1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam

80 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và du lịch sinh thái được xem như một hướng đi có hiệu quả, một xu thế phát triển ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người, bởi đó là một loại hình du lịch thiên nhiên có trách n

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHÓA: 2016 - 2020

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: Th.S Đoàn Thị Thông

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 3

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô ThS Đoàn Thị Thông người

đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành khóa luận

Em xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo UBND thị xã Điện Bàn, phòng Thống kê, phòng Tài nguyên môi trường, Ban quản lý du lịch các khu du lịch trên địa bàn, UBND các xã và những hộ dân đã tạo điều kiện và giúp đỡ em, cung cấp số liệu,

tư liệu khách quan và nói lên những suy nghĩ của mình để giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên nội dung của báo cáo không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô cùng toàn thể các bạn các sinh viên

để báo cáo này được hoàn thiện hơn

Một lần nữa xin gửi đến thầy cô, các bạn sinh viên lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất

Đà Nẵng, ngày 07 tháng 04 năm 2020

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Trường An

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, biểu đồ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

PHẦN NỘI DUNG 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 6

1.1 Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái 6

1.1.1 Khái quát chung về du lịch 6

1.1.1.1 Khái niệm về du lịch 6

1.1.1.2 Vai trò của du lịch 7

1.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành du lịch 8

1.1.1.4 Các loại hình du lịch 10

1.1.2 Khát quát về du lịch sinh thái 10

1.1.2.1 Khái niệm về du lịch sinh thái 10

1.1.2.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch sinh thái 13

1.1.2.3 Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái 14

1.1.2.4 Các nguyên tắc của hoạt động du lịch sinh thái 16

1.1.2.5 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái 17

a Các điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch tự nhiên 17

b Các điều kiện kinh tế, xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn 18

1.1.2.6 Yêu cầu để phát triển du lịch sinh thái 19

1.1.2.7 Quan hệ giữa du lịch sinh thái và phát triển 21

1.2 Cở sở thực tiễn về du lịch sinh thái 21

1.2.1 Tình hình phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam 21

1.2.2 Tình hình phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Quảng Nam 22

Trang 5

Chương 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH

THÁI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 26

2.1 Giới thiệu khái quát thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 26

2.1.1 Vị trí – địa lý 26

2.1.2 Lịch sử 27

2.1.3 Kinh tế 28

2.2 Khát quát về du lịch thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 31

2.2.1 Các loại hình du lịch hiện nay tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 31

2.2.2 Tình hình phát triển du lịch tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 32

2.3 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 34

2.3.1 Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên 34

2.3.1.1 Vị trí – địa lý 34

2.3.1.2 Địa chất – địa hình 34

2.3.1.3 Khí hậu 35

2.3.1.4 Thủy văn 35

2.3.1.5 Sinh vật 36

2.3.1.6 Cảnh quan thiên nhiên 36

2.3.2 Các điều kiện kinh tế, xã hội và tài nguyên du lịch văn hóa 36

2.3.2.1 Các điều kiện kinh tế, xã hội 36

a Kinh tế, xã hội 36

b Nguồn nhân lực 36

c Cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật 37

2.3.2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa 39

a Vùng đất lễ hội 39

b Di tích lịch sử cấp Quốc gia Tháp Bằng An 40

c Di tich Dinh trấn Thanh Chiêm 40

d Văn hóa Sa Huỳnh tại Điện Bàn 41

e Nghệ thuật ẩm thực 42

f Vùng đất địa linh nhân kiệt 42

2.4 Thực trạng hoạt động du lịch sinh thái thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 43

2.4.1 Khách du lịch 43

2.4.2 Doanh thu 44

2.4.3 Nguồn lao động phục vụ du lịch sinh thái 46

2.4.4 Một số mô hình hoạt động du lịch sinh thái 46

2.4.4.1 Khu du lịch sinh thái nhà vườn Triêm Tây 46

2.4.4.2 Khu du lịch sinh thái rừng Hà Gia 48

Trang 6

2.4.4.3 Du lịch sinh thái vùng Gò Nổi 49

2.4.4.4 Không gian nhà Việt Vinahouse Space 51

2.4.5 Đầu tư phát triển du lịch sinh thái 52

2.4.6 Những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế trong phát triển du lịch sinh thái thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 54

2.4.6.1 Những kết quả đạt được 54

2.4.6.2 Một số hạn chế 54

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 56

3.1 Những cơ sở cho việc định hướng phát triển du lịch sinh thái 56

3.1.1 Bản chất của du lịch sinh thái và mục tiêu phát triển du lịch sinh thái thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 56

3.1.2 Các mục tiêu chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái 56

3.1.3 Kế hoạch phát triển và quản lí du lịch sinh thái thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam……… 57

3.2 Định hướng phát triển du lịch sinh thái ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 57

3.2.1 Các mục tiêu chung 57

3.2.2 Những định hướng cơ bản 58

3.3 Một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam……….…… 59

3.3.1 Giải pháp về quản lý du lịch sinh thái thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 60

3.3.1.1.Về cơ chế chính sách 60

3.3.1.2 Tổ chức và quản lý lượng khách dựa trên cơ sở sức chứa của khu du lịch 60

3.3.1.3 Quản lý lượng khách dựa vào các thủ tục hành chính, các nội quy 61

3.3.1.4 Quản lý bằng việc điều tiết mức thu lệ phí 61

3.3.2 Giải pháp về quy hoạch - hợp tác, vốn đầu tư 62

3.3.2.1 Giải pháp về quy hoạch 62

3.3.2.2 Giải pháp hợp tác, đầu tư 63

3.3.3 Giải pháp về cơ sở vật chất kĩ thuật và cơ sở hạ tầng 63

3.3.4 Giải pháp về đào tạo đội ngũ lao động phục vụ du lịch 64

3.3.5 Giải pháp tuyên truyền và quảng bá du lịch 65

3.3.6 Giải pháp về tăng cường, giáo dục môi trường 66

3.3.7 Giải pháp về bảo tồn, tôn tạo giá trị văn hóa, lịch sử cách mạng và phát triển lễ hội truyền thống 67

PHẦN KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC

Trang 7

AHLS : Anh hùng liệt sĩ

VNAH : Việt Nam anh hùng

VQG : Vườn quốc gia

BTTN : Bảo tồn thiên nhiên

NXB : Nhà xuất bản

UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)

ILO : Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization)

GDP : Tổng sản phẩm nội địa hay là tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

IUCN : Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên

(International Union for Conservation of Nature and Natural Resources)

WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)

UNEP : Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (United Nations Environment

Programme)

SIDA : Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (Swedish International Development Cooperation Agency)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.2 Bảng số liệu về cơ cấu GDP theo các ngành kinh tế của thị

2.3 Bảng số liệu số lượt khách du lịch sinh thái tại thị xã Điện

2.4 Bảng số liệu doanh thu của hoạt động du lịch sinh thái tại

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

2.2 Biểu đồ cơ cấu GDP các ngành kinh tế của thị xã Điện

2.3 Biểu đồ số lượt khách du lịch sinh thái tại thị xã Điện

2.4 Biểu đồ doanh thu của hoạt động du lịch sinh thái tại thị

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch hiện nay đã trở thành một hoạt động phổ biến của nhân loại, một nhu cầu của đại đa số quần chúng và là một trong những ngành kinh tế lớn nhất hành tinh, tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế xã hội Du lịch tạo cơ hội lớn cho các nước đang phát triển và kém phát triển Du lịch góp phần tạo nguồn thu nhập, tạo công ăn việc làm, nâng cao trình độ dân trí Tuy nhiên việc vận dụng và khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ cho du lịch nhiều lúc, nhiều nơi còn chưa hiệu quả Các địa phương không những không khai thác được hết tiềm năng của các dạng tài nguyên mà còn dẫn tới những tác động không tốt cho môi trường Trong những thập niên gần đây, đi đôi với quá trình phát triển kinh tế là sự biến đổi môi trường sống, nhu cầu du lịch đã thay đổi theo hướng trở về với thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường, phát triển du lịch phải theo hướng bền vững Và du lịch sinh thái được xem như một hướng đi có hiệu quả, một xu thế phát triển ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người, bởi đó là một loại hình du lịch thiên nhiên có trách nhiệm hỗ trợ các mục tiêu bảo tồn tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng mà vẫn đảm bảo nguồn lợi về kinh tế

Ở Việt Nam, với xu thế hội nhập, hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia, đặc biệt là sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì cơ hội hợp tác và phát triển nền kinh tế nói chung và phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái nói riêng được nâng lên một tầm cao mới

Trong những năm trở lại đây, du lịch tỉnh Quảng Nam thực sự đã có được sức hút đối với du khách trong và ngoài nước Số lượt du khách mỗi năm đến với tỉnh ngày càng tăng Quảng Nam đang nổ lực để du lịch hấp dẫn du khách hơn trong việc tạo điểm nhấn cho hành trình, gây ấn tượng tốt với mỗi du khách ghé qua đây Có thể nói, một số loại hình du lịch của tỉnh như: di lịch mua sắm, du lịch khám phá, du lịch tín ngưỡng-tâm linh, du lịch tham quan di tích thắng cảnh, du lịch văn hóa, du lịch lễ hội, đã và đang thực sự có chỗ đứng trong lòng du khách Các ngành chức năng của tỉnh Quảng Nam đã tích cực đẩy mạnh các hoạt động nhằm không ngừng tạo điểm nhấn về điểm đến và các loại hình du lịch ý nghĩa trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương

Thị xã Điện Bàn nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Nam là một đồng bằng ven biển có địa hình tương đối bằng phẳng, khí hậu nhiệt đới, tài nguyên thiên nhiên phong

Trang 11

phú đa dạng, văn hóa cộng đồng, du lịch sinh thái, trải nghiệm đời sống văn hóa, sinh hoạt với người dân được xem là sản phẩm độc đáo, giàu tiềm năng nơi đây

Điện Bàn được đánh giá là khu vực có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái với lợi thế và điều kiện địa hình, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, những giá trị về đời sống tinh thần, văn hóa và các làng nghề truyền thống của người dân địa phương Tuy nhiên,

du lịch sinh thái ở Điện Bàn trong thời gian vừa qua vẫn chưa được khai thác đúng tiềm năng, chưa thực sự trở thành thế mạnh chủ lực của du lịch Điện Bàn Chính vì lý do đó

mà tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở thị xã Điện

Bàn, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về du lịch sinh thái

- Phân tích tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

- Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

 Phạm vi nội dung

Nghiên cứu tiềm năng, thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái

ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu

Thu thập các thông tin, dữ liệu cơ bản từ các tài liệu, kết quả nghiên cứu trước

đó về loại hình du lịch sinh thái hay các loại hình liên quan tới du lịch sinh thái, các tài liệu về Điện Bàn và các hoạt động du lịch tại Điện Bàn Thu thập thông tin từ các nguồn tin cậy như: chủ hộ vườn, các điểm du lịch sinh thái, UBND thị xã Điện Bàn, cổng thông tin thị xã Điện Bàn, phòng Thống kê và Tài nguyên du lịch môi trường thị xã Điện Bàn

và các sở ban ngành có liên quan

 Phương pháp khảo sát thực địa

Khảo sát thực tế được tiến hành tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Khảo sát được tiến hành thành 2 đợt:

- Đợt 1 (Tháng 01/ 2020): mục đích tìm hiểu các giá trị tài nguyên du lịch, dịch

vụ có sẵn, cơ sở vật chất kĩ thuật sẵn có và đời sống trình độ nhận thức về du lịch sinh thái của cư dân địa phương tại khu vực Điện Bàn

- Đợt 2 (Tháng 3/2020): tìm hiểu thực trạng khai thác các điều kiện phát triển phát triển du lịch sinh thái tại khu vực Điện Bàn, đánh giá và tìm thêm các yếu tố có thể tạo nên các sản phẩm cho loại hình du lịch sinh thái

 Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp điều tra xã hội học là phương pháp quan trọng và không thể thiếu trong đánh giá mức độ chính xác của vấn đề nghiên cứu Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng hiệu quả trong đánh giá nhu cầu của du khách, tìm hiểu những tác động của du lịch tới đời sống của cộng đồng địa phương Các thông tin thực tế quan sát, nghe, trao đổi với khách du lịch, cộng đồng địa phương làm phong phú hơn, góp phần đánh giá một cách khách quan cho đề tài

 Phương pháp bản đồ

Đây là phương pháp đặc thù nghiên cứu địa lý nói chung và địa lý du lịch nói riêng Phương pháp này được sử dụng từ khâu đầu tiên là tìm hiểu địa bàn, trong quá trình khảo sát và nghiên cứu địa bàn Đề tài đã sử dụng các bản đồ chủ yếu như bản đồ địa hình, bản đồ hành chính, bản đồ tài nguyên du lịch tỉnh Quảng Nam nói chung và thị xã Điện Bàn nói riêng giúp cho việc nhắm được thông tin quan trọng một cách toàn diện hơn

Trang 13

6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Lịch sử nghiên cứu vấn đề du lịch sinh thái trên phạm vi một quốc gia, một vùng lãnh thổ đã được tiến hành từ rất lâu và có rất nhiều các luận văn, luận án, các công trình nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới

 Trên thế giới

Đã từ rất lâu hoạt động du lịch đã được hình thành và phát triển ở loài người Đây cũng là hình thức con người di chuyển từ nơi này qua nơi khác Buổi ban đầu du lịch đi kèm với các hoạt động buôn bán, truyền giáo hoặc thám hiểm các vùng đất mới Trong những thập kỷ gần đây du lịch trên thế giới phát triển rộng rãi và bắt đầu nảy sinh những ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường của nơi được tiếp nhận khách du lịch Vì thế, các nhà nghiên cứu du lịch quan tâm nhiều đến việc đánh giá các ảnh hưởng này, đặc biệt đến môi trường thiên nhiên Điển hình cho các nghiên cứu này

là các tác giả: Kreng Lindberg và DoLnal E – Hawkins, “Du lịch sinh thái: hướng dẫn lập quy hoạch và bảo tồn môi trường thiên nhiên” (1999) Budowsk (1976), Buckley và Pannel (1990), các tác giả này, với các nghiên cứu của mình đều đi đến thống nhất là cần có một loại hình du lịch nhạy cảm và có trách nhiệm với môi trường đó là du lịch sinh thái Du lịch sinh thái bắt đầu được bàn đến từ những năm đầu thập thập kỷ 80 trên thế giới Những nhà nghiên cứu tiên phong và điển hình về lĩnh vực này là Ceballos – Lascurain đưa ra định nghĩa đầu tiên về du lịch sinh thái (1987), The Boo (1990), Bbuckley (1991,1994)…, cùng hàng loạt các nghiên cứu lý luận và thực tiễn về du lịch sinh thái của các nhà khoa học quan tâm đến lĩnh vực này như: Cater (1994), Chalker (1994), Honey (1999) “Du lịch sinh thái là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm

và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất” Khái niệm bản chất của du lịch sinh thái, các lợi ích và những vấn đề nảy sinh trong phát triển du lịch do không được quản lý thận trọng như trong các khu tự nhiên, trong khu cộng đồng văn hóa dân tộc là những vấn đề được quan tâm nhiều Đồng thời những nghiên cứu về phát triển du lịch sinh thái ở các quốc gia khác nhau, trong đó khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của các tác giả như: Foster, Buckle, Dowling, Gunn, Ceballo – Lascurain, Linberg và Hawkins, và các tổ chức quốc tế IUCN, WTO (1992); Tourism Concern (1998), là những tài liệu bổ ích trong nghiên cứu du lịch sinh thái và vận dụng vào thực tiễn ở quy mô quốc gia và từng vùng, khu vực cụ thể

Trang 14

 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ Du lịch cùng với đó cũng phát triển mạnh mẽ Nước ta mỗi năm đón hàng triệu lượt khách, không chỉ trong nước mà cả quốc tế, điều này đã thúc đẩy ngành du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại nhiều lợi ích về kinh tế - xã hội và môi trường Do vậy, việc nghiên cứu về du lịch, tiềm năng của

du lịch sinh thái đã thu hút được đông đảo các nhà khoa học, các cấp chính quyền, trung tâm nghiên cứu Trong những năm gần đây, các tác động của du lịch đến môi trường tự nhiên và xã hội cũng đang là mối quan tâm lớn của nhiều nhà nghiên cứu như: Phạm Trung Lương (1997) “Đánh giá tác động môi trường du lịch ở Việt Nam”, Vũ Tuấn Cảnh (1997) “Quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam với chiến lược tổng thể quản lý tài nguyên và môi trường”, Nguyễn Ngọc Khánh, Phạm Hoàng Hải và Phạm Trung Lương (1998) “Đánh giá tác động môi trường cho phát triển du lịch Quảng Ninh”, Điều này cho thấy sự quan tâm đến môi trường trong hoạt động du lịch ngày càng trở nên bức thiết Bên cạnh đó còn nhiều những chương trình nghiên cứu luận án tiến sĩ, thạc sĩ cũng

đã tiếp cận vấn đề du lịch liên quan đến tự nhiên và sinh thái môi trường: Đặng Duy Lợi (1992) “Đánh giá khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba

Vì (Hà Tây)”, Nguyễn Trần Cầu (1993) “Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam”, Phạm Quang Anh (1996) “Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt nam” Vào tháng 9 năm 1999 dã diễn ra hội thảo

“Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam”, được tổ chức với sự phối hợp của tổng cục du lịch Việt Nam, IUCN, UNEP, ESCAP với sự tài trợ của tổ chức SIDA, rất nhiều tham luận đã đóng góp những kinh nghiệm và thực hiện phát 5 triển du lịch sinh thái ở nhiều nơi Như vậy, xét trên tổng thể, các công trình nghiên cứu về du lịch, du lịch sinh thái cũng như các hoạt động thực tiễn, du lịch sinh thái cho thấy đây là một lĩnh vực du lịch mới, góp phần bảo vệ tự nhiên và môi trường, nhằm phát triển một nền du lịch bền vững, không chỉ bó hẹp trong phạm vi một lãnh thổ, mà còn là một quốc gia và cả thế giới đang tiến tới và phát triển nó

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI

1.1 Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái

1.1.1 Khái quát chung về du lịch

1.1.1.1 Khái niệm về du lịch

Trong các hội thảo, các công trình nghiên cứu về du lịch thì khái niệm du lịch đã được bàn đến với nhiều quan niệm do được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Sau đây là một số khái niệm về du lịch theo các cách tiếp cận phổ biến

- Tiếp cận dưới giác độ nhu cầu: Du lịch là hiện tượng con người rời khởi nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi xa lạ vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm việc làm (kiếm tiền) và trong thời gian đó họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được

Tiếp cận dưới giác độ tổng hợp: Michael Coltman đã đưa ra khái niệm như sau:

“Du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động

qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại, cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch”

có thể coi là hình thức xuấtt khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ Theo nghĩa này, du lịch

được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế

Theo Chương I, Điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam 2017 như sau: “Du lịch là

hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thảo mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Trang 16

Như vậy, có rất nhiều khái niệm về du lịch nhưng tổng hợp lại du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:

+ Du lịch là một hiện tượng kinh tế-xã hội

+ Du lịch là một sự di chuyển và tạm thời lưu trú ở ngoài nơi thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoải mãn nhu cầu đa dạng của họ

+ Du lịch là một tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú, đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và nhu cầu của cá nhân, tập thể khi họ

ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ

1.1.1.2 Vai trò của du lịch

Du lịch được xem là ngành “công nghiệp không khói” và có vai trò quan trọng

trong nền kinh tế và đời sống xã hội

Về kinh tế: Du lịch là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống kinh tế-xã

hội của con người và đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia phát triển Có nhiều nước đã coi du lịch là nguồn thu chủ yếu, điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế, và coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn Du lịch ngày càng không chỉ là ngành kinh tế mang lại hiệu quả cao, mà còn là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác Mạng lưới du lịch đã được thiết lập ở hầu hết các quốc gian trên thế giới Các lợi ích từ du lịch là ko thể phủ nhận, thông qua nhu cầu tiêu dùng đặc biệt của du khách đối với các sản phẩm ở nơi có điểm du lịch, nhu cầu nâng cao kiến thức, học hỏi, vãn cảnh thư giãn, nghỉ ngơi, chữa bệnh

Du lịch có ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế, các quốc gia có nhiều yếu tố như: cảnh quan, di tích lịch sử, văn hóa đời sống dân tộc, các yếu tố để đẩy mạnh đầu tư cho

du lịch như: xây dựng các cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật phục vụ cho du khách Sự phát triển của ngành du lịch có tác động rất mạnh đến cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ nền kinh tế Các ngành kinh tế gắn liền với du lịch như: Giao thông, công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, trên bình diện chung, hoạt động du lịch làm biến đổi hoạt động tài chính của đất nước, như cán cân thu, chi, hoạt động thu, đối ngoại tệ

Như vậy, về mặt kinh tế du lịch có vai trò hết sức to lớn nó làm thay đổi bộ mặt kinh tế của một đất nước, giúp quảng bá hình ảnh của đất nước đó ra thế giới Điều này

có ý nghĩa tạo ra các cơ hội hợp tác quốc tế về mọi mặt giữa các quốc gia trên thế giới,

phù hợp với xu thế “Hội nhập kinh tế quốc tế” hiện nay

Trang 17

tự tôn dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước và phát huy được tinh thần đó, bản sắc dân tộc cho các thế hệ sau này

1.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành du lịch

Tài nguyên du lịch

Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến ngành du lịch, đầu tiên phải

kể đến đó là nhân tố tài nguyên du lịch, đây được coi là tiền đề, là cơ sở quan trọng để phát triển du lịch Tài nguyên du lịch càng phong phú, đa dạng và đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và du lịch ngày càng cao

- Vai trò của tài nguyên du lịch được thể hiện ở ba mặt sau:

+ Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch + Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành sản phẩm du lịch

+ Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ

du lịch

Các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội

- Về dân cư: Đây là lực lượng quan trọng của xã hội cùng với hoạt động phục vụ

xã hội, lợi ích riêng của họ đồng thời thì họ có nhu cầu đó là nghỉ ngơi, du lịch và dịch

vụ du lịch ngày càng phát triển

- Về kinh tế: Nền kinh tế phát triển là tiền để cho ra đời và phát triển của ngành

du lịch Sự phát triển của các ngành kinh tế như công nghiệp, chế biến thực phẩm, gỗ

và đặc biệt là giao thông vận tải sẽ tạo cơ sở để ngành du lịch phát triển Du lịch là ngành

Trang 18

nhận nhiệm vụ “truyền tải” sản phẩm hàng hóa, dịch vụ ngành kinh tế khác để cung cấp cho khách du lịch nhằm tìm kiếm lợi nhuận vì vậy điều kiện kinh tế có ảnh hưởng đóng

vai trò cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho du lịch

- Văn hóa xã hội: Trong những động cơ khiến con người đi du lịch là để tìm hiểu

những điều mới lạ, mở rộng sự hiểu biết của bản thân mình Hiển nhiên, kể từ đó yếu tố

văn hóa là phần không thể thiếu được trong du lịch

+ Trước tiên du lịch là ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt, bên cạnh tài

nguyên tự nhiên là tài nguyên văn hóa nhân văn Bởi vậy, cụm từ “Du lịch văn hóa”

hình thành như một loại hình du lịch mà điểm đến là nơi chứa đựng giá trị văn hóa lâu đời, những công trình kiến trúc nghệ thuật, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng,

ẩm thực, lễ hội

+ Các giá trị văn hóa đó tồn tại và phát triển trong lòng xã hội kể từ khi nó hình

thành, được quy định bởi các yếu tố như vị trí địa lý, nhân chủng, quá trình đấu tranh của con người với tự nhiên…Bởi vậy các khu vực trên thế giới điều có các nền văn hóa khác nhau

+ Có thể khẳng định rằng không có giá trị văn hóa thì ngành kinh doanh du lịch

của quốc gia đó không có tiềm năng phát triển Bởi vì nơi nào có điểm di tích văn hóa, tiềm năng văn hóa lớn thì nơi đó sẽ thu hút lượng khách du lịch cả trong và ngoài nước.Ví dụ như: Nền văn hóa sông Nin, Lưỡng Hà, công trình Kim Tự Tháp Ai Cập,

- Về chính trị và hòa bình khu vực: Chính sách phát triển du lịch là chìa khóa dẫn

đến thành công trong phát triển du lịch Nó có thể kìm hãm nếu đường lối sai với thực

tế, chính sách phát triển du lịch được ở hai mặt:

+ Thứ nhất là chính sách chung của tổ chức du lịch thế giới đối với các nước thành viên

+ Thứ hai là chính sách của các cơ quan quyền lực địa phương tại quốc gia đó

- Về cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật: Cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật đóng

vai trò quan trọng đối với việc phát triển và thu hut khách du lịch Nó quyết định mức

độ khai thác tiềm năng du lịch cũng như quá trình tạo ra sản phẩm du lịch và bán các sản phẩm du lịch đó Trên cơ sở đó, đòi hỏi các ban ngành chỉ đạo du lịch phải luôn hoàn thiện và nâng cao cơ sở vật chất, kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của

du khách

Trang 19

Như vậy, các nhân tố trên có vai trò quyết định lớn đến hoạt động du lịch Chính

vì vậy, ngành du lịch muốn hoạt động, phát triển mạnh thì phải kết hợp nhuần nhuyễn

và sử dụng hợp lý các nhân tố này thì du lịch tại quốc gia đó nói riêng và du lịch của thế giới nói chung mới thực sự phát triển giá trị tối đa của nó

1.1.1.4 Các loại hình du lịch

Nền kinh tế ngày càng được phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao, từ đó các nhu cầu về giải trí, du lịch của con người ngày càng phong phú và đa dạng Ngành du lịch cũng từ đó mà phát triển không ngừng và dựa trên những tiêu chí, yêu cầu của con người, du lịch có thể phân chia các loại hình như sau:

- Dựa vào tài nguyên du lịch có: Du lịch tự nhiên và du lịch văn hóa

- Dựa vào phạm vi lãnh thổ có: Du lịch trong nước (nội địa) và du lịch quốc tế

- Dựa vào vị trí các cơ sở du lịch có: Du lịch biển, du lịch núi, du lịch thành phố,

du lịch nông thôn

- Dựa vào nhu cầu khách du lịch có: Du lịch nghỉ ngơi (giải trí), du lịch thể thao,

du lịch văn hóa, du lịch hội nghị, du lịch giáo dục, du lịch công vụ, du lịch tự do khám phá, picnic (dã ngoại),

- Dựa vào thời gian có: Du lịch dài ngày, du lịch ngắn ngày

- Dựa vào phương tiện giao thông có: Du lịch xe đạp, du lịch ô tô, du lịch xe máy,

du lịch tàu thủy,

- Dựa vào hình thức tổ chức có: Du lịch thanh niên, du lịch thiếu niên,…

1.1.2 Khát quát về du lịch sinh thái

1.1.2.1 Khái niệm về du lịch sinh thái

Trên thế giới đã ghi nhận nhiều bước tiến đáng kể của ngành du lịch đặc biệt là

du lịch sinh thái và bảo tồn, do những quan ngại lớn về môi trường Du lịch sinh thái không chỉ tồn tại ở một khái niệm hay một đề tài để suy ngẫm mà đã thành vấn đề được quan tâm của toàn cầu Ở rất nhiều các quốc gia trên thế giới, vấn đề phát triển du lịch sinh thái rất được chính phủ quan tâm, thường xuất hiện trên các bản tin chính hay trong các quảng cáo cộng đồng Du lịch sinh thái đã mang nhiều lợi ích trong việc phát triển

và bảo tồn bền vững Như vậy, vai trò quan trọng của du lịch sinh thái là không thể phủ nhận

Vấn đề vẫn còn tồn tại là mỗi khi thảo luận về “Du lịch sinh thái” là việc khái niệm về du lịch sinh thái vẫn chưa được tìm hiểu kĩ, do đó thường bị nhầm lẫn với các

Trang 20

hình thái du lịch khác Một số tổ chức đã cố gắng làm rõ sự nhầm lẫn này bằng cách sử dụng các khái niệm du lịch sinh thái như một công cụ để thực hiện bảo tồn và phát triển bền vững

Định nghĩa của hiệp hội “Du lịch sinh thái” được phổ biến, rộng rãi như sau: “Du

lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm tại các điểm du lịch tự nhiên, kết hợp với bảo vệ môi trường và cải thiện phúc lợi của người dân địa phương” (Lindbeng và Haw Kins,

1993)

Một định nghĩa khác được hình thành đó là liên kết với yếu tố văn hóa và môi trường một cách cụ thể hơn do tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN) đưa ra định

nghĩa “Du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các

điểm tự nhiên không bị tàn phá, để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ và đang được hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế các tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra và tạo ích lợi cho những người dân địa phương tham gia tích cực”

Bên cạnh những khái niệm của các tổ chức thì các cá nhân cũng đã có những

đóng góp lớn trong việc hình thành khái niệm “Du lịch sinh thái” Nhà khoa học danh

tiếng tiên phong đi đầu trong lĩnh vực này như: Hector Ceballos – Lasairain (1987), ông

cho rằng “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên, ít bị ô nhiễm, ít bị

xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt, nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoại phong cảnh và động thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị về văn hóa (cả quá khứ lẫn hiện tại) được khám phá trong những khu vực này”

Sau đó đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch sinh thái đã được các nhà nghiên cứu quan tâm đưa ra, tuy có cách khai thác và diễn đạt khác nhau song nhìn chung các ý tưởng và khái niệm “Du lịch sinh thái” có điểm giống nhau trong việc làm nổi bật lên bản chất của loại hình du lịch này

Trong định nghĩa của Whe Lan: Ông nhấn mạnh chủ yếu bảo tồn bền vững và mang lại lợi ích cho cộng đồng thông qua việc làm và nguồn thu nhập Ngoài hai yếu tố trên định nghĩa của Wood (1991) còn đề cao tính giáo dục trong du lịch sinh thái thông

qua “nhu cầu hiểu biết” và “quan tâm đến việc không làm thay đổi thuộc tính toàn vẹn

của hệ sinh thái”

Một định nghĩa khác của Honney (1999) “Du lịch sinh thái là du lịch hướng tới

những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra

Trang 21

ít tác hại với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách để bảo vệ môi trường Nó đem lại nguồn lợi về kinh tế và kinh nghiệm quản lí cho người dân địa phương, nó khuyến khích, tôn trọng giá trị văn hóa và quyền con người”

Như vậy, từ định nghĩa đầu tiên của Lascurain (1987) về “Du lịch sinh thái” và

qua rất nhiều các định nghĩa khác nhau đã cho thấy sự lớn mạnh chuyển từ ý tưởng cho

rằng: “Du lịch sinh thái chỉ đơn thuần là du lịch đến một vùng tự nhiên, thưởng thức

một chút nào đấy, một cách thụ động và ít gây tác động đến môi trường, sang cách nhìn ngày càng tích cực là du lịch có trách nhiệm đối với môi trường, có tinh giáo dục cao, đóng góp, bảo tồn và đem lại lợi ích cho cộng đồng sở tại.”

Hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái ở Việt

Nam” đã đi đến thống nhất quan niệm sinh thái như sau: “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và văn hóa bản địa có tính giáo dục môi trường và đóng góp cho các nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” Định nghĩa này bao hàm đầy đủ nội dung củ du lịch sinh thái, thống

nhất về cơ bản với các quan niệm của các nhà khoa học trên thế giới

So với một số loại hình du lịch khác như du lịch dựa vào tự nhiên, du lịch khám phá tự nhiên, hay du lịch mạo hiểm thì du lịch sinh thái vừa có những điểm giống nhau vừa có những điểm khác biệt

- Du lịch dựa vào tự nhiên là du lịch chủ yếu có mục tiêu thường ngoạn, ngắm cảnh tự nhiên

- Du lịch mạo hiểm là du lịch nhấn mạnh vào các hoạt động du lịch như đi bộ xuyên rừng, lướt sóng, lặn biển,…

- Du lịch bền vững là loại hình du lịch có nguyên tắc nghiêm ngặt cho tất cả các loại hình du lịch cần đạt tới trong đó có du lịch sinh thái

Và cuối cùng du lịch sinh thái là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các hình thức du lịch tự nhiên, du lịch mạo hiểm, bao hàm cả yếu tố du dịch mạo hiểm, bao hàm cả yếu

tố du dịch bền vững nhưng mang tính giáo dục cao, hỗ trợ bảo tồn và quan tâm cộng đồng

Tuy nhiên gần đây, người ta cho rằng nội dung nội dung căn bản của du lịch sinh thái là tập trung vào mức độ trách nhiệm của con người với môi trường Quan điểm thụ động cho rằng du lịch sinh thái là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi trường do du lịch tạo ra, là sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên sinh thái, văn hóa, thẩm mỹ Quan

Trang 22

điểm chủ động cho rằng du lịch sinh thái còn phải đóng góp vào quản lý bền vững môi trường lãnh thổ du lịch và phải quan tâm đến quyền lợi của nhân dân địa phương Do

đó, đã có một khái niệm tương đối đầy đủ ra đời: “Du lịch sinh thái là du lịch có trách

nhiệm với các khu thiên nhiên, là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”

1.1.2.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch sinh thái

Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn tài nguyên, năng lượng

và thông tin có trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng

để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình

Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên tự nhiên và tài nguyên xã hội gắn liền với các nhân tố về con người, xã hội

Tài nguyên du lịch là một trạng thái đặc sắc của tài nguyên nói chung Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch (Luật Du lịch Việt Nam, 2017)

Là loại hình du lịch phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, tài nguyên

du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó

Tuy nhiên, không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là tài nguyên du lịch sinh thái mà chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch sinh thái, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng, mới được xem là tài nguyên du lịch sinh thái

Tài nguyên du lịch sinh thái bao gồm tài nguyên đang khai thác và chưa khai thác

Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch sinh thái phụ thuộc vào:

- Khả năng nghiên cứu, phát triển và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn có còn tiềm ẩn

Trang 23

- Yêu cầu phát triển các sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng cả khách du lịch sinh thái

- Trình độ tổ chức và quản lý đối với việc khai thác tài nguyên du lịch sinh thái, đặc biệt ở những nơi có các hệ sinh thái nhạy cảm

- Khả năng tiếp cận để khai thác các tiềm năng tài nguyên

Tài nguyên du lịch sinh thái rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, một số loại tài nguyên du lịch sinh thái chủ yếu thường được nghiên cứu khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch sinh thái bao gồm:

- Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt là nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loại sinh vật đặc hữu, quý hiếm (các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, các sân chim…)

- Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn trái, trang trại, làng hoa cây cảnh, )

- Các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại của

hệ sinh thái tự nhiên như các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống gắn với các truyền thuyết của cộng đồng

1.1.2.3 Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái

Mọi hoạt động phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng đều được thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị của tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa, lịch

sử kèm theo các điều kiện về cơ sở hạ tầng và dịch vụ Kết quả của quá trình khai thác

đó là sự hình thành những sản phẩm du lịch từ các tiềm năng về tài nguyên, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội

Trước tiên đó là những lợi ích kinh tế-xã hội, tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng cao đời sống kinh tế cho cộng đồng địa phương thông qua các dịch vụ du lịch, tạo điều kiện cho việc bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử và sự đa dạng của thiên nhiên nơi có những hoạt động phát triển du lịch

Sau nữa là những lợi ích đem lại cho khách du lịch trong việc hưởng thụ các cảnh quan thiên thiên mới lạ và độc đáo, các truyền thống văn hóa lịch sử, những đặc thù dân tộc mà trước đó họ chưa biết tới, các giá trị thiên nhiên, văn hóa lịch sử của nơi họ đến nói riêng và của hành tinh nói chung

Du lịch sinh thái là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm tất

cả những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung, bao gồm:

Trang 24

Tính đa ngành: Tính đa ngành thể hiện ở đối tượng được khai thác để phục vụ

du lịch (sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo…)

Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện, nước, nông sản, hàng hóa…)

Tính đa thành phần: Biểu hiện tính đa dạng trong thành phần khách du lịch,

những người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức tham gia vào hoạt động du lịch

Tính đa mục tiêu: Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh

quan lịch sử - văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách du lịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hóa, kinh tế và nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội

Tính liên vùng: Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch với một quần thể các điểm

du lịch trong một khu vực, một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau

Tính mùa vụ: Biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung với cường

độ cao trong năm Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại hình du lịch nghỉ biển, thể thao theo mùa… (theo tính chất của khí hậu) hoặc loại hình du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi, giải trí… (theo tính chất công việc của những người hưởng thụ sản phẩm du lịch)

Tính chi phí: Biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch là hưởng thụ các sản phẩm du

lịch chứ không phải với mục tiêu kiếm tiềm

Tính xã hội hóa: Biểu hiện ở việc thu hút toàn bộ mọi thành phần trong xã hội

tham gia (có thể trực tiếp hoặc gián tiếp) vào hoạt động du lịch

Bên cạnh các đặc trưng của ngành du lịch nói chung, du lịch sinh thái cũng hàm chứa những đặc trưng riêng bao gồm:

- Tính giáo dục cao về môi trường: du lịch sinh thái hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học và rất nhạy cảm về mặt môi trường Hoạt động du lịch gây nên những áp lực lớn đối với môi trường, và du lịch sinh thái được coi là chiếc chìa khóa nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường

- Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì đa dạng sinh học: Hoạt động du lịch sinh thái có tác động giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Trang 25

và môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững

- Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: cộng đồng địa phương chính

là những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại điạ phương mình Phát triển cộng đồng địa phương hướng con người đến các vùng tự nhiên hoang sơ, có giá trị cao về đa dạng sinh học, điều này đặt ra một yêu cầu cấp bách đó là phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại khu vực đó, bởi vì hơn ai hết chính những người dân địa phương tại đây hiểu rõ nhất về nguồn tài nguyên của mình Sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng to lớn trong việc giáo dục du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên

và môi trường, đồng thời cũng góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức cho cộng đồng, tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng

1.1.2.4 Các nguyên tắc của hoạt động du lịch sinh thái

Hoạt động du lịch sinh thái cần tuân theo một số nguyên tắc sau:

- Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biêt về môi trường,

qua đó tạo ý thức tham gia vào các nổ lực bảo tồn

Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái, tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa du lịch sinh thái với các với các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được sự hiểu biết cao hơn

về các giá trị của môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi, được thể hiện bằng những nổ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hóa khu vực

- Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái

Cũng như hoạt động của các loại hình du lịch khác, hoạt động du lịch sinh thái tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên Nếu như đối với những loại hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái chưa phải là những

ưu tiên hàng đầu thì ngược lại, du lịch sinh thái coi đây là một trong những nguyên tắc

cơ bản, quan trọng cần tuân thủ bởi vì:

Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu của hoạt động du lịch sinh thái

Sự tồn tại của du lịch sinh thái gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái sẽ cần được quản lí chặt chẽ đẻ giảm thiểu tác động tới môi trường, đồng thời tạo

Trang 26

một phần thu nhập từ hoạt động du lịch sinh thái sẽ được đầu tư để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển các hệ sinh thái

- Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng

Đây được xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động du lịch sinh thái, bởi các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường của hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương dưới tác động nào

đó sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực và vì vậy sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó Hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến du lịch sinh thái

Chính vì vậy, việc bảo việc và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương

có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của du lịch sinh thái

- Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương

Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của du lịch sinh thái

Nếu như các loại hình du lịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động du lịch đều thuộc về các công ty điều hành thì nhược lại, du lịch sinh thái sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để góp phần nhằm cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương

Ngoài ra du lịch sinh thái cũng hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương, như đảm nhiệm vai rò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghỉ cho khách, cung cấp các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho khách…thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Kết quả là cuộc sống của người dân sẽ ít bị phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên, đồng thời họ sẽ nhận thấy lợi của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển du lịch sinh thái Sức

ép của cộng đông đối với môi trường vốn đã tồn tại từ bao đời nay sẽ giảm đi và chính cộng đồng địa phương sẽ là những người chủ lực thực sự, những người bảo vệ trung thành các giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa của nơi diễn ra hoạt động du lịch sinh thái

1.1.2.5 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái

a Các điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch tự nhiên

Theo các căn cứ và sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch thì có một số yếu tố hấp dẫn

du khách như vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn và tài nguyên sinh vật

Trang 27

Vị trí địa lý

Khoảng cách từ nơi du lịch đến các nguồn khách du lịch có ý nghĩa quan trọng đối với nước nhận khách du lịch

Địa hình

Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và

sự đa dạng của phong cảnh ở nơi đó Đối với du lịch, địa hình càng đa dạng, tương phản

và độc đáo càng có sức hấp dẫn du khách

Khí hậu

Những nơi có khí hậu ôn hòa thường được du khách ưa thích Nhiều cuộc thăm

dò đã cho kết quả là khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh, quá ẩm hoặc quá nóng, quá khô Nhưng nơi có nhiều gió cũng không thích hợp cho sự phát triển du lịch

Thủy văn

Nước là một trong những yếu tố không thể thiếu được để duy trì sự sống của con người Gương nước rộng lớn không những tạo ra một bầu trời không khí trong lành mà còn có tác dụng rất tốt cho sức khỏe con người

Tài nguyên sinh vật

Thế giới động thực vật đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của du lịch chủ yếu nhờ sự đa dạng và tính đặc hữu

b Các điều kiện kinh tế, xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn

Các điều kiện kinh tế, xã hội

Cơ sở vật chất kỹ thuật

Cơ sở vật chất kỹ thuật là những thứ hấp dẫn bổ sung cho các hấp dẫn chính từ tài nguyên thiên nhiên của khu du lịch Nếu không có các thứ hấp dẫn thứ cấp này sẽ mất đi một lượng không nhỏ những du khách cần đến chúng như một điều kiện cho chuyến đi của mình

Nhân lực

Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai, là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương đã sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, khi nói đến nguồn nhân lực người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với nhu cầu thị trường lao động Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trong trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động

Trang 28

Tài nguyên du lịch văn hóa

Bên cạnh những tiềm năng du lich sinh thái tự nhiên – đối tượng chủ đạo của hoạt động du lịch sinh thái, thì tài nguyên du lịch văn hóa là một cấu thành không thể tách rời Phát triển du lịch sinh thái mang tính bền vững có mục tiêu giáo dục, duy trì, bảo tồn và phát triển môi trường sinh thái tự nhiên, đồng thời cũng có trách nhiệm bảo tồn và phát triển môi trường văn hóa, nhân văn trong khu vực Nguồn tài nguyên du lịch văn hóa trong các khu sinh thái tự nhiên hay là văn hóa bản địa được hiểu bao gồm cộng đồng dân cư với vốn văn hóa truyền thống của họ như: các di tích lịch sử văn hóa, các

lễ hội, nghề và làng nghề thủ công truyền thống…

Các di tích lịch sử văn hóa

Là tài sản văn hóa quý giá của mỗi địa phương, mỗi đất nước và của cả nhân loại

Di tích được hiểu theo nghĩa chung nhất là những tàn tích, dấu vết còn sốt lại của quá khứ, là tài sản của các thế hệ trước để lại cho các thế hệ kế tiếp

Các lễ hội

Trong các dạng của tài nguyên du lịch văn hóa, lễ hội truyền thống là tài nguyên

có giá trị phục vụ du lịch rất lớn Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa đặc trưng phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc

1.1.2.6 Yêu cầu để phát triển du lịch sinh thái

- Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức Du lịch sinh thái là một sự tồn tại của các

hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu tự nhiên và động thực vật bao gồm: sinh thái tự nhiên, sinh thái thực vật, sinh thái nông nghiệp, sinh thái khí hậu và sinh thái

Trang 29

nhân văn Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là 1 dạng thứ cấp của đa dạng sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài

Thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo ra một cơ thể sống, mối liên

hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như: Đất, nước, địa hình, khí hậu,… đó là các hệ sinh thái và các nơi trú ngụ sinh sống của một hoặc nhiều loại đất

- Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái ở hai điểm:

+ Để đảm bảo trình giáo dục, nâng cao được hiểu biết cho khách du lịch sinh thái Người hướng dẫn viên ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt nên còn phải là người am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương

+ Hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi phải có được người điều hành có nguyên tắc, các nhà điều hành du lịch sinh thái phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm tạo mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hoá khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương với khách du lịch

- Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt động

du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường, theo đó Du lịch sinh thái cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về "sức chứa" được hiểu từ 4 khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý học và xã hội học

+ Ở góc độ vật lý: sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa du khách mà khu vực có thể tiếp nhận

+ Ở góc độ xã hội: sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống văn hoá - xã hội, kinh

tế - xã hội của khu vực

+ Ở góc độ sinh học: sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà nếu lớn hơn

sẽ vượt qua khả năng tiếp nhận của môi trường, làm xuất hiện các tác động sinh thái do hoạt động của du khách và tiện nghi họ sử dụng gây ra

+ Ở góc độ tâm lý: sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu vượt quá thì bản thân du khách sẽ bắt đầu cảm thấy khó chịu về sự đông đúc và hoạt động của họ

bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của du khách khác

Trang 30

- Yêu cầu thứ tư là thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách du lịch việc thỏa mãn mong muốn của khách du lịch sinh thái về những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của du lịch sinh thái vì vậy những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì họ tham gia

1.1.2.7 Quan hệ giữa du lịch sinh thái và phát triển

- Du lịch sinh thái với bảo tồn đa dạng sinh học

Bảo vệ đa dạng sinh họ hiện nay là mục tiêu của du lịch sinh thái hướng tới trong

sự nghiệp bảo vệ môi trường sống chung của nhân loại

- Du lịch sinh thái với phát triển cộng đồng

Du lịch sinh thái phải là một nổ lực kết hợp giữa nhân dân địa phương và những khách tham quan để duy tì những khu hoang dã và những thế mạnh về sinh thái và văn hóa, thông qua sự hỗ trợ phát triển của cộng đồng địa phương

- Du lịch sinh thái với phát triển bền vững

Hoạt động du lịch sinh thái không những có ý nghĩa đối với việc bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên môi trường mà còn mang tính bền vững bởi được sự ủng hộ của người dân địa phương

1.2 Cơ sở thực tiễn về du lịch sinh thái

1.2.1 Tình hình phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam

Tuy hoạt động du lịch sinh thái còn tương đối mới mẻ nhưng trong những năm gần đây du lịch sinh thái nước ta đang có chiều hướng phát triển mạnh với một số loại hình phù hợp với điều kiện đặc thù trên lãnh thổ và bước đầu đã mang lại những hiệu quả tổng hợp

Hoạt động du lịch sinh thái nước ta hiện nay tập trung chủ yếu trong các khu dự trữ sinh quyển, Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên như VQG Ba Bể, VQG Cúc Phương, VQG Bạch Mã, khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm, VQG Nam Cát Tiên,… Ngoài ra, trong những năm gần đây, có nhiều địa phương và cơ sở kinh doanh du lịch

đã đầu tư xây dựng thêm hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật tại các điểm

du lịch có điều kiện tự nhiên thuận lợi để đẩy mạnh sự phát triển của loại hình du lịch sinh thái như: ở các khu nghỉ dưỡng núi Bà Nà (Đà Nẵng), Sa Pa (Lào Cai), Tràng An (Ninh Bình), Đà Lạt (Lâm Đồng),… hay ở các khu nghỉ biển Cửa Lò (Nghệ An), Sầm

Trang 31

Sơn (Thanh Hóa), Nha Trang (Khánh Hòa), Lăng Cô (Huế), Phú Quốc (Kiên Giang),

Hạ Long (Quảng Ninh),

Những sản phẩm và loại hình du lịch sinh thái chủ yếu ở nước ta hiện nay là tham quan, nghiên cứu khoa học tại các Khu dự trữ sinh quyển, Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên; tắm suối khoáng nóng; đi bộ; leo núi; quan sát hệ sinh thái chim; thăm bản làng người dân tộc,

Nhận thức được vai trò to lớn của du lịch sinh thái trong sự phát triển kinh tế -

xã hội và bảo vệ môi trường, hầu hết các địa phương trên phạm vi cả nước đều đã và đang tiến hành xúc tiến triển khai hoặc mở rộng các dự án đầu tư du lịch sinh thái, trong

đó có nhiều dự án có vốn đầu tư rất lớn như dự án Khu du lịch sinh thái Duyên Hải – Cần Giờ, dự án Khu đô thị Sinh thái Du lịch Nghỉ dưỡng Thể thao Tam Nông – Phú Thọ,…

Nhìn chung, sự phát triển của du lịch sinh thái ở nước ta hiện nay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng Hi vọng với sự quan tâm và chỉ đạo của Nhà nước, các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý du lịch, kết hợp với các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn cả nước, du lịch sinh thái nước ta trong tương lai sẽ không ngừng phát triển xứng đáng vơi tiềm năng vốn có

1.2.2 Tình hình phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam là vùng đất có thế mạnh về điều kiện tự nhiên và nền văn hóa bản địa đa dạng Với nhiều lợi thế về văn hóa cộng đồng, tài nguyên thiên nhiên, du lịch sinh thái, trải nghiệm đời sống văn hóa, sinh hoạt với người dân được xem là sản phẩm độc đáo, giàu tiềm năng của tỉnh Quảng Nam Bên cạnh các sản phẩm du lịch truyền thống, Quảng Nam luôn quan tâm đầu tư phát triển sản phẩm du lịch gắn với các làng quê, làng nghề, khai thác cảnh quan yên bình với nhiều sản phẩm du lịch mới hấp dẫn Tỉnh đã xây dựng và phát triển nhiều sản phẩm du lịch nông nghiệp phù hợp với xu hướng khám phá, trải nghiệm của khách du lịch hiện nay, điển hình như:

Các sản phẩm du lịch nông nghiệp với hoạt động tham quan, trải nghiệm ở các làng quê, làng nghề, nông thôn Quảng Nam: chương trình trải nghiệm các hoạt động nghề nông ở làng rau Trà Quế, làng gốm Thanh Hà, làng rau An Mỹ, làng rau Thanh Đông, làng chài ở Cù Lao Chàm, làng bắp Cẩm Nam (Hội An), làng trái cây Đại Bình (Nông Sơn),… Những chương trình du lịch này giúp du khách hòa vào cuộc sống thực tại của người dân, được xới đất trồng rau, tưới nước và tìm hiểu nét đẹp văn hóa làng

Trang 32

nghề như nếp ăn ở, truyền dạy nghề, các ngày hội lễ tổ nghề, lễ cầu mùa Trong đó, làng rau Trà Quế là sản phẩm du lịch nông nghiệp đặc sắc khá nổi tiếng gần 10 năm qua, mỗi năm đón hàng chu ̣c nghìn lượt khách tham quan, trải nghiê ̣m

Các sản phẩm du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp là những sản phẩm du lịch mới mang la ̣i hiê ̣u quả cũng như ta ̣o được thiê ̣n cảm lớn đối với du khách, nhất là thi ̣ trường khách châu Âu, Đông Bắc Á như: chương trình tham quan rừng dừa Bảy Mẫu Cẩm Thanh (Hội An); làng du lịch sinh thái cộng đồng Trà Nhiêu, Triêm Tây (Điện Bàn)… Du khách được trải nghiê ̣m các hoạt động giải trí, đi xe đa ̣p, đi thuyền trên sông, tham quan rừng dừa bằng thuyền thúng, nghỉ dưỡng trong những cơ sở lưu trú nằm giữa ruộng đồng, sông nước

Du lịch nông nghiệp gắn với tham quan, tìm hiểu văn hóa, cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số, tham gia biểu diễn văn nghệ cùng người bản địa, xem trình diễn

âm nhạc truyền thống, thưởng thức ẩm thực, tìm hiểu các nghề dệt thổ cẩm truyền thống (ở các huyện miền núi phía Tây của tỉnh)… Đây là những sản phẩm du lịch có sự kết hợp giữa du lịch nông nghiệp, du lịch cộng đồng và du lịch văn hóa, mang đến một nét độc đáo mới cho du lịch Quảng Nam với các điểm: làng du lịch Pơning (Tây Giang), làng du lịch Bho Hoong (Đông Giang), làng du lịch cộng đồng Cơ Tu (Nam Giang)…

Hình mẫu ở Hội An: Nằm cách trung tâm phố cổ Hội An chừng 3km về phía

Đông, rừng dừa Bảy Mẫu được ví như một vùng sông nước miền Tây giữa miền Trung Đây là điểm tham quan độc đáo, thú vị đối với du khách trong nước và quốc tế khi đến thăm đô thị cổ Hội An

Rừng dừa Bảy Mẫu là một vùng sinh thái độc đáo với hệ rừng ngập mặn, trải rộng hơn một trăm héc ta, là “lá phổi xanh” cho không chỉ Cẩm Thanh mà cả đô thị cổ Hội An Cây dừa trồng đầu tiên tại đây khoảng trên 200 năm, người dân trồng dừa với mục đích tạo vành đai xanh chắn gió, chắn sóng, đối phó với mực nước biển dâng cao Qua nhiều năm, cây dừa đã trở thành nguồn kinh tế cho người dân Cẩm Thanh Ban đầu, người dân ở đây lấy tàu dừa khô để lợp nhà và cũng từ đó nghề làm nhà bằng cây dừa nước ra đời Sau này, người dân địa phương đã phát triển du lịch theo loại hình du lịch làng quê sinh thái Đến với rừng dừa Cẩm Thanh, du khách được trải nghiệm tham quan rừng dừa nước bằng thuyền thúng, nghe người chèo thúng ca những câu dân ca xứ Quảng ngọt ngào, xem cảnh người dân tung chài bắt cá, hoặc tự tay đi câu cá, câu cua dưới các khóm dừa, đặc biệt là xem biểu diễn chèo thuyền thúng Nhiều khách quốc tế lại thích

Trang 33

tham gia vào tour du lịch trồng dừa nước để bảo vệ môi trường Trên diện tích bãi bồi của xã Cẩm Thanh, ngay gần biển Cửa Đại, du khách xuống thuyền, lội nước và tự tay trồng cây dừa non xuống nước theo sự hướng dẫn của hướng dẫn viên Kết thúc tuyến

du lịch, khách tham quan có thể ghé vào các chòi lá của người dân nghỉ ngơi và thưởng thức những những món ăn đậm đà của vùng làng quê, sông nước như rau càng cua, búp chuối, nghêu hấp, bánh đập, hến xào…

Hiện nay, số lượng khách đến tham quan trải nghiệm tại khu rừng dừa Cẩm Thanh ngày càng tăng Vào ngày lễ, tết số lượng khách có thể tăng lên khoảng 1000 lượt Lãnh đạo thành phố Hội An đã và đang thực hiện một số dự án nhằm giữ cảnh quan và không gian xanh của rừng dừa và phát triển du lịch sinh thái, thân thiện với môi trường ở Cẩm Thanh

Phát triển du lịch sinh thái đang trở thành xu hướng của nhiều địa phương trong tỉnh Quảng Nam, nhằm tận dụng cảnh quan thiên nhiên thân thiện với môi trường

Theo thống kê của Sở Du lịch tỉnh Quảng Nam, năm 2018, địa phương có 91 đơn

vị kinh doanh lữ hành Trong đó, 45 công ty lữ hành quốc tế; 34 công ty lữ hành nội địa;

8 chi nhánh, văn phòng đại diện doanh nghiệp trong nước; 3 đại lý lữ hành, 1 văn phòng đại diện doanh nghiệp nước ngoài Doanh thu từ tham quan, lưu trú du lịch năm 2018 đạt 4.700 tỷ đồng, tăng 21,76% so với cùng kỳ năm 2017 Thu nhập xã hội từ tham quan, lưu trú du lịch ước đạt 11.100 tỷ đồng Quảng Nam có 10 thị trường khách quốc tế tham quan, lưu trú nhiều nhất Hàn Quốc, Úc, Anh, Pháp, Trung Quốc, Mỹ, Đức, Nhật Bản,

Hà Lan, Tây Ban Nha; trong đó, khách Hàn Quốc đến tham quan, lưu trú chiếm phần lớn Trong đó, du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp là lựa chọn hàng đầu của du khách khi đến với Quảng Nam Tuy nhiên, do chưa có sự đầu tư bài bản và sự buông lỏng quản

lý nên nhiều khu du lịch sinh thái vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, nguy

cơ phá vỡ cảnh quan

Hiện Sở Du lịch tỉnh Quảng Nam đang tham mưu UBND tỉnh và HĐND tỉnh phê duyệt Đề án “Quy định chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Quảng Nam đến năm 2025” nhằm hỗ trợ đầu tư các điểm du lịch cộng đồng để phát triển du lịch, trong đó chú trọng bảo vệ, tôn tạo cảnh quan, môi trường sinh thái, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, các giá trị văn hóa truyền thống, đáp ứng nhu cầu du khách, hướng đến phát triển du lịch bền vững trong thời gian đến

Trang 34

Đây cũng là xu hướng chủ đạo của địa phương trong xây dựng chiến lược phát triển du lịch xanh và bền vững Tuy nhiên, do chưa có định hướng phát triển rõ ràng đối với hoạt động du lịch sinh thái dẫn đến tình trạng “mạnh ai nấy làm”, chạy theo số lượng

Trong khi đó, chất lượng sản phẩm chưa được các làng nghề, doanh nghiệp lữ hành, địa phương quan tâm đúng mức cho nên thiếu sức hấp dẫn để “níu chân” du khách quay trở lại Để phát huy được thế mạnh của tỉnh, từng làng nghề phải biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa riêng của mình, biết lựa chọn những ngành nghề độc đáo, nơi khác không có để xây dựng thành sản phẩm hàng hóa làng nghề có giá trị phục vụ du khách Thay vì đơn lẻ phát triển, các làng nghề, điểm du lịch cần có sự kết nối với nhau, kết nối với các công ty lữ hành trong việc tạo ra chuỗi giá trị sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, đáp ứng yêu cầu của du khách

Quảng Nam hiện có hơn 100 làng nghề truyền thống Để làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân, trong giai đoạn 2015 - 2020, tỉnh đầu tư hơn 85 tỷ đồng để hỗ trợ phát triển 16 làng nghề có tiềm năng ở các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Phú Ninh và nhất là TP Hội An, Tam Kỳ Đây là những làng nghề truyền thống có tiềm năng phát triển gắn với các điểm, tuyến

du lịch trải dài từ vùng đồng bằng ven biển đến vùng sâu trong đất liền tỉnh Quảng Nam

Du lịch phát triển là điều kiện thuận lợi để làm sống dậy các làng nghề Mặt khác, đa dạng hóa các sản phẩm làng nghề có chọn lọc sẽ góp phần nâng cao thương hiệu du lịch Quảng Nam theo mục tiêu phát triển bền vững

Trang 35

Chương 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

SINH THÁI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Giới thiệu khái quát thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

2.1.1 Vị trí - địa lý

Hình 2.1: Bản đồ hành chính thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Thị xã Điện Bàn thuộc tỉnh Quảng Nam cách thành phố Tam Kỳ 49 km về phía bắc, giáp thành phố Đà Nẵng về phía nam, có vị trí địa lý: Phía bắc giáp huyện Hòa Vang và quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng Phía nam giáp huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam Phía đông nam giáp thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Phía đông giáp biển Đông Phía tây giáp huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

Trang 36

Thị xã Điện Bàn diện tích 214,28 km², dân số năm 2019 là 245.013 người Mật

2.1.2 Lịch sử

Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì vùng đất Điện Bàn xưa thuộc đất Việt Thường Thị của vua Hùng Từ năm 214 đến năm 205 TCN, thời nhà Tần, thuộc Tượng Quận Từ năm 206 TCN đến năm 192 SCN, thời nhà Hán, thuộc

Năm 1803, vua Gia Long lập dinh Quảng Nam gồm 2 phủ: Thăng Hoa và Điện Bàn Phủ Điện Bàn gồm 2 huyện: Diên Phước và Hòa Vang Năm 1806, dinh Quảng Nam đổi thành trực lệ Quảng Nam dinh thuộc Kinh Sư Năm 1827, vua Minh Mạng cho đổi thành trấn Quảng Nam Năm 1832, đổi trấn Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam Năm 1833, tỉnh đường Quảng Nam được xây dựng tại làng La Qua (thành Vĩnh Điện) Năm 1899, Điện Bàn có thêm huyện Đại Lộc Sang đầu thế kỷ XX, khi huyện, phủ thành những đơn vị hành chính riêng thì huyện Điện Bàn hôm nay chính là phần đất của huyện Diên Phước trước đây

Sau năm 1975, huyện Điện Bàn thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, gồm 15 xã: Điện An, Điện Dương, Điện Hòa, Điện Hồng, Điện Minh, Điện Nam, Điện Ngọc, Điện Phong, Điện Phước, Điện Phương, Điện Quang, Điện Thắng, Điện Thọ, Điện Tiến, Điện Trung

Ngày 23 tháng 9 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 79-HĐBT năm 1981 phân vạch địa giới một số xã và thị trấn thuộc các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Điện Bàn, Giằng, Trà My, Tiên Phước, Phước Sơn và Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng; theo đó, chia xã Điện Minh thành thị trấn Vĩnh Điện và xã Điện Minh

Ngày 7 tháng 7 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định 85/2005/NĐ-CP về việc thành lập xã thuộc huyện Núi Thành và Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; theo đó, chia

xã Điện Nam thành 3 xã: Điện Nam Bắc, Điện Nam Trung và Điện Nam Đông, chia xã Điện Thắng thành 3 xã: Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Trung và Điện Thắng Nam

Trang 37

Cuối năm 2014, huyện Điện Bàn có 20 đơn vị hành chính gồm thị trấn Vĩnh Điện

và 19 xã: Điện An, Điện Dương, Điện Hòa, Điện Hồng, Điện Minh, Điện Nam Bắc, Điện Nam Đông, Điện Nam Trung, Điện Ngọc, Điện Phong, Điện Phước, Điện Phương, Điện Quang, Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Nam, Điện Thắng Trung, Điện Thọ, Điện Tiến, Điện Trung

Ngày 11 tháng 3 năm 2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 889/NQ-UBTVQH13 về việc thành lập thị xã Điện Bàn thuộc tỉnh Quảng Nam Theo

đó, thành lập thị xã Điện Bàn trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của huyện Điện Bàn Đồng thời, chuyển thị trấn Vĩnh Điện và 6 xã: Điện An, Điện Ngọc, Điện Nam Bắc, Điện Nam Trung, Điện Nam Đông, Điện Dương thành 7 phường có tên tương ứng

Nguồn: Trang thông tin điện tử thị xã Điện Bàn

Bảng 2.2: Bảng số liệu về cơ cấu GDP theo các ngành kinh tế của thị xã

Điện Bàn giai đoạn 2015 - 2019

Trang 38

Từ bảng số liệu trên ta có biểu đồ sau:

Hình 2.2: Biểu đồ cơ cấu GDP các ngành kinh tế của thị xã Điện Bàn

giai đoạn 2015 – 2019

Qua bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy:

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm của thị xã Điện Bàn tăng từ 12 -13% qua các năm

- Cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế có sự thay đổi rõ nét:

+ Tỉ trọng của khu vực nông, lâm, ngư nghiệp giảm: từ 16,5% (năm 2015) xuống còn 6,2% (năm 2019)

+ Tỉ trọng của khu vực công nghiệp, xây dựng tăng: từ 51,7% (năm 2015) tăng lên 57,4% (năm 2019) và chiếm tỉ trọng cao nhất

+ Khu vực dịch vụ tăng: từ 31,8% (năm 2015) tăng lên 36,4% (năm 2019)

⟹ Sự thay đổi như trên cho thấy: từ năm 2015, cơ cấu kinh tế của thị xã Điện Bàn đã

có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: giảm tỉ trọng ngành nông -lâm -ngư nghiệp, đẩy mạnh phát triển công nghiệp xây dựng và dịch vụ; phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Điện Bàn là thị xã của tỉnh Quảng Nam, với khu vực phường Vĩnh Điện (trung tâm thị xã) sầm uất, với khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc Trong những năm trở

Nông-lâm-ngư nghiệp Công nghiệp-xây dựng Dịch vụ

Trang 39

lại đây, kinh tế - xã hội Điện Bàn đã có những bước phát triển mạnh và vững chắc Vì vậy, việc xây dựng Điện Bàn trở thành một trong những trung tâm kinh tế - văn hóa lớn với các chức năng cơ bản là một trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch

vụ của Bắc Quảng Nam; trung tâm văn hóa - thể thao, giáo dục – đào tạo của khu vực

là tất yếu khách quan nhằm tranh thủ thời cơ và khai thác lợi thế vốn có của thị xã

Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn bình quân hằng năm lên đến hàng ngàn tỷ đồng phục vụ công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư Nhiều khu đô thị mới như: Điện Nam - Điện Ngọc, Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, phường Vĩnh Điện (trung tâm thị xã) và các khu dân cư được đầu tư đúng mức

Đặc biệt Điện Bàn đã phát triển được 10 cụm công nghiệp, thương mại và dịch

vụ (Cụm công nghiệp Trảng Nhật 1 và 2, Cẩm Sơn, An Lưu, Thương Tín 1 và 2, Nam Dương, Bồ Mưng, Vân Ly, Bích Bắc) Hiện nay, hạ tầng kỹ thuật tại các cụm công nghiệp Trảng Nhật 2, An Lưu cơ bản hoàn thành Tính đến nay, đã có 50 doanh nghiệp đăng ký và hoạt động sản xuất kinh doanh với tổng mức vốn đầu tư hơn 650 tỷ đồng, trong đó 30 đơn vị đã đi vào sản xuất giải quyết được hơn 3.000 lao động tại địa phương có công ăn việc làm ổn định Cùng với tuyến đường ĐT603A đã hoàn thành, các khu du lịch ven biển Điện Dương-Điện Ngọc, khu du lịch sinh thái Bồ Bồ, bãi tắm

Hà My đã có 15 dự án đầu tư du lịch với tổng vốn đăng ký đầu tư là 550 tỷ đồng và 1.132 triệu USD

Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của thị xã còn hạn chế, lao động được đào tạo nghề chiếm tỷ lệ nhỏ trong các doanh nghiệp Đặc biệt là môi trường tự nhiên ngày càng ô nhiễm bởi rác thải từ các khu công nghiệp, du lịch, dân cư chưa được giải quyết triệt để Cùng với đó là nạn khai thác trái phép cát lòng sông và tàn phá rừng đầu nguồn; tình trạng sạt lở, cuốn trôi, bồi cát tại khu vực ven sông làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống nhân dân các xã Điện Hồng, Điện Phước, Điện Thọ, Điện Quang, Điện Trung, Điện Phong Kinh tế hộ sản xuất nhỏ, manh mún, không thích ứng được với sự cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường

Trong xu thế phát triển chung, tuy có nhiều khó khăn thách thức nhưng với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, nguồn lực, kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội thuận lợi, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững, vì vậy Điện Bàn vẫn tiếp tục giữ vai trò động lực của khu vực Bắc Quảng Nam

Trang 40

2.2 Khát quát về du lịch thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

2.2.1 Các loại hình du lịch hiện nay tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Điện Bàn có vị trí rất thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng Nơi đây là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi vừa có biển xanh, vừa có sông Thu Bồn thơ mộng, thiên nhiên thanh bình yên ả Có đặc sản Bê thui Cầu Mống được công nhận kỷ lục quốc gia và Mỳ Quảng Phú Triêm nổi tiếng, được xác lập kỷ lục

ẩm thực Châu Á Điện Bàn là vùng đất “Địa linh nhân kiệt” nơi khai sinh chữ quốc ngữ, Dinh trấn Thanh Chiêm; là nơi có làng nghề truyền thống đúc đồng Phước Kiều

Du lịch tham quan làng nghề truyền thống: là thế mạnh về phát triển du lịch cộng

đồng làng nghề của thị xã Từ năm 2011, quy hoạch và xúc tiến xây dựng cụm du lịch làng nghề, tiểu thủ công nghiệp Đông Khương, xã Điện Phương được tiến hành, là nơi quy tụ các làng nghề truyền thống, ngành nghề mới trên địa bàn thị xã Nơi đây sẽ là điểm dừng chân của du khách trong hành trình di sản Hội An - Mỹ Sơn cả đường bộ lẫn đường thuỷ theo sông Thu Bồn Kết nối với cụm làng nghề Đông Khương là làng nghề truyền thống đúc đồng Phước Kiều nổi tiếng, nơi được tôn vinh làng nghề tiêu biểu của Việt Nam Hơn 400 năm qua, sản phẩm cồng chiêng truyền thống của những người thợ tài hoa làng đúc đồng Phước Kiều đã góp phần làm nên không gian cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới

Mỗi khi về với Điện Bàn, du khách đều tìm đến Điện Phương để tận mắt xem các nghệ nhân làng đúc trình diễn các thao tác sản xuất thủ công và mua sắm các sản phẩm lưu niệm của làng đúc, gốm nghệ thuật Lê Đức Hạ hay hàng thủ công mỹ nghệ chạm khảm gỗ Nguyễn Văn Tiếp Làng Triêm Tây bên bờ Nam sông Thu, nơi có làng nghề truyền thống dệt chiếu đã hình thành khu du lịch du lịch Nhà vườn

Du lịch tham quan nghiên cứu văn hoá lịch sử: loại hình du lịch này ở Điện Bàn

cũng rất đa dạng phong phú Vùng đất Điện Bàn có lịch sử hình thành từ xa xưa, có chứng tích lịch sử Tháp Bằng An, là công trình kiến trúc đặc biệt, được xây dựng vào khoảng thế kỷ XI, theo dạng Linga hình bát giác duy nhất ở Việt Nam còn khá nguyên vẹn Thủ phủ của xứ Đàng Trong - dinh trấn Thanh Chiêm được chúa Tiên Nguyễn Hoàng cho xây dựng tại vùng đất này hơn 400 năm qua Các nhà nghiên cứu cho rằng, Dinh trấn Thanh Chiêm là nơi chữ Quốc ngữ ra đời, đánh dấu một thời kỳ mới cho chữ viết của dân tộc Việt Vùng đất địa linh nhân kiệt Điện Bàn đã sinh ra nhiều danh nhân nổi tiếng như Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Phan Thanh

Ngày đăng: 06/05/2021, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w