1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch ở làng gốm thanh hà, thành phố hội an, tỉnh quảng nam

76 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành đề tài “ Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch ở làng gốm Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam”, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHÓA 2016-2020

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHÓA: 2016-2020

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: ThS Đoàn Thị Thông

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài “ Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch ở làng

gốm Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam”, bên cạnh sự nỗ lực của

bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy cô cùng với những lời động viên, khuyến khích từ phía gia đình, bạn bè trong những lúc em gặp khó khăn

Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô Khoa Địa Lý - Đại Học Sư Phạm đã truyền thụ những kiến thức cơ bản, tạo tiền đề giúp em hoàn thành đề tài này Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, chu đáo của cô giáo Đoàn Thị Thông đã luôn đồng hành cùng em để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin cảm ơn sự giúp đỡ của ban lãnh đạo Trung tâm Văn hóa- Thể thao Hội An, phòng Thương mại và du lịch Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hội

An, các hộ gia đình ở làng gốm Thanh Hà đã tạo điều kiện và giúp đỡ em, cung cấp tài liệu, số liệu khách quan và trải nghiệm thực tế để giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tuy nhiên vì kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân có nhiều thiếu sót nên nội dung báo cáo không tránh khỏi những thiếu xót,

em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô cùng toàn thể các bạn sinh viên để cho bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Đà Nẵng, ngày 20 tháng 03 năm 2020

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Trang

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN II DANH MỤC CÁC BẢNG III DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ VI

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 NHIỆM VỤ 2

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

5.1 Phương pháp thu thập, xử lí thông tin 2

5.2 Phương pháp thực địa 3

5.3 Phương pháp sử dụng biểu đồ 3

6 N ỘI DUNG KHÓA LUẬN 3

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ 5

1.1 C Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ 5

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến du lịch 5

1.1.1.1 Khái niệm về du lịch 5

1.1.1.2 Khái niệm về khách du lịch 6

1.1.1.3 Phân loại du lịch 7

1.1.1.4 Sản phẩm du lịch 8

1.1.1.5 Tài nguyên du lịch 9

1.1.2 Các vấn đề liên quan đến làng nghề 9

1.1.2.1 Khái niệm 9

1.1.2.2 Đặc điểm của làng nghề 10

1.1.2.3 Tiêu chí công nhận làng nghề 12

1.1.2.4 Vai trò của làng nghề 13

1.1.3 Du lịch làng nghề 14

Trang 5

1.1.3.1 Điều kiện phát triển du lịch làng nghề 15

1.1.3.2 Các tiêu chí để xây dựng và phát triển làng nghề du lịch 16

1.1.3.3 Mối quan hệ giữa việc phát triển du lịch và các làng nghề 17

1.2 C Ơ SỞ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH LÀNG NGHỀ Ở V IỆT N AM 18

1.2.1 Du lịch làng nghề ở Việt Nam 18

1.2.1.1 Quá trình hình thành các làng nghề Việt Nam 18

1.2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 21

1.2.2 Du lịch làng nghề ở Quảng Nam 23

CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở LÀNG GỐM THANH HÀ, THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM 25

2.1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG GỐM THANH HÀ 25

2.1.1 Vị trí địa lý 25

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của làng gốm Thanh Hà 27

2.1.3 Đặc điểm sản xuất của làng gốm Thanh Hà 28

2.1.3.1 Công cụ sản xuất 28

2.1.3.2 Nguồn nguyên liệu 30

2.1.3.3 Quy trình sản xuất 30

2.1.4 Thị trường đầu ra cho sản phẩm làng gốm Thanh Hà 32

2.2 TIỀM NĂNG ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở LÀNG GỐM THANH HÀ

34

2.2.1 Tài nguyên du lịch 34

2.2.1.1 Tiềm năng du lịch tự nhiên 34

2.2.2 Tiềm năng du lịch văn hóa 34

2.2.3 Cơ sở hạ tầng- cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 40

2.2.4 Lao động du lịch 41

2.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở LÀNG GỐM THANH HÀ, THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM 43

2.3.1 Khách du lịch 43

2.3.2 Doanh thu du lịch 46

Trang 6

2.3.3 Các sản phẩm du lịch đặc trưng và các điểm tham quan 47

2.3.3.1 Các sản phẩm du lịch đặc trưng 47

2.3.3.2 Một số tour du lịch tại làng gốm Thanh Hà ( Nguồn: Công ty du lịch Danang travel) 48

2.3.4 Hoạt động quảng bá du lịch làng gốm Thanh Hà 51

2.3.5 Thực trạng về nguồn lợi người dân được hưởng từ du lịch 54

CHƯƠNG 3 : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở LÀNG GỐM THANH HÀ, THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM 57

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở LÀNG GỐM THANH HÀ

57

3.1.1 Cơ sở đưa ra định hướng 57

3.1.2 Định hướng phát triển du lịch ở làng gốm Thanh Hà 57

3.1.2.1 Định hướng chung 57

3.1.2.2 Định hướng cụ thể 58

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở LÀNG GỐM THANH HÀ, THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM 60

3.2.1 Giải pháp về cơ chế chính sách và tổ chức quản lí 60

3.2.2 Giải pháp về vốn đầu tư 61

3.2.3 Giải pháp về phát triển sản phẩm du lịch 62

3.2.4 Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực 62

3.2.5 Giải pháp về quảng bá du lịch 63

3.2.6 Giải pháp về sự liên kết với các công ty du lịch 64

3.2.7 Giải phát phát triển bền vững du lịch 64

KẾT LUẬN 65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 68

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

2.1

Bản đồ du lịch Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

26

2.2

Biểu đồ thể hiện số lượng khách du lịch đến làng gốm Thanh Hà giai đoạn 2016-2019

41

2.3

Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng khách du lịch tại làng gốm Thanh

Hà giai đoạn 2016-2019

42

2.4

Biểu đồ thể hiện thị phần khách du lịch đến làng gốm Thanh Hà năm 2019

Trang 8

Việt Nam là một đất nước có ngành du lịch đang phát triển và có nguồn tài nguyên du lịch hết sức phong phú Ngoài những thế mạnh về cảnh quan tự nhiên, những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc thì làng nghề cũng

là một trong những thế mạnh cho Việt Nam phát triển du lịch

Hội An là một di sản văn hóa thế giới, là địa bàn có vị trí thuận lợi ở gần 2

di sản văn hóa thế giới là Cố đô Huế và khu đền tháp Mỹ Sơn, là trung điểm giao lưu của cả nước tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa, phát triển du lịch Hội An có các làng nghề khá nổi tiếng như làng mộc Kim Bồng, làng chiếu Cẩm Kim, làng rau Trà Quế, đặc biệt là làng gốm Thanh Hà tạo thành một hệ thống vành đai làng nghề bao quanh khu phố cổ, gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế thương mại của đô thị và cảng thị Hội An

Làng gốm Thanh Hà sở hữu một lợi thế rất riêng để phát triển du lịch Tuy nhiên số người biết đến làng chưa nhiều Chính vì vậy mà việc phát triển du lịch ở làng gốm Thanh Hà vẫn còn gặp nhiều khó khăn

Xuất phát từ những lí do trên em đã lựa chọn đề tài: “ Thực trạng và giải

pháp phát triển du lịch ở làng gốm Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” nhằm tìm hiểu về làng nghề truyền thống ở Hội An Phản ánh thực trạng

xuất hàng thủ công ở làng nghề và ý nghĩa đối với việc phản ánh du lịch , đánh giá tiềm năng phát triển du lịch của làng nghề để đưa ra các giải pháp phát triển

du lịch cho phù hợp

Trang 9

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch tại làng gốm Thanh Hà thông qua việc đánh giá tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch nơi đây, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thu hút khách du lịch tới Hội An nói chung và làng gốm Thanh Hà nói riêng

- Tổng quan cơ sở lí luận về du lịch và du lịch làng nghề

- Tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch tại làng gốm Thanh Hà, thành phố Hội

An, tỉnh Quảng Nam

- Đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch ở làng gốm Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Làng gốm Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

- Thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch giai đoạn 2016- 2019 Định hướng phát triển và giải pháp phát triển đến năm 2025

- Nội dung nghiên cứu: nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch ở làng gốm Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

5.1 Phương pháp thu thập, xử lí thông tin

Phương pháp thu thập, xử lí tài liệu, số liệu giúp người nghiên cứu có cách nhìn tổng quan về vấn đề và đây là phương pháp sử dụng nhiều, đóng vai trò

cơ sở, điều kiện cần thiết để phục vụ trong các đề tài nghiên cứu khoa học Cũng chính vì đóng vai trò cơ sở nên phương pháp này ảnh hướng tới các kết quả nghiên cứu, tính chính xác, mức độ khoa học

Phương pháp này nhằm thực hiện nghiên cứu, xử lí các tài liệu trong phòng dựa trên cơ sở các số liệu, tư liệu, tài liệu từ các nguồn khác nhau và từ thực tế Tổng quan tài liệu có được cho phép kế thừa các tài liệu có trước, sử

Trang 10

dụng các thông tin đã được kiểm nghiệm, cập nhập những vấn đề trong và ngoài nước

5.2 Phương pháp thực địa

Khảo sát và xử lí số liệu ngoài thực địa là một trong những phương pháp truyền thống, đặc trưng quan trọng nhất của Địa lý học Sử dụng phương pháp này giúp cho tránh được những kết luận, quyết định chủ quan, vội vàng, thiếu kiến thức thực tiễn Phương pháp nghiên cứu, điều tra thực địa được sử dụng

để thu thập, bổ sung tư liệu về hiện trạng tài nguyên du lịch và nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội có liên quan đến hoạt động phát triển du lịch Đối với bài luận này, phương pháp thực địa nhằm

bổ sung thêm nguồn tư liệu và được tiến hành như sau:

Thứ nhất, tiến hành khảo sát, điều tra thực địa tại làng gốm Thanh Hà Tại đây, tác giả tiến hành quan sát, mô tả, chụp ảnh, tiếp xúc với người sản xuất, những nghệ nhân và du khách đến tham quan

Thứ hai, tiến hành gặp gỡ trao đổi với chính quyền địa phương, ban quản

lí về tình hình phát triển du lịch tại làng gốm Thanh Hà

Thứ ba, tiến hành gặp gỡ trao đổi với một số khách du lịch ở nơi khác nhằm mục đích điều tra mức độ quan tâm của du khách đến làng gốm Thanh

5.3 Phương pháp sử dụng biểu đồ

Việc hình thành và vẽ biểu đồ nhằm gắn các số liệu đã được thu thập từ nguồn Phòng thương mại – du lịch thành phố Hội An để thể hiện thực trạng phát triển du lịch tại làng gốm Thanh Hà

6 Nội dung khóa luận

Bố cục khóa luận gồm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về du lịch làng nghề

Trang 11

Chương 2 : Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch ở làng gốm Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch ở làng gốm Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH

LÀNG NGHỀ 1.1 Cơ sở lý luận về làng nghề

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến du lịch

Các giáo sư Thụy sỹ đã khái quát: “Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của những người ngoài địa phương – những người không có mục đích định cư và không liên quan tới bất

cứ hoạt động kiếm tiền nào” Với quan niệm này du lịch mới chỉ giải thích ở hiện tượng đi du lịch, tuy nhiên đây cũng là một khái niệm làm cơ sở để xác định người đi du lịch và là cơ sở để hình thành về du lịch sau này ( Nguồn: https://www.tailieudaihoc.com/3doc/687542.html)

Theo Mill và Morrison: “ Du lịch là hoạt động xảy ra khi con người vượt qua biên giới một nước, hay ranh giới một vùng, một khu vực để nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và lưu lại tại đó ít nhất 24 giờ nhưng không quá một năm.”

Trang 13

( Nguồn: 1235829.html)

Như vậy, có thể xem xét du lịch thông qua hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi Du lịch có thể được hiểu “là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định”

Xem xét du lịch một cách toàn diện hơn thì cần phải cân nhắc tất cả các chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch mới có thể khái niệm và hiểu được bản chất của du lịch một cách đầy đủ Các chủ thể đó bao gồm: Khách du lịch, các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa dịch vụ du lịch, chính quyền sở tại và dân cư địa phương

Theo cách tiếp cận này “Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch

Theo Luật du lịch Việt Nam 2017: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

1.1.1.2 Khái niệm về khách du lịch

Việc xác định ai là du khách có nhiều quan điểm khác nhau Ở đây cần phân biệt giữa khách du lịch, khách tham quan và lữ khách dựa vào tiêu thức: mục đích, thời gian, không gian chuyến đi

Theo nhà kinh tế học người Anh: Khách du lịch là “tất cả những người thỏa mãn 2 điều kiện: rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian dưới 1 năm và chi tiêu tiền bạc mà nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở đó”

Trang 14

Nhà xã hội học Cohen lại quan niệm: “Khách du lịch là một người đi tự nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới

lạ và thay đổi nhận thức từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên” Theo Luật du lịch Việt Nam 2017: “Khách tham quan là những người chỉ

đi thăm viếng trong chốc lát, trong ngày, thời gian chuyến đi không đủ 24 giờ”

1.1.1.3 Phân loại du lịch

Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tuỳ thuộc tiêu chí đưa ra Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây:

- Phân chia theo môi trường tài nguyên: du lịch thiên nhiên và du lịch văn hoá

- Phân loại theo mục đích chuyến đi: du lịch tham quan, du lịch giải trí, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám phá, du lịch thể thao, du lịch lễ hội, du lịch tôn giáo,

du lịch nghiên cứu (học tập), du lịch hội nghị, du lịch thể thao kết hợp, du lịch chữa bệnh, du lịch thăm thân, du lịch kinh doanh

- Phân loại theo lãnh thổ hoạt động: du lịch quốc tế, du lịch nội địa, du lịch quốc gia

- Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch: du lịch miền biển, du lịch núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê

- Phân loại theo phương tiện giao thông: du lịch xe đạp, du lịch ô tô, du lịch bằng tàu hoả, du lịch bằng tàu thuỷ, du lịch máy bay

- Phân loại theo loại hình lưu trú: khách sạn, nhà trọ thanh niên, Camping, Bungaloue, làng du lịch

- Phân loại theo lứa tuổi du lịch: du lịch thiếu niên, du lịch thanh niên, du lịch trung niên, du lịch người cao tuổi

- Phân loại theo độ dài chuyến đi: du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày

- Phân loại theo hình thức tổ chức: du lịch tập thể, du lịch cá thể, du lịch gia đình

Trang 15

- Phân loại theo phương thưc hợp đồng: du lịch trọn gói, du lịch từng phần

1.1.1.4 Sản phẩm du lịch

Theo Luật du lịch năm 2017 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những giá trị về vật chất lẫn tinh thần của một quốc gia, một địa phương, một cơ sở nào đó mà du khách đến hưởng thụ và trả tiền Sản phẩm du lịch bao gồm sản phẩm vật thể và phi vật thể, sản phẩm tự nhiên và nhân tạo”

Quan điểm kinh tế hiện đại cho rằng sản phẩm du lịch bao gồm cả sản phẩm phi hình thể và sản phẩm hình thể vì đây là những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người đi du lịch Cho nên sản phẩm du lịch vô cùng đa dạng phong phú, luôn phát triển đổi mới theo sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, lãnh thổ

Như vậy “sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết tạo thành, làm

thoả mãn nhu cầu của du khách trong chuyến đi du lịch dựa trên cơ sở là nhu cầu của khách du lịch, khai thác điểm mạnh của khách thể du lịch (danh lam thắng cảnh,…), từ đó đáp ứng tốt nhu cầu của chủ thể du lịch (khách du lịch)”

Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hóa du lịch Các đặc tính của sản phẩm du lịch là:

– Tính vô hình: Sản phẩm du lịch thường là một kinh nghiệm nên rất dễ dàng bị sao chép, bắt chước và việc làm khác biệt hóa sản phẩm manh tính cạnh tranh khó khăn hơn kinh doanh hàng hoá

Trang 16

– Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Vì sản phẩm du lịch nằm ở

xa nơi cư trú của khách du lịch, nên khách thường mua sản phẩm trước khi thấy sản phẩm

– Tính không đồng nhất: Khách hàng khó có thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua, gây khó khăn cho việc chọn sản phẩm

Sản phẩm du lịch do sự tổng hợp các ngành kinh doanh khác nhau Khách mua sản phẩm du lịch ít trung thành với công ty bán sản phẩm Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ

1.1.1.5 Tài nguyên du lịch

Các nhà nghiên cứu về du lịch đưa ra khái niệm sau: “Mọi nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của khách du lịch được ngành du lịch tận dụng để sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội đều được gọi là tài nguyên du lịch” Nói một cách khác, đã là nhân tố thiên nhiên, văn hóa và xã hội có thể thu hút được khách du lịch thì gọi chung là tài nguyên du lịch Đây là một khái niệm rất rộng và rất bao quát, rất thiết thực

Phân loại tài nguyên du lịch theo Luật du lịch Việt Nam 2017: Tài nguyên

du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa

- Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể sử dụng cho mục đích du lịch

- Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử- văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian

và các giá trị khác; công trình sáng tạo của con người có thể sử dụng cho mục đích du lịch

1.1.2 Các vấn đề liên quan đến làng nghề

1.1.2.1 Khái niệm

Từ xa xưa do đặc thù nền kinh tế sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có nhiều lao động tham gia đã khiến cư dân Việt cổ sống quần tụ lại với nhau

Trang 17

thành từng cụm dân cư đông đúc, dần hình thành nên làng xã Trong từng làng

xã đã có cư dân sản xuất các mặt hàng thủ công, lâu dần lan truyền ra cả làng,

xã tạo nên những làng nghề và truyền nghề từ thế hệ này sang thế hệ khác Đề tài làng nghề là đề tài rất thú vị, đã có rất nhiều nhà văn hóa nghiên cứu về đề tài này

Theo tiến sĩ Phạm Côn Sơn trong cuốn “ Làng nghề truyền thống Việt Nam” thì làng nghề được định nghĩa như sau: Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức,

kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công việc làm Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương

Xét theo góc độ kinh tế, trong cuốn: “ Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” tiến sĩ Dương Bá Phượng cho rằng: “Làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập Thu nhập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng

1.1.2.2 Đặc điểm của làng nghề

Thứ nhất, các làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp Các làng nghề xuất hiện trong từng làng- xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất- kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau, người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân

Thứ hai, công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật

Trang 18

thủ công là chủ yếu Công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc, nhiều loại sản phẩm có công nghệ- kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ mặc

dù hiện nay đã có sự cơ khí hoá và điện khí hoá từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạn trong sản xuất sản phẩm

Thứ ba, đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại chỗ Hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn có của nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương Cũng có thể có một

số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài như một số loại chỉ thêu, thuốc nhuộm song không nhiều

Thứ tư, phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân Trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học- công nghệ, việc ứng dụng khoa học- công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn Tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đinh từ đời này sang đời khác

và chỉ khuôn lại trong từng làng Sau hoà bình lập lại, nhiều cơ sở quốc doanh

và hợp tác xã làm nghề thủ công truyền thống ra đời, làm cho phương thức truyền nghề và dậy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú hơn

Thứ năm, sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn chiếc,

có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Các sản phẩm làng

Trang 19

nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công sở nhà nước các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật Cùng là đồ gốm sứ, nhưng người ta vẫn có thể phân biệt được đâu là gốm sứ bát tràng (Hà Nội), thổ hà (Bắc Ninh), đông triều (Quảng Ninh) Từ những con rồng chạm trổ ở các đình chùa, hoa văn trên các trống đồng và các hoạ tiết trên đồ gốm sứ đến những nét chấm phá trên các bức thêu tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc

Thứ sáu, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp Bởi sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phương, ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều

có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề Cho đến nay, thị trường làng nghề về cơ bản vẫn là các thị trường địa phương, là tỉnh hay liên tỉnh và một phần cho xuất khẩu

Thứ bảy, hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là ở quy

mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân

1.1.2.3 Tiêu chí công nhận làng nghề

- Làng đó phải có nghề mang tính đặc thù, phải có một hay một nhóm

người giỏi nghề làm hạt nhân để phát triển một nghề nào đó Những sản phẩm sản xuất ra phải có tính đặc thù riêng của làng nó

- Phải tìm được nguồn nguyên liệu ổn định, đáp ứng nhu cầu sản xuất của

làng

Trang 20

- Phải lựa chọn được một mặt hàng nào đó đáp ứng với nhu cầu thị trường

và phù hợp với điều kiện sản xuất của làng

- Phải có số vốn ban đầu để mua nguyên liệu và chuẩn bị các điều kiện

a) Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế- xã hội

- Phát triển làng nghề góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành nghề phi nông nghiệp trong tỷ trọng kinh tế nông thôn Tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động

- Tăng thu nhập cho người lao động trong làng nghề có thu nhập bằng 2,1

- 2,3 lần lao động nông nghiệp thuần nông

- Góp phần hạn chế di dân tự do ra thành thị, giảm tệ nạn xã hội do không

có việc làm gây ra

- Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội

Ngoài ra việc phát triển làng nghề còn góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc được hun đúc trong từng sản phẩm thủ công mỹ nghệ

b) Vai trò làng nghề đối với hoạt động du lịch

Giữa hoạt động du lịch và làng nghề có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau Phát triển du lịch tại các làng nghề là một giải pháp hữu hiệu để phát triển kinh tế - xã hội làng nghề nói chung theo hướng tích cực và bền vững Ngược lại làng nghề là trung tâm thu hút khách du lịch và có tác

Trang 21

động mạnh mẽ trở lại khách du lịch trong mục tiêu phát triển chung Làng nghề

là một không gian văn hóa – kinh tế - xã hội lâu đời, bảo lưu tinh hoa văn hóa

từ đời này sang đời khác đúc kết bởi nghệ nhân tài hoa Môi trường văn hóa làng quê với cây đa bến nước sân đình, các hoạt động lễ hội và phường hội, phong tục tập quán nếp sống đậm nét văn hoá truyền thống Tất cả những điều

đó luôn luôn gắn kết với sự hình thành và phát triển của làng nghề Và tạo ra nét văn hóa rất riêng của mỗi làng nghề Phong cảnh làng nghề cùng với những giá trị chứa đựng bên trong làng nghề sẽ là điểm du lịch lý tưởng cho du khách, đặc biệt là khách quốc tế đến tham quan, tìm hiểu, mua sắm tại các làng nghề Làng nghề còn là nơi sản xuất ra những hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị nghệ thuật cao, tiêu biểu độc đáo cho mỗi vùng miền, địa phương

Vì vậy du khách đến với các điểm du lịch làng nghề còn mong muốn chiêm ngưỡng, mua sắm các sản phẩm thủ công làm vật kỷ niệm trong chuyến đi của mình Thực tế nhu cầu mua sắm của du khách là rất lớn, làng nghề sẽ đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu tinh tế và đa dạng của du khách Nước ta có hàng nghìn, hàng vạn làng nghề thủ công thuộc các nhóm ngành nghề như mây tre, sơn mài, gốm sứ, thêu ren, đúc đồng,…Với sự đa dạng các làng nghề đã góp phần quan trọng trong việc giữ gìn các giá trị truyền thống văn hóa, đồng thời là cơ sở để phát triển ngành du lịch vốn thừa hưởng những thế mạnh về văn hóa

1.1.3 Du lịch làng nghề

Nhìn chung khái niệm du lịch làng nghề vẫn còn khá mới mẻ ở nước ta.mDu lịch làng nghề đang là loại hình du lịch thu hút được sự quan tâm của nhiều du khách trong và ngoài nước Xu hướng hiện đại ngày nay cuộc sống căng thẳng nhiều áp lực, con người quay về với giá trị truyền thống của dân tộc

Đối với làng nghề thì đó là nơi chứa đựng kho tàng kinh nghiệm kỹ thuật,

bí kiếp nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên liệu, kỹ thuật chế tác đến chủ đề sáng tạo trong việc tạo ra một số sản phẩm thủ công

Trang 22

“Du lịch làng nghề là một loại hình du lịch văn hóa mà qua đó du khách được cảm nhận các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có liên quan mật thiết đến một làng nghề cổ truyền của một dân tộc nào đó”

1.1.3.1 Điều kiện phát triển du lịch làng nghề

Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề đang dần lấy lại vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc mỗi quốc gia Những làng nghề này như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng biệt, độc đáo không thể thay thế Một cách giới thiệu sinh động về đất, nước và con người của mỗi vùng, miền, địa phương Phát triển du lịch làng nghề chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch Những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ thể hiện ở những con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyết nguồn lao động địa phương mà hơn thế nữa, còn là một cách thức gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá của dân tộc Đó

là những lợi ích lâu dài không thể tính được trong ngày một ngày hai

Du lịch làng nghề ngày càng hấp dẫn du khách và đang là một hướng phát triển du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới Bên cạnh những lợi ích về kinh tế,

xã hội, hình thức du lịch này còn góp phần bảo tồn và phát huy những bản sắc văn hoá độc đáo của từng vùng miền, địa phương

Một địa phương muốn thu hút khách du lịch, tạo ra nhiều loại hình du lịch hấp dẫn đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách thì phải bắt tay vào việc xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với việc khai thác có chiều sâu và khai thác đúng tài nguyên du lịch của địa phương đó

Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ, đáp ứng các nhu cầu trong quá trình đi du lịch của du khách, bao gồm:

Trang 23

Như vậy, làng nghề vừa là sản phẩm du lịch đặc trưng khi làng nghề đó

có khả năng hấp dẫn, thu hút khách, vừa là sản phẩm du lịch bổ sung khi tạo ra những mặt hàng lưu niệm cho du khách

1.1.3.2 Các tiêu chí để xây dựng và phát triển làng nghề du lịch

Xu hướng ngày nay con người đi du lịch hướng về các giá trị cổ xưa, việc phát triển du lịch làng nghề là vô cùng cần thiết vì nó sẽ mang lại rất nhiều lợi nhuận cho cả hoạt động du lịch và sự phát triển của làng nghề Phát triển du lịch làng nghề đem lại thuận lợi cho địa phương đó, giải quyết được công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động tại chỗ, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần bảo tồn, phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, giữ lại những nét đẹp văn hóa độc đáo có một không hai của dân tộc

Làng nghề là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô cùng quý giá, để phát triển được du lịch làng nghề cần có những điều kiện nhất định

Trước hết phải có những điều kiện tồn tại và phát triển làng nghề :

- Thuận tiện cho việc giao thương: đây là yếu tố quan trọng đề một làng nghề

có thể phát triển vì gần đường giao thông sẽ thuận lợi cho việc vận chuyển, thông thương giữa làng nghề và các vùng khác

- Gần nguồn nguyên liêu để có thể liên tục phát triển sản xuất

- Lao động và tập quán sản xuất của từng vùng

Trang 24

- Muốn du lịch làng nghề phát triển cần có những điều kiện sau:

+ Làng nghề đó phải có sản phẩm độc đáo, đặc trưng

+ Gần các danh thắng để có thể kết nối tour du lịch

+ Phải có các cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch

1.1.3.3 Mối quan hệ giữa việc phát triển du lịch và các làng nghề

Đối với kinh tế xã hội du lịch có nhiều tác động mạnh mẽ, du lịch đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển các làng nghề:

- Du lịch giúp tạo ra nhiều công ăn việc làm cho dân cư địa phương, thu hút nguồn lao động từ các vùng lân cận, tăng thêm thu nhập và góp phần cải thiện đời sống cho nhân dân

- Góp phần làm tăng doanh thu và tăng doanh số bán sản phẩm thủ công trong các làng nghề thông qua việc bán hàng lưu niệm cho du khách Đây cũng là một hình thức xuất khẩu tại chỗ không chịu thuế và hạn chế được rủi ro

- Du lịch phát triển làm nên cơ hội đầu tư cho các làng nghề

- Tạo cơ hội xuất khẩu sản phẩm thủ công tại làng nghề

- Tăng cường thu nhập ngoại tệ

- Phân phối lại nguồn thu nhập

- Tạo cơ hội giao lưu văn hóa bản địa và văn hóa của khách du lịch nước ngoài

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, chuyển dịch lao động nông nghiệp sang lĩnh vực dịch vụ

- Kích thích phát triển cơ sở hạ tầng thông qua hoạt động du lịch

- Bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống quý báu của làng nghề

- Khôi phục và phát triển các nghề thủ công đã bị mai một trong nền kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Du lịch và làng nghề có mối quan hệ qua lại tác động lẫn nhau Du lịch góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội làng nghề theo hướng tích cực bền vững, nâng cao chất lương cuộc sống cho người dân địa phương Ngược lại đối với

Trang 25

hoạt động du lịch làng nghề cũng có tác động tích cực Làng nghề lại một loại tài nguyên du lịch văn hóa có khả năng thu hút khách du lịch, làm phong phú thêm tài nguyên du lịch góp phần vào mục tiêu phát triển chung Cụ thể là các làng nghề thường ở vùng nông thôn, mỗi làng nghề là một môi trường văn hóa kinh tế xã hội và công nghệ truyền thống lâu đời

Bên trong làng nghề chứa dựng những nét văn hóa thuần Việt, không gian văn hóa nông nghiệp cây đa, giếng nước, sân đình, những câu hát dân gian, cánh cò trắng lũy tre xanh, Đằng sau lũy tre làng là những mảng màu trầm mặc, những nét tinh hoa văn hóa dân tộc, hiền hòa, yên ả khiến cho du khách ghé thăm đều có cảm giác yên lành thư thái Có thể nói rằng du lịch làng nghề

sẽ là địa chỉ lí tưởng để du khách tham quan tìm hiểu các giá trị văn hóa, các phong tục tập quán lễ hội,… Đặc biệt du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi bắt gặp những sản phẩm thủ công độc đáo và có thể mua những món đồ lưu niệm tinh tế

Ngoài ra làng nghề còn là nơi sản xuất ra những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc biệt, có giá trị sử dụng và giá trị nghệ thuật cao, đặc trưng cho cả một dân tộc, địa phương Du khách đến du lịch làng nghề không chỉ thoả mãn được nhu cầu mua sắm lớn của du khách

Làng nghề là tài nguyên du lịch nhân văn góp phần thu hút số lượng lớn khách du lịch, làm cho hoạt động du lịch thêm phong phú đa dạng, nhiều lựa chọn hấp dẫn cho du khách

1.2 Cơ sở thực tiễn về du lịch làng nghề ở Việt Nam

1.2.1 Du lịch làng nghề ở Việt Nam

1.2.1.1 Quá trình hình thành các làng nghề Việt Nam

Việt Nam nằm trong khu vực có điều kiện tư nhiên, khí hậu phù hợp, động thực vật đa dạng phong phú thuận lợi cho việc săn bắt hái lượm, nhiều quặng sắt, thiếc, đồng thuận lợi chế tác đồ thủ công Việt Nam còn là nước hình thành

Trang 26

nhà nước sớm nhất Đông Nam Á Việt Nam có một cộng đồng văn hóa khá rộng lớn được hình thành vào khoảng nữa đầu thiên niên kỉ thứ hai trước công nguyên và phát triển rực rỡ cuối thế kỉ XV của Đại Việt

Các làng nghề của Việt Nam đã được hình thành rất sớm, qua thời gian và các giai đoạn thăng trầm của lịch sử làng nghề Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ Có thể tóm tắt sơ lược như sau:

Theo dấu vết khảo sát nghiên cứu các di chỉ khảo cổ, vết tích người Vượn ở di chỉ khảo cổ Núi Đọ (Thanh Hóa) có thể thấy hàng vạn công cụ đồ đá ghè, đẽo, thô sơ như mãnh tước, rìu tay, nạo,… Chứng tỏ đã có sự chế tác, dùng các công

cụ bằng tre như: gậy, lao, cung tên, thừng bện,… Nghề thủ công đã sớm hình thành và có vai trò quan trọng nhất định ngay từ thời nguyên thủy

Ngay từ thời văn hóa Phùng Nguyên một nền văn hóa tiền sử thuộc thời đại đồ đồng, cuối thời đại đồ đá mới, cách đây gần 4000 đến 3500 năm người

ta đã tìm thấy nhiều đồ vật Cư dân Phùng Nguyên đã biết chế tạo đồ gốm đơn giản và đồ trang sức bằng đá quý, đã có khuôn đúc đồng, rìu đá mài nhỏ, vòm

đá, hạt chuỗi đá, chuối gọt tinh vi Theo đánh giá của các nhà khảo cổ học thì dân cư Phùng Nguyên là những người đã định cư ổn định và sống theo từng cụm dân cư làng xã chặt chẽ và thực sự có khu vực sản xuất thủ công, mỹ nghệ Người ta đã tìm thấy ở di chỉ Phùng Nguyên 1138 chiếc rìu, 59 đục, 3 giáo, 2 mũi nhọn, 7 mũi tên, 1 cưa, 189 bàn mài, 540 vòng tay, 8 khuyên tai, 34 hạt chuỗi, 3 đồ trang sức và hàng chục vạn mãnh gốm

Giai đoạn Đồng Đậu (giữa thời đại Đồng Thau) có khuôn đúc, rìu, mũi tên bằng đồng có nghạch,…

Giai đoạn Gò Mun ( thời đại Đồng Thau cường thịnh) có vô số công cụ sinh hoạt được đúc thau phát triển, đặc biệt dấu tích thời kì Đông Sơn khẳng định trống đồng Ngọc Lũ và thạp đồng Đào Thịnh (khai quật ở Yên Bái) đã chứng

Trang 27

minh trình độ thủ công của thời kì dựng nước thật tinh xảo, điều đó cho thấy thời kì này đã có sự phân công lao động, tổ chức lao động

Đến giai đoạn Lý, Trần, Lê nghề thủ công phát triên rực rỡ cực thịnh với

sự phát triển của nghề đồ gốm, sáng tạo ra nhiều loại men gốm đẹp, quý hiếm

có giá trị nghệ thuật cao Cùng với đó là nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật, cung điện, công trình tôn giáo…

Thời Lý tập trung nhiều thợ thủ công giỏi với nhiều sáng tạo độc đáo Thời

Lý là thời đại phục hưng nhất Rất nhiều làng nghề phát triển như làng thêu, làng mộc, làng điêu khắc, Nhiều vùng đất thông thương, giao lưu với nhau trên nền kinh tế phát triển Thời Lý có nhiều nghệ nhân tài hoa với nhiều thành tựu về thủ công mỹ nghệ Được như vậy là do thời Lý có chế độ công tượng tập trung nhiều thợ giỏi về Thăng Long chuyên xây dựng chùa chiền, cung điện, nhà nước chăm lo cho đời sống của thợ thủ công nên chuyên tâm sáng tạo Văn hóa thời Trần là sự tiếp nối của văn hóa thời Lý nhưng sang đến thời Trần chiến tranh liên miên nên nhân dân không thể an cư lạc nghiệp, thợ thủ công ít có cơ hội sáng tạo, nghệ thuật sản xuất thủ công không thể phát triển mạnh như thời Lý

Đến thời Lê các nghề thủ công vẫn tiếp tục phát triển, có nhiều thợ thủ công giỏi, các sản phẩm thủ công cũng đạt được đến độ tinh xảo Đặc biệt là nghệ thuật điêu khắc chạm lông

Thời Nguyễn do chiến tranh nhiều nên kinh tế suy sụp, nhân dân không được sống yên ổn, các thợ thủ công giỏi không phát huy được vì vậy mà thời này nghề thủ công cũng không thể phát triển được

Từ khi thực dân Pháp xâm lược nghề thủ công một lần nữa tàn lụi, thực dân Pháp đã biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ của chúng Hàng hóa tư bản Pháp như: đường, rượn, giấy, vải,…Tràn ngập thị trường Việt Nam giá rẻ, chất lượng tốt lại nhiều mẫu mã mới nên phần lớn hàng thủ công của nước ta không

Trang 28

cạnh tranh được Nhiều nghề thủ công phá sản như: kéo sợi, tơ lụa, dệt vải, Nhiều thợ thủ công phải bỏ nghề, tuy vậy một số nghề thủ công vẫn phát triển

vì máy móc tư bản không thể thay thế được bàn tay tài hoa khéo léo của người nghệ nhân như các nghề mộc, gốm, khảm trai, mây tre đan, thêu, vẫn phát triển ngoài ý muốn của thực dân Pháp

Từ những năm 1954 sau khi hòa bình lập lại, nghành thủ công nghiệp nước

ta bước vào thời kì mới, là giai đoạn được nhà nước khuyến khích, nhiều nghành nghề thủ công được phát triển, có một số ngành nghề bị thất truyền nay được khôi phục và tiếp tục phát triển Cũng trong thời kì này đã bắt đầu có sự xuất hiện của các nhóm và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp mới được thành lập Lúc này không chỉ có “làng nghề” nữa mà còn xuất hiện “hợp tác xã nghề thủ công” Và đến ngày 6 tháng 6 năm 1961 đại hội đầu tiên của những người thợ thủ công toàn miền Bắc được tổ chức, thông qua điều lệ và bầu ban chủ nhiệm trung ương lãnh đạo toàn ngành Từ đó ngành tiểu thủ công nghiệp đã có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc doanh

Ngày nay khi kinh tế xã hội ngày càng phát triển hiện đại hơn ngành tiểu thủ công nghiệp vẫn đang có những đóng góp tích cực không nhỏ vào tổng thể tăng trưởng chung của nền kinh tế

1.2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển

Làng nghề Việt Nam, làng nghề thủ công, làng nghề truyền thống hoặc làng nghề cổ truyền,… thường được gọi ngắn gọi là làng nghề, là những làng mà hầu hết tại đó dân cư tập trung vào một nghề duy nhất nào đó, nghề của họ thường có tính chuyên sâu cao và mang lại nguồn thu nhập cho dân làng Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hằng trăm năm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những ngành nghề ban đầu được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải vụ mùa chính

Trang 29

Bởi lẽ trước đây kinh tế của người Việt Cổ chủ yếu sống dựa vào ngành

trồng lúa nước mà nghề làm lúa không phải lúc nào cũng có việc Thông thường

chỉ có ngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nông dân với có việc làm

nhiều, vất vả như: cày, bừa, cấy, làm cỏ (đầu vụ) cho đến gặt lúa phơi phô…

Còn những ngày còn lại thì nhà nông rất nhàn hạ, rất ít việc để làm Từ đó rất

nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ nhằm mục đích ban đầu

là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hằng ngày về sau tăng thêm thu

nhập cho gia đình

Theo thời gian, nhiều nghề phụ sau này đã bắt đầu thể hiện vai trò to lớn

của nó, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân Như việc làm ra các đồ dùng

bằng mây, tre, lụa, phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất Nghề phụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi,

đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ

vào các vụ lúa Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng

làm theo, nghề từ đó mà lan rộng phát triển trong cả làng hay nhiều làng gần

nhau

Và cũng chính nhờ nhiều lợi ích khác nhau do nghề thủ công đem lại mà

trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển

mạnh dần, ngược lại nghề mà mang lại hiệu quả thấp hay không phù hợp với

làng thì dần dần bị mai một Từ đó bắt đầu hình thành những làng nghề chuyên

sâu vào một nghề duy nhất nào đó như làng gốm, làng làm chiếu, làng làm lụa,

làng làm đồ đồng,…

Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh được

Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây, các làng nghề thường tập trung

chủ yếu ở các vùng châu thổ lớn như Đồng bằng sông Hồng, tại Hà Nội, Hà

Tây, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định,

Trang 30

1.2.2 Du lịch làng nghề ở Quảng Nam

Để phát triển các làng nghề gắn với phát triển du lịch, tạo thêm công việc làm, tăng thu nhập cho cư dân làng nghề, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng góp phần xây dựng thành công Chương trình mục tiêu Quốc Gia xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2015- 2020, tỉnh Quảng Nam sẽ đầu tư hơn 85 tỷ đồng để

hổ trợ 16 làng nghề có tiềm năng ở Hội An, Điện Bàn, Duy Xuyên, Tam Kỳ, Phú Ninh, Đông Giang, Nam Giang, Nông Sơn

Đây là các làng nghề, có tiềm năng phát triển gắn với các điểm, các tuyến

du lịch tại huyện, thành phố gồm: Làng nghề gốm Thanh Hà, Làng nghề Mộc Kim Bồng, làng nghề rau Trà Quế, làng nghề đèn lồng (thành phố Hội An), làng nghề đúc đồng Phước Kiều, làng nghề chiếu chẻ Triêm Tây ( huyện Điện Bàn), làng chiếu cói Bàn Thạch, làng nghề dệt chiếu An Phước, Làng nghề dệt vải tơ lụa Mã Châu (huyện Duy Xuyên), làng nghề dệt chiếu cói xã Tam Thăng (TP Tam Kỳ), làng nghề truyền thống Mộc Văn Hà (huyện Phú Ninh), làng nghề dệt thổ cẩm thôn Bhờ-Hôồng (huyện Đông Giang), làng nghề dệt thổ cẩm Zara (huyện Nam Giang), làng nghề trầm hương xã Quế Trung (huyện Nông Sơn)

Đề án phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2015-2020 vừa được ủy ban nhân dân tỉnh quyết định phê duyệt này 7/4, thời gian tới Quảng Nam, sẽ tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng đường giao thông làng nghề, xây dựng kè bảo vệ làng nghề, cần tàu du lịch, hệ thống cấp thoát nước, cải tạo cảnh quan môi trường, hệ thống điện chiếu sáng, cổng chào du lịch làng nghề, nhà vệ sinh công cộng, sữa chữa nâng cấp

hệ thống bảo vệ môi trường

Đồng thời, tỉnh sẽ hỗ trợ xây dựng các vùng nguyên liệu (đay, cói , dâu tằm),

hỗ trợ trang thiết bị máy móc (máy dệt chiếu, máy may ) xây dựng mô hình trình diễn ký thuật để phổ biến công nghệ mới, xúc tiến thương mại (hội chợ,

Trang 31

đăng kí nhãn hiệu sản phẩm, xây dựng phòng trưng bày, giới thiệu sản phẩm) xây dựng bản đồ và tập huấn giới thiệu làng nghề gắn với điểm, tuyến du lịch; đào tạo tập huấn,… cho các làng nghề

Trong giai đoạn 2015-2020, Quảng Nam đặt mục tiêu phấn đấu 100% làng nghề có lao động được đào tạo qua các nghiệp vụ, 100% số lượng hàng được

hỗ trợ công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, tham gia các hoạt động quảng bá, giới thiệu sản phẩm tại hội chợ, triển lãm, Festival di sản Quảng Nam 100% làng nghề, được hỗ trợ và hướng dẫn thực hiện việc bảo vệ môi trường làng nghề theo quy định hiện hành

Đặc biệt, Quảng Nam phấn đấu thu hút trên 60.000 lượt khách du lịch đến với các làng nghề, làng nghề truyền thống đến địa bàn tỉnh mỗi năm, tạo thêm nhiều việc làm cho khoảng 3.000 lao động nông thôn tại các làng nghề, làng nghề có gắn với các hoạt động du lịch; nâng cao mức thu nhập các hộ lao động làng nghề, gắn với phát triển du lịch từ 1-2 lần so với sản xuất thuần nông

Trang 32

CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở

LÀNG GỐM THANH HÀ, THÀNH PHỐ HỘI AN,

TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Khái quát về làng gốm Thanh Hà

2.1.1 Vị trí địa lý

Gốm Thanh Hà đã làm rạng danh cả vùng đất Hội An, Quảng Nam Làng gốm nổi tiếng này tọa lạc gần con sông Thu Bồn xinh đẹp Làng gốm Thanh

Hà thuộc phường Thanh Hà, thành phố Hội An, Quảng Nam Cách phố cổ Hội

An chừng 3 km về hướng Tây Từ đô thị cổ Hội An đi về phía Vĩnh Điện theo

Vào thế kỉ XVI, XVII Thanh Hà là một ngôi làng rất thịnh đạt, nổi tiếng về các mặt hàng gốm, đất nung được trao đổi, buôn bán khắp các tỉnh miền Trung Việt Nam Nghề gốm của làng có nguồn gốc xuất xứ từ Thanh Hóa, sau khi đã tiếp thu được một số vốn luyến kỉ thuật thì làng đã hình thành một làng gốm như

ngày nay…

Trang 33

Hình 2.1 Bản đồ du lịch thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Trang 34

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của làng gốm Thanh Hà

Ngược về lịch sử, cư dân Thanh Hà có nguồn gốc chủ yếu ở vùng Thanh Hóa, Nam Định, Hải Dương vào định cư từ khoảng cuối thế kỉ 15 Trong buổi

sơ khai, khi đồ dùng của đại bộ phận dân cư chủ yếu là gốm sứ, đất nung thì cư dân ở đây đã tiếp tục truyền thống cha ông, khai thác địa thế thuận lợi của vùng đất mới để phát triển nghề gốm Theo cách nhớ của người làng Thanh Hóa thì năm 1516, nghề gốm bắt đầu sản xuất tại làng Thanh Chiêm (nay thuộc khối phố 6 phường Thanh Hà), sau đó do không hợp phong thủy nên dời lên Nam Diêu (tứ khối phố 5 phường Thanh Hà), Nam Diêu có nghĩa là lò gốm phía Nam

Hiện nay tại Nam Diêu còn miếu tổ nghề của làng Hằng năm, người dân gốm tổ chức lễ tế xuân vào ngày mồng 10 tháng Giêng nhằm cúng tổ tiên, mong cho chư thần tổ tiên và các bậc tiên nhân ban cho năm mới bình an, làng nghề phát triển

Nhiều thế kỉ qua, nghề làm gốm và gạch gói ở Thanh Hà nổi tiếng không chỉ ở xứ Quảng mà cả nước và nước ngoài Trong sách Phủ Biên Tạp Lục học giả Lê Quý Đôn có đề cập đến gốm “Cochi”, “Cauchi” (Giao Chỉ) mà người nước ngoài ưa chuộng có cả gốm Thanh Hà xứ Quảng Và kể từ thế kỉ 17 trở lui, do việc tái tạo thành phố Hội An mà sinh ra nghành gạch ngói rất thịnh hành ở Thanh Hà

Không chỉ phục vụ cho nhu cầu địa phương các vùng lân cận mà còn trở thành một mặt hàng trao đổi mua bán cho cả xứ Đằng Trong Khi nhà Nguyễn chọn Phú Xuân làm kinh đô, nhiều nghệ nhân được gọi ra Huế xung vào đội thợ xây cố cung Có người được vua phong lên hàng Bát Phẩm, đó là những Chánh Ca, Bát Luyện

Thưở trước làng gốm Thanh Hà đông đúc với 30 bàn xoay, trăm lò nung nghi ngút khói, cả ngàn thợ thầy làm việc tất bật mỗi năm 6 tháng nắng ráo

Trang 35

Hiện nay cả làng chỉ còn 8 lò gốm với khoảng 40 lao động trong đó chỉ trong

đó chỉ có mười người thợ giỏi đó là: Bùi Liêu, Ban Sáu,Nguyễn Vinh, Nguyễn

Cừ, Nguyễn Sao, Lê Phát,… Riêng nghề sản xuất gạch ngói có 75 hộ với 455 lao động tập trung ở khối phố 3,4,5,6 phường Thanh Hà

Từ cuối thế kỉ XX trở lại đây, thợ gốm Thanh Hà đã tiếp thu kỉ thuật làm gốm mỹ nghệ, trong đó có nhiều loại hình sản phẩm được tạo hình bằng khuôn rót, nung trong lò ngữa lò ga quy mô nhỏ như con thổi, tượng, phù điêu Chăm,

mô hình chùa Cầu,

Trong suốt những năm qua tồn tại và phát triển, làng gốm Thanh Hà đã trải qua nhiều thăng trầm, biến cố của lịch sử Tuy nhiên, làng gốm Thanh Hà vẫn còn giữ gìn gần như nguyên vẹn vẻ đẹp nguyên sơ của đời sống sinh hoạt gắn liền với phong cảnh hữu tình của thôn quê, không gian kiến trúc cổ, làng nghề truyền thống… xứng đáng là một làng văn hóa di sản đặc sắc của tỉnh Quảng Nam của miền Trung và của cả nước, phát huy những giá trị đó sẽ là hành trang,

là động lực để người dân làng Thanh Hà bước vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cuộc sống ngày càng giàu đẹp

2.1.3 Đặc điểm sản xuất của làng gốm Thanh Hà

2.1.3.1 Công cụ sản xuất

Công cụ sản xuất giữ vai trò quan trọng, nó quyết định đến chất lượng của sản phẩm, đồng thời biểu thị trình độ của từng thời kì lịch sử Để cho ra đời nhưng mẽ gốm độc đáo riêng của gốm Thanh Hà, ngoài bàn tay điêu luyện của các nghệ nhân thì còn có sự góp sức của những công cụ khá thô sơ như: bàn chuốt, bàn xên, thêu, nề đất, gót chân, vòng làm bằng kim loại, vá nhắm, dợ sát, cái lù,…

Bàn chuốt: thường được làm bằng gỗ mít, cao 70 cm, đường kính 60 cm, dày 2-3 cm chân hình ống có đường kính 15-17 cm đặt trên trục bằng gỗ đứng,

Trang 36

đầu cứng, đầu vạt nhọn gọi là óc, có miếng gỗ lót gọi là con cá Trục chân cắm thẳng xuống mặt đất sâu chừng 60 – 70 cm

Bàn Xên: là nơi bắt con đất để làm ra sản phẩm gốm, nó cao khoảng 70 cm, dài chừng 1,5 m dùng để sán đất sét

Thêu: được làm bằng lưỡi sắt mỏng khoảng 30 cm, rộng 13 cm, có cán gỗ dài 1,5m dùng để xắn đất sét

Nề đất: là dụng cụ gồm hai cán gỗ dài 50 cm, có đây đồng buộc vào, dùng

để sát đất sét

Gót chân: được là bằng gỗ hoặc tre, có cán dài 20 cm, rộng 8 – 10 cm, một đầu vót nhọn đề kéo khối đất sét trên bàn chuốt và gạt trôn kẻ để tách khỏi bàn chuốt sau khi chuốt

Vòng làm bằng kim loại: có đường kính 10 -11 cm, bản rộng 1,5 cm, dùng

để nạo thành kẻ trên bàn chuốt hoặc khi làm nguội

Vá nhắm: được làm từ mãnh gáo dừa hình bán nguyệt, bên ngoài thật trơn láng dùng để miết vào bụng kẻ khi chuốt mà làm láng sản phẩm trong công đoạn làm nguội

Dớ sát: là sợi đây đồng dài khoảng 40 cm, dùng để sát trôn kẻ tách khỏi mặt bàn chuốt hoặc sát đất sét

Tre dồn: là cây dài tương tự tàu lá chuối dùng để dồn củi ở hai bót khi nung Trang: được làm từ miếng ván mỏng, dài 50 cm, rộng 20 cm, có cán gỗ hoặc tre dài 3m, dùng để cào than

Cái lù: gồm hai mũi nhọn bằng sắt cắm vào cán gỗ dài khoảng 2,5 m, dùng

để sắp củi trong lò nung

Lò nung: chia làm hai loại lò sấp và lò ngữa Mỗi kiểu lò cho một loại nhiệt

độ khác nhau, dù rằng kỉ thuật nung giống nhau và chi phối rất nhiều đến chất lượng sản phẩm

Trang 37

2.1.3.2 Nguồn nguyên liệu

Nguyên liệu chủ yếu để làm gốm là đất sét được mua ở sông Thu Bồn với giá 750 ngàn đồng/ khối đất

Trong đời sống của người thợ gốm, các hoạt động làm đất, chuốt gốm, chất phôi vào lò nung đều diễn ra đồng thời từ sáng đến tối Đối với việc phơi phôi, sữa nguội, người thợ tập trung vào thời gian có nắng to trong ngày, khoảng 9h – 16h Thời điểm nung gốm thường bắt đầu vào buổi chiều tối và thời điểm kết thúc nung vào buổi sáng hoặc trưa ngày hôm sau

Sản phẩm gốm truyền thống được làm theo các công đoạn như sau:

- Làm đất

Đây là công đoạn đầu tiên để cho ra đời những sản phẩm hoàn chỉnh Từng mảng đất được sắp làm 2 – 3 lớp hình vòng tròn có những đường kính khoảng 1,5m sao đó dùng thêu sắn nhỏ thành từng cục tới lên lượng nước vừa phải Quy trình được lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi đất nhuần nhuyễn dẻo, không quá thô cũng không quá ướt Công đoạn làm đất được thực hiện bởi người đàn ông mạnh mẽ Trong lúc xăm đất, đạp đất nếu gặp phải sạn hay đất nền nhà vào phải nhặt ra ngay, để tránh khỏi sản phẩm tránh bị tạp chất, sẽ bị nứt vỡ khi nung Đất sau khi đạp xong được che chắn cận thận, tránh nắng gió và làm khô đất

Trang 38

- Chuốt gốm _ tạo hình sản phẩm

Như một sự phân công lao động tự nhiên, sau công việc nặng nhọc của những người đàn ông, công đoạn chuốt gốm còn lại đòi hỏi sự khéo léo của bàn tay phụ nữ Bên chiếc bàn xoay luôn có sự hiện diện của hai người phụ nữ một người thợ sên và một người thợ chuốt Người thợ sên sẽ dùng lực của cánh tay

để làm xoay và lăn, bắt con đất thành những thóp hình trụ khuôn có độ dài ngắn tùy thuộc vào ý định tạo phôi gốm, sau đó đặt con đất lên bàn xoay tạo xoay để lấy đáy làm kẻ Người thợ chuốt ngồi ôm trọn lấy bàn xoay tạo hình phôi gốm

Họ dùng hai bàn tay miết con đất từ kẻ đáy với một mảnh vải và chậu nước bên cạnh Khá đơn giản nhưng khá nhiều kiểu dạng sản phẩm hiện hình với vài công cụ giúp như mảnh vải nhỏ để thấm nước bôi trơn và có lúc vòng, vá nhắm hay tre để làm nên những họa tiết đơn giản

Với những sản phẩm có kích thước lớn, một kỹ thuật xưa cũ nhưng rất hữu dụng, những mãnh vải cuộn tròn lần lượt đặt trên bàn quay để nâng cao thành phẩm Vòng, vá được người thợ chuốt cầm lấy để gọt bớt những chỗ quá dày, trong lúc phôi gốm vẫn quay tròn dưới lực đẩy của người thợ sên Kết thúc công đoạn tạo hình một sản phẩm, người thợ chuốt dừng dợ sát tách rời phôi gốm khỏi bàn xoay Sau khi tạo hình xong, sản phẩm được gọi là kẻ chuốt, với những vật dụng như lu, sang, hũ, trình, trống… khi mang phơi nắng bao giờ cũng niền đặt ở miệng cho khỏi méo

- Làm nguội

Kẻ chuốt sau khi phơi nắng một thời gian ngắn cho ráo nước và ổn định hình dáng ban đầu, người thợ gốm đem ra sửa lại cho đúng kiểu dạng tạo hình lại các hoa văn trang trí rồi tiếp tục phơi Trước khi sản phẩm khô hẳn, người thợ còn làm công việc trau chuốt cáo bớt những chỗ quá dày cho thật hoàn mỹ, kiểm tra từng chi tiết nhỏ nhằm tránh khỏi những trợ ngại khi nung

- Nung

Ngày đăng: 06/05/2021, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w