1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tương quan về nội dung giữa chương trình giáo dục công dân bậc trung học cơ sở hiện hành với chương trình mới

74 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở phân tích nội dung giữa hai chương trình Giáo dục công dân bậc Trung học cơ sở hiện hành và chương trình mới; đề tài

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Đinh Thị Phượng và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học trong Khóa luận

Đà Nẵng, tháng 01 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Minh Huyền

Trang 3

Đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót và hạn chế Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và những người có kinh nghiệm

Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 01 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Minh Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục đề tài 3

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

B NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ HIỆN HÀNH VÀ CHƯƠNG TRÌNH MỚI NĂM 2018 6

1.1 Chương trình môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở hiện hành 6

1.1.1 Mục tiêu của chương trình 6

1.1.2 Kết cấu nội dung và phân phối chương trình 8

1.1.3 Một số nhận xét về chương trình Giáo dục công dân hiện hành 13

1.2 Chương trình môn Giáo dục công dân mới năm 2018 ở Trung học cơ sở 14

1.2.1 Quan điểm xây dựng và mục tiêu của chương trình 14

1.2.2 Nội dung và kết cấu của chương trình 20

1.2.3 Một số nhận xét về chương trình Giáo dục công dân năm 2018 22

Tiểu kết chương 1 24

CHƯƠNG 2: TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT VỀ NỘI DUNG GIỮA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ HIỆN HÀNH VÀ CHƯƠNG TRÌNH MỚI NĂM 2018 25

2.1 Tương đồng về nội dung giữa hai chương trình Giáo dục công dân 25

2.1.1 Tương đồng trong nội dung giáo dục đạo đức 25

2.1.2 Tương đồng trong nội dung giáo dục pháp luật 42

2 2 Khác biệt trong nội dung giữa hai chương trình Giáo dục công dân 50

2.2.1 Khác biệt trong nội dung giáo dục đạo đức 50

2.2.2 Khác biệt về nội dung giáo dục kĩ năng sống 52

Trang 5

2.2.3 Khác biệt trong nội dung giáo dục kinh tế 56

2.3 Ý nghĩa và khuyến nghị trong thực hiện hai chương trình Giáo dục công dân 59

2.3.1 Ý nghĩa 59

2.3.2 Khuyến nghị 60

Tiểu kết chương 2 62

C KẾT LUẬN 63

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tương đồng về nội dung giáo dục đạo đức

Bảng 2.2 Tương đồng về nội dung giáo dục pháp luật

Bảng 2.3 Yêu cầu cần đạt trong các chủ đề giáo dục đạo đức Bảng 2.4 Yêu cầu cần đạt trong các chủ đề giáo dục kĩ năng sống Bảng 2.5 Yêu cầu cần đạt trong các chủ đề giáo dục kinh tế

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình Thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nhiều quốc gia đã đầu tư cho giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Ở Việt Nam, thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ XI; Nghị quyết Hội nghị trung ương VIII khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo; Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020; Nghị quyết

số 44/NQ-CP về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết số 29 –NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, trong những năm gần đây, giáo dục nước ta đã và đang có những bước chuyển mình quan trọng từ giáo dục chú trọng nội dung sang giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực Trong quá trình chuyển mình này, nội dung giáo dục thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và xã hội, giáo dục gì để có thể phát triển được toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; giáo dục gì để khắc phục được tồn tại của nền giáo dục hiện hành quá nặng về kiến thức? Tất cả những câu hỏi này được trả lời trong nội dung giáo dục của chương trình tổng thể và chương trình môn học được thông qua vào cuối năm 2018

Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018, môn Giáo dục công dân (ở Tiểu học gọi là môn Đạo đức; ở cấp Trung học cơ sở gọi là môn Giáo dục công dân; ở cấp Trung học phổ thông gọi là môn Giáo dục kinh tế và pháp luật) giữ vai trò

chủ đạo trong việc giúp học sinh hình thành, phát triển ý thức và hành vi của người

công dân Thông qua các bài học về lối sống, đạo đức, pháp luật và kinh tế, môn Giáo dục công dân góp phần bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi của người công dân, đặc biệt là tình cảm, niềm tin, nhận thức, cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật, có kĩ năng sống và bản lĩnh để học tập, làm việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế Môn Giáo dục công dân đang thực hiện quá

Trang 8

trình chuyển mạnh từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ học sinh làm được những gì qua việc học

Dù là chú trọng nội dung hay hướng về phát triển phẩm chất, năng lực thì cũng không thể phủ nhận được nội dung là thành tố quan trọng trong quá trình giáo dục Chương trình giáo dục công dân ở Trung học cơ sở hiện hành mặc dù còn nhiều tồn tại nhưng đó là một chương trình giáo dục tốt, đảm bảo cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản trong giáo dục đạo đức, kĩ năng sống và pháp luật; giúp học sinh có được những hiểu biết đầy đủ hơn so với bậc Tiểu học, làm nền tảng tiếp tục tiếp thu những kiến thức sâu rộng hơn ở bậc Trung học phổ thông Những yếu tố tiến bộ, tích cực về mặt nội dung của chương trình hiện hành được chương trình Giáo dục công dân mới năm 2018 kế thừa, tiếp tục biến thành những nội dung giảng dạy ở các lớp cho phù hợp với tâm sinh lý của người học và đáp ứng xu hướng xã hội Rất cần thiết trong việc đi sâu nghiên cứu lát cắt nội dung của hai chương trình, từ đó tìm ra những thuận lợi, khó khăn và các bài học khác trong quá trình thực hiện chương trình

Với những lý do trên, trong quá trình tìm hiểu, tôi đã quyết định chọn đề tài

“Tương quan về nội dung giữa chương trình Giáo dục công dân bậc Trung học cơ sở hiện hành với chương trình mới” làm hướng nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích nội dung giữa hai chương trình Giáo dục công dân bậc Trung học cơ sở hiện hành và chương trình mới; đề tài đã chỉ ra những tương đồng và khác biệt trong nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục kinh tế, giáo dục pháp luật; từ đó rút ra ý nghĩa và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng dạy

và học môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài có những nhiệm vụ sau nghiên cứu cụ thể như sau:

- Thứ nhất, phân tích khái quát về mục tiêu, kết cấu, phân phối của chương trình Giáo dục công dân bậc Trung học cơ sở hiện hành và chương trình mới;

Trang 9

- Thứ hai, phân tích những tương đồng và khác biệt về nội dung giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, kinh tế và pháp luật trong hai chương trình

- Thứ ba, rút ra ý nghĩa và đề xuất những khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Giáo dục công dân;

3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài có đối tượng nghiên cứu là nội dung của chương trình môn Giáo dục công dân bậc Trung học cơ sở hiện hành và chương trình mới

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài có phạm vi nghiên cứu là nội dung chương trình môn Giáo dục công dân bậc Trung học cơ sở hiện hành và chương trình mới năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp liệt kê, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp xử lí thông tin, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp khái quát hóa, phương pháp tổng hợp

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Xoay quang chủ đề phân tích nội dung của môn Giáo dục công dân, nhận được nhiều sự quan tâm của nhà nghiên cứu, học giả Cụ thể:

Thứ nhất, nội dung môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở hiện hành, được

giới thiệu trong “Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT về việc ban hành Chương trình

Giáo dục phổ thông ban hành ngày 5 tháng 5 năm 2006” của Bộ Giáo dục và Đào tạo Trong “Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Giáo dục công dân” của

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Giáo dục Việt Nam; “Chương trình Giáo dục phổ thông cấp Trung học cơ sở” của Bộ Giáo dục và Đào tạo; “Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo

Trang 10

viên trung học cơ sở, Trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số

30/2009/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10 năm 2009” của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào

tạo đã khẳng định được môn Giáo dục công dân có vị trí đặc biệt, trực tiếp giáo dục lí tưởng, đạo đức của người công dân, bên cạnh đó cũng làm rõ các yêu cầu về kiến thức,

kĩ năng và thái độ môn Giáo dục công dân hiện hành

Thứ hai, nội dung môn Giáo dục công dân mới năm 2018, được giới thiệu trong

“Nghị quyết số 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định

hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” của Ban chấp hành trung ương Đảng

Cộng sản Việt Nam; “Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông” của Quốc hội khóa XIII; “Đề án đổi mới chương trình,

sách Giáo khoa Giáo dục phổ thông ban hành theo quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27

tháng 3 năm 2015” của Thủ tướng Chính phủ; “Chương trình giáo dục phổ thông tổng

thể” của Bộ Giáo dục và Đào tạo; “Chương trình giáo dục phổ thông môn Giáo dục

công dân” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Giáo dục; Đề án “Tăng cường Giáo dục

lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn

2015 – 2020 ban hành theo quyết định số 1501/QĐ-TTG ngày 28/8/2015” của Thủ tướng Chính phủ đã đề cập đến những thay đổi trong giáo dục ở các cấp cũng như những yêu cầu đặt ra khi thực hiện chương trình mới

Tác giả Nguyễn Minh Hạc trong “Hình thành nhân cách – tiêu điểm Giáo dục công dân”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc gia Đổi mới đào tạo giáo viên Giáo dục công dân đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới; Tác giả Vũ Văn Hiền với công trình “2 điểm rất mới trong Dự thảo môn Giáo dục công dân” Tác giả Ngô Công Hoàn, “Người công dân toàn cầu – Nội dung Giáo dục công dân trong nhà trường hiện nay”, Kỷ yếu hội thảo Quốc gia về giáo dục đạo đức – công dân trong giáo dục phổ thông ở Việt Nam Tác giả Đinh Thị Phượng (2018) với công trình “Những điểm mới cơ bản trong chương trình môn Giáo dục công dân ở trung học phổ thông

sau năm 2020” Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam với “Chương trình tiếp cận năng lực và đánh giá năng lực người học”, Nxb Giáo dục Việt Nam Các công trình này đã

chỉ ra được những thay đổi trong việc tiếp cận và dạy học môn Giáo dục công dân, từ

Trang 11

định hướng nội dung sang định hướng năng lực người học khi thực hiện chương trình mới năm 2018

Thứ ba, môn Giáo dục công dân ở trung học cơ sở trong chương trình mới được

đề cập đến trong các tài liệu: Tác giả Đào Đức Doãn (Chủ biên), trong “Hướng dẫn

dạy học môn Đạo đức theo chương trình giáo dục phổ thông mới”, “Dạy học phát triển năng lực môn Giáo dục công dân trung học cơ sở” , “ Đổi mới chương trình đào tạo giáo viên Giáo dục công dân đáp ứng yêu cầu của chương trình mới”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới đào tạo giáo viên Giáo dục công dân đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới Trong “Đổi mới giáo dục đạo đức trong chương trình môn Giáo dục công dân và những yêu cầu đặt ra đối với giáo viên môn học ở

trường phổ thông”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; “Đổi mới

chương trình môn Giáo dục công dân theo định hướng của Chương trình giáo dục phổ

thông tổng thể”, Tạp chí Khoa học giáo dục Việt Nam Trong “Dạy học phát triển năng lực môn Đạo đức”, Nxb Đại học Sư phạm Các công trình trên của tác giả Đoàn

Đức Doãn - Chủ biên chương trình môn Giáo dục công dân năm 2018 đã làm rõ những điểm mới trong chương trình môn Giáo dục công dân ở trung học cơ sở, làm cơ sở hoàn thiện và xây dựng lí luận dạy học Giáo dục công dân

Đây là nguồn tài liệu tham khảo quý báu, gợi mở cho sinh viên hướng tiếp cận khi nghiên cứu đề tài Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu về tương đồng và khác biệt giữa chương trình Giáo dục công dân hiện hành và chương trình mới chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Đây là động lực to lớn, thôi thúc sinh viên mạnh dạn

chọn đề tài “Tương quan về nội dung giữa chương trình Giáo dục công dân bậc trung

học cơ sở hiện hành với chương trình mới” để làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt

nghiệp

Trang 12

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ HIỆN HÀNH VÀ CHƯƠNG TRÌNH MỚI NĂM 2018 1.1 Chương trình môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở hiện hành

Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành được ban hành theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Theo

đó, môn Đạo đức được dạy ở cấp Tiểu học (35 tiết/năm học); môn Giáo dục công dân được giảng dạy từ cấp Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông (35 tiết/năm học)

1.1.1 Mục tiêu của chương trình

* Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

Theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT về việc ban hành Chương trình Giáo

dục phổ thông, ban hành ngày 5 tháng 5 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo khẳng

định mục tiêu của giáo dục phổ thông là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc

đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [13; tr.8] Mục tiêu của giáo dục phổ thông còn được cụ thể hóa ở mục tiêu các cấp học và mục tiêu các

môn học, các hoạt động giáo dục

Giáo dục Tiểu học được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến lớp 5 Tuổi của học sinh vào học lớp 1 là 6 tuổi Mục tiêu của giáo dục Tiểu học “nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở” [3; tr.5]

Giáo dục Trung học cơ sở được thực hiện trong 4 năm học, từ lớp 6 đến lớp 9 Học sinh vào lớp 6 sau khi hoàn thành chương trình Tiểu học, có tuổi là 11 tuổi Mục tiêu của giáo dục Trung học cơ sở “nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [4; tr.7]

Trang 13

Giáo dục Trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp 10 đến lớp 12 Học sinh vào học lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp Trung học cơ sở, có tuổi là 15 tuổi Mục tiêu của giáo dục Trung học phổ thông “nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục Trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực cá nhân, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [5; tr.9]

* Mục tiêu của môn Giáo dục công dân

Môn Giáo dục công dân có tên gọi khác nhau ở từng cấp học: ở Tiểu học đó là môn Đạo đức; ở Trung học cơ sở và Trung học phổ thông đó là môn Giáo dục công dân Mục tiêu dạy học của từng bậc học như sau:

Môn Đạo đức ở Tiểu học nhằm giúp học sinh: Thứ nhất, có hiểu biết ban đầu về

một số chuẩn mực hành vi đạo đức và chuẩn mực hành vi mang tính pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong quan hệ của các em với bản thân; với người khác; với công việc; với cộng đồng, đất nước, nhân loại; với môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việc thực hiện

theo các chuẩn mực đó [3; tr.117] Thứ hai, “bước đầu hình thành kĩ năng nhận xét,

đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh theo chuẩn mực đã học” [3; tr.117]; kĩ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp chuẩn mực trong

các quan hệ và tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống Thứ ba, “bước đầu hình

thành thái độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân, có trách nhiệm với hành động của mình” [3; tr.117]; yêu thương, tôn trọng con người; mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người; yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt; không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu

Môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở có mục tiêu nhằm giúp học sinh:

Thứ nhất, “hiểu được những chuẩn mực đạo đức và pháp luật cơ bản, phổ thông, thiết

thực, phù hợp với lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở trong các mối quan hệ với bản thân, với người khác, với công nghệ và với môi trường sống” [4; tr.115] Từ đó hiểu được ý nghĩa của các chuẩn mực đối với sự phát triển của cá nhân, xã hội và cách thức

rèn luyện để đạt được các chuẩn mực đó Thứ hai, “biết đánh giá hành vi của bản thân

và mọi người xung quanh theo các chuẩn mực đã học; biết lựa chọn và thực hiện cách ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, pháp luật trong hoạt động và giao tiếp

Trang 14

hằng ngày” [4; tr.115] Biết tự tổ chức việc học tập, rèn luyện của bản thân theo yêu

cầu các chuẩn mực đã học Thứ ba, “có thái độ đúng đắn, rõ ràng trước các hiện tượng,

sự kiện đạo đức, pháp luật trong đời sống hằng ngày” [4; tr.115]; có tình cảm trong sáng, lành mạnh đối với mọi người, đối với gia đình, nhà trường, quê hương, đất nước

Có niềm tin vào tính đúng đắn của các chuẩn mực đã học và hướng tới những giá trị xã hội tốt đẹp Có trách nhiệm đối với bản thân; có nhu cầu tự điều chỉnh, tự hoàn thiện

để trở thành một chủ thể xã hội tích cực, năng động

Môn Giáo dục công dân ở Trung học phổ thông có mục tiêu nhằm giúp học

sinh: Thứ nhất, “có hiểu biết ban đầu về thế giới quan duy vật và phương pháp luận

biện chứng” [5; tr.234]; Biết được một số phạm trù cơ bản của đạo đức học; hiểu một

số yêu cầu đạo đức đối với người công dân hiện nay; Biết một số phạm trù và quy luật kinh tế cơ bản, vai trò quản lí kinh tế của Nhà nước; Biết được bản chất Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Hiểu đường lối, quan điểm của Đảng; các chính sách quan trọng của Nhà nước về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay; Hiểu bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của công dân, đất nước, nhân loại; Hiểu quyền và nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; Hiểu trách nhiệm công dân trong việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng; pháp luật, chính sách của Nhà nước; hiểu trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tham gia

phát triển kinh tế của công dân Thứ hai, “vận dụng được kiến thức đã học để phân

tích, đánh giá các hiện tượng, các sự kiện, các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống phù hợp với lứa tuổi” [5; tr.234] Biết lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội Biết bảo vệ cái đúng, cái tốt, cái đẹp và đấu tranh, phê phán đối với các hành vi, hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống phù hợp với khả năng của bản

thân Thứ ba, yêu cái đúng, cái tốt, cái đẹp; không đồng tình với các hành vi, việc làm

tiêu cực; Yêu quê hương, đất nước; Trân trọng và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc; “Tin tưởng vào các đường lối chủ, trương của Đảng; tôn trọng pháp luật, chính sách của Nhà nước và các quy định chung của cộng đồng, của tập thể; Có hoài bão và mục đích sống cao đẹp” [5; tr.234]

1.1.2 Kết cấu nội dung và phân phối chương trình

Nội dung chương trình môn Giáo dục công dân ở bậc Trung học cơ sở hiện hành được thể hiện trong 4 quyển: Giáo dục công dân lớp 6; Giáo dục công dân lớp 7;

Trang 15

Giáo dục công dân lớp 8; Giáo dục công dân lớp 9 và lần lượt được giảng dạy cho học sinh lớp 6, lớp 7, lớp 8, lớp 9 Về phân phối, ngoài 35 tiết được thực hiện trong 37 tuần của năm học (1 tiết/tuần), chương trình còn có các tiết thực hành, hoạt động ngoại khóa về các vấn đề gắn với tình hình địa phương Nội dung của chương trình hiện hành sẽ tập trung vào hai phần chính đó là phần 1 – Các giá trị đạo đức và phần 2 – Quyền và nghĩa vụ công dân; quyền và trách nhiệm của nhà nước Trong phần 1 – Các giá trị đạo đức sẽ có 5 chủ đề chính bao gồm: Quan hệ với bản thân; Quan hệ với người khác; Quan hệ với công việc; Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại và Quan hệ với môi trường tự nhiên Trong phần 2 - Quyền và nghĩa vụ công dân; quyền

và trách nhiệm của nhà nước cũng sẽ có 5 chủ đề chính bao gồm: Quyền trẻ em, quyền

và nghĩa vụ công dân trong gia đình; Quyền và nghĩa vụ công dân về trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên; Quyền và nghĩa vụ công dân về văn hóa, giáo dục và kinh tế; Các quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – quyền và nghĩa vụ công dân trong quản lí nhà nước Nội dung các phần, các chủ đề sẽ có những bài học tương ứng của các lớp 6, 7,

8, 9

Theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra, môn Giáo dục công dân 6 bao gồm 18 bài, trong đó giáo dục về đạo đức có 11 bài và giáo dục pháp luật có 7 bài chia đều ở hai học kì Giáo dục các giá trị đạo đức: bài 1 - Tự chăm sóc, rèn luyện thân thể và bài 3 - Tiết kiệm Chủ đề quan hệ với người khác gồm 4 bài trong đó có bài 4 - Lễ độ, bài 8 - Sống chan hòa với mọi người, bài 6 - Biết ơn và bài 9

- Lịch sự, tế nhị Chủ đề quan hệ với công việc gồm 3 bài trong đó có bài 11 - Mục đích học tập của học sinh, bài 2 - Siêng năng, kiên trì và bài 5 - Tôn trọng kỉ luật Chủ

đề quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại có 1 bài đó là bài 10 - Tích cực, tự giác trong hoạt động tập thể và trong hoạt động xã hội Và chủ đề quan hệ với môi trường

tự nhiên có 1 bài đó là bài 7 - Yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên

Giáo dục pháp luật, chủ yếu là giáo dục quyền và nghĩa vụ công dân; quyền và trách nhiệm của nhà nước có 5 chủ đề Chủ đề quyền trẻ em; quyền và nghĩa vụ công dân trong gia đình có 1 bài đó là bài 12 - Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em Chủ đề quyền và nghĩa vụ công dân về trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên có 1 bài đó là bài 14 - Thực hiện trật tự, an toàn giao thông Chủ đề

Trang 16

quyền và nghĩa vụ công dân về văn hóa, giáo dục và kinh tế có 1 bài đó là bài 15 - Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân Chủ đề các quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân gồm 3 bài trong đó có bài 16 - Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, thân thể, danh dự và nhân phẩm, bài 17 - Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và bài 18

- Quyền được đảm bảo an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín Chủ đề nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - quyền và nghĩa vụ công dân trong quản lí nhà nước có 1 bài đó là bài 13 - Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Môn Giáo dục công dân 7 bao gồm 18 bài, trong đó giáo dục về đạo đức có 12 bài và giáo dục pháp luật có 6 bài chia đều ở hai học kì Giáo dục các giá trị đạo đức

có tất cả 5 chủ đề Chủ đề quan hệ với bản thân gồm 4 bài đó là bài 1 – Sống giản dị, bài 2 – Trung thực, bài 3 – Tự trọng và bài 11 – Tự tin Chủ đề quan hệ với người khác gồm 4 bài trong đó có bài 5 – Yêu thương con người, bài 6 – Tôn sư trọng đạo, bài 7 – Đoàn kết, tương trợ và bài 8 – Khoan dung Chủ đề quan hệ với công việc gồm 2 bài trong đó có bài 12 – Sống và làm việc có kế hoạch, bài 4 – Đạo đức và kỉ luật Chủ đề quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại có 2 bài đó là bài 9 – Xây dựng gia đình văn hóa và bài 10 – Giữ gìn và phát huy nếp sống tốt đẹp của gia đình, dòng họ Và chủ đề quan hệ với môi trường tự nhiên không có bài học liên quan

Giáo dục pháp luật, chủ yếu là giáo dục quyền và nghĩa vụ công dân; quyền và trách nhiệm của nhà nước có 5 chủ đề Chủ đề quyền trẻ em; quyền và nghĩa vụ công dân trong gia đình có 1 bài đó là bài 13 – Quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của trẻ em Việt Nam Chủ đề quyền và nghĩa vụ công dân về trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên có 1 bài đó là bài 14 – Bảo vệ môi trường

và tài nguyên thiên nhiên Chủ đề quyền và nghĩa vụ công dân về văn hóa, giáo dục và kinh tế có 1 bài đó là bài 15 – Bảo vệ di sản văn hóa Chủ đề các quyền tự do, dân chủ

cơ bản của công dân có 1 bài đó là bài 16 – Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Chủ đề nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - quyền và nghĩa vụ công dân trong quản lí nhà nước có 2 bài đó là bài 17 - Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bài 18 - Bộ máy nhà nước cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn)

Môn Giáo dục công dân 8 bao gồm 21 bài, trong đó giáo dục về đạo đức có 11 bài và giáo dục pháp luật có 10 bài chia đều ở hai học kì Giáo dục các giá trị đạo đức

có tất cả 5 chủ đề Chủ đề quan hệ với bản thân gồm 1 bài đó là bài 10 – Tự lập Chủ

Trang 17

đề quan hệ với người khác gồm 4 bài trong đó có bài 1 – Tôn trọng lẽ phải, bài 3 – Tôn trọng người khác, bài 4 – Giữ chữ tín và bài 6 – Xây dựng tình bạn trong sáng, lành mạnh Chủ đề quan hệ với công việc gồm 3 bài trong đó có bài 2 – Liêm khiết, bài 11 – Lao động tự giác và sáng tạo và bài 5 – Pháp luật và kỉ luật Chủ đề quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại có 3 bài đó là bài 7 - Tích cực tham gia các hoạt động chính trị - xã hội, bài 8 – Tôn trọng và học hỏi các dân tộc khác và bài 9 – Xây dựng nếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư Và chủ đề quan hệ với môi trường tự nhiên không có bài học liên quan

Giáo dục pháp luật, chủ yếu là giáo dục quyền và nghĩa vụ công dân; quyền và trách nhiệm của nhà nước có 5 chủ đề Chủ đề quyền trẻ em; quyền và nghĩa vụ công dân trong gia đình có 1 bài đó là bài 12 - Quyền và nghĩa vụ của công dân trong gia đình Chủ đề quyền và nghĩa vụ công dân về trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ môi trường

và tài nguyên thiên nhiên có 3 bài đó là bài 13 - Phòng, chống tệ nạn xã hội, bài 14 - Phòng, chống HIV/AIDS và bài 15 - Phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy, nổ và các chất độc hại Chủ đề quyền và nghĩa vụ công dân về văn hóa, giáo dục và kinh tế có 2 bài

đó là bài 16 - Quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ tôn trọng tài sản của người khác và bài

17 - Nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ tài sản nhà nước và lợi ích công cộng Chủ đề các quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân có 2 bài đó là bài 18 - Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và bài 19 - Quyền tự do ngôn luận Chủ đề nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - quyền và nghĩa vụ công dân trong quản lí nhà nước có 2 bài

đó là bài 20 - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bài 21 - Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Môn Giáo dục công dân 9 bao gồm 18 bài, trong đó giáo dục về đạo đức có 11 bài và giáo dục pháp luật có 7 bài chia đều ở hai học kì Giáo dục các giá trị đạo đức

có tất cả 5 chủ đề Chủ đề quan hệ với bản thân gồm 1 bài đó là bài 2 – Tự chủ Chủ đề quan hệ với người khác không có bài học liên quan Chủ đề quan hệ với công việc gồm 4 bài trong đó có bài 1 – Chí công vô tư, bài 8 – Năng động, sáng tạo, bài 9 – Làm việc có năng suất, hiệu quả và bài 3 – Dân chủ và kỉ luật Chủ đề quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại có 6 bài đó là bài 5: Tình hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới, bài 6 - Hợp tác cùng phát triển, bài 4 - Bảo vệ hòa bình, bài 7 - Kế thừa

và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bài 10 - Lí tưởng sống của thanh niên và

Trang 18

bài 11 - Trách nhiêm của thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Và chủ đề quan hệ với môi trường tự nhiên không có bài học liên quan

Giáo dục pháp luật, chủ yếu là giáo dục quyền và nghĩa vụ công dân; quyền và trách nhiệm của nhà nước có 5 chủ đề Chủ đề quyền trẻ em; quyền và nghĩa vụ công dân trong gia đình có 1 bài đó là bài 12 - Quyền và nghĩa vụ của công dân trong hôn nhân Chủ đề quyền và nghĩa vụ công dân về trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ môi trường

và tài nguyên thiên nhiên không có bài học liên quan Chủ đề quyền và nghĩa vụ công dân về văn hóa, giáo dục và kinh tế có 2 bài đó là bài 13 - Quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế và bài 14 - Quyền và nghĩa vụ lao động của công dân Chủ đề các quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân không có bài học liên quan Chủ đề nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - quyền và nghĩa vụ công dân trong quản lí nhà nước có 4 bài đó là bài 15 - Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí của công dân, bài 16 - Quyền tham gia quản lí nhà nước, quản lí xã hội của công dân, bài 17 - Nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc và bài 18 - Sống có đạo đức và tuân theo pháp luật

Như vậy, chương trình Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở được xây dựng theo quan điểm tích hợp Các chủ đề đạo đức và các chủ đề pháp luật được bố trí học ở tất cả các lớp (học kì I học Đạo đức, học kì II học Pháp luật) Nội dung chương trình được xây dựng trên nguyên tắc đồng tâm và phát triển Điều đó thể hiên ở các điểm sau: Các chủ đề được sắp xếp theo trật tự từ những vấn đề có tính chất cụ thể, gần gũi với cuộc sống của hộc sinh, đến những vấn đề khái quát hơn, phản ánh mối quan hệ ngày càng rộng hơn của học sinh Trong từng chủ đề có sự bố trí, sắp xếp các nội dung dạy học theo nguyên tắc phát triển từ thấp đến cao về nhận thức và yêu cầu tu dưỡng rèn luyện, phù hợp với lứa tuổi học sinh từng giai đoạn Cụ thể: Về đạo đức, ở các lớp dưới, nội dung thiên về quan hệ của học sinh với bản thân và gia đình; lên các lớp trên, nội dung thiên về quan hệ của học sinh với cộng đồng, đất nước, nhân loại Mức độ khó và tính khái quát của nội dung cũng được tăng dần từ lớp dưới lên lớp trên Về Pháp luật, chương trình được sắp xếp từ những nội dung về quyền và nghĩa vụ công dân, quyền và trách nhiệm của Nhà Nước đối với công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến những nội dung về chế độ chính trị, nền pháp chế Cộng hào xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việc xây dựng chương trình theo hướng đồng tâm và phát triển đặc biệt có ý nghĩa đối với học sinh Các em sẽ tiếp thu kiến thức một cách hệ thống

Trang 19

và bao quát Bởi mỗi chủ đề trong môn học được trình bày lặp đi lặp lại vài lần suốt từ đầu đến cuối chương trình học, sự phức tạp của chủ đề tăng dần lên ở mỗi lần lặp lại

và kiến thức mới có liên hệ với kiến thức cũ và được đặt trong mạch logic với kiến thức cũ của cùng một chủ đề

1.1.3 Một số nhận xét về chương trình Giáo dục công dân hiện hành

“Chương trình giáo dục hiện hành chính là chương trình định hướng theo nội dung Nghĩa là chương trình tập trung xác định ra một danh mục đề tài, chủ đề của một một học” [21; tr.11] Đối với môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở thì xác định chủ đề lớn của môn học bao gồm hai phần lớn là Các giá trị đạo đức và Quyền và nghĩa vụ công dân; quyền và trách nhiệm của nhà nước, mỗi phần có nhiều đề tài nhỏ Tức là tập trung trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn học sinh cần biết những gì? Có thể nói dạy học theo hướng nội dung lấy khối lượng kiến thức, kĩ năng làm mục tiêu hướng tới; do đó càng cung cấp nhiều nội dung, học sinh biết càng nhiều càng tốt Với những mục tiêu về nội dung giáo dục như vậy thì phương pháp dạy học phái phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học “Học sinh cần phải tích cực hoạt động để tự phát hiện và chiếm lĩnh các kiến thức, kĩ năng mới; hình thành thái độ tích cực dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên Cần kết hợp và sử dụng hợp lí các phương pháp và hình thức dạy học với phương pháp và hình thức giáo dục; kết hợp giữa các phương pháp truyền thống (diễn giảng, đàm thoại, trực quan, kể chuyện ) với các phương pháp hiện đại (thảo luận nhóm, đóng vai, trò chới, giải quyết vấn đè, dự án ); kết hợp các hình thức học cá nhân, theo nhóm và theo lớp; hình thức dạy học trong lớp, ngoài lớp và ngoài trường” [4; tr.178]

Chương trình hiện hành cũng có những thuận lợi đối với học sinh và giáo viên Giáo viên dễ dàng trong việc xác định mục tiêu dạy học Khi dạy học chương trình hiện hành, giáo viên lựa chọn được các khái niệm cốt lõi của môn học, chủ đề và mô tả được lộ trình phát triển của các khái niệm đó phù hợp logic nội dung, kế hoạch dạy học, đặc điểm của học sinh Giáo viên cũng thuận lợi cho dạy học tích hợp Chương trình hiện hành được thiết kế với các chủ đề cốt lõi xuyên suốt chương trình, các chủ

đề này chứa đựng kiến thức liên môn, xuyên môn, liên nội môn Với cách cấu trúc này, hoạt động dạy học sẽ tiết kiệm thời gian và loại bỏ được những kiến thức trùng lặp của những bộ môn gần nhau Giáo viên có điều kiện tổ chức hoạt động học tập giải

Trang 20

quyết các vấn đề nhận thức cho người học và tránh được hiện tượng dạy học lặp lại kiến thức Đối với học sinh có thể có điều kiện rèn luyện trí nhớ, hệ thống hóa Theo học thuyết Páp – lốp, quá trình trí nhớ gồm có: ghi lại (tạo mối liên hệ tạm thời trong

vỏ não); giữ lại (củng cố mối liên hệ tạm thời); tái nhận và tái hiện (khôi phục lại mối liên hệ tạ thời) Chẳng hạn, khi học một khái niệm ở một giai đoạn nhất định, sau khi khái niệm ấy được hình thành, trong đầu học sinh đã tạo nên mối liên hệ tạm thời trên

vỏ não về những dấu hiệu của khái niệm, đó là ghi lại; khi học khái niệm đó ở giai đoạn tiếp theo, học sinh được gợi lại các dấu hiệu trước đó nên mối liên hệ tạm thời được củng cố, đó là giữ lại; cũng khái niệm đó khi học ở giai đoạn tiếp theo, học sinh chỉ cần bắt gặp một hình ảnh hay một dấu hiệu của khái niệm, do mối liên hệ tạm thời được khôi phục nên học sinh sẽ nhớ lại dấu hiệu trước đây, đó là tái nhận và tái hiện Quá trình trí nhớ cứ như vậy lặp lại nhiều lần, học sinh sẽ có khái niệm phản ánh đối tượng sâu sắc nhất và lưu giữ được lâu nhất Học sinh được học tập và hệ thống kiến thức từ đơn giản đến phức tạp phát huy tính tích cực, hứng thú và tự giác chiếm lĩnh tri thức Song theo mô hình này, kiến thức vừa là “chất liệu”, “đầu vào” vừa là “kết quả”,

“đầu ra” của quá trình giáo dục Học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều nhưng khả năng vận dụng vào đời sống rất hạn chế Vì thế đây là một điểm hạn chế của chương trình hiện hành

1.2 Chương trình môn Giáo dục công dân mới năm 2018 ở Trung học cơ sở

Giáo dục công dân có tên gọi và phân phối chương trình giảng dạy khác nhau ở

3 cấp học Ở giai đoạn giáo dục cơ bản (cấp Tiểu học và cấp Trung học cơ sở), môn học có tên gọi là môn Đạo đức và môn Giáo dục công dân Đây là môn học bắt buộc với thời lượng 35 tiết/năm học Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp Trung học phổ thông), môn học có tên gọi là môn Giáo dục kinh tế và pháp luật, là môn học tự chọn, được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh với thời lượng 70 tiết/năm học

1.2.1 Quan điểm xây dựng và mục tiêu của chương trình

Môn Giáo dục công dân có một vị trí đặc biệt, đó là môn học duy nhất và trực tiếp giáo dục lý tưởng, đạo đức, hình thành nhân cách, phẩm chất cho công dân tương lai Chương trình giáo dục được Thủ tướng chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27 tháng 03 năm 2015 Theo đó, chương trình mới được xây dựng

Trang 21

với mục tiêu phù hợp với hệ thống giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013; Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa

XI, Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội và tuyên

bố của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc: “Học để biết - Học để làm - Học để chung sống - Học để tự khẳng định mình”, góp phần tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng, hiệu quả giáo dục và phát triển con người Việt Nam toàn diện về Đức, Trí, Thể, Mỹ, hướng tới “công dân toàn cầu”

* Quan điểm xây dựng chương trình

Chương trình môn Giáo dục công dân tuân thủ các định hướng nêu trong Chương trình tổng thể, đồng thời, xuất phát từ đặc điểm môn học, nhấn mạnh các quan điểm sau:

Thứ nhất, “chương trình môn Giáo dục công dân bảo đảm tính khoa học, tính

sư phạm và tính thực tiễn, được xây dựng trên cơ sở: đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các thành tựu nghiên cứu về tâm lí học, giáo dục học, đạo đức học, luật học, lí luận chính trị và kinh tế học; kinh nghiệm trong nước và quốc tế về phát triển chương trình môn Giáo dục công dân; các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam và giá trị chung của nhân loại; thực tiễn xã hội, giáo dục, điều kiện kinh tế

và truyền thống văn hoá Việt Nam, sự đa dạng của đối tượng học sinh xét về phương diện vùng miền, điều kiện và khả năng học tập”[7; tr.4] Chương trình mới được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; kế thừa và phát triển những ưu điểm của các chương trình giáo dục phổ thông đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu thành tựu nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm xây dựng chương trình theo mô hình phát triển năng lực của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới; gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, những tiến bộ của thời đại về khoa học - công nghệ và xã hội; phù hợp với đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của nhân loại cũng như các sáng kiến và định hướng phát triển chung của UNESCO về giáo dục; tạo cơ hội bình đẳng về quyền được bảo vệ, chăm sóc, học tập

và phát triển, quyền được lắng nghe, tôn trọng và được tham gia của học sinh; đặt nền tảng cho một xã hội nhân văn, phát triển bền vững và phồn vinh

Trang 22

Thứ hai, “chương trình môn Giáo dục công dân bảo đảm tính hệ thống Ở giai

đoạn giáo dục cơ bản, nội dung môn Đạo đức (cấp tiểu học) và môn Giáo dục công dân (cấp trung học cơ sở) được xây dựng theo hướng đồng tâm và phát triển,dựa trên các mạch nội dung giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, kinh tế, pháp luật và xoay quanh các mối quan hệ của con người với bản thân và người khác, với cộng đồng, đất nước, nhân loại, công việc và môi trường tự nhiên; mở rộng và nâng cao dần từ cấp tiểu học đến cấp trung học cơ sở Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, nội dung môn Giáo dục kinh tế và pháp luật (cấp trung học phổ thông) được xây dựng theo hướng phát triển tuyến tính, xoay quanh các quan hệ kinh tế và pháp luật, từ kinh tế vĩ mô đến kinh tế vi mô, từ hệ thống chính trị và pháp luật đến quyền và nghĩa vụ công dân” [7; tr.4] Điều này bắt nguồn từ đặc điểm của môn Giáo dục công dân ở các cấp học Ở giai đoạn giáo dục cơ bản: Đạo đức và Giáo dục công dân là các môn học bắt buộc Nội dung chủ yếu của môn học là giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, pháp luật và kinh tế Những nội dung này định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, quê hương, cộng đồng, nhằm hình thành cho học sinh thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập, sinh hoạt và ý thức tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: Giáo dục kinh tế và pháp luật là môn học được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh Nội dung chủ yếu của môn học là học vấn phổ thông, cơ bản về kinh tế, pháp luật phù hợp với lứa tuổi; mang tính ứng dụng, thiết thực đối với đời sống và định hướng nghề nghiệp sau trung học phổ thông của học sinh; được lồng ghép với nội dung giáo dục đạo đức và kĩ năng sống, giúp học sinh có nhận thức đúng và thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân Ở mỗi lớp 10, 11, 12, những học sinh có định hướng theo học các ngành Giáo dục chính trị, Giáo dục công dân, Kinh tế, Hành chính, Pháp luật, hoặc có sự quan tâm, hứng thú đối với môn học được chọn học một

số chuyên đềhọc tập Các chuyên đề này nhằm tăng cường kiến thức về kinh tế, pháp luật và kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đáp ứng sở thích, nhu cầu và định hướng nghề nghiệp của học sinh

Thứ ba, “chương trình môn Giáo dục công dân chú trọng tích hợp các nội dung

giáo dục trong nội bộ môn học về kĩ năng sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế và tích hợp nhiều chủ đề giáo dục cần thiết như: môi trường, bình đẳng giới, di sản văn hoá, phòng

Trang 23

chống tệ nạn xã hội, tài chính, Những nội dung này gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực tiễn của học sinh, gắn liền với các sự kiện có tính thời sự trong đời sống đạo đức, pháp luật, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của địa phương, đất nước và thế giới” [7; tr.4] Bên cạnh đó chương trình mới còn chú ý đến đến tính kết nối giữa chương trình của các lớp học, cấp học trong từng môn học và giữa chương trình của các môn học trong từng lớp học, cấp học Cụ thể như về giáo dục đạo đức, trong giáo dục về phẩm chất yêu nước, học sinh lớp 6 sẽ có bài học là “Tự hào về truyền thống gia đình, dòng họ” thì lớp 7 có bài “Tự hào về truyền thống quê hương”, tiếp đó lớp 8 sẽ là bài “Tự hào về truyền thống dân tộc Việt Nam” và đến lớp 9 sau khi học xong ba bài học đó của ba lớp, học sinh sẽ có thể hình dung và định nghĩa được khái niệm và làm thế nào

để có thể “Sống có lí tưởng” Về giáo dục kĩ năng, trong giáo dục kĩ năng nhận thức và quản lí bản thân, học sinh lớp 6 có thể “Tự nhận thức được bản thân”, lớp 7 sẽ có bài học phát triển hơn đó là “Ứng phó với tâm lí căng thẳng” Sau khi đã nhận thức và ứng phó được với tâm lí của mình các em sẽ xác định được mục tiêu cá nhân và quản lí được thời gian của bản thân sao cho hợp lí ở lớp 8 và lớp 9 Về giáo dục kinh tế, trong giáo dục về hoạt động tiêu dùng Đầu tiên các em sẽ được học về bài “Tiết kiệm” ở lớp

6 để có thể có được những khái niệm cơ bản nhất về tiết kiệm và các biểu hiện cuẩ tiết kiệm Tiếp đó ở lớp 7 các em được học bài “Quản lí tiền”, đây là một biểu hiện nhỏ trong phần tiết kiệm Sau cùng các em sẽ được học và vận dụng việc “Lập kế hoạch chi tiêu” và “Tiêu dùng thông minh” ở lớp 8, lớp 9

Thứ tư, “chương trình môn Giáo dục công dân được xây dựng theo hướng mở

Chương trình chỉ quy định những yêu cầu cần đạt; những nội dung dạy học cơ bản, cốt lõi cho mỗi cấp học, lớp học nhằm đáp ứng yêu cầu cần đạt; những định hướng chung

về phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục Căn cứ vào các yêu cầu cần đạt

và định hướng chung của chương trình, các tác giả sách giáo khoa, cơ sở giáo dục và giáo viên môn Giáo dục công dân chủ động, sáng tạo trong quá trình thực hiện và phát triển chương trình” [7; tr 4] Chương trình giáo dục mới bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp phần bảo

Trang 24

đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội Tính mở của chương trình quy định mục tiêu lớn, định hướng về mục tiêu dạy học Người giáo viên có thể chủ động vận dụng, lồng ghép vào hoạt động giáo dục địa phương, đây chính là tính mở của chương trình

* Mục tiêu của chương trình

Về mục tiêu chung

Mục tiêu chung của chương trình môn Giáo dục công dân “giúp học sinh hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm Những phẩm chất đạo đức này được hình thành, phát triển gắn liền với quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam Đồng thời, giúp học sinh hình thành, phát triển các năng lực của người công dân Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội theo yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới” [7, tr.5] Trên cơ sở đó, chương trình môn Giáo dục công dân góp phần giúp học sinh hình thành, phát triển các năng lực chung như năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp

và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cùng các năng lực đặc thù như năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực phát triển bản thân, năng lực tìm hiểu và tham gia hoạt động kinh tế - xã hội

Về mục tiêu cụ thể ở các cấp học

Môn Đạo đức ở bậc Tiểu học có mục tiêu: “bước đầu hình thành, phát triển ở học sinh những hiểu biết ban đầu về chuẩn mực hành vi đạo đức, pháp luật và sự cần thiết thực hiện theo các chuẩn mực đó trong quan hệ với bản thân và người khác, với công việc, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên; thái độ tự trọng, tự tin; những tình cảm và hành vi tích cực: yêu gia đình, quê hương, đất nước; yêu thương, tôn trọng con người; đồng tình với cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu; chăm học, chăm làm; trung thực; có trách nhiệm với thái

độ, hành vi của bản thân” [7, tr.5] Bên cạnh đó còn giúp học sinh nhận biết và điều chỉnh được cảm xúc, thái độ, hành vi của bản thân; biết quan sát, tìm hiểu về gia đình, quê hương, đất nước và về các hành vi ứng xử; biết lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch

cá nhân, hình thành thói quen, nền nếp cơ bản, cần thiết trong học tập, sinh hoạt

Trang 25

Môn Giáo dục công dân ở bậc Trung học cơ sở có mục tiêu: “giúp học sinh có hiểu biết về những chuẩn mực đạo đức, pháp luật cơ bản và giá trị, ý nghĩa của các chuẩn mực đó; tự hào về truyền thống gia đình, quê hương, dân tộc; tôn trọng, khoan dung, quan tâm, giúp đỡ người khác; tự giác, tích cực học tập và lao động; có thái độ đúng đắn, rõ ràng trước các hiện tượng, sự kiện trong đời sống; có trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường, xã hội, công việc và môi trường sống” [7, tr.5] Các bài học

về đạo đức như Tự hào về truyền thống gia đình, dòng họ; Tự hào về truyền thống quê hương; Tự hào về truyền thống dân tộc Việt Nam; Sống có lí tưởng xuyên suốt các cấp học giúp các em hình thành và củng cố phẩm chất yêu nước Bên cạnh đó còn giáo dục các em những phẩm chất như nhân ái qua các bài học tương ứng là Yêu thương con người; Quan tâm, cảm thông và chia sẻ; Tôn trọng sự đa dạng của các dân tộc; Khoan dung Phẩm chất chăm chỉ qua bài học tương ứng là Siêng năng, kiên trì; Học tập tự giác, tích cực; Lao động cần cù, sáng tạo; Tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng Phẩm chất trung thực qua các bài học tương ứng là Tôn trọng sự thật; Giữ chữ tín; Bảo

vệ lẽ phải; Khách quan và công bằng Phẩm chất trách nhiệm qua các bài học cụ thể

Tự lập; Bảo tồn di sản văn hóa; Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên; Bảo vệ hòa bình Từ những bài học về đạo đức học sinh có tri thức phổ thông, cơ bản về đạo đức, kĩ năng sống, kinh tế, pháp luật; biết đánh giá thái độ, tự điều chỉnh và nhắc nhở, giúp đỡ bạn bè, người thân điều chỉnh thái độ, hành vi theo chuẩn mực đạo đức, pháp luật; thực hiện được các công việc để đạt mục tiêu, kế hoạch hoàn thiện, phát triển bản thân Trên cơ sở đó, học sinh biết cách thiết lập, duy trì mối quan hệ hoà hợp với những người xung quanh, thích ứng với xã hội biến đổi và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống của cá nhân, cộng đồng phù hợp với giá trị văn hoá, chuẩn mực đạo đức, quy tắc của cộng đồng, quy định của pháp luật và lứa tuổi

Môn Kinh tế và Pháp luật ở bậc Trung học phổ thông có mục tiêu: “giúp học sinh tiếp tục phát triển các phẩm chất đã được hình thành, phát triển ở cấp trung học cơ

sở và củng cố, nâng cao các năng lực đã được hình thành, phát triển ở cấp trung học cơ sở” [7, tr.6] Cụ thể như có hiểu biết và tình cảm, niềm tin về những giá trị đạo đức của dân tộc và thời đại,đường lối phát triển đất nước của Đảng và quy định của pháp luật

về quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân; tích cực, tự giác học tập và tham gia lao động, sản xuất phù hợp với khả năng của bản thân Có trách nhiệm công dân trong

Trang 26

thực hiện đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước để góp phần bảo vệ, xây dựng Tổ quốc; tôn trọng quyền, nghĩa vụ của tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật; nhận thức, hành động theo lẽ phải và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lẽ phải, chống các hành vi, hiện tượng tiêu cực trong xã hội Phân tích, đánh giá được thái độ, hành vi của bản thân và người khác; tự điều chỉnh và nhắc nhở, giúp đỡ người khác điều chỉnh thái độ, hành vi theo chuẩn mực đạo đức, pháp luật Lập được mục tiêu, kế hoạch hoàn thiện, phát triển bản thân và thực hiện được các công việc học tập, rèn luyện để đạt mục tiêu kế hoạch đã đề ra; có kiến thức phổ thông, cơ bản về kinh tế, pháp luật; vận dụng được các kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, xử lí các hiện tượng, vấn đề, tình huống trong thực tiễn cuộc sống Có khả năng tham gia các hoạt động phù hợp với lứa tuổi để thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và trong các hoạt động kinh tế; có kĩ năng sống, bản lĩnh để tiếp tục học tập, làm việc và thực hiện các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế

1.2.2 Nội dung và kết cấu của chương trình

Chương trình giáo dục công dân năm 2018 được kết cấu xoay quanh trục phẩm chất và năng lực của học sinh Về phẩm chất bao gồm 5 phẩm chất là yêu nước, nhân

ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm Về năng lực bao gồm 3 năng lực đặc thù là năng lực đặc thù: tự điều chỉnh hành vi; năng lực phát triển bản thân và năng lực tìm hiểu và tham gia vào các hoạt động kinh tế và xã hội

Nội dung giáo dục sẽ tập trung vào 4 mạch nội dung: giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục kinh tế và giáo dục pháp luật Trong mỗi mạch nội dung như vậy lại bao gồm có những chủ đề Trong mạch nội dung giáo dục đạo đức trực tiếp dạy về các phẩm chất trong chương trình tổng thể là Yêu nước, Nhân ái, Chăm chỉ, Trung thực và Trách nhiệm Trong mạch nội dung giáo dục kĩ năng sống gồm 2 kĩ năng là kĩ năng nhận thức, quản lí bản thân và kĩ năng tự bảo vệ Nội dung giáo dục kinh tế gồm: Hoạt động của nền kinh tế; Hoạt động kinh tế của Nhà nước; Hoạt động sản xuất kinh doanh và Hoạt động tiêu dùng Mạch nội dung giáo dục pháp luật sẽ có 3 phần chính đó là Chuẩn hành vi pháp luật; Quyền và nghĩa vụ của công dân và Hệ thống chính trị và pháp luật Chương trình giáo dục công dân lớp 6, lớp7, lớp 8 và lớp

9 đều gồm có 10 chủ đề trong đó có 5 chủ đề liên quan đến mạch nội dung giáo dục

Trang 27

đạo đức, 2 chủ đề liên quan đến mạch nội dung giáo dục về kĩ năng sống, 1 chủ đề liên quan đến nội dung giáo dục về kinh tế và 2 chủ đề liên quan đến nội dung giáo dục về pháp luật

Đối với học sinh lớp 6 trong nội dung giáo dục đạo đức với phẩm chất Yêu nước các em sẽ có chủ đề: Tự hào về truyền thống gia đình, dòng họ; phẩm chất Nhân

ái sẽ gắn với chủ đề Yêu thương con người; phẩm chất Chăm chỉ gắn với chủ đề Siêng năng, kiên trì; phẩm chất Trung thực gắn với chủ đề Tôn trọng sự thật và phẩm chất Trách nhiệm gắn với chủ đề Tự lập Trong nội dung giáo dục kĩ năng sống với kĩ năng nhận thức, quản lí bản thân các em sẽ có chủ đề Tự nhận thức bản thân và với kĩ năng

tự bảo vệ gắn với chủ đề Ứng phó với tình huống nguy hiểm Trong nội dung giáo dục kinh tế ứng với Hoạt động tiêu dùng gắn với chủ đề Tiết kiệm Trong nội dung giáo dục pháp luật ở Quyền và nghĩa vụ của công dân gắn với 2 chủ đề là Công dân nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Quyền trẻ em

Đối với học sinh lớp 7 trong nội dung giáo dục đạo đức với phẩm chất Yêu nước các em sẽ có chủ đề Tự hào về truyền thống quê hương; phẩm chất Nhân ái sẽ gắn với chủ đề Quan tâm, cảm thông và chia sẻ; phẩm chất Chăm chỉ gắn với chủ đề Học tập tự giác, tích cực; phẩm chất Trung thực gắn với chủ đề Giữ chữ tín và phẩm chất Trách nhiệm gắn với chủ đề Bảo tồn di sản văn hóa Trong nội dung giáo dục kĩ năng sống với kĩ năng nhận thức, quản lí bản thân các em sẽ có chủ đề Ứng phó với tâm lí căng thẳng và kĩ năng tự bảo vệ gắn với chủ đề Phòng chống bạo lực học đường Trong nội dung giáo dục kinh tế ứng với Hoạt động tiêu dùng gắn với chủ đề Quản lí tiền Trong nội dung giáo dục pháp luật, Quyền và nghĩa vụ của công dân gắn với 2 chủ đề là Phòng chống tệ nạn xã hội và Quyền và nghĩa vụ của công dân trong gia đình

Đối với học sinh lớp 8 trong nội dung giáo dục đạo đức với phẩm chất Yêu nước các em sẽ có chủ đề Tự hào về truyền thống dân tộc Việt Nam; phẩm chất Nhân

ái sẽ gắn với chủ đề Tôn trọng sự đa dạng của các dân tộc; phẩm chất Chăm chỉ gắn với chủ đề Lao động cần cù, sáng tạo; phẩm chất Trung thực gắn với chủ đề Bảo vệ lẽ phải và phẩm chất Trách nhiệm gắn với chủ đề Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Trong nội dung giáo dục kĩ năng sống với kĩ năng nhận thức, quản lí bản thân các em sẽ có chủ đề Xác định mục tiêu cá nhân và kĩ năng tự bảo vệ gắn với chủ đề

Trang 28

Phòng chống bạo lực gia đình Trong nội dung giáo dục kinh tế ứng với Hoạt động tiêu dùng gắn với chủ đề Lập kế hoạch chi tiêu Trong nội dung giáo dục pháp luật, Quyền

và nghĩa vụ của công dân gắn với 2 chủ đề là Phòng ngừa tai nạn, vũ khí, cháy, nổ và các chất độc hại và Quyền và nghĩa vụ lao động của công dân

Đối với học sinh lớp 9 trong nội dung giáo dục đạo đức với phẩm chất Yêu nước các em sẽ có chủ đề Sống có lí tưởng; phẩm chất Nhân ái sẽ gắn với chủ đề Khoan dung; phẩm chất Chăm chỉ gắn với chủ đề Tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng; phẩm chất Trung thực gắn với chủ đề Khách quan và công bằng và phẩm chất Trách nhiệm gắn với chủ đề Bảo vệ hòa bình Trong nội dung giáo dục kĩ năng sống với kĩ năng nhận thức, quản lí bản thân các em sẽ có chủ đề Quản lí thời gian hiệu quả và kĩ năng tự bảo vệ gắn với chủ đề Thích ứng với thay đổi Trong nội dung giáo dục kinh tế ứng với Hoạt động tiêu dùng gắn với chủ đề Tiêu dùng thông minh Trong nội dung giáo dục pháp luật, Quyền và nghĩa vụ của công dân gắn với 2 chủ đề

là Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí và Quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế

1.2.3 Một số nhận xét về chương trình Giáo dục công dân năm 2018

Theo “Dạy học phát triển năng lực môn Giáo dục công dân trung học cơ sở “ của Đào Đức Doãn (chủ biên) nếu chương trình hiện hành là định hướng về mặt nội dung thì chương trình mới lại hướng đến định hướng về mặt năng lực “Tức là thay vì trả lời câu hỏi “Chúng ta muốn học sinh biết những gì?” sẽ chuyển sang “Chúng ta muốn học sinh làm được gì sau khi học” Thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học chương trình giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và

xã hội kì vọng” [17; 13] Theo cách tiếp cận này, kiến thức được dạy học không nhằm mục đích tự thân Nói cách khác, giáo dục không phải để truyền thụ kiến thức mà nhằm giúp học sinh hoàn thành các công việc, giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống nhờ vận dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức đã học Với những mục tiêu và nội dung như thế phương pháp dạy học hướng đến người giáo viên là người tổ chức, hỗ trợ học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức; chú trọng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp; chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thực hành Hình thức học tập cũng trở nên đa dạng;

Trang 29

chú ý các hoạt động xã hội, ngoại kháo, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học Dạy học theo hướng phát triển năng lực vẫn coi trọng nội dung kiến thức, bởi nội dung là chất liệu của năng lực Tuy nhiên chỉ mình nội dung kiến thức thì chưa đủ vì hiểu được nội dung là bước cơ bản còn hình thành về năng lực lại là bước cao hơn

Mục tiêu cuối cùng của dạy học phát triển năng lực không phải là hệ thống kiến thức, là khối lượng nội dung, là biết thật nhiều mà là năng lực cần có để sống tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, đáp ứng những yêu cầu của xã hội đang thay đổi từng ngày Như thế nội dung, kiến thức ở đây là phương tiện để đạt được mục đích cuối cùng là năng lực Tư tưởng này chi phối cách lựa chọn nội dung dạy học và phương pháp dạy học Một khi dạy một vấn đề, một kiến thức nào đó, người giáo viên phải xác định rõ dạy cái này để làm gì, giúp ích được gì cho người học; những hiểu biết ấy có thể vận dụng vào tình huống nào trong cuộc sống Người học cũng luôn đặt câu hỏi tương tự

và tự tìm hiểu, trả lời

Chương trình Giáo dục mới không chỉ quan tâm đến các chất liệu (kiến thức, kĩ năng, thái độ ) mà rất cần chú ý đến cách thức, phương pháp Sau mỗi giờ học, học sinh không chỉ mở mang về tri thức mà còn hiểu và biết cách tìm ra tri thức đó; biết tri thức đo giúp được gì cho mình trong cuộc sống hằng ngày và đi xa hơn trong tương lai Không nhồi nhét, cung cấp thức ăn có sẵn như dạy học như chương trình hiện hành, chương trình mới yêu cầu học sinh tham gia tích cực vào giờ học, tự tìm kiếm, phát hiện vấn đề, trao đổi, tranh luận để đi đến những hiểu biết về kiến thức và cách làm Người giáo viên có vai trò quan trọng trong việc nêu vấn đề, giao nhiệm vụ, tổ chức cho học sinh làm việc, trao đổi cùng tham gia với học sinh và nêu lên những nhận xét của mình khi thấy cần thiết

Bên cạnh đó chương trình mới đảm bảo tính mở và gắn với việc vận dụng chương trình theo vùng miền và các đối tượng học sinh Việc dạy học môn Giáo dục công dân cần gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực tiễn của lớp học, nhà trường, địa phương Giáo viên cần hết sức linh hoạt, sáng tạo trong việc lựa chọn, sử dụng các thông tin, sự kiện, hiện tượng, tình huống, trường hợp điển hình ở địa phương để minh hoạ, so sánh, phân tích, lí giải, nhận xét, đánh giá, Đồng thời, cũng cần tổ chức cho học sinh liên hệ, tự liên hệ, so sánh, đối chiếu các hành vi, việc làm của bản thân và

Trang 30

những người xung quanh với các giá trị đã học; tổ chức cho học sinh điều tra, tìm hiểu các vấn đề thực tiễn có liên quan đến nội dung bài học; thực hiện các dự án nhằm xây dựng môi trường lớp học, nhà trường, cộng đồng ngày một tốt đẹp hơn, Có như vậy, bài học Giáo dục công dân mới trở nên gần gũi, sống động, thiết thực đối với học sinh

và có sức lôi cuốn đối với các em

Tiểu kết chương 1

Với những nội dung được trình bày trong chương 1, đề tài đã làm sáng tỏ những nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, về chương trình môn Giáo dục công dân hiện hành: nội dung dạy và

học hướng đến hai phần lớn là Các giá trị đạo đức; Quyền và nghĩa vụ công dân, quyền và trách nhiệm của nhà nước, tức là chú trọng giáo dục về mặt đạo đức và pháp luật cho học sinh ở cấp trung học cơ sở Đề tài cũng đưa ra những nhận xét cơ bản về chương trình giáo dục hiện hành – chương trình định hướng về nội dung

Thứ hai, về chương trình môn Giáo dục công dân mới, đề tài tập trung phân tích

quan điểm xây dựng và mục tiêu chương trình Đề tài đã làm sáng tỏ được nội dung giáo dục đạo đức và pháp luật, giáo dục kĩ năng sống và giáo dục về kinh tế Trên cơ

sở đó, đề tài đưa ra những nhận xét về chương trình giáo dục mới

Đây là những cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để tác giả tiếp tục đi sâu phân tích tìm ra những tương đồng và khác biệt trong hai chương trình Giáo dục công dân ở chương tiếp theo

Trang 31

CHƯƠNG 2: TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT VỀ NỘI DUNG GIỮA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ HIỆN HÀNH VÀ CHƯƠNG TRÌNH MỚI NĂM 2018

2.1 Tương đồng về nội dung giữa hai chương trình Giáo dục công dân

Nội dung của chương trình môn Giáo dục công dân hiện hành gồm hai mạch nội dung chính là giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật thì nội dung chủ yếu của môn Giáo dục công dân trong chương trình mới gồm bốn mạch nội dung chính là: giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục kinh tế và giáo dục pháp luật Chương trình Giáo dục công dân mới đã kế thừa những nội dung nào của chương trình hiện hành? Tương đồng về mặt nội dung giữa hai chương trình chính là câu trả lời cho câu hỏi trên

2.1.1 Tương đồng trong nội dung giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức là quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm giáo dục học sinh ý thức, hành vi đạo đức phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và quy định của pháp luật Trên cơ sở đó hình thành, phát triển cho học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực cần thiết của người công dân Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển cá nhân và thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân Nội dung giáo dục đạo đức gồm năm mạch nội dung là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm Các nội dung này chiếm khoảng 35% tổng thời lượng dành cho môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở Trong nội dung giáo dục đạo đức ở Trung học cơ sở, chương trình mới kế thừa những nội dung trong chương trình hiện hành được thể hiện qua bảng tổng hợp sau:

Bảng 2.1 Tương đồng về nội dung giáo dục đạo đức

dân tộc Việt Nam

Lớp 9 – Bài 7: Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Lớp 9 – Sống có lí tưởng Lớp 9 – Bài 10: Lí tưởng sống của

Trang 32

thanh niên

2 Nhân ái Lớp 6 – Yêu thương con người Lớp 7 - Bài 5: Yêu thương con

người Lớp 8 – Tôn trọng sự đa dạng của

Lớp 6 – Siêng năng, kiên trì Lớp 6 - Bài 2: Siêng năng, kiên trì

Lớp 8 – Lao động cần cù, sáng tạo Lớp 8 - Bài 11: Lao động tự giác và

sáng tạo Lớp 9 – Tích cực tham gia các hoạt

5 Trách

nhiệm

Lớp 6 – Tự lập Lớp 8 - Bài 10: Tự lập Lớp 7 – Bảo tồn di sản văn hóa Lớp 7 - Bài 15: Bảo vệ di sản văn

hóa Lớp 8 – Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên

Lớp 7 - Bài 14: Bảo vệ môi trường

và tài nguyên thiên nhiên Lớp 9 – Bảo vệ hòa bình Lớp 9 - Bài 4: Bảo vệ hòa bình Đạo đức là nền tảng, là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng của con người nói chung và học sinh nói riêng Tuy nhiên bộ phận quan trọng ấy không tự nhiên mà hình thành một cách toàn vẹn được mà phải trải qua quá trình giáo dục Mỗi một cấp học đều giới thiệu cho chúng ta những phạm trù đạo đức cơ bản, những nguyên tắc đạo đức và các vấn đề đạo đức liên quan đến đời sống thường nhật của học sinh Năm phẩm chất trong giáo dục nội dung đạo đức là kết quả thực hiện Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên được quán triệt trong giáo dục nước ta từ hơn 50 năm nay

Những bài học trong chương trình hiện hành vẫn còn đáp ứng được các yêu cầu

về phẩm chất trong chương trình mới Thứ nhất, về nội dung giáo dục phẩm chất yêu

Trang 33

nước, các bài học giúp học sinh có ý thức tìm hiểu truyền thống gia đình, dòng họ; tích cực học tập, rèn luyện để phát huy truyền thống gia đình, dòng họ Thứ hai, về nội dung giáo dục phẩm chất nhân ái, các bài học giúp học sinh trân trọng danh dự, sức khỏe và cuộc sống riêng tư của người khác; tôn trọng sự đa dạng về văn hóa của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và các dân tộc khác; cảm thông và sẵn sàng giúp đỡ mọi người Thứ ba, về nội dung giáo dục phẩm chất chăm chỉ, các bài học giúp học sinh cố gắng vươn lên đạt kết quả tốt trong học tập; tham gia công việc lao động, sản xuất trong gia đình theo yêu cầu thực tế, phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân; tham gia tích cực vào các hoạt động chung của tập thể Thứ tư, về nội dung giáo dục phẩm chất trung thực, các bài học giúp học sinh nghiêm túc nhìn nhận những khuyết điểm của bản thân và chịu trách nhiệm với mọi lời nói, hành vi của bản thân; luôn thống nhất giữa lời nói và việc làm; tôn trong lẽ phải, bảo vệ điều hay, lẽ phải trước mọi người Thứ năm, về nội dung giáo dục phẩm chất trách nhiệm, các bài học giúp học sinh tích cực, chủ động tham gia các hoạt động bảo vệ tự nhiên; có ý thức bảo vệ di sản văn hóa, tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ, phát huy giá trị của di sản văn hóa

Các bài học hình thành nhân cách cho học sinh và mang tính nhân văn sâu sắc

Hệ thống môn học luôn hướng vào việc giúp học sinh hình thành được những thái độ, tình cảm lành mạnh, có lập trường rõ ràng Thông qua mỗi bài học, học sinh nhận thức được trách nhiệm của mình đối với bản thân gia đình và xã hội qua đó giúp các em xác định được thái độ, trách nhiệm của bản thân trước các vấn đề lớn của dân tộc Từ các nội dung này, học sinh được giáo dục thành những con người có văn hóa, sống trung thực, có tinh thần tập thể, có ý thức tổ chức kỷ luật, có lòng nhân ái khoan dung, biết yêu quê hương, đất nước, luôn có ý thức trách nhiệm trước tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước, dân tộc

Bên cạnh đó, các bài học còn mang tính thời sự, chúng là các vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa và môi trường Đòi hỏi người giáo viên phải khai thác nội dung có

sự liên hệ với thực tiễn địa phương Nghĩa là trong quá trình dạy, giáo viên chủ động

và thường xuyên cập nhật chương trình, liên hệ thực tế địa phương (tích hợp giáo dục địa phương) để học sinh nắm bắt và hứng thú hơn khi học các bài học và có thể vận dụng các kiến thức đó vào thực tiễn

Trang 34

Tương đồng về nội dung trong chương trình hiện hành và chương trình mới được thể hiện cụ thể qua phân tích chủ đề/ bài: “Giữ gìn và phát huy truyền thống gia đình, dòng họ”

Bài 10 của lớp 7 với tên bài “Giữ gìn và phát huy truyền thống gia đình, dòng họ” (Chương trình hiện hành) được kế thừa, tuy nhiên khi áp dụng vào chương trình mới sẽ là bài 1 của lớp 6 với chủ đề “Tự hào về truyền thống gia đình, dòng họ”; khi

giảng dạy bài này, ở cả hai chương trình, giáo viên phải đảm bảo các nội dung sau:

Một là, nêu được một số truyền thống của gia đình, dòng họ Ở phần này, giáo viên

yêu cầu học sinh phân biệt được truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ với những tập quán lạc hậu (hủ tục) còn tồn tại trong một số gia đình, dòng họ Muốn vậy, các em cần hiểu truyền thống tốt đẹp là những giá trị, mang lại lợi ích cho con người và xã hội, không vi phạm những điều pháp luật cấm Ví dụ: hiếu học, cần cù lao động, yêu nước, nhân nghĩa, các nghề truyền thống, nghệ thuật truyền thông ; những hủ tục không phải là truyền thống tốt đẹp như: tảo hôn, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, sinh nhiều con, gia trưởng độc đoán, mê tín dị đoan Từ đó học sinh có thể xác định được

truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ mình để phát huy Hai là, giải thích một

cách đơn giản ý nghĩa của truyền thống gia đình, dòng họ Đối với cá nhân, truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ là những vốn quý, những kinh nghiệm mà các thế

hệ con cháu có thể học tập, có thêm sức mạnh để không ngừng vươn lên; thể hiện lòng biết ơn đối với ông bà, cha mẹ, tổ tiên, đạo lí của dân tộc Việt Nam Đối với xã hội, truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ góp phần làm phong phú truyền thống và bản sắc dân tộc (vì nhiều gia đình hợp lại thành xã hội, thành dân tộc) Nhất là trong

thời đại hội nhập, điều đó càng có ý nghĩa quan trọng Ba là, biết giữ gìn, phát huy

truyền thống của gia đình, dòng họ bằng những việc làm cụ thể phù hợp Để thực hiện tốt bổn phận của bản thân trong việc tiếp nối và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ học sinh cần thực hiện tốt bổn phận của bản thân trong gia đình, ở nhà trường; tích cực tìm hiểu truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ để kế thừa và phát huy; sống trong sạch, lương thiện, giữ gìn danh dự của gia đình, dòng họ Giáo viên định hướng cho học sinh luôn hướng về truyền thống tốt đpẹ của gia đình, dòng họ, thể hiện tình cảm quý trọng đối với các thế hệ đi trước đã làm nên truyền thống tốt đẹp để con cháu noi theo, mong muốn được tiếp nối truyền thống ấy

Trang 35

Tương đồng về nội dung trong chương trình hiện hành và chương trình mới được thể hiện cụ thể qua phân tích chủ đề/ bài: “Kế thừa và phát huy truyền thóng tốt đẹp của dân tộc”

Bài 7 của lớp 9 với tên bài “Kế thừa và phát huy truyền thóng tốt đẹp của dân tộc” (Chương trình hiện hành) được kế thừa, tuy nhiên khi áp dụng vào chương trình mới sẽ là bài 1 của lớp 8 với chủ đề “Tự hào về truyền thống dân tộc Việt Nam”; khi giảng dạy bài này, ở cả hai chương trình, giáo viên phải đảm bảo các nội dung sau:

Một là, nêu được một số truyền thống của dân tộc Việt Nam Ở phần này, giáo viên

yêu cầu học sinh hiểu được truyền thống tốt đẹp là những giá trị tinh thần được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Ví dụ đó là truyền thống yêu nước, bất khuất chống giặc ngoại xâm, đoàn kết, nhân nghĩa, cần cù lao động, hiếu học, tôn sư trọng đạo ; các truyền thống về văn

hóa, về nghệ thuật Hai là, nhận biết được giá trị của các truyền thống của dân tộc Việt

Nam Các giá trị truyền thống của dân tộc là tài sản vô giá, góp phần tích cực vào sự phát triển của mỗi cá nhân và cả dân tộc Qua tìm hiểu giá trị, học sinh kể được một số biểu hiện của lòng tự hào về truyền thống của dân tộc Việt Nam Những biểu hiện đó thể hiện cụ thể ở những việc như: sưu tầm, tìm hiểu và tự hào về các truyền thống tốt đẹp của dân tộc; trân trọng, tự hào về các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hóa của đất nước; giữ gìn và bảo vệ các di sản lịch sử và văn hóa của dân tộc, các loại hình nghệ thuật truyền thống, các tác phẩm nghệ thuật, các lễ hội, trang phục, môn ăn truyền thống; sống và ứng xử phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống của dân tộc (chăm chỉ học tập, lao động, sống nhân ái, trung thực, giữ chữ tín, tôn sư

trọng đạo) Ba là, thực hiện được những việc làm cụ thể để giữ gìn, phát huy truyền

thống của dân tộc như chăm chỉ, chuyên cần, sáng tạo trong học tập; kính trọng, biết

ơn thầy cô giáo; hiếu thảo với cha mẹ; tích cực tham gia các hoạt động chính trị - xã hội Học sinh đánh giá được hành vi, việc làm của bản thân và những người xung quanh trong việc thể hiện lòng tự hào về truyền thống của dân tộc Việt Nam Không những tôn trọng, tự hào về những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà học sinh còn có thể phê phán và ngăn chặn những hành vi, việc làm tổn hại đến những truyền thống đó

Tương đồng về nội dung trong chương trình hiện hành và chương trình mới được thể hiện cụ thể qua phân tích chủ đề/ bài: “Lí tưởng sống của thanh niên”

Trang 36

Bài 10 của lớp 9 với tên bài “Lí tưởng sống của thanh niên” (Chương trình hiện hành) được kế thừa, tuy nhiên khi áp dụng vào chương trình mới sẽ là bài 1 của lớp 9 với chủ đề “Sống có lí tưởng”; khi giảng dạy bài này, ở cả hai chương trình, giáo viên

phải đảm bảo các nội dung sau: Một là, nêu được khái niệm sống có lí tưởng Lí

tưởng sống là mục đích cuộc sống mà con người mong muốn đạt tới, có tác dụng hướng cho cá suy nghĩ, hành động, lối sống và cách cư xử của con người Học sinh phân biệt được lí tưởng sống cao đẹp với những mục đích sống tầm thườn; đưa ra

được ví dụ về thanh niên sống có lí tưởng Hai là, giải thích được ý nghĩa của việc

sống có lí tưởng Người có lí tưởng sống cao đẹp sẽ được mọi người kính trọng Từ đó học sinh nhận biết được lí tưởng sống của thanh niên Việt Nam hiện nay là phấn đấu thực hiện mục tiêu xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Trước mắt là thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp

hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa Ba là, từ đó giáo viên định hướng

học sinh xác định được lí tưởng sống đúng đắn, phù hợp cho bản thân là thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh Không sa vào những mục đích sống thực dụng, tầm thường

Tương đồng về nội dung trong chương trình hiện hành và chương trình mới được thể hiện cụ thể qua phân tích chủ đề/ bài: “Yêu thương con người”

Bài 5 của lớp 7 với tên bài “Yêu thương con người” (Chương trình hiện hành) được kế thừa, tuy nhiên khi áp dụng vào chương trình mới sẽ là bài 2 của lớp 7 vẫn với chủ đề “Yêu thương con người”; khi giảng dạy bài này, ở cả hai chương trình ,

giáo viên phải đảm bảo các nội dung sau: Một là, nêu được khái niệm và biểu hiện của

tình yêu thương con người Lòng yêu thương con người bắt nguồn từ sự cảm thông, đau xót trước những khó khăn, đau khổ của người khác, mong muốn đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho họ Yêu thương con người là quan tâm, giúp đỡ, làm những điều tốt đẹp cho người khác, nhất là những người gặp khó khăn, hoạn nạn; sẵn sàng giúp

đỡ, chia sẻ những khó khăn, bất hạnh của người khác; dìu dắt, nâng đỡ những người có lỗi lầm, giúp họ tìm ra con đường đúng đắn; biết khi sinh quyền lợi của bản thân cho người khác; Ví dụ: người thầy thuốc hết lòng cứu chữa bệnh nhân; các thầy, cô giáo tận tụy dạy dỗ học sinh nên người; hi sinh thân mình để cứu bạn khỏi chết đuối; động

viên an ủi, giúp đỡ người tàn tật Hai là, trình bày được giá trị của tình yêu thương

Trang 37

con người Đối với cá nhân: Tình yêu thương giúp con người có thêm sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong cuộc sống; được mọi người yêu quý và kính trọng Đối với xã hội: Yêu thương con người là truyền thống quý báu của dân tộc, cần được giữ gìn và phát huy Lòng yêu thương con người góp phần làm cho xã hội trong sáng lành mạnh Học sinh thực hiện được những việc làm thể hiện tình yêu thương con người Yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ ông bà, cha mẹ và những người thân trong gia đình; luôn gần gũi và cư xử ân cần, chu đáo với mọi người, làm mọi người cảm thấy dễ chịu khi gần mình; tránh làm điều ác, điều xấu như đánh nhau, bắt nạt bạn

bè, em nhỏ, chế giễu người tàn tật hoặc thờ ơ, lãng tránh trước đau khổ của người khác; tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo như ủng hộ, giúp đỡ đồng bào

vùng lũ, nạn nhân chiến tranh, người khuyết tật, Ba là, đánh giá được thái độ, hành

vi thể hiện tình yêu thương của người khác Phê phán những biểu hiện trái với tình yêu thương con người Học sinh quan tâm đến nhu cầu, điều mong muốn, ích lợi của mọi người xung quanh; trước thái độ thờ ơ và hành vi độc ác đối với con người như lảng tránh trước đau khổ của người khác, làm cho người khác phải đau khổ, học sinh cần có thái độ phản đối, tìm cách ngăn chặn

Tương đồng về nội dung trong chương trình hiện hành và chương trình mới được thể hiện cụ thể qua phân tích chủ đề/ bài: “Tôn trọng và học hỏi các dân tộc khác”

Bài 8 của lớp 8 với tên bài “Tôn trọng và học hỏi các dân tộc khác” (Chương trình hiện hành) được kế thừa, tuy nhiên khi áp dụng vào chương trình mới sẽ là bài 2 của lớp 8 với chủ đề “Tôn trọng sự đa dạng của các dân tộc”; khi giảng dạy bài này, ở

cả hai chương trình, giáo viên phải đảm bảo các nội dung sau: Một là, nêu được một số

biểu hiện của sự đa dạng của các dân tộc và các nền văn hóa trên thế giới Tôn trọng

sự đa dạng của các các dân tộc có thể được hiểu là tôn trọng chủ quyền, lợi ích và nền văn hóa của các dân tộc khác; luôn tìm hiểu và tiếp thu những điều tốt đẹp trong nền kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc khác; đồng thời thể hiện lòng tự hào dân tộc chính đáng của mình Qua đó học sinh nắm đượcc những biểu hiện như tìm hiểu về lịch sử, kinh tế và văn hóa các dân tộc khác; tôn trọng ngôn ngữ, trang phục, phong tục tập quán của họ; thừa nhận và học hỏi những tinh hoa văn hóa, những thành tựu về các

mặt của họ Hai là, hiểu được ý nghĩa của việc tôn trọng sự đa dạng của các dân tộc và

Ngày đăng: 06/05/2021, 16:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w