1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch thành phố tam kỳ, tỉnh quảng nam

84 70 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đánh giá đúng thực trạng nguồn tài nguyên du lịch của thành phố và thông qua đó đưa ra những ý kiến, những đề xuất, những kiến nghị và các giải pháp để có

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH: ĐỊA LÝ HỌC (CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÝ DU LỊCH)

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH: ĐỊA LÝ HỌC (CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÝ DU LỊCH)

Người hướng dẫn khoa học:

ThS Đoàn Thị Thông

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Từ khi chọn đề tài, cho đến khi hoàn thành nội dung khóa luận tốt nghiệp, ngoài

sự cố gắng nỗ lực của bản thân, đề tài còn có sự đóng góp nhiệt tình của quý thầy, cô giáo, các bạn sinh viên khoa Địa Lí của trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng cũng như các ban ngành thuộc lĩnh vực mà đề tài nghiên cứu đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Xin chân thành cảm ơn cô giáo ThS Đoàn Thị Thông, giảng viên khoa Địa Lí, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, cô đã trực tiếp và tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo cùng tất cả các bạn sinh viên khoa Địa

Lí đã đóng góp ý kiến xây dựng cho khóa luận được hoàn thiện hơn

Và cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bác, cô, chú và anh, chị thuộc Ủy ban nhân dân TP Tam Kỳ; Phòng Văn hóa – Thể thao - Du lịch; Trung tâm văn hóa thông tin TP Tam Kỳ, Phòng Thống kê TP Tam Kỳ – tỉnh Quảng Nam đã cung cấp số liệu cần thiết

và nhiệt tình đóng góp ý kiến xây dựng cho khóa luận này

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, mặc dù em đã có nhiều cố gắng song không thể tránh khỏi những thiếu sót nên đề tài rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ phía các thầy, cô giáo cùng các bạn sinh viên khoa Địa lí, trường Đại học Sư phạm – Đại học

Đà Nẵng để để tài được hoàn thiện hơn và rút kinh nghiệm trong những lần nghiên cứu sau này

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 7

DANH MỤC CÁC BẢNG 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ 8

PHẦN A MỞ ĐẦU 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Mục tiêu nghiên cứu 10

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10

4.1 Đối tượng nghiên cứu 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu 10

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 10

5.1 Quan điểm nghiên cứu 10

5.2 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Lịch sử nghiên cứu 12

7 Đóng góp mới của đề tài 14

7.1 Về mặt thực tiễn 14

7.2 Về mặt khoa học 14

8 Cấu trúc đề tài 14

PHẦN B NỘI DUNG 15

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 15

1.1 Cơ sở lý luận 15

1.1.1 Các khái niệm 15

Trang 5

1.1.2 Vai trò của du lịch 17

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch 19

1.1.4 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch 29

1.2 Cơ sở thực tiễn 31

1.2.1 Khái quát về tỉnh Quảng Nam 31

1.2.2 Khái quát về du lịch tỉnh Quảng Nam 31

Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM 34

2.1 Khái quát về thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam 34

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37

2.2 Tiềm năng phát triển du lịch ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 38

2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 38

2.2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa 39

2.3 Đánh giá chung về tiềm năng du lịch ở thành phố Tam Kỳ 47

2.3.1 Thuận lợi 47

2.3.2 Khó khăn 47

2.4 Thực trạng hoạt động du lịch ở Tam Kỳ giai đoạn năm 2017-2019 48

2.4.1 Khách du lịch 48

2.4.2 Doanh thu du lịch 51

2.4.3 Lực lượng lao động trong du lịch 52

2.4.4 Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 53

2.4.5 Các loại hình du lịch 56

2.4.6 Các tuyến, điểm du lịch thành phố Tam Kỳ 56

2.4.7 Công tác quảng bá, xúc tiến trong phát triển du lịch của TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 61

Trang 6

2.4.8 Đánh giá chung về tình hình hoạt động du lịch ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh

Quảng Nam 62

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM 65

3.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển du lịch TP Tam Kỳ đến năm 2030 65

3.1.1 Quan điểm 65

3.1.2 Mục tiêu 65

3.1.3 Định hướng 67

3.2 Các giải pháp phát triển du lịch thành phố Tam Kỳ 68

3.2.1 Giải pháp về công tác tổ chức quản lí 68

3.2.2 Giải pháp về tổ chức quy hoạch và công tác thực hiện quy hoạch 70

3.2.3 Giải pháp về cơ chế chính sách 72

3.2.4 Giải pháp về vốn đầu tư 73

3.2.5 Giải pháp về nguồn nhân lực 74

3.2.6 Giải pháp về thị trường, xúc tiến và quảng bá du lịch 75

3.2.7 Giải pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch 76

PHẦN C KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 81

Trang 7

 TNDLNV : Tài nguyên du lịch nhân văn

 TNDLTN : Tài nguyên du lịch tự nhiên

 TM-DV : Thương mại – dịch vụ

 TP : Thành phố

 UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Bảng số liệu tổng lượt khách du lịch đến với

Tam Kỳ giai đoạn năm 2017-2019

47

DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ

2.2 Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng KDL tại

TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017-2019

49

2.3 Biểu đồ cơ cấu khách du lịch quốc tế theo thị

trường đến Tam Kỳ năm 2019

50

2.4 Biểu đồ thể hiện doanh thu du lịch của thành

phố Tam Kỳ giai đoạn năm 2017-2019

51

Trang 9

PHẦN A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, trên thế giới du lịch đang phát triển mạnh để trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng Theo tổ chức Du lịch thế giới, du lịch đang là ngành kinh tế mũi nhọn, năng động nhất trên thế giới, đem lại nguồn lợi đáng kể và đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới những năm qua Ở Việt Nam, nhà nước ta đã xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao Phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của các tầng lớp nhân dân, của khách

du lịch trong nước và quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân Bên cạnh đó, du lịch càng góp phần thúc đẩy giao lưu, phát triển văn hoá giữa các vùng, miền trong cả nước và quốc tế

Quảng Nam là một tỉnh ở miền trung Việt Nam, diện tích hơn 10.400 km², dân

số gần 1,5 triệu người Phía Bắc giáp Thành phố Đà Nẵng và Thừa thiên Huế, phía Nam giáp Tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp nước Lào, phía Đông giáp biển đông, thuận lợi về giao thông trên các trục chính Bắc - Nam cả về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không Là một vùng đất giàu về truyền thống văn hóa để du khách khám phá với các sản phẩm du lịch văn hóa nổi bật Ngoài Hội An lộng lẫy ra còn một cái tên

mà ta không thể bỏ qua khi đến với Quảng Nam đó là Thành phố Tam Kỳ, mặc dù không quyến rũ như thành phố biển Đà Nẵng hay lộng lẫy như Hội An nhưng Tam Kỳ mang cho mình một vẻ đẹp riêng biệt và đậm chất đặc trưng của miền Trung nắng gió Trong những năm gần đây Tam Kỳ được coi là điểm đến hấp dẫn và lý thú dành cho du khách yêu thích khám phá và tìm hiểu về nền văn hoá và lịch sử Vấn đề đặt ra là làm thế nào

để đánh giá đúng thực trạng nguồn tài nguyên du lịch của thành phố và thông qua đó đưa ra những ý kiến, những đề xuất, những kiến nghị và các giải pháp để có thể đưa Tam Kỳ trở thành một khu du lịch gắn với Quảng Nam, để hoạt động du lịch ở Quảng Nam ngày càng mở rộng và phát triển Với những lý do trên tôi đã quyết định chọn đề

tài “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam"

làm khóa luận tốt nghiệp

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích thực trạng hoạt động du lịch thành phố Tam Kỳ, để từ đó thấy được những thành công và hạn chế trong phát triển du lịch của thành phố Trên cơ sở đó đề

ra các giải pháp phát triển du lịch thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn thành được đề tài này tôi cần phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Phân tích tiềm năng để phát triển du lịch của thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

- Tìm hiểu thực trạng hoạt động phát triển du lịch của thành phố Tam Kỳ, tìm hiểu những hạn chế còn tồn tại cần giải quyết

- Đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển du lịch một cách hợp lý

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: Đề tài thu thập số liệu từ năm 2017 - 2019 và định hướng đến năm

2030

Về không gian: TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Về nội dung: Đề tài chủ yếu tập trung vào nghiên cứu, phân tích về tài nguyên

du lịch, thực trạng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, cũng như về số khách, doanh thu và lao động ngành du lịch trên địa bàn Thành phố Tam Kỳ, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phát triển hiệu quả hơn du lịch của Thành phố Tam Kỳ trong thời gian tới

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ các hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hoặc tập thể ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hoặc ngoài nước họ với mục đích hòa bình Như vậy các điều kiện

và nhân tố du lịch tồn tại và phát triển của các thành phần: tự nhiên, kinh tế- xã hội và

Trang 11

các quy luật cơ bản của các loại hình du lịch Do đó, khi nghiên cứu hoạt động du lịch cần phải nghiên cứu một cách toàn diện trên nhiều mặt dựa vào việc phân tích các bộ phận của nó, từ đó xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận đó cũng như mối quan

hệ trong hoạt động du lịch với các hoạt động kinh tế- xã hội khác Đây cũng là quan điểm chủ đạo trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

5.1.2 Quan điểm lịch sử - logic

Cũng như các hoạt động khác, hoạt động du lịch cũng có nguồn gốc phát sinh phát triển và nó gắn với hoạt động của con người Do đó khi nghiên cứu hoạt động du lịch trong một thời gian nhất định phải tìm hiểu tình hình phát triển của nó trong giai đoạn trước đó để có thể tìm ra quy luật phát triển chung nhất

5.1.4 Quan điểm kinh tế- sinh thái bền vững

Cũng như các thành phần kinh tế khác, tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển của ngành du lịch chính là hiệu quả kinh tế mà nó mang lại cho mỗi quốc gia, dân tộc Đồng thời, việc phát triển du lịch phải gắn với công tác bảo vệ môi trường sinh thái được bền vững Đây chính là một trong những quan điểm chủ đạo để nghiên cứu đề tài này

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu

Đối với hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học nói chung, phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu, xử lí số liệu thống kê được coi là phương pháp phổ biến và cực kì quan trọng Việc vận dụng phương pháp này nhằm đảm bảo tính kế thừa những nghiên cứu trước đó

Bên cạnh việc thu thập các dữ liệu từ các nguồn như sách, giáo trình, báo, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo, các đề tài nghiên cứu khoa học của Thành phố Tam Kỳ, Tổng Cục Du lịch, Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch, các thông in trên mạng internet

… Các tài liệu có được trong quá trình thu thập phục vụ đề tài này hầu hết từ các nguồn

Trang 12

chính thống như Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam, Cục Thống kê Quảng Nam …

Sau khi thu thập đầy đủ các tài liệu cần thiết, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp các tài liệu phục vụ cho việc đánh giá thực trạng phát triển du lịch của Thành phố Tam Kỳ, từ đó đề xuất những giải pháp cần thiết góp phần thúc đẩy du lịch Thành phố Tam Kỳ phát triển hơn nữa trong thời gian tới

5.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh

Đây cũng là một trong những phương pháp rất quan trọng, không thể thiếu được trong quá trình làm đề tài Trong khi thực hiện đề tài về phát triển du lịch của Thành phố Tam Kỳ, phương pháp này đã phát huy rất rõ vai trò của mình, nó giúp cho việc nhận định, đánh giá, dự báo trên cơ sở phân tích các số liệu thống kê và phép đối chiếu so sánh khoa học đạt được những kết quả nhất định Qua việc các số liệu, các thông tin được đưa vào xử lí, phân tích, so sánh đã giúp cho việc đưa ra những kết luận, những nhận định có giá trị thực tiễn cao

5.2.3 Phương pháp bản đồ

Trong quá trình nghiên cứu của bất kì một đề tài khoa học nào về mặt không gian lãnh thổ lại không sử dụng phương pháp bản đồ Đặc biệt là với các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực địa lí, phương pháp bản đồ càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Bằng một thứ “ngôn ngữ” tổng hợp , trực quan, bản đồ trở thành một loại tư liệu cần thiết khi đánh giá tiềm năng, phân tích thực trạng phát triển du lịch của một lãnh thổ nào đó

5.2.4 Phương pháp khảo sát thực địa

Khảo sát thực địa là phương pháp nghiên cứu truyền thống nhưng lại là công việc bắt buộc đối với mỗi đề tài nghiên cứu Việc có mặt tại thực địa, quan sát trực tiếp và phỏng vấn những người có trách nhiệm các vấn đề có liên quan tới đề tài là rất cần thiêt

Để từ đó bổ sung cho lý luận được hoàn chỉnh Là cơ sở đánh giá ban đầu và thẩm định lại trong quá trình nghiên cứu Trên cơ sở đó giúp đề ra các giải pháp hợp lý và khả thi

6 Lịch sử nghiên cứu

Tam Kỳ là một thị xã, vừa mới nâng cấp lên thành phố vào năm 2007, trong thời gian gần đây thì diện tích của thành phố bị thu hẹp rất nhiều, do tách Phú Ninh thành huyện riêng nên những vấn đề nghiên cứu về vấn đề du lịch rất ít Hầu hết các công trình

Trang 13

nghiên cứu chủ yếu là các bài viết trên sách báo chỉ nêu tiềm năng du lịch của thành phố

do phòng văn hóa thông tin thành phố cung cấp

Về tài nguyên du lịch và tình hình phát triển du lịch ở Tam Kỳ, trước nay cũng

có một số thông tin Như cuốn Non Nước Việt Nam của Tổng cục du lịch Việt Nam có giới thiệu sơ lược về một số điểm du lịch của tỉnh Quảng Nam, trong đó có một số điểm của thành phố Tạm Kỳ Ngoài ra, trên một số website trong và ngoài tỉnh, một số sách báo, tạp chí cũng có một số bài viết giới thiệu vẻ đẹp của một số địa điểm, có thể khai thác để phục vụ du lich ở thành phố như: Việt Nam 63 tỉnh thành và các địa danh du lịch do Thanh Bình và Hồng Yến biên soạn (NXB Lao động), Sổ tay địa danh Du lịch các tỉnh Trung Trung Bộ (NXB Lao động) Ngoài ra còn một số sách báo, tạp chí từng

kì của tỉnh Quảng Nam

Những năm gần đây, nhiều tác giả đã quan tâm đến việc nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường và sức khỏe con người như Phạm Trung Lương,

Vũ Tuấn Cảnh Nhìn chung các bài viết còn sơ lược, chưa nghiên cứu, đánh giá cụ thể từng loại tài nguyên du lịch và không đưa ra các giải pháp và định hướng cụ thể nhằm khai thác phát triển du lịch ở Tam Kỳ một cách bài bản và bền vững Gần đây, cũng đã

có một số bài viết, báo cáo nghiên cứu có liên quan đến vấn này Chẳng hạn: “Giải pháp nâng cao tăng trưởng kinh tế ở TP Tam Kỳ- Quảng Nam” của Lê Thị Mỹ Hướng; Bàn

về định hướng phát triển du lịch biển Tam Thanh và tiềm năng du lịch thành phố Tam Kỳ- Quảng Nam của Kim Dung (Phòng VH&TT thành phố Tam Kỳ) Các bài viết này

đã tổng hợp được tiềm năng du lịch của thành phố Tam Kỳ trong thời gian qua, đồng thời đưa ra một số định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy việc phát triển du lịch Tam Kỳ

Tuy nhiên, các bài viết này chỉ mới chú trọng vào việc đánh giá tiềm năng mà chưa đánh giá được thực trạng hoạt động du lịch ở Tam Kỳ, cũng chưa vạch ra được những giải pháp cụ thể để phát triển du lịch của Tam Kỳ trong thời gian tới Chính vì thế tôi đã kế thừa những bài viết trên để thực hiện khóa luận tốt nghiệp này nhằm phát huy những thành công đã đạt được và khắc phục những hạn chế trên mà các bài viết, nghiên cứu đi trước chưa thực hiện được

Trang 14

7 Đóng góp mới của đề tài

7.2 Về mặt khoa học

Đề tài góp phần vào việc nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề liên quan đến tiềm năng du lịch thành phố Tam Kỳ Đồng thời tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch và đưa ra các định hướng, giải pháp khai thác thiết thực nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội địa phương cũng như nâng cao đời sống người dân

8 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch

Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Trang 15

PHẦN B NỘI DUNG

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

DU LỊCH 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm

1.1.1.1.Du lịch

Du lịch không phải là một khái niệm mới lạ Tuy nhiên, dưới mỗi góc độ nghiên cứu và tiếp cận khác nhau sẽ có những cách hiểu khác nhau về du lịch Điều này thật đúng với nhận định của GS.TS Berneker - một trong những chuyên gia hàng đầu về du

lịch thế giới rằng: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” Điều đó cho thấy, việc thống nhất thành một khái niệm chung là một việc

làm đặc biệt khó khăn

Dưới góc độ địa lý du lịch, I.I.Pirogionic (1985) cho rằng: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”

Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của một cá nhân đi đến và lưu trú tại những điểm ngoài nơi ở thường xuyên của họ trong thời gian không dài hơn một năm với mục đích nghỉ ngơi, công vụ và mục đích khác”

Ở Việt Nam, thuật ngữ du lịch được định nghĩa tại Điều 4 của Luật Du lịch (2017) như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi

cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Trang 16

khách hàng ở cấp độ địa phương, khu vực, quốc gia và quốc tế để các đơn vị này có thể thiết kế và tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm nâng cao sự hài lòng của khách và đạt được mục tiêu đề ra

SPDL bao gồm cả những sản phẩm vô hình và hữu hình Nó là sự kết hợp của những thành phần tạo nên sự hấp dẫn và lực hút đối với du khách (như những cảnh quan,

kỳ quan thiên nhiên, các di sản văn hóa, các di tích lịch sử …) với các dịch vụ du lịch (lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, mua sắm, thông tin …) và cơ sở du lịch (phương tiện vật chất, kỹ thuật, hạ tầng phục vụ du lịch) trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn) để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch

Ngày 04/3/1993, theo đề nghị của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Hội đồng Thống kê Liên hợp quốc đã công nhận những thuật ngữ để thống nhất soạn thảo thống

kê du lịch như sau:

Khách du lịch quốc tế (International Tourist) bao gồm:

+ Khách du lịch quốc tế đến (Inbound Tourist): Gồm những người từ nước ngoài đến du lịch một quốc gia

+ Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound Tourist): Gồm những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch ra nước ngoài

KDL trong nước (Internal Tourist): Gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi du lịch trong nước

Trang 17

KDL nội địa (Domestic Tourist): Gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến

KDL quốc gia (National Tourist): Gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài

1.1.1.4 Tài nguyên du lịch

Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 định nghĩa: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị

du lịch”

Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 còn phân chia tài nguyên du lịch làm hai loại

“gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa đang được khai thác và chưa được khai thác” Trong đó quy định rõ:

TNDLTN gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

TNDLVH gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”

1.1.2 Vai trò của du lịch

Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nước

a Đối với kinh tế

Du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển Việc phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, vì sản phẩm du lịch mang tính liên ngành có quan hệ đến nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế Khi một khu vực nào đó trở thành điểm du lịch, du khách ở mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hoá dịch vụ tăng lên đáng kể Hơn nữa, các hàng hoá, vật tư cho du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, hình thức đẹp, hấp dẫn Do đó nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng sáng tạo cải tiến, phát triển các loại hàng hoá Để làm được điều này, các doanh nghiệp bắt buộc

Trang 18

phải đầu tư trang thiết bị hiện đại, tuyển chọn và sử dụng công nhân có tay nghề cao đáp ứng được nhu cầu của du khách

Ngành du lịch ngày nay còn được gọi bằng cái tên không chính thức là ngành Công nghiệp không khói, nó giữ một vị trí cực kì quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu Theo tài liệu Chỉ số Cạnh tranh Du lịch năm 2009 (TTCI 2009) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) thì ngành du lịch và lữ hành hiện chiếm khoảng 9,9 % GDP, 10,9 % xuất khẩu, và 9,4 % đầu tư của thế giới

Du lịch đã nộp hàng ngàn tỷ đồng vào ngân sách nhà nước mỗi năm Ngoài ra cùng với sự phát triển của du lịch cũng dễ tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác cùng phát triển Với những thuận lợi, những mặt tích cực mà phát triển du lịch đem lại thì du lịch thực sự có khả năng làm thay đổi bộ mặt kinh tế của nước ta

b Đối với xã hội

Du lịch có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, hồi phục sức khỏe cho nhân dân Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người Các công trình nghiên cứu về sinh học khẳng định rằng, nhờ chế độ nghỉ ngơi tích cực, bệnh tật của dân cư trung bình giảm 30%, bệnh đường

hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh tiêu hóa giảm 20% (Crirosep, Dorin, 1981) Khi mọi người có điều kiện tiếp xúc với nhau, gần gũi nhau hơn, những đức tính tốt của con người được thể hiện rõ nét Du lịch là điều kiện để con người xích lại gần nhau, thông qua du lịch mọi người hiểu nhau hơn, tăng thêm tính đoàn kết cộng đồng Điều này dễ nhận thấy ở lứa tuổi thanh niên, ở những cơ quan có chế độ làm việc ít tập trung hay làm việc căng thẳng theo dây chuyền

Du lịch góp phần quan trọng trong việc giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng yêu nước, yêu thiên nhiên Sự phát triển du lịch tác động nhiều đến các mặt văn hóa, xã hội của nơi đến Ngược lại, du khách cũng bị ảnh hưởng nhất định bởi sự tương phản, khác biệt về văn hóa, đời sống của các nước, các vùng họ đến thăm

Họ có cơ hội để tìm hiểu và học hỏi lối sống và phong tục tập quán của dân tộc khác Một trong những đặc điểm của du lịch là khuyến khích khôi phục những nét văn hóa bị mai một, phục hưng và duy trì các loại hình nghệ thuật cổ truyền như âm nhạc truyền thống, các điệu múa nghi lễ,…; làm sống lại các phong tục, tập quán đẹp, bảo tồn các công trình văn hóa và tạo ra thị trường mới cho các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật Thông

Trang 19

qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng nhân dân có điều kiện tiếp xúc với các thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc, từ đó tăng thêm long yêu nước tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm chất tốt đẹp như long yêu lao động, tình yêu quê hương đất nước,…Điều đó quyết định sự phát triển về nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội Du lịch được xem như nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau hơn

c Đối với môi trường

Du lịch là nhân tố có vai trò kích thích việc bảo vệ và khôi phục môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và các hoạt động của con người Việc tắm mình trong thiên nhiên, được cảm nhận trực tiếp

sự hùng vĩ, trong lành và nên thơ của các cảnh quan có ý nghĩa quan trọng đối với du khách Nó tạo cho họ có điều kiện hiểu biết sâu sắc về tự nhiên, thấy được giá trị của tự nhiên đối với đời sống con người, là bằng chứng thực tiễn phong phú góp phần tích cực vào việc giáo dục môi trường Mặt khác, việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch Đến lượt mình, quá trình này kích thích sự tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên và đảm bảo điều kiện sử dụng chúng một cách hợp lý Nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch của đông đảo quần chúng đòi hỏi phải hình thành các kiểu cảnh quan được bảo vệ giống như các công viên quốc gia Từ đó hang loạt công viên thiên nhiên quốc gia (vườn quốc gia) đã được thành lập vừa để bảo vệ cảnh quan thiên nhiên có giá trị, vừa tổ chức các hoạt động giải trí du lịch Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ một mặt, xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động xâm hại của các dòng khách du lịch cũng như việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch Như vậy, giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối quan hệ qua lại với nhau

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch

1.1.3.1 Tài nguyên du lịch

TNDL là một phạm trù lịch sử, có tính linh hoạt cao Do đó, khi đánh giá tài nguyên du lịch và xác định hướng khai thác, cần phải tính đến những thay đổi trong

Trang 20

tương lai về nhu cầu cũng như khả năng kinh tế, kĩ thuật để khai thác các loại tài nguyên mới sao cho đạt hiệu quả cao nhất về mọi mặt

a Tài nguyên du lịch tự nhiên

Địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật là những thành phần tự nhiên tác động mạnh mẽ nhất đến hoạt động du lịch

- Địa hình

Mỗi đặc điểm hình thái của địa hình và các dạng địa hình đặc biệt sẽ có sức hấp dẫn đối với du khách

Địa hình vùng núi là nơi có tiềm năng lớn nhất trong việc tổ chức các hoạt động

du lịch Khu vực này ở những độ cao nhất định thường có khí hậu ôn hòa, không khí trong lành thuận lợi cho nghỉ ngơi, an dưỡng, tổ chức các hoạt động thể thao Miền núi còn là nơi tập trung nhiều loài động - thực vật, với những cảnh quan địa hình đa dạng tạo nên một nguồn tài nguyên du lịch tổng hợp có giá trị cao cho việc khai thác phát triển du lịch

Ở địa hình đồi, thường là nơi có không gian thoáng đãng thích hợp cho các hoạt động dã ngoại, cắm trại, tham quan … Nơi đây dân cư thường tập trung đông đúc, có truyền thống sản xuất phong phú, đa dạng, lâu đời; thường là nơi có nhiều di tích khảo

cổ, tài nguyên văn hóa lịch sử độc đáo thuận lợi cho việc khai thác phát triển du lịch đặc biệt là các loại hình du lịch theo chuyên đề

Còn ở dạng địa hình đồng bằng, đây là nơi dân cư tập trung đông đúc nhất, lâu đời nhất, kinh tế - xã hội phát triển nhất do đó có nền sản xuất phong phú, đa dạng nhất Chính những yếu tố đó đã ẩn chứa một tiềm năng du lịch rất lớn

Trong số các kiểu địa hình thì kiểu địa hình các xtơ và các kiểu địa hình ven bờ (ven biển, ven sông, ven hồ …) có giá trị đặc biệt lớn, thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của

Trang 21

- Địa hình ven bờ các đại dương, biển, hồ, sông … có ý nghĩa quan trọng đối với

du lịch, đặc biệt là địa hình ven biển Người ta có nhiều tiêu chí để đánh giá mức độ thuận lợi cho du lịch của các bãi biển như: dài, rộng, bằng phẳng, độ mặn, độ trong, sạch của nước … kết hợp với phong cảnh đẹp, hấp dẫn

- Khí hậu

Khí hậu là một trong những thành phần tự nhiên quan trọng, có vai trò to lớn trong việc tổ chức các hoạt động du lịch, trong đó nhiệt độ và độ ẩm không khí là hai yếu tố quan trọng nhất Ngoài ra, đánh giá tài nguyên khí hậu cho mục đích phát triển

du lịch còn dựa vào các yếu tố khác như gió, số giờ nắng, sự phân mùa và các hiện tượng thời tiết đặc biệt (bão, giông, lốc, lũ lụt, …) bởi vì chúng có tác động lớn đến việc tổ chức du lịch Sự phân mùa của khí hậu dẫn đến các hoạt động du lịch cũng có tính mùa

rõ rệt Ở các vùng, các đới khí hậu khác nhau sẽ có những mùa du lịch khác nhau Do tác động của yếu tố khí hậu mà tùy nơi, hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh năm hay chỉ một vài tháng trong năm

- Nguồn nước

Nguồn tài nguyên nước có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động du lịch Nó bao gồm nước trên bề mặt và nước trong lòng đất Dù là ngọt hay mặn thì mỗi loại đều có những giá trị sử dụng phục vụ du lịch khác nhau

Tài nguyên nước trên bề mặt, ngoài nguồn nước dồi dào trong các biển và đại dương bao la còn có trong các mạng lưới sông suối, ao, hồ… Các vùng nước ven bờ (biển, sông, hồ …) kết hợp với các tài nguyên khác như núi non, các hệ sinh thái … tạo

ra những phong cảnh đẹp, hùng vĩ, nên thơ hấp dẫn khách du lịch

Trên các vùng địa hình núi đồi, nguồn nước trong các sông suối có thể tạo ra các thác nước đẹp Nơi đây có thể triển khai các hoạt động du lịch tham quan hoặc thể thao mạo hiểm

Trong nguồn tài nguyên nước có thể khai thác phục vụ du lịch không thể không

kể đến nguồn nước khoáng thiên nhiên Trong nước khoáng thiên nhiên có chứa một số thành phần vật chất đặc biệt có tác dụng tốt đối với sức khỏe con người Do đó nó có giá trị cao đối với việc phát triển loại hình du lịch an dưỡng, chữa bệnh

- Sinh vật

Trang 22

Tài nguyên sinh vật kết hợp với các loại tài nguyên khác (địa hình, khí hậu, nguồn nước …) vừa tạo nên phong cảnh đẹp, hấp dẫn thuận lợi cho du lịch phát triển, lại vừa

có ý nghĩa bảo vệ môi trường

Loại hình du lịch sinh thái được tạo ra dựa trên cơ sở các hệ động - thực vật Có những hệ sinh thái phục vụ cho tham quan du lịch như: các thảm thực vật phong phú,

đa dạng, độc đáo, điển hình (rừng nhiệt đới ẩm, rừng ngập mặn, rừng cây lá kim, …) các loại động vật quí hiếm, hoặc các loài phổ biến, đặc sản được phép săn bắn, khai thác phục vụ nhu cầu ẩm thực của du khách Và sinh vật không chỉ là đối tượng để khai thác phục vụ du lịch một cách thuần túy mà chúng còn phục vụ cho mục đích chuyên sâu như nghiên cứu khoa học Những nơi đó thường là các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia

Nguồn sinh vật phong phú góp phần quan trọng vào việc đáp ứng nhu cầu du lịch ngày càng đa dạng của con người nhất là du lịch hướng về thiên nhiên

b Tài nguyên du lịch văn hóa

Tài nguyên du lịch văn hóa là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình lịch sử và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, với các điều kiện kinh tế - xã hội, chịu sự chi phối của qui luật tự nhiên, qui luật phát triển văn hóa của con người Do vậy ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia thường có một nguồn tài nguyên

du lịch văn hóa nhất định, mang bản sắc riêng, độc đáo, lạ lẫm, thu hút du khách

- Di tích lịch sử, văn hóa

Di tích lịch sử, văn hóa là những di sản, những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa do con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại Nó không những là tài sản quí giá mà còn là bằng chứng xác thực nhất, cụ thể nhất về đặc điểm văn hóa, truyền thống tốt đẹp, tinh hoa, trí tuệ, tài năng của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và của cả nhân loại

Hiện nay, các di tích lịch sử, văn hóa được chia thành bốn nhóm chính, trong đó: + Di tích văn hóa khảo cổ: Là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa thuộc về thời kì xa xưa và thường nằm dưới lòng đất, trong các hang động hoặc dưới đáy biển, đại dương …

Trang 23

+ Di tích lịch sử: Là các di tích gắn với đặc điểm và quá trình phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Nó bao gồm các di tích ghi dấu về dân tộc học (sự ăn ở, sinh hoạt, sản xuất … của các tộc người), các sự kiện chính trị quan trọng hay các chiến công chống xâm lược hoặc tội ác của các thế lực phản động …

+ Di tích văn hóa nghệ thuật: Là các di tích gắn liền với các công trình kiến trúc

có giá trị; các công trình văn hóa thuộc các lĩnh vực âm nhạc, văn học, nghệ thuật (điêu khắc, tranh vẽ, gốm sứ …)

+ Danh lam thắng cảnh: Là những nơi có phong cảnh đẹp hòa quyện với các công trình mang tính chất văn hóa, lịch sử, nghệ thuật

- Lễ hội

Lễ hội là một dạng tài nguyên văn hóa quan trọng Đây là một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của người dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: hướng về tổ tiên, ông bà, ôn lại truyền thống, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khát khao, mơ ước mà cuộc sống hiện tại chưa thể giải quyết được

Lễ hội gồm hai phần là phần nghi lễ và phần hội

Hầu hết trong các lễ hội thì hai phần lễ và hội thường hòa quyện với nhau, tuy nhiên trọng tâm vẫn là phần hội Và thực tế thì trong bản thân phần hội đã bao hàm ý nghĩa tâm linh của phần lễ Lễ hội thường diễn ra vào thời điểm được cho là linh thiêng, đánh dấu sự kết thúc và bắt đầu của một chu kì lao động sản xuất

- Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

Các sản phẩm ra đời từ các làng nghề thủ công cổ truyền luôn mang những giá trị nhất định Nó không chỉ có giá trị sử dụng cao mà còn có rất nhiều những giá trị khác như: giá trị nghệ thuật, giá trị tâm linh, giá trị triết học … thể hiện tài nghệ, ước vọng của những người làm ra chúng Chính vì vậy, nghề, làng nghề thủ công truyền thống và các sản phẩm độc đáo của nó luôn có một sức hút mạnh mẽ đối với khách du lịch và các nhà làm du lịch

- Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học

Hầu hết trong mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đều có những dân tộc sinh sống cùng nhau Tuy nhiên, mỗi dân tộc khác nhau lại có những điều kiện sống,

Trang 24

đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán (sinh hoạt, sản xuất) khác nhau và có địa bàn cư trú nhất định Những đặc thù của mỗi dân tộc tạo nên một sức hấp dẫn riêng đối với du khách Tính đặc thù đó có thể là các tập tục lạ về cư trú, tổ chức xã hội, thói quen ăn uống, sinh hoạt, hay các nét truyền thống trong xây dựng, kiến trúc cũng như thiết kế các trang phục dân tộc

- Các tài nguyên du lịch văn hóa khác

+ Văn hóa ẩm thực:

Nghệ thuật ẩm thực là giá trị văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi vùng miền được con người sáng tạo, bảo tồn và phát huy qua thời gian, là dấu ấn đặc biệt đối với khách du lịch

+ Văn học dân gian:

Lịch sử phát triển văn học của mỗi quốc gia luôn gắn liền với lịch sử dựng nước

và giữ nước Những bài thơ hay, những tác phẩm văn học nổi tiếng sẽ là những chứng

cứ tôn vinh cũng như tuyên truyền quảng bá những giá trị đặc sắc cho các thắng cảnh, các di sản văn hóa của các địa phương, các quốc gia Vì vậy, nhiều địa phương, nhiều vùng đất, nhiều quốc gia trên thế giới nhờ có những bài thơ, những câu chuyện truyền thuyết, những tác phẩm văn học nổi tiếng đã khiến cho du khách muôn phương tìm đến thưởng thức, khám phá

+ Các đối tượng văn hóa, thể thao và các hoạt động nhận thức khác cũng thu hút khá mạnh mẽ đối với khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu Đó là các viện khoa học, các trường đại học, các thư viện nổi tiếng, các trung tâm triển lãm nghệ thuật, các cuộc thi đấu thể thao, các cuộc thi sân khấu, thi sắc đẹp, liên hoan phim …

1.1.3.2 Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch

a Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng nói chung, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thúc đẩy các hoạt động du lịch

a1 Hệ thống giao thông vận tải

Du lịch gắn liền với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định

Vì vậy, hoạt động du lịch phụ thuộc chặt chẽ vào sự phát triển của hệ thống giao thông vận tải bao gồm mạng lưới đường sá và phương tiện vận giao thông Thực tế cho thấy, đối với nền kinh tế nói chung, ngành du lịch nói riêng, muốn phát triển được thì cần phải

Trang 25

ưu tiên phát triển mạng lưới giao thông vận tải Mạng lưới giao thông vận tải được coi

là cầu nối giữa khách du lịch và nơi đến du lịch

a2 Hệ thống thông tin liên lạc

Thông tin liên lạc là một bộ phận không thể thiếu trong cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo nhu cầu thông tin cho khách du lịch trong và ngoài nước Riêng với các nhà tổ chức du lịch thì các phương tiện thông tin liên lạc sẽ

là những kênh quan trọng để quảng bá, giới thiệu hình ảnh và mời gọi khách du lịch đến với họ Nói chung, hệ thống thông tin liên lạc phát triển sẽ đảm bảo việc vận chuyển tin tức một cách nhanh chóng, kịp thời, góp phần mở rộng các mối giao lưu hợp tác phát triển kinh tế nói chung, ngành du lịch nói riêng giữa các vùng miền, các quốc gia trên thế giới với nhau

a3 Hệ thống cung cấp điện, nước

Đây là điều kiện vô cùng cần thiết và quan trọng đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của khách du lịch Các sản phẩm của nó phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi, giải trí của du khách

Tóm lại, cơ sở hạ tầng có một ý nghĩa quan trọng và thực sự trở thành đòn bẩy đối với các hoạt động của nền kinh tế nói chung, ngành du lịch nói riêng

vụ cho hoạt động du lịch tại vùng, quốc gia đó Sự kết hợp hài hòa giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch giúp cho sự hoạt động có hiệu quả của cơ sở phục

vụ du lịch, kéo dài thời gian sử dụng chúng trong năm Chính vị trí của tài nguyên du lịch là căn cứ để bố trí hợp lý cơ sở vật chất kỹ thuật trên các vùng lãnh thổ và là tiền đề căn bản để hình thành các trung tâm du lịch Ngược lại, cơ sở phục vụ du lịch cũng có

Trang 26

tác động nhất định tới mật độ sử dụng tài nguyên du lịch, giữ gìn bảo vệ chúng và đến lượt mình, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch lại có thể tạo ra, thực hiện các sản phẩm du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm nhiều thành phần với những chức năng

và ý nghĩa khác nhau, bao gồm: cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú; mạng lưới cửa hàng thương nghiệp; các cơ sở thể thao; cơ sở y tế, các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa và cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác Có 3 tiêu chí để đánh giá hiệu quả của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đó là: Đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho nghỉ ngơi du lịch; Hiệu quả kinh tế tối ưu trong xây dựng và khai thác; Thuận tiện cho du khách

 Cơ sở phục vụ ăn uống lưu trú: là thành phần đặc trưng nhất trong toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gồm những công trình đặc biệt nhằm đảm bảo nơi

ăn nghỉ và giải trí cho khách du lịch Đó là các cơ sở lưu trú du lịch xã hội, nhà hàng, khách sạn…

 Mạng lưới cửa hàng thương nghiệp: đáp ứng về nhu cầu hàng hóa của khách du lịch thông qua việc bày bán các mặt hàng đặc trưng của du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác

 Cơ sở thể thao: tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách, làm tăng hiệu quả sử dụng của các cơ sở lưu trú, phục vụ ăn uống và làm phong phú thêm các loại hình hoạt động du lịch

 Cơ sở y tế: các cơ sở y tế nhằm phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ

bổ sung tại các điểm du lịch

 Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa phục vụ du lịch nhằm mục đích nâng cao, mở rộng kiến thức văn hóa xã hội cho du khách cũng như giúp họ cảm thấy thoải mái trong kỳ nghỉ của mình Đó là các trung tâm văn hóa- thông tin, phòng chiếu phim, phòng triển lãm, câu lạc bộ, nhà hát…

 Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác như trạm xăng dầu, thiết bị cấp cứu, hiệu ảnh, bưu điện… là điều kiện bổ sung giúp cho du khách sử dụng triệt để hơn tài nguyên

du lịch, tạo ra những thuận tiện khi họ đi lại và lưu trú tại điểm du lịch

Trang 27

1.1.3.3 Các nhân tố KT-XH và chính trị

a Dân cư, nguồn lao động

Dân cư là nhân tố quan trọng trong hoạt động du lịch ở cả hai khía cạnh: vừa là lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu thụ gắn với nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch Dân số càng đông, lực lượng tham gia vào các ngành sản xuất và dịch vụ ngày càng nhiều thì

du lịch càng có điều kiện phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí

Các đặc điểm của dân cư như nhân khẩu, cấu trúc, mật độ, thành phần dân tộc cùng với kết cấu dân số theo nghề nghiệp, lứa tuổi, sự gia tăng dân số, sự phát triển đô thị hóa và tỉ lệ dân cư đô thị … đều có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của ngành du lịch

b Trình độ phát triển kinh tế - xã hội

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu làm xuất hiện các nhu cầu du lịch Các nhu cầu này thường nảy sinh trực tiếp từ sản xuất Và khi nhu cầu du lịch xuất hiện thì các hoạt động du lịch đáp ứng các nhu cầu đó cũng xuất hiện theo Nền sản xuất xã hội càng phát triển, thu nhập của người lao động ngày càng cao thì nhu cầu của con người càng lớn, yêu cầu về chất lượng cũng càng lớn và ngược lại Điều này thể hiện càng rõ nếu so sánh giữa những nước chậm phát triển và các nước phát triển cao trên thế giới Ở các nước phát triển, thu nhập của người dân rất cao do đó nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch của họ rất đa dạng như nghỉ cuối tuần, nghỉ lễ, nghỉ hè, nghỉ đông trong và ngoài nước Còn ở các nước đang phát triển do mức sống còn thấp nên nhìn chung nhu cầu và các điều kiện đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch còn khá hạn chế

c Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch là nhu cầu của con người về khôi phục sức khỏe, khả năng lao động, thể chất và tinh thần đã bị hao phí trong quá trình sinh sống và làm việc Nhu cầu này luôn có sự thay đổi theo thời gian và không gian Điều đó đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển của ngành du lịch

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch được thể hiện ở các mức độ: xã hội, nhóm người và cá nhân

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch của xã hội là mức độ quan trọng nhất Đó là nhu cầu của xã hội về phục hồi sức khỏe và khả năng lao động, về sự phát triển toàn diện thể

Trang 28

chất và tinh thần cho mỗi thành viên trong xã hội Nhu cầu này quyết định cấu trúc của ngành du lịch và được phản ánh qua các hình thức tổ chức lãnh thổ của nó

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch theo nhóm người thể hiện nhu cầu của một nhóm dân

cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch cá nhân nhằm góp phần tăng cường sức khỏe, mở rộng hiểu biết, nâng cao năng lực lao động cho bản thân

d Xu thế hội nhập khu vực, quốc tế

Xu thế hội nhập khu vực và quốc tế là một quá trình tất yếu Xu thế này giúp các nước xích lại gần nhau hơn, hợp tác với nhau cùng phát triển trên tất cả các lĩnh vực Một trong những lĩnh vực hợp tác quan trọng hàng đầu hiện nay đó là kinh tế, trong đó hợp tác phát triển du lịch là một trong những hoạt động đang được thúc đẩy mạnh mẽ

Bức tranh hoạt động du lịch toàn cầu thời gian qua đã và đang phổ biến nên du lịch quốc tế liên tục tăng trưởng; du lịch nội địa chiếm tỷ trọng lớn; du lịch khoảng cách

xa có xu hướng tăng nhanh Du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh và lớn nhất toàn cầu, góp phần vào sự phát triển và thịnh vượng của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

e Các nhân tố khác

e1 Mức sống

Mức thu nhập, điều kiện sinh hoạt, chế độ dinh dưỡng, điều kiện chăm sóc sức khỏe, học tập, điều kiện tham gia các hoạt động văn hóa – xã hội … nói lên mức sống của con người Đây là nhân tố vô cùng quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới phát triển du lịch

Mức sống cao của con người (đặc biệt được thể hiện ở mức thu nhập thực tế cao)

sẽ là yếu tố thúc đẩy cho du lịch phát triển Thường ở những nước phát triển, hoặc ở các trung tâm kinh tế lớn của các quốc gia, dân cư luôn có mức thu nhập trung bình cao thì hoạt động du lịch luôn phát triển mạnh mẽ, tỉ lệ đóng góp vào GDP luôn ở mức cao Còn ở các nước kém phát triển thì ngược lại, tỉ lệ đóng góp của du lịch vào GDP thậm chí không đáng kể

e2 Thời gian rỗi

Thời gian rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc Trong thời gian này thường diễn ra các hoạt động nhằm phục hồi và phát triển thể lực, tinh thần của con người Con

Trang 29

người chỉ có thể đi du lịch vào thời gian rỗi Do đó, đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các hoạt động du lịch Nếu thời gian rỗi của người dân trong năm ngắn thì số lần đi du lịch trong năm sẽ ít và ngược lại

Người lao động càng có nhiều thời gian rỗi, ngành du lịch càng có nhiều điều kiện thuận lợi để quảng bá, hướng mọi người sử dụng thời gian rỗi với mục đích nâng cao vốn hiểu biết, tăng cường sức khỏe … bằng con đường du lịch

Như vậy, khi có thêm nhiều thời gian rỗi thì mọi người sẽ có thêm nhiều lựa chọn thích hợp cho mình, trong đó du lịch là lựa chọn hàng đầu

e3 Chính trị

Du lịch chỉ có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện hòa bình, ổn định, hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc, các quốc gia Ở những nước, những vùng lãnh thổ có chiến tranh hoặc an ninh chính trị bất ổn, quyền lợi và tính mạng của người đi du lịch không được đảm bảo, các công trình du lịch bị phá hoại … thì hoạt động du lịch sẽ bị hạn chế

Hòa bình và ổn định chính trị với các hoạt động du lịch luôn có mối quan hệ khá mật thiết với nhau Hòa bình là đòn bẩy thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển Còn các hoạt động du lịch thì có tác dụng góp phần gìn giữ hòa bình Thông qua du lịch, nhất là

du lịch quốc tế, mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia, các dân tộc trên thế giới sẽ ngày càng được củng cố, thắt chặt hơn

1.1.4 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch

Tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch, kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả cao nhất về mọi mặt

Trang 30

nước, thông tin liên lạc và các dịch vụ khác đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch; đáp ứng các điều kiện về bảo đảm an ninh, an toàn, trật tự, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật

Các điểm du lịch nối với nhau bằng tuyến du lịch Trong từng trường hợp cụ thể các tuyến du lịch có thể là tuyến nội vùng (á vùng, tiểu vùng, trung tâm) hoặc là tuyến liên vùng

1.1.4.2 Khu du lịch

“Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường”

Khu du lịch quốc gia, là nơi có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên, có khả năng thu hút nhiều khách du lịch; diện tích tối thiểu là một nghìn héc ta và có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một triệu lượt khách du lịch một năm; có mặt bằng, không gian đáp ứng yêu cầu của các hoạt động tham quan, nghỉ ngơi, giải trí trong khu du lịch; Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch và dịch vụ đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; có cơ sở lưu trú du lịch, khu vui chơi giải trí, thể thao và các cơ sở dịch vụ đồng bộ khác

1.1.4.3 Tuyến du lịch

“Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không”

Tùy vào điều kiện và khả năng đáp ứng các nhu cầu của du khách mà tuyến du lịch có thể được công nhận là tuyến du lịch quốc gia hay địa phương

Tuyến du lịch quốc gia là những tuyến nối các khu du lịch, điểm du lịch, trong

đó có khu du lịch, điểm du lịch quốc gia, có tính chất liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các cửa khẩu quốc tế; có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục

vụ khách du lịch dọc theo tuyến

Còn tuyến du lịch địa phương là tuyến nối các khu du lịch, điểm du lịch trong phạm vi địa phương; có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục

vụ khách du lịch dọc theo tuyến

Trang 31

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát về tỉnh Quảng Nam

Toàn tỉnh có 2 thành phố (Tam Kỳ, Hội An), 01 thị xã (Điện Bàn) và 15 huyện (Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My, Nam Trà My, Hiệp Đức, Tiên Phước, Nông Sơn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Thăng Bình, Quế Sơn, Núi Thành

và Phú Ninh) Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 1.057.474 ha, với dân số gần 1,5 triệu người (2019)

Quảng Nam có địa lý vô cùng thuận lợi để kết nối các địa phương khác của Việt Nam và thế giới; có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Là địa phương duy nhất của Việt Nam có 2 di sản văn hóa thế giới là Khu đền tháp cổ Mỹ Sơn và Đô thị cổ Hội

An Có Khu dự trữ sinh quyển thế giới Đảo Cù Lao Chàm với những vẻ đẹp hoang sơ, nhiều loại sản vật quý hiếm Có 125 km bờ biển cát trắng, nắng vàng, nhiều bãi biển với cảnh quan đẹp nổi tiếng, được tạp chí Forbes bình chọn là một trong những bãi biển đẹp nhất hành tinh nên thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng

Đặc biệt, Quảng Nam có khu kinh tế mở Chu Lai - khu kinh tế ven biển đầu tiên của Việt Nam, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực theo thông lệ quốc tế

1.2.2 Khái quát về du lịch tỉnh Quảng Nam

Cụ thể, tổng lượt khách tham quan, lưu trú ước đạt 3,72 triệu lượt, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2017 Trong đó, khách quốc tế ước đạt hơn 2 triệu lượt; doanh thu du lịch 6 tháng đầu năm ước đạt 2.860 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm 2017 Thu nhập xã hội từ du lịch đạt 6.721 tỷ đồng

Đến Quảng Nam, du khách sẽ được đắm mình vào thế giới cổ xưa với các đền, tháp ở Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Bằng An, Chiên Đàn, Khương Mỹ; những công trình rêu

Trang 32

phong ở phố cổ Hội An – một trong những đô thị cổ nhất Đông Nam Á Mảnh đất Quảng Nam còn ghi lại nhiều dấu tích của những năm kháng chiến trường kỳ Đó là các di tích Núi Thành, địa đạo Kỳ Anh, đường mòn Hồ Chí Minh, căn cứ Chu Lai, chiến khu Trà

My, chiến khu Hòn Tàu…Hội An và Mỹ Sơn được công nhận là di sản văn hóa thế giới

từ tháng 12/1999

1.2.2.2 Tiềm năng du lịch Quảng Nam

Quảng Nam là tỉnh có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hóa với 307 di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng, danh thắng (trong đó 48 di tích quốc gia,

256 di tích cấp tỉnh, hai di sản văn hoá thế giới – di tích quốc gia đặc biệt là Phố cổ Hội

An và Khu Đền tháp Mỹ Sơn, Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù lao Chàm Vùng đất này còn có nhiều đặc sản nổi tiếng như quế Trà My, tiêu Tiên Phước, lòn bon Đại Lộc, yến sào Hội An những làng nghề truyền thống, lễ hội văn hoá dân gian đã hiện diện trên mảnh đất Quảng Nam trên 500 năm

Đặc biệt thiên nhiên còn cho Quảng Nam những tài nguyên tự nhiên, tài nguyên biển vô cùng quý giá Đó là 125 km bờ biển kéo dài từ Điện Ngọc đến giáp vịnh Dung Quất hoang sơ và sạch đẹp cùng với Hồ Phú Ninh, thủy điện Duy Sơn, khu rừng nguyên sinh phía Tây Quảng Nam, sông Trường Giang và xứ đảo Cù Lao Chàm là những điểm

du lịch sinh thái lý tưởng, đã trở thành điểm dừng chân của bao du khách

Ven biển Duy Hải - Tam Tiến và ven sông Trường Giang, biển Rạng, ven biển Điện Ngọc - Cẩm An và ven sông Cổ Cò Khu du lịch này là điểm nối tiếp giữa hai trung tâm du lịch Hội An và Đà Nẵng có diện tích 1800ha…

Ngoài ra, đến Tam Kỳ còn có Hồ Phú Ninh là một danh thắng có cảnh quan hiền hòa, hệ động thực vật phong phú, có nguồn nước khoáng có thể khai thác dịch vụ tắm nước nóng hiệu quả

Ngoài ra, tinh hoa văn hóa của cộng đồng các dân tộc anh em: Kinh, Hoa, Cơ Tu,

Xê Đăng, Giẻ Triêng, Cor cũng góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú và hấp dẫn của

du lịch Quảng Nam

Sự kết hợp yếu tố thiên nhiên và di sản văn hóa, truyền thống lịch sử của Quảng Nam là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển mạnh ngành du lịch Và ở đó, trên mảnh đất và con người xứ quảng hiền hòa, thân thiện

Trang 33

và hiếu khách, luôn mong được chào đón du khách từ mọi phương trời đến với Quảng Nam

Tiểu kết chương 1

Ngày nay du lịch thực sự trở thành một nhu cầu tất yếu trong đời sống xã hội hiện đại Nó là một trong những nhân tố quan trọng góp phần phục hồi và tái tạo sức sản xuất của con người Ngành du lịch ra đời, phát triển và ngày càng khẳng định vị trí và vai trò cực kì to lớn của mình trong nền kinh tế quốc dân Do đó, việc nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch nói chung và thực trạng phát triển du lịch của một vùng lãnh thổ hay một địa phương nói riêng sẽ mang nhiều ý nghĩa và có giá trị thực tiễn cao, góp phần thúc đẩy cho ngành du lịch ngày một phát triển theo hướng bền vững hơn

Trong Chương 1, cơ sở lý luận về phát triển du lịch đã được trình bày một cách

Trang 34

Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Khái quát về thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lí

Hình 2.1 Bản đồ hành chính thành phố Tam Kỳ

Nguồn: UBND TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Thành phố Tam Kỳ có tọa độ địa lý: kéo dài từ 15°49'B-15°65'B và từ

108°43'Ð-108°58'Đ

- Thành phố Tam Kỳ có diện tích 100,26 km², dân số là 122.374 người, trong

đó: dân số thành thị chiếm 75% và dân số nông thôn có chiếm 25%, mật độ dân số đạt

1.221 người/km²[18]

+ Phía Bắc giáp huyện Thăng Bình và Phú Ninh

+ Phía Nam giáp huyện Núi Thành

+ Phía Đông giáp biển Đông

+ Phía Tây giáp huyện Phú Ninh Với vị trí địa lý đó đã tạo điều kiện thuận lợi

cho hoạt động phát triển du lịch của thành phố, giao lưu với huyện lân cận, dễ dàng di

chuyển đến các điểm du lịch gần đó như Hồ Phú Ninh, tháp Chiên Đàn,

Trang 35

Tên gọi “Tam Kỳ" cũng được định vị theo hình sông thể núi của vùng đất này, nơi có ba gò đất cao cùng ngã ba sông Nhìn từ ngoài biến vào sẽ thấy 3 gò đất cao nhô lên thành hình tam giác: núi An Hà, Quảng Phú và Trà Cai Khi định vị từ 3 ngọn núi, thuyền sẽ vào cửa sông và gặp bên đò, nơi có ba ngả rẽ: sông Tam Kỳ, sông Trường Giang và sông Bàn Thạch Nằm ở đồng bằng ven biển, Tam Kỳ hình thành 2 vùng rõ rệt: vùng ven biển gồm các xã Tam Thanh, Tam Thăng, Tam Phú; vùng đồng bằng gồm các xã, phường nằm dọc đường quốc lộ 1A, đường sắt Tam Kỳ có nhiều núi thấp xen

kẽ với đồng ruộng và khu dân cư như: núi đất Quảng Phú, An Hà (Tam Phú), núi Quánh (Tam Ngọc)

Sau giải phóng, ngày 20/11/1976 huyện Tam Kỳ, thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, được lập lại trên cơ sở sát nhập huyện Bắc Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ và thị xã Tam

Kỳ Đến tháng 12/1983, theo Quyết định số 144 của Hội đồng Bộ trưởng, huyện Tam

Kỳ được chia thành 2 đơn vị hành chính là: thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành

Năm 1997 khi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được tách thành hai đơn vị hành chính, Tam Kỳ trở lại là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam

Đầu năm 2005, thị xã Tam Kỳ được chia tách thành hai đơn vị hành chính là thị

xã Tam Kỳ và huyện Phú Ninh Ngày 29 tháng 9 năm 2006, thị xã Tam Kỳ được Chính phủ công nhận là thành phố đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh Quảng Nam Ngày 15 tháng 2 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 240/QĐ-TTg công nhận thành phố Tam Kỳ là đô thị loại II

2.1.1.2 Địa hình

Vùng ven biến: gồm các xã Tam Thanh, Tam Thăng, Tam Phú, đa phần là đất

cát, sản xuất chủ yếu là hoa màu, trồng rừng chống cát bay, nuôi trồng và đánh bắt hải sản, Trong quá trình công nghiệp hoá thì vùng này có lợi thế về mặt bằng xây dựng thuận lợi, gần các sân bay, bến cảng, các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và lưới điện quốc gia Cũng như phát triển du lịch biển, du lịch sông nước, du lịch sinh thái

Vùng đồng bằng: tương đối đơn điệu về địa hình, nên nó ít gây cảm hứng du lịch

, gồm các xã, phường nằm dọc đường quốc lộ 1A, đường sắt, nhỏ, được phù sa bồi đắp hàng năm Đồng bằng Tam Kỳ gồm phần lớn là những ruộng trũng dọc theo sông Tam

Kỳ và Trường Giang, gồm đất phù sa và đất pha cát; phía tây quốc lộ 1 ruộng cao hơn xen lẫn vùng thổ canh gồm đất pha cát và đất bạc màu Bên cạnh đó lại có một số khoảnh

Trang 36

ruộng sâu ngập úng thường xuyên không thể trồng lúa được, người ta chi có thể trồng lác và thả sen Tạo thêm nét phong phú cho cảnh sắc nơi đây Đồng thời nó cũng rất bình dị, chân chất của nét quê

2.1.1.3 Khí hậu

Thành phố Tam Kỳ nằm trong phân vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ấm, mưa nhiều và mưa theo mùa Thường mưa vào mùa thu đông Nhiệt độ trung bình năm của TP Tam Kỳ: 25,9°C

Vào những tháng mưa thì hoạt động du lịch ít phát triển, du lịch TP Tam Kỳ chủ yếu phát triển vào mùa hè, vì Tam Kỳ phát triển mạnh du lịch biển khi nhiệt đô cao, khi

có gió Tây khô nóng hoạt động: Gió Tây khô nóng xuất hiện vào khoảng tháng 5 đến tháng 8, mỗi tháng có từ 10-15 ngày khô nóng Thời gian này hoạt động tắm biển, thể thao trên biển rất phát triển Chính vì vậy khí hậu được đánh giá là một trong những nhân tố giúp cho du lịch của thành phố phát triển bền vững thông qua nhiêt độ, độ ẩm thích hợp với nghỉ dưỡng, nguồn nước dồi dào Sẽ góp phần thu hút và phục vụ khách

du lịch trong thời gian tham quan và nghĩ dưỡng

2.1.1.4 Thủy văn

Sông ngòi có vai trò hết sức quan trọng trong việc thu hút khách du lịch của thành phố Bởi du lịch của thành phố Tam Kỳ còn có khả năng phát triển thep các dòng sông

vì các dòng sông này còn giữ nguyên vẻ hoang sơ tuyệt đẹp, ví du vùng đầm phá Tam

Kỳ lưu thông với hai sông Bàn Thạch và Trường Giang nối với khu Côn Thị Bạch Vân hình thành một vùng du lịch sinh thái sông nước, tiếp đến là vùng Sông Đẩm - Bãi Sậy Đây là một vùng đầm rộng khoảng 180 ha, có diện tích mặt nước khoảng 140ha, chung quanh lau sậy mọc phủ kín, không gian ở đây thơ mộng, có sức quyến rũ riêng Đầm phá nước lặng như tờ, những cây sậy lô nhô, những cánh cò chấp chới trên rặng bầu lúc hoàng hôn đủ hút hồn những ai muốn du lịch dã ngoại

Tóm lại, ta có thể thấy những con sông này vừa cung cấp nguồn nước tưới cho ruộng đồng vào mùa khô, đồng thời cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thoát nước vào mùa lũ lụt Dòng sông là nơi sinh sống của nhiều loại cá, tôm, cua nước lợ có giá trị kinh tế cao, là môi trường sinh sống của một số loài chim di trú như vịt trời, cò, vạc, le le cư dân sống trên đôi bờ con sông đã kết hợp nghề nông với đánh bắt thủy sản trên sông, trồng sen, Thông qua hoạt nông nông nghiệp của người dân xung quanh

Trang 37

khu vực sông đầm đã góp phần phong phú thêm cảnh sắc nơi đây, làm cho khu du lịch sinh thái sông đầm thêm màu sắc

2.1.1.5 Sinh vật

Có thể nói Tam Kỳ có sự đa dạng sinh học lớn, tài nguyên động thực vật phong phú Chính vì vậy mà hệ sinh thái sông đầm có một nguồn đa dạng động thực vật là điều kiện cho khách du lịch, các nhà nghiên cứu về đây: Có khoảng trên 250 loài có giá trị, trong đó nhóm làm thuốc có trên 100 loài, nhóm cho gỗ 85 loài, nhóm cây làm cảnh, bóng mát 66 loài, nhóm cây cho quả và lương thực, thực phẩm 50 loài, nhóm cây cho sợi và nguyên liệu thủ công (14 loài), nhóm cây cho nhựa, dầu, tinh dầu 22 loài Động vật cảnh trong khu sinh thái: Là những loại có hình dạng, màu sắc đẹp, giọng hót hay phục vụ tốt cho các hoạt động du lịch, thăm thú, tham quan

Hệ sinh thái biển : Tài nguyên thủy sinh ở vùng biển khá đa dạng về chủng loại

và số lượng Sinh vật phù du có 174 loài thực vật và 178 loài động vật Thảm có biển với 7 loài, phân bố rải rác khắp vùng nước ven bờ

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Đặc điểm kinh tế

Các ngành kinh tế ở Tam Kỳ hiện nay đang phát triển theo hướng tăng nhanh tỷ trọng thương mại, dịch vụ và công nghiệp giảm dần, tỷ lệ nông nghiệp giảm Những năm qua, cơ cấu kinh tế TP.Tam Kỳ chuyển dịch khá nhanh và tăng mạnh theo hướng thương mại - dịch vụ và công nghiệp Tốc độ tăng trưởng hàng năm của hai ngành này luôn đạt từ 25 - 28%

Cụm công nghiệp Trường Xuân đã được đầu tư hoàn chỉnh một phần, cảng cá Tam Phú đã được đầu tư đi vào hoạt động ổn định và ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả Các lĩnh vực may mặc, chế biến đồ gỗ, cơ khí, điện máy tiếp tục phát triển Các làng nghề và sản phẩm truyền thống như: Trà, tàu thuyền, bún, chiếu cói… tiếp tục phát triển ổn định Có những thương hiệu đã được khẳng định như: Trà Mai Hạc, bún Phương Hòa, chiếu cói Thạch Tân Ở Tam Kỳ đã hình thành một số sản phẩm mới như tranh tre, có sức thu hút khách hàng Bước đầu đã hình thành một số vùng chuyên canh rau sạch, hoa, cây cảnh ở một số xã vùng ven của thành phố Nghề nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy, hải sản ở các xã ven biển phát triển khá mạnh

Trang 38

2.1.2.2 Đặc điểm xã hội

a Dân số:

Hiện nay, thành phố Tam Kỳ gồm 13 xã phường (9 phường, 4 xã đó là: Phường Tân Thạnh, Hòa Thuận, An Mỹ, An Sơn, An Xuân, Hòa Hương, Phước Hòa, An Phú, Trường Xuân và xã Tam Ngọc, Tam Phú, Tam Thăng, Tam Thanh), với diện tích tự nhiên là 9.263,56 ha, dân số 175.240 người (số liệu cuối năm 2019 của wikipedia TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam)

b Y tế:

Ngành y tế trong thời gian qua được đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị và con người, toàn TP có nhiều cơ sở với nhiều trang thiết bị hiện đại, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân

c Giáo dục:

Điều kiện cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị dạy và học ngày càng hoàn thiện Nhiều trường cấp 1, 2, 3 và mẫu giáo được xây mới Các cơ sở giáo dục đào tạo trên địa bàn thành phố (tính đến 01/12/2019) bao gồm: 18 trường mẫu giáo, 14 trường tiểu học, 10 trường trung học cơ sở, 6 trường trung học phố thông, 01 trường đại học Sư phạm Quảng Nam, 05 trường cao đẳng bao gồm CĐ kinh tế- kỹ thuật Quảng Nam, CĐ

Y tế Quảng Nam, CĐ Kinh tế - kỹ thuật Phương Đông, CĐ – CKN Đông Á và CĐ dạy nghề tinh Quảng Nam; 02 trường trung cấp Bách khoa Quảng Nam và trung cấp Văn hóa Hiện tại nền kinh tế của Thành phố còn gặp nhiều khó khan, tuy nhiên, trước mắt

và lâu dài vẫn có nhiều thuận lợi cơ bản cho sự phát triển

2.2 Tiềm năng phát triển du lịch ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

2.2.1.1 Biển Tam Thanh

Nằm cách thành phố Tam Kỳ Quảng Nam khoảng 7km về hướng Đông, bãi biển Tam Thanh nằm nép mình lặng lẽ phía sau khu rừng chắn sóng với khung cảnh bình yên đậm chất hoang sơ do chưa chịu nhiều ảnh hưởng của công tác khai thác du lịch Từ hàng dừa xanh mát bên bờ biển, cho đến làn nước trong xanh, sóng xô dịu nhẹ bên bãi cát trải dài hàng cây số, tất cả làm nên khung cảnh bình dị, vô cùng phù hợp cho một buổi đi “trốn” thành phố, công việc để về đây thư giãn cuối tuần

Trang 39

Hiện nay, nằm trong khuôn khổ phát triển du lịch của chính quyền địa phương, rất nhiều hoạt động đã và đang phát triển ở đây như các trò chơi trên bãi biển, đua thuyền, triển lãm nghệ thuật nhằm mục đích giới thiệu, quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất xứ Quảng Trong đó, nổi bật hơn cả là tuần lễ du lịch biển Tam Thanh thu hút du khách gần xa về chơi, khám phá nét đẹp bình dị của cảnh vật nơi đây, khám phá ẩm thực cũng như tìm hiểu các giá trị văn hóa truyền thống

Biển Tam Thanh tuy không có sự sôi động nhộn nhịp hay nét đẹp lộng lẫy như những bãi biển khác nhưng chính nét đơn sơ, giản dị nơi đây lại trở thành điểm nhấn thu hút cũng như làm nên nét đẹp rất riêng đậm chất văn hóa

2.2.1.2 Khu du lịch sinh thái sông Đầm

Vùng bãi Sậy - sông Đầm có diện tích tự nhiên hơn 180ha, kéo dài từ xã Tam Thăng đến xã Tam Phú, phường An Phú (Tam Kỳ) Thời kháng chiến, vùng đầm hoang

vu đầy lau lách và cây sậy đã chở che cho quân dân kháng chiến Vẻ hoang sơ của bãi Sậy - sông Đầm được tạo nên bởi nhiều yếu tố như hệ thủy sinh, hệ sinh thái mặt nước,

hệ sinh thái trên bờ với hệ động thực vật phong phú, đa dạng song cũng bị tàn phá nhiều bởi chiến tranh và trước áp lực đời sống

Xen lẫn giữa những vùng hoa là những vùng bẫy chươm Mỗi cái bẫy chươm được thu hoạch ít nhất mỗi tuần một lần, thường được vài chục ký cá, song có thời điểm trúng thì cả tạ cá gáy, có thêm giếc, thác lác, ngạnh, rô phi, lươn… Người dân Vĩnh Bình cứ đời này sang đời khác bám trụ mưu sinh với bãi Sậy - sông Đầm Làng chài Vĩnh Bình chỉ còn mười lăm, hai mươi hộ bám nghề, dù nghề đánh bắt, bủa lưới chỉ được xem là nghề phụ, song lại mang đến những tháng ngày no cơm, ấm áo Vào mùa nước cạn, người dân lội xuống bắt lươn, sìa…

2.2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa

2.2.2.1 Di tích lịch sử văn hóa

a Di tích lịch sử Phủ Đường Tam kỳ

Di tích Phủ Đường Tam Kỳ được xem là điểm đến ghi dấu trong lòng du khách rất sâu đậm trong các điểm du lịch tham quan Hội An – Tam Kỳ Sâu đậm bởi nơi này nhắc nhớ những sự kiện quan trọng từng diễn ra như cuộc biểu tình phản đối sưu thuế cao diễn ra năm 1908, Cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang Phục Hội diễn ra năm 1916,

Lễ ra mắt Ủy ban Kháng chiến cách mạng lâm thời năm 1945,…Khi chiến tranh đã bị

Trang 40

đẩy lùi thật xa, Phủ Đường Tam Kỳ không còn nguyên vẹn như xưa, chỉ còn lại cây đa nhiều tuổi từng chứng kiến mọi thứ, nay vẫn còn đó đổ bóng mát một khoảng sân và hội trường đã phủ mài thời gian Dẫu chỉ có thế, nhưng bất cứ ai đến thăm cũng tràn đầy cảm xúc khi ký ức cũ hiện về như mọi thứ xảy ra chưa quá lâu Năm 2011, thành phố Tam Kỳ đã khánh thành nhà bia ở đây với quy mô xây dựng hơn 1 tỷ đồng, như một công trình mới ghi nhận và khẳng định thêm sự quan trọng của Phủ Đường Tam Kỳ Nhà bia di tích Phủ Đường Tam Kỳ có sân vườn, sân hành lễ, nhà bia, cùng với cây xanh được bố trí trong khuôn viên, để thêm sức sống tươi mới cho toàn bộ phủ đường Qua hơn 100 năm hiện diện trong lòng người dân Tam Kỳ, Phủ đường xưa lặng lẽ nay lại trở nên ấm áp hơn bởi những lần viếng thăm của du khách xa gần Mỗi lần đến thăm, mỗi du khách lại thêm những khoảnh khắc bồi hồi khi ngược dòng lịch sử với những hào khí từng bao trùm cả không gian phủ đường

Dẫu không phải là một công trình đồ sộ hay cảnh quan quá đặc sắc như nhiều điểm đến khác của Tam Kỳ và Hội An, xong giá trị mà di tích Phủ Đường Tam Kỳ sở hữu, lại như món quà thật ý nghĩa dành cho mọi du khách Chính vì thế, các công ty tổ chức tour du lịch đến miền Trung, thăm Hội An và có dịp ghé lại Tam Kỳ, đều không

để du khách phải bỏ lỡ dịp đáng quý để thăm di tích Phủ Đường Tam Kỳ này

b Di tích lịch sử Tứ bàn Tiền hiền Tự Sở

Tứ Bàn Tiền Hiền Tự Sở là ngôi đền thờ Thất Phái (7 dòng họ đã có công khai phá lập nên vùng đất này), đến nơi đây an cư lạc nghiệp và thành lập nên ngôi làng lấy tên là Bàn Thạch, qui tụ những người dân có nguồn gốc từ Nghệ An, Thanh Hóa theo đường di dân của các triều đại phong kiến, theo đường bộ, đường thủy từ thời Hồ Hán Thương (1402) đến cuộc thân chinh bình định Chiêm Thành của Vua Lê Thánh Tông (1471) và cuộc di dân vào Đàng trong của Chúa Nguyễn Hoàng Truyền tụng theo 4 câu thơ mà nhân dân trong vùng ai cũng nhớ:

Hồ, Nguyễn, Trần, Quỳnh, Đỗ, Đinh, Lê

Đồng hướng nam du, hội nhất tề

Lộ khai lưu hậu truyền tôn tứ

Kiết thành tất đạt cảnh tân quê

Mỗi năm, nhân dân trong vùng tổ chức cúng đền 2 lần vào ngày 13 đến 15 tháng giêng (gọi là Lệ Xuân ) và ngày 13 đến 15 tháng 8 (gọi là Lệ Thu) Từ khi ảnh hưởng

Ngày đăng: 06/05/2021, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w