì con của chúng ta đều cố gắng làm điều mà chúng ta muốn nhưng những hành động mà chúng ta làm sẽ kéo theo những hệ lụy sau này đối với chính con của chúng ta Hệ quả lâu dài của bạo lực và không bạo lực Bạo lực đổi với trẻ không chỉ là việc gây đau đớn thể xác mà còn để lại di chứng khá nặng
nề và lâu dài về mặt tinh thần, hành vi ứng xử của trẻ em như thiếu tự tin, rụt rè, lo sợ…hoặc trở nên hung dữ, thường sử dụng bạo lực trong việc sử dụng các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội, cả hiện tại lẫn trong tương lai Việc luôn trong tình trạng
u uất từ cách ứng xử của cha mẹ đã làm cho A trở thành đứa trẻ thiếu tự tin vào bản thân, luôn rụt rè, làm bất cứ việc gì đều suy đoán không biết mình làm vậy ba mẹ mình
có buồn không? Ba mình có giận không? Chưa làm đã sợ bị giận, chưa làm đã sợ bị buồn tức ra trận không hề nghĩ đến chiến thắng mà đã nghĩ đến thất bại thì làm sao mà thắng? Chính việc bị la, bị mắng đã vô tình đẩy A vào tình thế luôn sợ mọi thứ, sợ thách
Trang 26thức, sợ rủi ro, sợ khó khăn và sơ phải chịu trách nhiệm Chính những nỗi sợ hãi này sẽ không giúp A thành công trong cuộc sống hay đơn giản là chiến thắng chính bản thân mình
Bạo lực không phải là cách để giải quyết vấn đề, đáp ứng những nhu cầu của con trẻ là rất dễ dàng, thưởng phạt không đòn roi là chuyện khả thi, kết quả ngắn hạn của bạo lực và không bạo lực giống hệt nhau nhưng hệ quả dài hạn nó trái ngược nhau hoàn toàn Chúng ta không sử dụng bạo lực để giải quyết một vấn đề nào mà chúng ta cần phải tránh xa nó, tuyệt đối không sử dụng nó và cần cam kết từ chối bạo lực
1.3.4 Quy tắc ứng xử theo tinh thần dân chủ
1.3.4.1 Quy tắc ứng xử
Một nhà văn Mỹ nói rằng “ bạn đừng lo lắng khi trẻ không biết lắng nghe, hãy sợ hãi vì trẻ rất biết quan sát " Tức là mình khuyên thì trẻ thường không nghe, nhưng mình làm bậy, làm sai trẻ thấy liền, và trẻ sẽ làm theo Chính vì thế ta có quy tắc thứ nhất Quy tắc làm gương cho nhau, chúng ta có rất nhiều điều mà trẻ cần noi gương, và trẻ cũng có rất nhiều điều thú vị, hay ho để ta noi theo, chúng ta cũng cần cẩn thận với hành động của mình, bởi vì có rất nhiều hành động của chúng ta mang đến cho trẻ những thông điệp mạnh mẽ hơn cả lời khuyên rất nhiều Lời khuyên nó đi vào ý thức, nhưng thông điệp nó đi vào tiềm thức (tiềm thức quyết định hành vi và cá tính của con người) Luôn luôn chuẩn bị tinh thần cho bé, báo cho bé biết tình hình càng sớm càng tốt
Vì khi chúng ta làm điều gì đột ngột, không báo trước với trẻ sẽ khiến trẻ căng thẳng, dẫn đến cartisol sẽ tiết ra gây hại cho sức khỏe của trẻ về lâu dài
Hãy cố gắng dùng câu hỏi mở, đừng bao giờ dùng câu hỏi đóng, và đừng bao giờ dùng câu khẳng định ngay, vì điều đó không giúp cho trẻ động não Ví dụ C: không nói câu khẳng định là: con phải tắt tivi, Không nói câu hỏi đóng: bây giờ con phải tắt tivi rồi phải không? Nên nói câu hỏi mở: Con ơi, sắp tới giờ gì rồi? Không những dùng câu hỏi mở mà ta còn cần kiên nhẫn và bình tĩnh xử lý khi trẻ quên thỏa thuận tắt tivi, hoặc đang ham coi, vì nếu không trẻ sẽ làm hành động ngược lại như ta mong muốn Và khi
đó chúng ta thường sẽ phạt trẻ khi mà trẻ đang còn mơ hồ khi đang coi tivi mà sao giờ
bị phạt
Quy tắc tiếp theo: mỗi lần một bài học thôi Tiếp tục ví dụ C: trẻ sẽ bị rối khi bạn không những cho trẻ học bài học phải coi tivi trong giới hạn của mẹ, mà còn phải học bài học cãi mẹ sẽ bị phạt Hãy để trẻ được quyền khóc: Trẻ cũng có những cảm xúc riêng của mình, nên khi cảm xúc của trẻ lên cực đỉnh thì đừng bắt trẻ dừng, vì sẽ làm trẻ khó chịu, ức chế
Trang 27Hãy để trẻ được trải nghiệm có kiểm soát khi trẻ đã hiểu được nhân quả Ví dụ: không ăn thì đói, đụng điện thì giựt, đụng lửa thì bỏng
Kiểm soát vấn đề Ví dụ: Khi trẻ cúi thấp người, dí sát mắt khi xem sách, viết, tô:
ta khuyên trẻ không được, đưa ra dẫn chứng bằng khoa học trẻ không nghe, đưa trẻ đi gặp người bị cận để họ kể lý do họ cận, nhưng trẻ vẫn không nghe, khi đó ta cần đánh trẻ Vì cận sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều về lâu dài Nhưng sau khi đánh trẻ ta cần kiếm soát tổn thất Tức là chúng ta cần nói với trẻ là mẹ biết đánh con là sai, nhưng vì buộc phải làm để bảo vệ con về lâu dài, trong câu chuyện này mẹ không có con đường tốt, chỉ có 2 cách giải quyết nhưng đều xấu: đánh con để con không dí sát mắt khi con đọc sách, viết, tô; Hoặc mẹ để con làm theo ý vì mẹ không thể khuyên được con nữa Tất nhiên mẹ phải chọn cách ít xấu hơn đó là đánh con Vậy nên mẹ chính thức xin lỗi con
1.3.4.2 Họa hỏa
Nếu bạn lớn lên trong đòn roi, bạn sẽ khó thoát khỏi tiền thức bạo lực Vậy nên, khi dạy con trên tinh thần giáo dục dân chủ, thì việc sử dụng bạo lực là tuyệt đối không nên
• Các bậc cha mẹ: Các bậc cha mẹ nên hiểu cốt lõi của vấn đề, rằng cha mẹ không nên nghĩ là trẻ đang cãi lại, đang chống đối mình, mà nghĩ như vậy chắc chắn sẽ dùng đòn roi với trẻ Chỉ khi cha hiểu được rằng trẻ không phải là chống lại mà là trẻ 1 bước trưởng thành của trẻ, trưởng thành đương nhiên phải tìm tự do, phải tự lập Nhiệm vụ của các bậc cha mẹ là không phải áp đặt trẻ phải phục tùng mình mà phải khiến trẻ biết hiểu để tự động làm những điều đúng Tuy rất nhiều bậc cha mẹ biết là như vậy nhưng khi chạm đến một vấn đề nào đó, nóng giận lên thì vẫn đánh con Đó là do các bật cha
me không thể kiềm chế, là do tiềm thức bạo lực, là do họ đã lớn lên như thế Vậy phải làm sao để khống chế cơn giận?
• Biện pháp hạ hỏa: Cơn giận của một người có thể tưởng tượng như một đồ thị hình sin Cơn giận bắt đầu và lên đến đỉnh điểm nhưng cũng đi xuống lại điểm bắt đầu rồi lại tiếp tục đi lên Vậy khi đồ thị cơn giận nó đã đi xuống, tại sao nó lại đi lên? Chúng
ta thường nghĩ rằng, khi buồn phải tâm sự thật nhiều thì mới hết buồn, khi bực tức phải làm gì đó cho hả giận thì mới hết giận Nhưng thật ra, cảm xúc nếu không được nuôi dưỡng, không bị tác động tới thì cảm xúc đó sẽ đi qua Chính vì thế khi mà chúng ta bận rộn với những công việc khác, không nghĩ đến lí do làm ta nóng giận thì tự nhiên cảm xúc tiêu cực đó sẽ không còn nữa Vậy, khi đồ thị hình sin đi xuống, tại sao chúng ta lại
để đó lại đi lên Hãy suy nghĩ tích cực, không suy nghĩ đến những lí do khiến ta bực tức,
nó sẽ làm dịu đi cơn nóng giận của chúng ta Và khi cơn nóng giận lên đến đỉnh điểm, việc ta phải làm đó là hạ hoả Hạ hoả bằng cách nào? Hãy hít thở sâu ba hơi; hãy uống
Trang 28một cốc nước, uống thật chậm và nghĩ như đang uống cơn tức giận đi; hãy rời khỏi chỗ
đó, bước ra ngoài và tĩnh tâm; hay tự thưởng cho bản thân gì đó; hay bỏ đi tắm tuỳ thuộc vào mỗi người, tuy nhiên đó là cách đưa cơn giận từ đỉnh điểm đi xuống để chúng
ta không hành động bộc phát, làm tồn thương con trẻ Và khi cơn giận đã đi xuống lưng chừng đồ thị hình sin, hãy suy nghĩ tích cực, đưa cơn giận đó xuống đáy của đồ thị Thật
ra, việc khống chế cơn giận không phải tự nhiên mà có, mà phải cần thời gian luyện tập Luyện tập bằng cách luyện tập tưởng tượng, các cha mẹ hãy suy nghĩ đến một việc nào
đó trong quá khứ của con trẻ khiến mình tức giận, rồi tập cách hạ hoả trong suy nghĩ Luyện tập bằng cách luyện tập diễn tập, hãy hợp tác cùng con trẻ hay người thân trong gia đình để trẻ có thể thấy cha mẹ đang cô gắng tôn trọng trẻ và giúp cha mẹ đạt kết quả tích cực hơn trong công cuộc luyện tập không chế cơn giận của mình
• Đối với trẻ: Không chỉ các bậc cha mẹ, việc nổi nóng cũng xảy ra đối với con trẻ,
ít nhất điều này xảy ra từ 2-4 tuổi Ở độ tuổi này, trẻ thường muốn làm rất nhiều việc, khám phá cả đất trời, thay đổi cả thế giới nhưng đều chịu sự quản lí của người lớn, lại
có thể bị người lớn cản đường, đối với trẻ đây không phải là một vấn đề nhỏ mà nó nghiêm trọng sánh ngang với ngày tận thế, khi đó chẳng cần lí do gì thì trẻ cũng nổi giận, bản chất của những cơn nóng giận này không phải là trẻ dùng để chọc tức cha mẹ hay dùng để đạt được mục đích, bởi trẻ ở độ tuổi này chưa biết đặt mình vào vị trí của người khác Mặc dù vậy, cha mẹ phải đổi mặt và giải quyết những cơn giận của con trẻ, nếu không nó sẽ không còn là khủng hoảng bình thường nữa mà sẽ phát triển thành một hành vi chống đối quyết liệt khác Vậy chúng ta nên làm gì với những cơn giận của trẻ? Bản chất của những cơn nóng giận này không phải là trẻ dùng để chọc tức cha mẹ hay dùng để đạt được mục đích, bởi trẻ ở độ tuổi này chưa biết đặt mình vào vị trí của người khác Nắm được điều này, cha mẹ có thể tự chủ hơn
- Đừng quá để ý việc đó: Khi trẻ nóng giận hay khóc lóc giãy nãy, hãy hiểu rằng việc này cũng sẽ không làm trẻ ốm được cũng như cha mẹ đừng cảm thấy tội lỗi khi không làm trẻ hạ cơn giận được, hãy bình thản ở bên cạnh trẻ, quan sát trẻ, mỉm cười với trẻ, an ủi trẻ bằng những lời nhẹ nhàng
- Không nên để ý quá nhiều vào thái độ bực tức của con
- Đưa ra cách hòa giải
- Luyện tập cho trẻ cách giữ bình tĩnh khi nóng giận
- Lập kế hoạch theo dõi
- Lập kế hoạch khen thưởng
- Áp dụng hình phạt cách ly để giúp trẻ bình tĩnh lại.[10]
Trang 291.3.5 Mục đích của phương pháp kỉ luật không nước mắt
Với mục tiêu tạo ra môi trường phát triển toàn diện cả về thể chất và trí tuệ trẻ em Việt, Diễn giả Trần Thị Ái Liên cải tiến nội dung nhằm đem đến bài giảng chất lượng, mang tính thực tiễn ứng dụng cao nhất
Khơi gợi trong bé ý thức tự giác, làm chủ hoàn cảnh, làm chủ cảm xúc bản thân Chấm dứt tình trạng trẻ quấy khóc, vô kỷ luật, không nghe lời
Giúp bạn vượt qua cảm giác bất lực trước đứa con yêu dấu của mình khi bé không chịu nghe lời, khi bé lặp đi lặp lại những lỗi sai mà bạn đã cố gắng hết sức để sửa cho bé?
Giúp bé ngoan ngoãn cả khi ở trường lẫn ở nhà (nghe lời thầy cô, chào bạn bè, tự giác ăn uống khi thầy cô bảo…)
Phương pháp vui đùa cùng bé đúng cách nhằm giúp kích hoạt tốt nhất mọi giác quan của bé.[8]
1.3.6 Yếu tố chi phối việc vận dụng phương pháp kỉ luật không nước mắt vào hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi
Xử trí theo cảm tính - Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại trong việc giáo dục Trong quá trình các trẻ trưởng thành, chúng có thể gây ra những việc khiến ta điêu đầu như bướng bỉnh không nghe lời, dễ nổi cáu…Không ít các giáo viên vì những vấn
đề khác nhau của trẻ mà nổi giận, thậm chí có lúc không kiềm chế được đã lớn tiếng chửi mắng hay đánh đập con cái
Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh đó không phải là cách dạy con đúng đắn Những đứa trẻ trưởng thành trong môi trường bị đánh chửi thường xuyên dễ bị tự kỉ, sợ hãi hoặc thù hận cha mẹ Nguyên nhân do giáo dục đòn roi không truyền tải được tình yêu thương của cha mẹ dành cho con cái mà chỉ mang đến sự vô tình và lạnh nhạt, dẫn đến việc trẻ không cảm thấy vui vẻ mà chỉ thấy sợ hãi uất ức hay thù hận
Có rất nhiều giáo viên hay cha mẹ không hiểu nổi vì sao cách giáo dục của mình thất bại Thực ra xử trí theo cảm tính chính là nguyên nhân chủ yếu của sự thất bại Trong quá trình dạy dỗ con không ít các giáo viên vì khó cảm xúc của mình nên nỗ lực nuôi dạy con không nhận được kết quả xứng đáng Các bé căn bản cũng không cảm nhận được tình yêu thương của người lớn, không thể hiểu được vì sao người lớn lại đánh chửi mình như vậy.[8, tr7,8]
1.4 Vấn đề lí luận về hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 3-4 tuổi
Sự phát triển nhận thức: Ở tuổi mẫu giáo bé , phân tích quan của cảm giác vận động chưa hoàn thiện, vì vậy trẻ dễ dàng thực hiện những thao tác vận động đơn giản
Trang 30như đơn giản như đi, chạy nhảy, còn gặp nhiều khó khăn khi thực hiện những vận động tinh khéo của đôi tay đặc biệt là các ngón tay
+ Khả năng lĩnh hội các chuẩn nhận cảm tăng dần, bé chỉ nhận được 5 màu cơ bản (đỏ, vàng, xanh, đen, trắng) và 3 hình ( tròn, tam giác, vuông) Trẻ 3-4 tuổi chủ yếu tri giác không chủ định, trẻ thích quan sát sự vật hiện tượng có màu sắc hấp dẫn, mới lạ, sinh động, chưa biết tự đặt ra cho mình nhiệm vụ, kế hoạch quan sát, trẻ thường bắt tay ngay vào hành động mà không có sự định hướng trước khi hành động
+ Trẻ 3-4 tuổi nhận ra được những quan hệ không gian đơn giản như trên, dưới, trước sau, dài hơn, ngắn hơn Nhưng với quan hệ không gian phức tạp như quan hệ phải, trái, trẻ thường lấy bản thân mình làm gốc để xác định Điều này thể hiện rõ nhất khi trẻ xác định tay phải hoặc tay trái của người ngồi đối diện với mình Đây là cơ sở của biện pháp soi gương khi cô dạy các bài thể dục cho trẻ
+ Tri giác thời gian của trẻ còn gặp nhiều khó khăn vì thời gian là một phạm trù
vô hình Tri giác tranh vẽ của trẻ chưa mang tính ý nghĩa, trẻ nhìn tranh như nhìn sự vật hiện tượng ở bên ngoài Ví dụ, cho trẻ quan sát tranh vẽ một người quay mặt ra phía sau
Ta hỏi trẻ “ Mặt người ấy ở đâu” hầu hết trẻ có hành động lật ngược bức tranh để tìm mặt của họ Hoặc khi xem tranh con Sói và con Dê, có cháu lấy tay chặn giữa bức tranh
để con Sói không bắt được con Dê Sự phát triển tri giác âm thanh phụ thuộc trực tiếp vào môi trường giao tiếp và việc tổ chức các hoạt động của cô giáo, đặc biệt là hoạt động giáo dục âm nhạc
Sự phát triển nhận thức lý tính của trẻ:
Sự phát triển tư duy: Trẻ 3-4 tuổi tư duy đang chuyển từ trực quan hành động sang trực quan hình ảnh Do có sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo từ hoạt động với đồ vật sang hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề Chính yếu tố này đã tạo ra bước ngoặt trong tư duy của trẻ Ở tuổi ấu nhi, trẻ hành động với cái chai và cái
ly rồi mới nhận ra được mối quan hệ giữa những vật này
(Cái chai đựng được nhiều nước hơn cái ly, đựng nước vào chai rồi mới đổ ra ly uống) Như vậy tư duy diễn ra ở bình diện bên ngoài – Tư duy trực quan hành động Bước sang tuổi mẫu giáo, trẻ thường chơi những trò chơi làm mẹ, làm cô giáo, làm người nội trợ, người bán hàng Tình huống của những trò chơi xuất hiện và việc giải quyết tình huống này đã làm nảy sinh loại tư duy mới là tư duy trực quan hình ảnh Chẳng hạn, trẻ chơi trò chơi “bán hàng", bán cái gì? Chính tình huống của trò chơi làm nảy sinh ý định trong đầu trẻ là bán nước giải khát và cách hành động khi giả vờ là người bán nước giải khát như thế nào? Ý tưởng này hình thành trên cơ sở vốn kinh nghiệm
Trang 31chúng, hình ảnh người bán hàng giải khát mà trẻ đã quan sát được Như vậy trước khi
có hành động chơi bán hàng, trẻ đã có sự suy nghĩ về mối quan hệ giữa các sự vật, về con người, về hành động chơi của mình dưới dạng hình ảnh Sự suy nghĩ diễn ra ở bình diện trong đầu bằng hình ảnh, biểu tượng Đó là tư duy trực quan hình ảnh Ở giai đoạn đầu của sự chuyển tiếp, trong khi chơi trẻ giải quyết tình huống chủ yếu vẫn bằng hành động trực quan cảm tính Tư duy trực quan hình ảnh chưa nhiều, nhưng loại tư duy này
có xu thế phát triển mạnh và chiếm ưu thế
+ Tư duy của trẻ mang tính chủ quan và gắn liền với cảm xúc Trẻ thường gán cho đối tượng những gì mà trẻ nghĩ về nó, sự suy nghĩ của trẻ luôn bị chi phối bởi cảm xúc Chẳng hạn, trẻ tin rằng con gấu bông có thể biến thành gấu thật, hoặc hầu hết trẻ mẫu giáo đánh giá mẹ mình là người đẹp nhất , tốt nhất và các cháu chưa có khả năng nhận
ra sự mâu thuẫn trong lời nói của mình Do tư duy gắn liền với cảm xúc nên trẻ dễ tin ,
dễ bị người lớn ám thị, vì vậy trong quá trình giáo dục trẻ không nên giải thích dài dòng, cần dùng tình cảm để thay đổi hành vi
+ Các thao tác tư duy của trẻ phát triển mạnh nhưng vẫn gắn liền với trực quan cảm tính, khả năng phán đoán, suy luận về đối tượng thường mang tính khẳng định một chiều dựa trên vốn kinh nghiệm cảm tính Trẻ chưa biết suy luận theo nhiều chiều, nhiều hướng khác nhau để khẳng định hay phủ định về đối tượng
+ Sự phát triển tưởng tượng của trẻ: tưởng tượng phát triển phong phú hơn so với tuổi ấu nhi, song nhìn chung còn nhiều hạn chế, mang tính tái tạo thụ động là chủ yếu thể hiện : Chủ đề và nội dung vui chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ còn nghèo nàn Tranh vẽ của trẻ chưa hợp lý, đặc biệt là khi vẽ người trẻ thường vẽ chân tay mọc ngay
+ Hành vi của trẻ ít chịu chi phối bởi ý chí mà chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi cảm xúc Trong nhiều trường hợp, hành vi của trẻ chưa phù hợp với chuẩn mực xã hội hoặc điều kiện khách quan, nhưng trẻ chưa biết được đó là hành vi sai lầm của mình
Trang 32Trẻ 3-4 tuổi nhận thức rõ về vẻ bề ngoài của mình, có biểu tượng về mình trong đầu, tên mình, con ai và biết rõ được giới tính của mình Khả năng đánh giá về bản thân mình và sự điều khiển điều chỉnh hành vi của trẻ mang tính chủ quan và dựa trên sự đánh giá của người khác về mình Chính vì vậy trong giáo dục, cô giáo và người lớn không chỉ nhận xét khách quan về trẻ mà còn tạo điều kiện, hướng dẫn trẻ tự nhận xét hành vi hành động của mình, điều đó giúp trẻ nhận ra mình một cách nhanh chóng
Sự phát triển động cơ hành vi: Trẻ 3-4 tuổi động cơ tiếp tục phát triển mạnh, xuất hiện nhiều loại động cơ mới như động cơ thích được làm người lớn, động cơ vui chơi, động cơ thi đua, hành vi của trẻ vẫn chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi những tác động bên ngoài Ví dụ cô giáo đặt câu hỏi và nhấn mạnh” Cháu nào biết giơ tay lên”, hầu như cả lớp đều giơ tay nhưng khi cô mời phát biểu , khi đứng lên chẳng nói gì
Sự phát triển đời sống tình cảm của trẻ: Trẻ rất giàu cảm xúc, dễ xúc cảm và xúc cảm mạnh, biểu hiện trẻ sống rất hồn nhiên, vui tươi tràn trề cảm xúc, không biết buồn lâu, mọi vật đối với trẻ đều có hồn như những con người, các chức năng nhận thức của trẻ mang đậm màu sắc xúc cảm Đời sống tình cảm của trẻ phần nhiều vẫn do vô thức điều khiển Khả năng làm chủ cảm xúc của mình chưa cao, trẻ thể hiện trạng thái cảm xúc của mình một cách chân thực qua hành vi cử chỉ điệu bộ Ví dụ, thương cô Tấm nên khi xem tranh trẻ lấy bút tổ hồng má cô Tấm, ghét cô Cám nên gạch đen vào mặt cô Cám, cấu cho rách mắt mụ Dì Ghẻ
Các trạng thái cảm xúc của trẻ dễ thay đổi một cách đột ngột, đang vui có thể buồn ngay được Với người lớn “ Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay ", xúc cảm chuyển đổi từ từ và mang tính tương đối, nhưng với trẻ là sống với hiện tại, vui là chỉ có vui, buồn là chỉ có buồn Các loại xúc cảm, tình cảm cao cấp như tình cảm thẩm mỹ, tình cảm trí tuệ và tình cảm đạo đức phát triển mạnh Trẻ rất yêu thích cái đẹp, hay tò mò tìm hiểu, ngạc nhiên trước những điều bất ngờ Trẻ mong muốn mọi người quan tâm yêu thương mình
và cũng biết quan tâm, thương yêu, đồng cảm với người khác nhất là những người thân trong gia đình Tuy nhiên đời sống tình cảm của trẻ được phát triển phong phú chỉ trong điều kiện trẻ được sống trong một gia đình đầm ấm, mọi người quan tâm yêu thương, giáo dục trẻ đúng cách
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo: Ở trẻ 3-4 tuổi, do tư duy từ ngữ chưa phát triển, khả năng ghi nhớ còn mang tính không chủ định là chủ yếu cho nên ngôn ngữ của trẻ vẫn mang tính hoàn cảnh Trẻ dễ dàng hiểu và diễn đạt đầy đủ những sự kiện và đối tượng mà trẻ đang tri giác hoặc đang hành động, còn những đối tượng hay sự kiện đã trải qua, trẻ khó diễn đạt một cách đầy đủ, rõ ràng [6, tr134-140]
Trang 331.4.2 Mục tiêu hoạt động chăm sóc trẻ mầm non
Trẻ khỏe mạnh, cơ thể phát triển cân đối, hài hòa, trạng thái tinh thần thoải mái, sức đề kháng tốt, thích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường sống Xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của trẻ, an toàn tuyệt đối về mặt sức khỏe, thể chất và tinh thần Chế
độ sinh hoạt khoa học và ổn định, chế độ dinh dưỡng hợp lý, thay đổi theo mùa Phòng ngừa và ứng phó hiệu quả các nguy cơ nhiễm bệnh cho trẻ nhỏ, kết hợp hài hòa giữa chăm sóc, nuôi dưỡng, và giáo dục Đảm bảo thực hiện được các mục tiêu giáo dục cho từng độ tuổi quy định trong chương trình giáo dục mầm non và phù hợp với sự phát triển của trẻ Xuất phát từ trẻ, việc thực hiện tích hợp các nội dung giáo dục phải giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm- xã hội và thẫm mỹ Quan sát và theo dõi trẻ hiệu quả, nhận định khách quan về sự phát triển của trẻ, kịp thời điều chỉnh các hoạt động giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục trẻ một cách thường xuyên [12]
1.4.3 Nội dung hoạt động chăm sóc
Nội dung chăm sóc trẻ mầm non phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh
lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối khoẻ mạnh, nhanh nhẹn (Điều 22 - Luật giáo dục, 2005)
Hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ bao gồm: chăm sóc dinh dưỡng; chăm sóc giấc ngủ: chăm sóc vệ sinh; chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo an toàn (Điều 24 - số 05/2014/TT-BGD)
Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ được tiến hành thông qua các hoạt động theo quy định của chương trình giáo dục mầm non
Hoạt động CSND trẻ MN là quá trình tác động lên cơ thệ trẻ trong độ tuổi từ 3 tháng đến 6 tuổi một cách khoa học hợp lý, phù hợp với sự phát triển tâm sinh sinh lí của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn Trẻ có khả năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ
em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học [12]
Những yêu cầu cơ bản về chất lượng chăm sóc trẻ
Chăm sóc, nuôi dưỡng
- Trẻ khỏe mạnh, cơ thể phát triển cân đối, hài hòa, trạng thái tinh thần thoải mái, sức đề kháng tốt, thích ứng nhanh với sự thay đổi của MT sống
- Xuất phát từ nhu cầu và vì lợi ích của trẻ
- An toàn tuyệt đối về mặt sức khỏe, thể chất và tinh thần
Trang 34- Chế độ sinh hoạt khoa học và ổn định, Chế độ dinh dưỡng hợp lý, thay đổi theo mùa
- Phòng ngừa và ứng phó hiệu quả các nguy cơ nhiễm bệnh cho trẻ nhỏ
- Kết hợp hài hòa giữa chăm sóc, nuôi dưỡng và GD
- Đảm bảo thực hiện được các mục tiêu GD cho từng độ tuổi quy định trong CT GDMN và phù hợp với sự phát triển của trẻ, nhóm trẻ
- Xuất phát từ trẻ ”, việc thực hiện tích hợp các nội dung GD phải giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội và thẩm mỹ
- Các hoạt động, phương pháp và hình thức GD phải phù hợp với đặc trưng trong phát triển của trẻ dưới 36 tháng và đặc điểm cá nhân của trẻ , nhóm trẻ
- Quan sát và theo dõi trẻ hiệu quả, nhận định khách quan về sự phát triển của trẻ, kịp thời điều chỉnh các tác động GD để nâng cao chất lượng GD trẻ một cách thường xuyên
Thực hiện chế độ sinh hoạt :
Chế độ sinh hoạt của trẻ được xây dựng trên cơ sở đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở từng độ tuổi và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của trường Nghiêm túc thực hiện chế độ sinh hoạt và thỏa mãn một cách hợp lý các nhu cầu ăn, ngủ, nghỉ ngơi, vui chơi, học tập giúp trẻ phát triển hài hòa, cân đối về thể chất và tinh thần, hình thành ở trẻ nề nếp, thói quen tốt trong mọi hoạt động
Công tác nuôi dưỡng:
Nội dung của GDMN phải đảm bảo hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc, GD, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ, giúp trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh nhanh nhẹn ”
Nuôi dưỡng trẻ là một trong những công việc chính của trường MN, cùng với sự phát triển của ngành học, việc nuôi dưỡng trẻ trong trường MN ngày càng mang tính khoa học và đảm bảo, theo đúng qui trình, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, cải tiến chế biến các món ăn phù hợp với khẩu vị và độ tuổi của trẻ, theo dõi tình hình sức khỏe của trẻ để điều chỉnh chế độ ăn uống và tổ chức tốt bữa ăn cho trẻ:
+ Đảm bảo năng lượng khẩu phần ăn, tỉ lệ cân đối giữa các chất dinh dưỡng, sự đa dạng các loại thực phẩm
+ Đa dạng hóa việc chế biến các món ăn phù hợp với độ tuổi của trẻ và theo mùa + Hợp lý, rõ ràng trong thu chi tiền ăn, cập nhật và điều chỉnh kịp thời
+ Đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm
+ Có đủ các điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ nuôi dưỡng trẻ
Trang 35+ Tỉ lệ chuyên cần của trẻ em cao, giảm tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng, béo phì và trẻ mắc bệnh
Chuẩn bị cho trẻ vào học trường phổ thông, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu GDMN, công việc muốn thực hiện được tốt cần nhiều yếu tố điều kiện Trong đó quyết định nhất vẫn là sự quản lý chặt chẽ bằng những biện pháp hữu hiệu của và BGH trường MN
Chăm sóc sức khỏe và bảo vệ an toàn cho trẻ:
Kiểm tra thường xuyên sức khỏe định kì và tiêm chủng 100% số trẻ trong trường, cân đo và theo dõi sức khỏe cho trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng hàng tháng, hàng quí Thực hiện chế độ vệ sinh chăm sóc trẻ, công tác phòng bệnh theo mùa, tuyên truyền hướng dẫn kiến thức chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho trẻ, cho các bậc phụ huynh để giảm
tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng, tỉ lệ trẻ mắc các bệnh thông thường ở mầm non; quy chế bảo vệ
an toàn cho trẻ, nâng cao nhận thức và tinh thần trách nhiệm của GV trong quá trình CS,
GD trẻ ở mọi lúc, mọi nơi Đặc biệt thành lập Ban chăm sóc sức khỏe trẻ, chỉ đạo thực hiện đầy đủ các kế hoạch về Y tế học đường, kế hoạch đảm bảo trường học an toàn phòng tránh tai nạn thương tích
GD về vệ sinh ăn uống, dinh dưỡng cho trẻ theo định hướng của chương trình GDMN ở từng độ tuổi phù hợp Trẻ được học để biết tự phục vụ bản thân Tự bảo vệ mình khi ăn uống và thực hiện tốt chế độ sinh hoạt một ngày ở trường, có nề nếp tốt trong mọi hoạt động
Tuyên truyền phổ biến về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và GD tới các bậc phụ huynh học sinh, và cùng hợp tác phối hợp thực hiện tốt chăm sóc sức khỏe của trẻ MN Nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là việc làm để tăng cường sức khỏe cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển tốt về thể lực và trí tuệ sau này
Yêu cầu của hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non:
Trang 36* Nghiêm túc thực hiện Thông tư liên tịch số 22/2013/TTLT - BGDĐT - BYT ngày 18/6/2016 liên Bộ: Bộ GD & ĐT và Bộ Y tế về Quy định đánh giá công tác y tế tại các cơ sở GDMN
* Cán bộ y tế phối hợp cùng y tế địa phương thực hiện công tác tiêm chủng mở rộng và theo dõi tiêm chủng, công tác phòng chống dịch bệnh tại cơ sở giáo dục mầm non theo qui định Quản lý hồ sơ sức khỏe trẻ tại phòng y tế
+ Cán bộ y tế phối hợp chặt chẽ với tổ bếp , giáo viên trên lớp thực hiện các biện pháp can thiệp với trẻ suy dinh dưỡng thể nhe cân, thấp còi, béo phì và trẻ khuyết tật học hòa nhân
+ Giáo viên trên lớp thực hiện nghiêm túc chế độ chăm sóc sức khỏe và vệ sinh cho trẻ theo chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ Duy trì thực hiện lịch vệ sinh hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng
+ Tổ chức giấc ngủ cho trẻ cần có đủ trang thiết bị theo quy định, phù hợp theo mùa và đảm bảo vệ sinh Không cho trẻ nằm ngủ trên chiếu trải trực tiếp trên nền nhà, đặc biệt giáo viên cần trực, theo dõi và đảm bảo an toàn cho trẻ trong giờ ngủ
- Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
+ Thực hiện nghiêm túc việc ký kết hợp đồng với đơn vị cung ứng thực phẩm an toàn, người có giấy phép kinh doanh theo quy định, hàng năm ký hợp đồng thực phẩm vào đầu năm học Trong hợp đồng của đơn vị cung ứng cần ghi rõ nguồn gốc từng loại thực phẩm, tên chủ hàng, số chứng minh thư, địa chỉ, điện thoại
+ Thường xuyên kiểm tra chất lượng, nguồn gốc, đơn giá thực phẩm
- Đảm bảo chất lượng bữa ăn
+ Đảm bảo mức ăn 25.000đ/trẻ/ngày
+ Thực đơn riêng của từng lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo Thường xuyên cải tiến các món ăn và phối hợp các món ăn trong ngày hợp lý, tăng cường rau xanh cho trẻ trong các bữa ăn chiều, không lạm dụng sử dụng thực phẩm chế biến sẵn trong bữa ăn của trẻ + Tỷ lệ dinh dưỡng duy trì ở mức: P: 14 - 16 % ; L: 24 - 26 % ; G: 60 - 62 % ( đối với trẻ nhà trẻ, lượng L có thể từ 26 - 30 % ); ( Nhu cầu Ca đối với trẻ 1 - 3tuổi: 350mg / ngày / trẻ; MG 4 - 6 tuổi: 420mg / ngày / trẻ; Nhu cầu B1 đối với trẻ 1 - 3 tuổi: 0 41
mg / ngày / trẻ; MG 4 - 6 tuổi: 0.52mg / ngày / trẻ )
+ Đảm bảo nước uống cho trẻ đủ, nước tinh khiết cần thử mẫu nước định kỳ Dùng cây nước nóng phải đảm bảo nhiệt độ nước an toàn và hướng dẫn trẻ sử dụng
- Giao nhận thực phẩm hàng ngày :
+ Người giao hàng: Kí bàn giao số lượng thực phẩm giao cho trường
Trang 37+ Người trực tiếp nấu bếp: Nhận thực phẩm, ghi đúng số lượng, chất lượng thực phẩm thực tế, thời gian và ký xác nhận vào số giao nhận thực phẩm Số giao nhận thực phẩm do tô bếp quản lý
+ Quản lý kho : Hàng ngày xuất thực phẩm từ kho phải có phiếu xuất kho Nhập lương thực , thực phẩm dự trữ trong kho phải phù hợp với thời gian bảo quản cho phép
để tránh thực phẩm để lâu không đảm bảo chất lượng
+ Thủ kho chịu trách nhiệm quản lý thực phẩm trong kho , phải có sổ theo dõi xuất , nhập kho , phiếu xuất kho hàng ngày , ghi rõ tên , loại thực phẩm , giá thực phẩm , tồn kho , cuối tháng kiểm kê hàng kho Thủ kho chỉ được xuất kho khi có phiếu xuất có kí duyệt của Ban Club hiệu , kế toán
+ Giáo viên mầm non : Ban giám hiệu phân công luân phiên , hàng ngày kiểm tra , giá sát việc giao nhận thực phẩm và định lượng khẩu phần ăn của trẻ , ký xác nhận tại
số 8 nhận thực phẩm
Thanh tra : Tham gia kiểm tra đột xuất ) việc giao nhận thực phẩm và khẩu phần
ăn cho trẻ , ký xác nhận kết quả kiểm tra
+ Ban giám hiệu : Phân công ca trực để cùng nhận thực phẩm và ký xác nhận + Kế toán : giao nhận thực phẩm hàng ngày và ký xác nhận
- Chế biến thực phẩm và chia ăn : Chế biến đúng thực đơn , đúng kỹ thuật , đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm , đủ định lượng theo xuất ăn hàng ngày của trẻ Không
để thừa , thiếu quá 5 xuất ăn / ngày ( cộng dồn không quá 5 xuất ăn / tuần / tháng ) Định lượng thức ăn chín của từng lớp cần thể hiện rõ tại bảng , trong sổ giao nhận với lớp và có chữ ký của giáo viên
- Lưu nghiệm thức ăn : Đủ 24h , được bảo quản trong tủ lạnh Có sổ lưu nghiệm ghi ngày , giờ lưu nghiệm , chữ ký của người lưu nghiệm
- Thực hiện nguyên tắc quản lý nuôi dưỡng
+ Thực hiện đúng qui định về hồ sơ , qui trình , nguyên tắc quản lý nuôi dưỡng Nghiêm cấm vi phạm khẩu phần ăn của trẻ dưới mọi hình thức Thực hiện nghiêm túc việc công khai thực đơn , thực phẩm , đơn giá hàng ngày
+ Mở đủ theo mẫu các loại sổ sách nuôi dưỡng theo quy định , mỗi ngày in riêng
1 trang , có chữ ký các thành phần đầy đủ và cuối tháng đóng thành quyền, có đủ dấu giáp lai
+ Hoàn thiện chứng từ tiền ăn của trẻ hàng ngày , thanh quyết toán tiền ăn của trẻ
có thể theo tuần hoặc theo tháng Cuối tháng quyết toán tiền ăn trong tháng
Trang 38- Lập kế hoạch chăm sóc trẻ trong hoạt động chủ nhiệm hằng ngày , tích hợp nội dung giáo dục sức khỏe cho trẻ trong các hoạt động và tổ chức thực hiện kế hoạch chăm sóc , nuôi dưỡng trẻ
- Phối hợp với phụ huynh và các tổ chức xã hội trong thực hiện công tác chăm sóc trẻ ở trường mầm non
- Nhận biết và xử lí các tình huống thường gặp trong hoạt động chăm sóc trẻ Quản lý hoạt động chăm sóc , nuôi dưỡng trẻ mầm non
Xây dựng kế hoạch chăm sóc , nuôi dưỡng trẻ
Đây là giai đoạn đầu tiên và quan trọng nhất trong chu trình QL , đưa mọi hoạt động GD vào công tác kế hoạch có mục tiêu cụ thể , biện pháp rõ ràng , xác định các điều kiện , nguồn lực để thực hiện mục tiêu trong thời gian nhất định của hệ thống QL Lập kế hoạch được xem như phương pháp chuẩn bị trước để thực hiện một công việc Bản kế hoạch này cho thấy công việc phải làm gì và làm như thế nào, thời gian và
ai là người thực hiện , kết quả dự kiến đạt được là gì Phát triển nhà trường theo đúng mục tiêu là nhiệm vụ của người trong quá trình lập kế hoạch CBQL có nhiệm vụ phải xác lập được mục tiêu chung phát triển của nhà trường trên cơ sở định hướng đến việc phát triển toàn diện cho trẻ, nhằm hình thành cơ sở ban đầu của nhân cách, thích ứng yêu cầu của xã hội trong thời kỳ mới Như vậy nhiệm vụ của người QL trước hết phải đảm bảo chất lượng CSGD trẻ theo mục tiêu đào tạo
Nâng cao chất lượng CS - GD trẻ phải là nhiệm vụ trọng tâm của người QL Nhiệm
vụ của người QL phải đảm bảo và duy trì số lượng trẻ đến trường, phải có kế hoạch thu nhận trẻ hằng năm dựa trên cơ sở khả năng thực tế của nhà trường và nhu cầu gửi trẻ của các phụ huynh Mỗi quyết định của QL phải dựa trên kế hoạch và mục tiêu toàn diện của nhà trường, hay có thể nói kế hoạch là cơ sở cho mọi quyết định của Kế hoạch là công cụ theo suốt quá trình quản lý của QL từ khi phát triển nhiệm vụ đến khi tổng kết đánh giá thực hiện công tác Để thực hiện kế hoạch nhà trường, người phải thường xuyên trao đổi về mục tiêu, chương trình, kế hoạch, tiến trình của kế hoạch, xin ý kiến phê duyệt của cấp trên, tập thể sư phạm, phụ huynh học sinh Người QL không đơn độc ra quyết định, vì một trong số các kỹ năng quản lý của là kỹ năng thu thập thông tin và lắng nghe ý kiến của người khác Sắp xếp con người một cách khoa học hợp lý để mọi người cùng làm việc hào hứng, tận tâm với công việc và cảm thấy mình được đóng góp nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đang xây dựng; duy trì cơ cấu nhất định về vai trò, nhiệm vụ, vị trí công tác.[12]
Trang 391.4.4 Yêu cầu của hoạt động chăm sóc trẻ
+ Đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ, không làm ô nhiễm môi trường học tập của trẻ
+ Thực hiện nghiêm túc Quy chế nuôi dạy trẻ; duy trì nhật ký đón trả trẻ, có lịch phân công giáo viên quản lý trẻ mọi lúc, mọi nơi, đặc biệt là quản lý trẻ trong các hoạt động đón, trả trẻ, chăm sóc bán trú, hoạt động ngoài lớp học và trẻ mới đi học Không nhận trẻ ốm, trẻ không có trong danh sách lớp vào học Đảm bảo an toàn cho trẻ cả về thể chất và tinh thần
+ Nghiêm túc thực hiện Thông tư liên tịch số 22/2013/TTLT-BGDĐT- BYT ngày 18/6/2013 liên Bộ: Bộ GD& ĐT và Bộ Y tế về Quy định đánh giá công tác y tế tại các
cơ sở GDMN
+ Cán bộ y tế phối hợp cùng y tế địa phương thực hiện công tác tiêm chủng mở rộng và theo dõi tiêm chủng, công tác phòng chống dịch bệnh tại cơ sở giáo dục mầm non theo qui định Quản lý hồ sơ sức khỏe trẻ tại phòng y tế
+ Cán bộ y tế phối hợp chặt chẽ với tổ bếp, giáo viên trên lớp thực hiện các biện pháp can thiệp với trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thấp còi, béo phì và trẻ khuyết tật học hòa nhập
+ Giáo viên trên lớp thực hiện nghiêm túc chế độ chăm sóc sức khỏe và vệ sinh cho trẻ theo chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ Duy trì thực hiện lịch vệ sinh hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng
+ Tổ chức giấc ngủ cho trẻ cần có đủ trang thiết bị theo quy định, phù hợp theo mùa và đảm bảo vệ sinh Không cho trẻ nằm ngủ trên chiếu trải trực tiếp trên nền nhà, đặc biệt giáo viên cần trực, theo dõi và đảm bảo an toàn cho trẻ trong giờ ngủ.[10]
1.5 Ưu thế của phương pháp kỉ luật không nước mắt đối với hoạt động chăm sóc trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non
- Khi giáo viên đã rèn được thói quen tôn trọng trẻ, họ sẽ sớm nhận ra trẻ trẻ đã trở
nên hiểu chuyện và lễ phép hơn rất nhiều, trẻ sẽ cảm nhận được tình yêu thương của giáo viên dành cho trẻ và khiến trẻ tiến bộ và trưởng thành.[8, tr 13]
- Việc nói nhỏ nhẹ giúp trẻ hình thành tính ôn hòa, khiến trẻ cảm thấy mình được tôn trọng, không bị mất mặt, đồng thời cũng khiến trẻ vui vẻ tiếp nhận lời dạy dỗ, trẻ thật sự cảm thấy được nuôi dạy trong môi trường đầm ấm.[8, tr 37]
- Môi trường giáo dục lành mạnh luôn cần tiếng cười, nụ cười là sợi dây gắn kết tình cảm, trẻ được sống trong môi trường tràn ngập tiếng cười sẽ luôn vui vẻ và có thêm năng lượng để phấn đấu hơn trong cuộc sống [8, tr 57]
Trang 40- Nếu trẻ cảm thấy giáo viên là người biết phân biệt đúng sai, chúng sẽ học cách giảng giải đạo lí, tính cách cũng sẽ thật thà chân thành hơn [8, tr 182]
- Khi trẻ được quyền lựa chọn, trẻ sẽ tự gánh vác những việc của bản thân, đồng thời rèn luyện ý chí đối đầu với thử thách, khiến bản thân điềm tĩnh vững vàng hơn [8,tr289]