1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch biển tam thanh, thành phố tam kỳ, tỉnh quảng nam

74 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: đánh giá những thuận lợi và khó khăn của du lịch biển Tam Kỳ thể hiện qua việc tìm hiểu các điều kiện để phát triển du lịch biển như tài nguyên du lịch, cơ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ

NGUYỄN XUÂN NGÂN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TAM THANH, THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH: ĐỊA LÝ HỌC (CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÝ DU LỊCH)

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ

NGUYỄN XUÂN NGÂN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TAM THANH, THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH: ĐỊA LÝ HỌC (CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÝ DU LỊCH)

Người hướng dẫn khoa học:

ThS Đoàn Thị Thông

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 3

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC CÁC BẢNG 7

DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ 7

A MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Mục tiêu nghiên cứu 9

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng nghiên cứu 9

5 Phạm vi nghiên cứu 9

6 Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 10

6.1 Quan điểm nghiên cứu 10

6.2 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Lịch sử nghiên cứu 12

8 Kết cấu của khóa luận 13

B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH BIỂN 15

1.1 Cơ sở lý luận về du lịch biển 15

1.1.1 Khái quát chung về du lịch 15

1.1.2 Một số vấn đề về du lịch biển 21

Trang 4

1.2 Cơ sở thực tiễn về du lịch 31

1.2.1 Thực trạng phát triển du lịch Thành Phố Tam Kỳ 31

1.2.2 Một số kinh nghiệm từ phát triển du lịch biển Nha Trang - Khánh Hòa 40 CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH BIỂN TAM THANH, THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM 42

2.1 Tiềm năng phát triển du lịch biển Tam Thanh, Thành phố Tam kỳ, tỉnh Quảng Nam 42

2.1.1 Vị trí địa lí xã Tam Thanh 42

2.1.2 Tài nguyên du lịch của xã Tam Thanh 42

2.1.3 Tiềm năng kinh tế - xã hội – chính trị 44

2.1.4 Cơ sở hạ tầng – cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch 45

2.2 Thực trạng khai thác và phát triển du lịch biển Tam Thanh, Thành phố Tam Kỳ Tỉnh Quảng Nam 47

2.2.1 Số lượt khách du lịch 47

2.2.2 Doanh thu du lịch biển 49

2.3 Đánh giá tổng quan về du lịch biển Tam Thanh, Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 51

2.3.1 Những mặt đạt được 51

2.3.2 Những mặt hạn chế 51

2.3.3 Nguyên nhân 53

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TAM THANH, THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM 55

3.1 Mục tiêu, định hướng phát triển du lịch biển Tam Thanh, Thành Phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 55

Trang 5

3.1.1 Những cơ hội, thách thức cơ bản của phát triển du lịch biển Tam Thanh

Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam 55

3.1.2 Mục tiêu phát triển 56

3.1.3 Định hướng phát triển 57

3.2 Giải pháp để phát triển du lịch biển Tam Kỳ 58

3.2.1 Nhóm giải pháp phát triển du lịch biển về kinh tế 58

3.2.2 Giải pháp phát triển du lịch biển về tài nguyên – môi trường: 63

3.2.3 Nhóm giải pháp phát triển du lịch biển về xã hội 65

C KẾT LUẬN 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 73

Trang 6

 TNDLNV : Tài nguyên du lịch nhân văn

 TNDLTN : Tài nguyên du lịch tự nhiên

 CSHT – CSVCKT : Cơ sơ hạ tầng – cơ sở vật chất kĩ thuật

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Tổng lượng doanh thu du lịch của thành phố Tam Kỳ giai

2.2 Lượng khách tham quan du lịch đến với biển Tam Thanh và

Làng Bích Họa tang trường qua các năm 2017, 2018, 2019

2.1 Bản đồ phân bố đơn vị hành chính TP Tam Kỳ, tỉnh

2.3 Biểu đồ thể hiện doanh thu du lịch biển của thành

phố Tam Kỳ giai đoạn năm 2017-2019

54

Trang 8

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nền kinh tế càng ngày càng phát triển, đời sống con người được nâng cao thì nhu cầu du lịch ngày càng tăng, nó trở thành một nhu cầu thiết yếu trong đời sống Trong nhiều năm qua, ngành du lịch đã và đang khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế quốc dân Ngành du lịch đã góp phần tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, bên cạnh đó du lịch còn có ý nghĩa to lớn trong bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa và môi trường tự nhiên Do đó, phát triển du lịch là một trong những chiến lược quan trọng trong việc phát triển kinh tế-xã hội của nhiều nước Trên cơ sở mục tiêu hướng tới, Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch cũng đã xác định các chiến lược thành phần để phát triển du lịch nước nhà một cách hiệu quả Theo đó, ưu tiên hàng đầu là phát triển mạnh du lịch biển với hệ thống sản phẩm cạnh tranh khu vực về nghỉ dưỡng, tham

quan thắng cảnh

Với 3.260km bờ biển, 2.773 hòn đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa cùng hàng trăm bãi tắm đẹp, nước ta có lợi thế vô cùng lớn để phát triển du lịch biển đảo mà ít nơi nào sánh bằng Tỉnh Quảng Nam là địa phương có 125 km bờ biển kéo dài

từ Điện Ngọc (giáp bãi biển Non Nước, thành phố Đà Nẵng) đến giáp vịnh Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi), với nhiều bãi tắm đẹp lý tưởng như: Hà My (huyện Điện Bàn), Cửa Đại (thành phố Hội An), Bình Minh (huyện Thăng Bình), Tam Thanh (thành phố Tam Kỳ), Kỳ Hà, Bãi Rạng (huyện Núi Thành) nơi đâu cũng hoang sơ, tràn đầy gió và ánh nắng mặt trời Đặc biệt là biển Tam Thanh, nằm cách thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam khoảng 7km về hướng Đông, bãi biển Tam Thanh nằm nép mình lặng lẽ phía sau khu rừng chắn sóng với khung cảnh bình yên đậm chất hoang sơ do chưa chịu nhiều ảnh hưởng của công tác khai thác du lịch Từ hàng dừa xanh mát bên bờ biển, cho đến làn nước trong xanh, sóng xô dịu nhẹ bên bãi cát trải dài hàng cây số, tất cả làm nên khung cảnh bình dị, vô cùng phù hợp cho một buổi đi “trốn” thành phố, công việc để về đây thư giãn cuối tuần

Trang 9

Mặc dù có nhiều tiềm năng như vậy nhưng biển Tam Thanh vẫn chưa khai thác được hết thế mạnh của mình để phục vụ du lịch, đem lại nguồn thu cho tỉnh Quảng Nam cũng như tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương còn hạn chế Nguyên nhân là

do, sản phẩm du lịch chưa phong phú, chất lượng dịch vụ và chất lượng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch vẫn còn nhiều điểm bất cập dù những năm qua đã được đầu tư phát triển

ở bước đầu Xuất phát từ thực trạng đó nên tôi chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch biển Tam Thanh, Thành phố Tam Kỳ, Tỉnh Quảng Nam” làm đề tài

khóa luận tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu về thực trạng phát triển du lịch biển Tam Thanh, Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần phát triển du lịch biển nơi đây trong thời gian tới

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về du lịch biển

- Tìm hiểu về tiềm năng, đánh giá thực trạng phát triển du lịch biển Tam Thanh, Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

- Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch biển Tam Thanh, Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

4 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch biển Tam Thanh, Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

5 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: biển Tam Thanh thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

- Phạm vi thời gian: đề tài thu thập số liệu từ năm 2015 đến nay và định hướng phát triển đến năm 2030

Trang 10

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: đánh giá những thuận lợi và khó khăn của du lịch biển Tam Kỳ thể hiện qua việc tìm hiểu các điều kiện để phát triển du lịch biển như tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, sản phẩm du lịch biển Tam Thanh, Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam để từ đó đưa ra những giải pháp cho phát triển du lịch biển Tam Thanh, Thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

6 Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

6.1 Quan điểm nghiên cứu

- Quan điểm hệ thống:

Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ các hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hoặc tập thể ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hoặc ngoài nước họ với mục đích hòa bình Như vậy các điều kiện

và nhân tố du lịch tồn tại và phát triển của các thành phần: tự nhiên, kinh tế- xã hội và các quy luật cơ bản của các loại hình du lịch Do đó, khi nghiên cứu hoạt động du lịch cần phải nghiên cứu một cách toàn diện trên nhiều mặt dựa vào việc phân tích các bộ phận của nó, từ đó xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận đó cũng như mối quan

hệ trong hoạt động du lịch với các hoạt động kinh tế- xã hội khác Đây cũng là quan điểm chủ đạo trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát thực địa:

Thực địa là phương pháp truyền thông được sử dụng trong các nghiên cứu nói chung và đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu các vấn để về địa lý kinh tế- xã hội nói riêng Các hoạt động chính khi tiến hành phương pháp này bao gồm: quan sát,

Trang 11

mô tả, điều tra, chụp ảnh Đây là phương pháp đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập các thông tin định tính Nhờ đó, làm cho kết quả nghiên cứu mang tính xác thực, khắc phục những hạn chế của phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu Việc thực tế vùng biển Tam Kỳ cũng như quan sát hoạt động của các ngành du lịch biển đã giúp bản thân tác giả có những kiến thức thực tế cơ bản để thấy được thực trạng phát triển du lịch biển

Tác giả đã đi thực tế tại địa điểm nghiên cứu để có cái nhìn chính xác và đầy đủ hơn về thực trạng hoạt động du lịch tại biển Tam Thanh, Thành phố Tam kỳ, tỉnh Quảng Nam Trong quá trình khảo sát, tác giả có điều kiện đối chiếu, bổ sung nhiều thông tin cần thiết cho bài khóa luận của mình Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những giải pháp hợp

lý và khả thi

- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu:

Trong quá trình nghiên cứu để tài, việc vận dụng phương pháp thu thập, phân tích

và xử lý số liệu – tài liệu đóng vai trò cực kỳ quan trọng Vì dựa vào việc thu thập, phân tích và xử lý số liệu- tài liệu giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về vấn đề nghiên cứu

Từ đó, bản thân tác giả có thể rút ra được những nội dung tống hợp nhất, đầy đủ nhất nhằm đáp ứng được những nhiệm vụ và mục tiêu mà vấn đề đã đặt ra Phương pháp này giúp tiết kiệm được thời gian và tiền bạc nhưng vẫn có được một tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu Số liệu – tài liệu phục vụ cho đề tài được lấy từ các nguồn: UBND Thành phố Tam Kỳ, Cục thống kê, Phòng văn hóa – thể thao và du lịch thành Phố Tam

Kỳ, báo Tam Kỳ, và từ các công trình của các nhà khoa học, ý kiến các chuyên gia và nhân dân địa phương

- Phương pháp bản đồ - biểu đồ :

Phương pháp bản đổ - biểu đổ là phương pháp đặc trưng của khoa học Địa lý Bởi

vì, mọi nghiên cứu thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội đều mở đầu bằng bản đồ và kết thúc bằng bản đồ Ý nghĩa to lớn của nó là góp phần giải quyết nhiều nội dung nghiên cứu như: đánh giá các nguồn lực, phân tích hiện trạng theo ngành và theo lãnh thổ Sử dụng

Trang 12

phương pháp này giúp cho việc nghiên cứu các vấn đề được toàn diện hơn, Đây là phương pháp quan trọng trong việc xác định sự phân bố, mức độ tập trung và hiệu quả của các đối tượng nghiên cứu, đồng thời thế hiện mối liên hệ giữa các đối tượng với nhau

7 Lịch sử nghiên cứu

Từ bao đời nay biển đã gắn bó với đời sống, sinh hoạt của con người Biển không chỉ cung cấp các sản vật phục vụ cho nhu cầu sống, phát triển của loài người mà còn tạo điều kiện để các dân tộc, các quốc gia trên thế giới giao lưru về kinh tế, văn hóa, xã hội Chính vì vậy việc tìm hiểu về biển để chinh phục biển phục vụ cho nhu cầu của con người là rất quan trọng

Trong những thập niên gần đây, biển đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính vì vậy đặt ra yêu cầu là phải tìm hiểu chuyên sâu hơn về biển để biết cách khai thác có hiệu quả các tiềm năng từ biển cũng như hạn chế những tác hại do biển mang lại Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, ở nước ta đã xuất hiện những công trình nghiên cứu về biển – đảo mang tính chuyên sâu, như: Địa lý Biển Đông của Nguyễn Văn Âu, Địa lý kinh tế vận tải biển của Nguyễn Khắc Duật, Biển – cái nôi sự sống của Lý Thái Thuận, nguồn lợi sinh vật Biến Đông của Vũ Trung Tạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Kinh tế biển và khoa học kỹ thuật về biển ở nước ta Theo Viện Nghiên cứu phát triển du lịch (Tổng cục Du lịch), Việt Nam có hơn 3.200 km bờ biển, hơn 1 triệu km2 diện tích mặt nước biển, hơn 2.770 đảo ven bờ và

có khoảng 125 bãi biển, vịnh biển thuận lợi để phát triển du lịch Ngoài 28 trên tổng số

63 tỉnh thành phố có địa lý giáp biển thì Việt Nam cũng có 12 huyện đảo gồm đảo Cô

Tô, Vân Đồn (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ, Cát Bà (Hải Phòng), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Hoàng Sa (Đà Nẵng), Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Trường Sa (Khánh Hòa), Phú Quí (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu) và Phú Quốc (Kiên Giang)

Bên cạnh đó là những khu dự trữ sinh quyển được UNESCO công nhận, hệ thống các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên ven biển đa dạng Việt Nam được công

Trang 13

nhận 6 khu dự trữ sinh quyển nằm ở dải ven biển, là rừng ngập mặn Cần Giờ, quần đảo Cát Bà, vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng, vùng biển đảo Kiên Giang, Cù Lao Chàm và Vườn quốc gia Cà Mau

Hệ thống 16 vườn quốc gia bao gồm Bái Tử Long (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Xuân Thủy (Nam Định), Cúc Phương (Ninh Bình), Bến En (Thanh Hóa), Pù Mát (Nghệ An), Vũ Quang (Hà Tĩnh), Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam), Núi Chúa, Phước Bình (Ninh Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), U Minh Hạ, Mũi Cà Mau (Cà Mau), U Minh Thượng, Phú Quốc (Kiên Giang) Ngoài ra còn hệ thống 26 khu dự trữ thiên nhiên và 3 khu bảo tồn loài toàn quốc chạy dọc theo đất nước

Các vùng ven biển cũng được thừa hưởng các di tích lịch sử văn hóa phong phú,

mà theo Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, các di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng

ở vùng ven biển (tính đến năm 2011) được ghi nhận với 24 thắng cảnh, 221 kiến trúc nghệ thuật, 106 kiến trúc lịch sử, 14 di tích khảo cổ và 550 di tích lịch sử Bên cạnh điều kiện thiên nhiên thì nét văn hóa đặc trưng của vùng miền cũng là yếu tố thu hút khách du lịch

Cùng với các lễ hội dân gian truyền thống (ước tính khoảng gần 200 lễ hội), các địa phương ven biển cũng phát triển các lễ hội văn hóa du lịch hiện đại như Lễ hội Carnavan đường phố Hạ Long, Festival Huế, Lễ hội bắn pháo hoa Đà Nẵng, Đêm rằm Phố cổ Hội An, Festival võ Bình Định, Lễ hội thả diều Vũng Tàu, Lễ hội trái cây Nam Bộ… Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch nghỉ dưỡng biển đảo, du lịch thăm quan thắng cảnh, các di tích lịch sử văn hóa, du lịch sinh thái, thể thao và mạo hiểm…

8 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về du lịch biển

Trang 14

Chương 2: Tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch biển Tam Thanh, Thành Phố Tam

Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch biển Tam Thanh, Thành Phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Trang 15

B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH BIỂN 1.1 Cơ sở lý luận về du lịch biển

1.1.1 Khái quát chung về du lịch

1.1.1.1 Một số khái niệm trong du lịch

a Khái niệm du lịch

Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến và là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội Thuật ngữ du lịch đã trở lên khá thông dụng, nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng Du lịch gắn liền với việc nghỉ ngơi giải trí, tuy nhiên do hoàn cảnh thời gian

và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau nên khái niệm về du lịch cũng không giống nhau

Trong cuốn Cơ sở địa lý du lịch và dịch vụ thăm quan với một nội dung khá chi tiết nhà địa lý Belarus đã nhấn mạnh: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi có liên quan đến sự di cư và lưu trú tạm thời ngoài nơi ở thường xuyên nhằm mục đích phát triển thể chất, tinh thần nâng cao trình độ nhận thức, văn hoá hoặc hoạt động thể thao, kèm theo việc tiếp thu những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ”

Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 đã đưa ra khái niệm du lịch như sau: Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng, trong một khoảng thời gian nhất định

b Khái niệm khách du lịch:

Khách du lịch là những người từ nơi khác đến vào thời gian rảnh rổi của họ nhằm mục đích thỏa mãn tại nơi đến về nhu cầu nghĩ ngơi giải trí, nâng cao hiểu biết, phục hồi sức khỏe

Trang 16

Có nhiều khái niệm khác nhau về khách du lịch tuy nhiên do hoàn cảnh thực tế của mỗi nước và dưới quan điểm khác nhau của các tác giả nên các khái niệm đưa ra không giống nhau

Khách du lịch đều được coi là người đi khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình và không phải theo đuổi mục đích kinh tế

Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 đã đưa ra khái niệm về khách du lịch như sau: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến

Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế:

+ Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam, đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam

+ Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam đi du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam ra nước ngoài du lịch

c Tài nguyên du lịch

Luật Du lịch Việt Nam 2017 đã đưa ra khái niệm về tài nguyên du lịch như sau: tài nguyên du lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử cách mạng, các giá trị nhân văn, các công trình sáng tạo của con người có thể sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch là yếu tố cơ bản hình thành điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo sự hấp dẫn với du khách

Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa Tài nguyên du lịch tự nhiên: là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta có khả năng làm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch như nghỉ ngơi, tham quan, nghiên cứu khoa học, vui chơi giải trí được con người khai thác phục vụ cho các hoạt động du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật

Trang 17

Tài nguyên du lịch văn hóa: theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: Tài nguyên du lịch văn hóa gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử cách mạng, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể sử dụng phục vụ mục đích du lịch

d Khái niệm sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là tập hợp tất cả các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Sản phẩm du lịch có sự khác biệt với các sản phẩm thông thường khác: Sản phẩm du lịch thường mang tính vô hình, không nhìn thấy được, nó được bán trước khi khách hàng nhìn thấy, khách hàng không thể thử nghiệm được như những hàng hoá thông thường khác

Sản phẩm du lịch thường ở xa nơi cư trú của khách, trong khi các hàng hoá khác thường ở gần và thuận lợi cho nhu cầu tiêu dùng của khách hàng thì sản phẩm du lịch thường ở xa nơi cư trú vì vậy muốn mua sản phẩm du lịch đòi hỏi khách hàng phải sử dụng hệ thống các nhà trung gian

Khách hàng mua sản phẩm du lịch thường phải tốn nhiều thời gian và tiền bạc, nhưng họ lại ít trung thành với sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch được tạo ra bởi nhiều ngành kinh doanh khác nhau như kinh doanh lữ hành, kinh doanh dịch vụ lưu trú ăn uống, kinh doanh vận chuyển khách du lịch, dịch vụ vui chơi giải trí Hàng hoá thông thường khác thì được tạo ra bởi một ngành kinh doanh nhất định do vậy tạo ra một sản phẩm du lịch đồng nhất là rất khó khăn Sản phẩm du lịch không dịch chuyển được Sản phẩm du lịch được tạo ra gắn với yếu tố tài nguyên du lịch, không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có du khách mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm du lịch để thoả mãn nhu cầu du lịch của mình thông qua việc tiêu dùng các sản phẩm du lịch

Trang 18

Sản phẩm du lịch không thể cất trữ, tồn kho như các hàng hoá thông thường khác, quá trình tạo ra và tiêu dùng sản phẩm du lịch là đồng thời, do vậy rất khó khăn để tạo

ra sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng sản phẩm du lịch

Hoạt động kinh doanh du lịch thuờng mang tính thời vụ nên việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn mà có thể chỉ trong một thời gian nhất định

Ngược lại du lịch thiên nhiên diễn ra nhằm thoả mãn nhu cầu về với tự nhiên của con người Trong số các loại hình du lịch thiên nhiên có thể lấy những loại hình du lịch biển, du lịch núi, du lịch nông thôn Du lịch thiên nhiên được coi là loại hình du lịch đưa khách về những nơi có điều kiện môi trường tự nhiên trong lành, cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn nhằm thoả mãn nhu cầu đặc trưng của họ

* Căn cứ vào mục đích chuyến đi :

Chuyến đi của con người có thể có mục đích thuần tuý du lịch tức là chỉ nhằm mục đích nghỉ ngơi giải trí nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh Ngoài ra còn

có những chuyến đi vì mục đích khác như học tập, công tác, hội nghị, tôn giáo Trong những chuyến đi này người ta sử dụng các dịch vụ lưu trú ăn uống tại khách sạn, nhà nghỉ và tranh thủ thời gian rảnh rỗi để tham quan nghỉ ngơi nhằm thẩm nhận những giá trị của thiên nhiên và đời sống văn hoá tại nơi đến Trên cơ sở đó có thể chia thành các

Trang 19

loại như du lịch tham quan, du lịch giải trí, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao, du lịch

lễ hội

* Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ có du lịch quốc tế và du lịch nội địa :

Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà trong quá trình thực hiện có sự giao tiếp với người nước ngoài, một trong hai phía phải sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp Về mặt không gian địa lý du khách đi ra ngoài đất nước của họ Về mặt kinh tế có sự thanh toán bằng ngoại tệ Du lịch quốc tế chia làm hai loại nhỏ là du lịch đón khách và du lịch gửi khách

Du lịch nội địa được hiểu là các hoạt động tổ chức phục vụ người trong nước hoặc người nước ngoài cư trú đi du lịch, nghỉ ngơi tham quan các đối tượng du lịch trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Về cơ bản không có sự thanh toán bằng ngoại tệ

* Căn cứ vào phương tiện giao thông: có du lịch xe đạp, du lịch ô tô, du lịch máy bay,

du lịch tàu hoả, du lịch tàu thuỷ

* Căn cứ vào loại hình lưu trú :

Lưu trú là một trong nững nhu cầu chính của du khách trong chuyến đi du lịch Có một số loại hình lưu trú sau: Du lịch khách sạn, motel, camping, bungalow, làng du lịch

* Căn cứ vào đối tượng khách : có du lịch thanh niên, du lịch ngưòi cao tuổi, du lịch người trung niên

* Căn cứ vào độ dài chuyến đi : có du lịch ngắn ngày và du lịch dài ngày

Du lịch trong thời gian dưới một tuần là du lịch ngắn ngày, du lịch cuối tuần là một dạng của du lịch ngắn ngày

* Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi có du lịch theo đoàn, du lịch cá nhân, du lịch gia đình

1.1.1.3 Chức năng của hoạt động du lịch

Trang 20

Hoạt động du lịch có 4 chức năng cơ bản sau:

a Chức năng xã hội

Du lịch tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm bớt nạn thất nghiệp góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân

Du lịch góp phần giữ gìn và phục hồi sức khoẻ, tăng cường sức sống và kéo dài tuổi thọ, làm tăng khả năng lao động của con người, nâng cao hiệu quả lao động Hoạt động du lịch làm tăng thêm tinh thần đoàn kết cộng đồng, thông qua hoạt động du lịch người dân và khách du lịch hiểu biết thêm về truyền thống dân tộc góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy niềm tự hào dân tộc

Hoạt động du lịch góp phần khôi phục và phát triển truyền thống văn hoá của dân tộc, làm tăng thêm vốn sống và hiểu biết của du khách

b Chức năng kinh tế

Về phương diện kinh tế, du lịch là một ngành dịch vụ mà sản phẩm của nó dựa trên

và bao hàm các sản phẩm có chất lượng cao của các ngành kinh tế khác phát triển Dịch

vụ du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt, nhưng khi nền kinh tế thấp kém thì cho dù nguồn tài nguyên du lịch có phong phú đến đâu cũng khó có thể phát triển được vì khi đi du lịch du khách có nhu cầu sử dụng các loại hàng hoá có chất lượng cao, hiện đại

Hoạt động du lịch làm thay đổi cán cân thu chi của một vùng, đất nước

c Chức năng môi trường

Du lịch góp phần bảo tồn và khẳng định giá trị của các di sản tự nhiên quan trọng, phát triển các khu bảo tồn, các vườn quốc gia, bảo vệ các loại động vật hoang dã quý hiếm đáp ứng được nhu cầu tham quan của khách du lịch

Trang 21

Du lịch góp phần bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường Du khách có thể tự tham gia vào các hoạt động làm sạch môi trường và cung cấp các sáng kiến về bảo vệ môi trường thông qua việc kiểm soát chất lượng không khí, đất, nước, rác thải cải thiện môi trường thông qua các quá trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế, xây dựng và bảo dưỡng công trình kiến trúc

d Chức năng chính trị

Hoạt động du lịch là cầu nối hoà bình giữa các dân tộc trên thế giới Du lịch giúp mọi người xích lại gần nhau hơn củng cố tình hữu nghị đoàn kết giữa các quốc gia dân tộc Như các cuộc viếng thăm lại chiến trường xưa của các cựu chiến binh Pháp - Mỹ, sau khi trở về nước họ trở thành những thành viên tích cực tuyên truyền xây dựng vun

đắp tình hữu nghị Có thể nói, khách du lịch là những sứ giả hoà bình

1.1.2 Một số vấn đề về du lịch biển

1.1.2.1 Khái niệm

Du lịch biển là loại hình du lịch diễn ra nhằm thoả mãn nhu cầu về với thiên nhiên của con người Thiên nhiên ở đây là các cảnh quan vùng biển đảo, các bãi tắm và bãi cát, các hệ sinh thái biển, khí hậu và thế giới sinh vật trong lòng đại dương như: các loại san

hô, tảo, hải quỳ, các loại cá, sinh vật phù du

Du lịch biển đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng mong muốn quay về với tự nhiên gần gũi với thiên nhiên của con người Mục đích chính của du lịch nghỉ biển là để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi thư giãn vui chơi giải trí, tìm hiểu khám phá làm cho cuộc sống thêm phong phú, lấy lại cảm giác vui vẻ thoải mái cho con người sau những ngày làm việc căng thẳng

Du lịch nghỉ biển rất hợp cho việc nghỉ cuối tuần và được nhiều du khách lựa chọn

vì đây là loại hình du lịch mang tính tổng hợp đa dạng về các hoạt động vui chơi giải trí, phong phú về sản phẩm dịch vụ Lựa chọn du lịch biển du khách sẽ được tham quan cảnh biển và tham gia các hoạt động biển như: tắm biển, lặn biển, khám phá lòng đại dương, lướt ván và các loại hình giải trí khác

Trang 22

Phát triển du lịch biển sẽ khai thác được lợi thế về tài nguyên du lịch tự nhiên Du lịch biển kết hợp với du lịch văn hoá vùng ven biển tạo ra sự đa dạng về sản phẩm du lịch đáp ứng được nhu cầu của du khách do vậy du lịch biển có tốc độ phát triển nhanh

và thu hút được đông nhất số lượng khách tham gia so với các loại hình du lịch khác

* Đặc điểm về điều kiện phát triển

Điều kiện về tài nguyên du lịch biển: được chia làm hai nhóm: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa

Điều kiện về cơ sở hạ tầng: bao gồm các điều kiện về tổ chức, các điều kiện về kỹ thuật và các điều kiện về kinh tế

1.1.2.3 Điều kiện để phát triển du lịch biển

a Những điều kiện chung

* Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội :

Du lịch biển, đảo chỉ có thể phát triển trong điều kiện hòa bình, chế độ chính trị và

an ninh xã hội ổn định Du khách chỉ thích đến những đất nước, vùng và địa phương có

Trang 23

chế độ chính trị ổn định và an ninh xã hội tốt khi đó họ sẽ có cảm giác yên tâm về tính mạng và tài sản của mình, thỏa sức tận hưởng và trải nghiệm các giá trị du lịch Ngược lại sẽ ảnh hưởng rất xấu đến lượng du khách vì họ sẽ cảm thấy bất an vì có nguy cơ đe dọa đến sự an toàn của du khách

Những điểm du lịch không có sự phân biệt chủng tộc, tôn giáo, văn hóa…Du khách

có thể gặp gỡ và tiếp xúc những người dân bản xứ thân thiện, hòa nhập vào các phong tục địa phương khi đó du khách sẽ cảm thấy mình được chào đón và không bị cô lập nơi

xứ lạ

Ngoài ra thiên tai ven biển như: bão, sóng thần, động đất…ảnh hưởng rất lớn đến lượng du khách tham quan, sóng thần ở Bali Indonesia là một ví dụ Ngoài ra còn có các mối đe dọa từ sinh vật biển như: cá mập, sứa…

Sự phát sinh và lan tràn của nhiều loại dịch bệnh truyền nhiễm cũng ảnh hưởng xấu đến sự phát triển du lịch Không chỉ du khách không dám đến những vùng dịch mà chính quyền y tế sở tại cũng sẽ có những biện pháp phòng chống lây lan bằng việc đóng cửa, phong tỏa các khu vực có ổ dịch Các công ty lữ hành cũng không dám mạo hiểm tính mạng của khách vì mức bồi thường trách nhiệm chuyến đi ràng buộc họ

* Điều kiện kinh tế:

Một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển du lịch là điều kiện kinh tế chung, bởi vì sự phát triển của du lịch phụ thuộc vào sự phát triển của các ngành kinh tế khác Bên cạnh những ngành sản xuất vật chất chung, ngành xây dựng…du lịch biển, đảo phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của kinh tế biển, giao thông biển và đường hàng không

Kinh tế biển là nguồn cung ứng trực tiếp các loại thực phẩm tươi sống có nguồn gốc từ đại dương, cung cấp nguyên liệu cho các ngành chế biến đồ lưu niệm (san hô, ngọc trai, vỏ các loại nhuyễn thể,…), các loại hương liệu (nước mắm, mắm niêm…) Kinh tế biển còn tạo ra nếp sống, lối văn hóa riêng của miền biển (văn hóa làng chài, lễ hội cầu ngư, nghinh ông….)

Trang 24

Khối lượng và tốc độ vận chuyển hành khách, mức độ an toàn và tiện nghi cộng với giá thành vận chuyển của các loại hình phương tiện giao thông ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của loại hình du lịch biển, đảo đặc biệt là giao thông đường biển (tàu cao tốc, ca nô các loại, du thuyền…)

Ngoài ra còn có giao thông bằng đường hàng không là những loại hình giao thông đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của loại hình du lịch biển, đảo Bởi vì nó sẽ rút ngắn thời gian di chuyển, tiết kiệm được thời gian quý báu của những cuộc hành trình đặc biệt là ở những đảo xa Sự tiện nghi và an toàn sẽ tạo cảm giác yên tâm và thoải mái cho du khách

Chính sách phát triển du lịch: chính sách phát triển du lịch của mỗi quốc gia và từng địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động du lịch Một quốc gia hay khu vực

có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống người dân không thấp nhưng không có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương thì hoạt động du lịch sẽ không thể phát triển được

b Các điều kiện làm nảy sinh nhu cầu du lịch

Thời gian nhàn rỗi: thời gian nhàn rỗi (ngày nghỉ cuối tuần, nghỉ phép, nghỉ hè, nghỉ lễ, thời gian rảnh trong những chuyến đi công tác, học tập…) là một trong những điều kiện quan trọng để nảy sinh nhu cầu du lịch Con người không thể du lịch nếu không

có thời gian nhàn rỗi, yếu tố này phụ thuộc vào lịch sử xã hội và luật lao động của mỗi quốc gia

Khả năng tài chính của du khách tiềm năng: nền kinh tế phát triển sẽ làm cho con người có mức sống cao làm tăng khả năng thanh toán cho các nhu cầu về du lịch Khi đi

du lịch là người tiêu dùng các loại dịch vụ, hàng hóa vì vậy đòi hỏi phải có vật chất đầy

đủ để thanh toán cho các dịch vụ du lịch Khả năng tài chính của du khách, ngoài thu nhập trực tiếp của bản thân còn phụ thuộc vào các chế độ phúc lợi xã hội

Trình độ dân trí: Sự phát triển của du lịch còn phụ thuộc vào trình độ văn hóa chung của người dân, trình độ văn hóa càng cao nhu cầu du lịch của người dân sẽ được nâng cao Trình độ văn minh, văn hóa của người dân tại các quốc gia, các khu du lịch sẽ làm

Trang 25

tăng khả năng phục vụ du khách, khả năng ứng xử một cách văn minh và làm hài lòng

du khách đi du lịch đến đó, làm cho hoạt động du lịch tăng thêm giá trị

Trình độ văn hóa còn quyết định đến hành động, thái độ ứng xử của du khách đối với môi trường và cảnh quan nơi du lịch

c Khả năng cung ứng nhu cầu du lịch

Vị trí địa lý: khoảng cách từ nơi du lịch đến các nguồn khách du lịch có ý nghĩa

quan trọng đối với việc nhận khách du lịch Nếu nơi nhận khách du lịch ở xa điểm gửi khách sẽ tạo bất lợi trên ba khía cạnh chính Thứ nhất, du khách sẽ trả thêm tiền di chuyển Thứ hai, du khách phải rút ngắn thời gian lưu trú vì mất nhiều thời gian đi lại Thứ ba, du khách sẽ bị hao tổn nhiều sức khỏe cho việc đi lại nhất là ôtô và tàu thủy Tuy nhiên trong một số trường hợp bất lợi này lại là có sức hấp dẫn đối với những khách hiếu kỳ thích sự tương phản cảnh quan, có nhiều thời gian và khả năng chi trả cao

Vị trí địa lý còn quyết định đến điều kiện khí hậu, hệ sinh thái cảnh quan của các điểm du lịch ví dụ miền biển nhiệt đới sẽ có hệ sinh thái cảnh quan khác với miền biển

ôn đới

Quyết định đến tình hình chính trị, xã hội của từng khu vực du lịch Có những khu vực địa lý có chế độ chính trị ổn định và ngược lại

Khí hậu: Khí hậu ôn hòa thường được du khách ưa thích, du khách thường tránh

những nơi quá nóng hay quá lạnh, quá ẩm hoặc quá khô Đối với du lịch loại hình du lịch biển, đảo rất thích hợp ở những khu vực có kiểu khí hậu nhiệt đới ôn hòa

Du khách khi đi nghỉ biển thường chọn những dịp không mưa, nắng nhiều những không gắt, nước mát, gió vừa phải…số ngày mưa phải tương đối ít vào thời vụ du lịch biển Điều đó có nghĩa là địa điểm, vùng hoặc đất nước du lịch cần có mùa du lịch tương đối khô Một ngày mưa đối với du khách là một ngày hao phí cho mục đích của chuyến

đi du lịch như vậy làm giảm hiệu quả của chuyến đi nghỉ biển

Trang 26

Khách du lịch thường chuộng những nơi có nhiều ánh nắng mặt trời, do vậy họ đổ đến những nước phía nam có khí hậu điều hòa và có biển Nhiệt độ cao khiến con người

có cảm giác khó chịu Nhiệt độ không khí phải ở mức cho phép khách du lịch phơi mình được ở ngoài trời nắng là nhiệt độ thích hợp Nhiệt độ nước biển từ 20°C đến 25°C được coi là thích hợp nhất đối với hoạt động du lịch tắm biển Nếu nhiệt độ nước biển dưới 20°C và trên 30°C là không thích hợp Trong các yếu tố của khí hậu, nhiệt độ và độ ẩm

có liên quan chặt chẽ với nhau và có ảnh hưởng chính đến cảm giác của con người

Thủy văn: nước là yếu tố không thể thiếu được để duy trì sự sống của con người

Tuy nhiên đối với loại hình du lịch biển, đảo yếu tố hải văn đóng vai trò quan trọng chất lượng nước biển (mức độ trong lành, độ trong, độ mặn…), đặc tính sóng biển ảnh hưởng lớn đến các hình thức du lịch biển, đảo

Hệ sinh vật biển: giới động thực vật ảnh hưởng lớn đến hệ cảnh quan vùng biển

đảo bao gồm giới động thực vật trên các đảo, giới sinh vật biển Đây là nhân tố góp phần thu hút khách du lịch đến tham quan và chiêm ngưỡng Nhiều loại động vật có thể là đối tượng cho săn bắn du lịch Có những loài quý hiếm là đối tượng để nghiên cứu

Sự đa dạng của tài nguyên du lịch nhân văn vùng biển, đảo: phát triển du lịch biển,

đảo bên cạnh yếu tố tự nhiên chiếm ưu thế thì các tài nguyên du lịch nhân văn cũng mang

ý nghĩa quan trọng tạo ra sự đa dạng và phong phú cho hoạt động du lịch Tài nguyên du lịch nhân văn ở đây thường là các thành phố biển, các đình, chùa, lễ hội được tổ chức tại miền biển Các tài nguyên có giá trị văn hóa thu hút không chỉ khách du lịch với mục đích tham quan nghiên cứu, mà còn thu hút đa số khách đi du lịch với các mục đích khác,

ở các lĩnh vực khác và từ nơi khác đến

Tình hình và sự kiện đặc biệt: Có một số tình hình và sự kiện đặc biệt có thể thu

hút du khách du lịch và là điều kiện đặc trưng để phát triển du lịch Đó là các hội nghị, đại hội, sự kiện văn hóa, liên hoan v.v…tất cả những hình thức đó đều ngắn ngủi, nhưng đóng vai trò có ích trong sự phát triển du lịch

Trang 27

Sự sẵn sàng đón tiếp du khách: Sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch thể hiện ba

nhóm điều kiện chính: các điều kiện về tổ chức, về kỹ thuật và điều kiện về kinh tế Các điều kiện ấy ảnh hưởng lớn đến việc tiếp đón và phục vụ khách du lịch

1.1.2.4 Xu hướng phát triển du lịch biển

Hiện nay du lịch biển đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ, tài nguyên tự nhiên

và các vùng biển đẹp trên thế giới rất nhiều vì thế con người chưa bao giờ thấy nhàm

chán khi được đi tham quan khám phá những bãi biển đẹp

Du lịch biển cho dù đã rất quen thuộc nhưng các giá trị tài nguyên biển, đảo chưa bao giờ mất đi vẻ đẹp lôi cuốn, hấp dẫn của nó Nếu như các tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn du khách bởi tính truyền thống đa dạng thì các tài nguyên du lịch biển hấp dẫn

du khách bởi không khí trong lành, sự sinh động đa dạng huyền bí của lòng đại dương

Du lịch biển có nhiều ưu thế phát triển mạnh mẽ hơn so với các loại hình du lịch khác nhưng nó gặp phải một số trở ngại lớn đó là tính thời vụ cao, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên và các hiện tượng thời tiết bất thường Các nhà kinh doanh du lịch đang tìm kiếm các giải pháp để hạn chế nhược điểm này của du lịch biển

Hiện nay du lịch biển có xu hướng phát triển tốt, giảm bớt sự phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên Ngoài các loại hình du lịch đã có từ lâu như nghỉ mát, tắm biển thì hiện nay còn có nhiều loại hình du lịch mới như lặn biển, lướt ván và các hoạt động thể thao trên biển Và để kéo dài thời vụ du lịch đã có hàng loạt các dự án quy hoạch xây dựng các vùng ven biển, đảo, các khu du lịch sinh thái biển khu nghỉ biển với đầy đủ tiện nghi và các loại sản phẩm dịch vụ phong phú đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch

Như vậy phát triển du lịch biển đang ngày càng thu hút đông số lượng khách du lịch đến tham quan

1.1.2.5 Vai trò của du lịch biển

Trang 28

Du lịch biển, đảo là loại hình du lịch đang được đầu tư nghiên cứu, khai thác và phát triển mạnh ở nhiều quốc gia có lợi thế về biển, đảo trên thế giới Chủ yếu là các nước có điều kiện khí hậu nhiệt đới ấm áp Trong đó, Đông Nam Á một khu vực có loại hình du lịch biển, đảo phát triển mạnh với những quốc gia như: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Việt Nam, Singapore…phát triển du lịch biển, đảo đã mang lại những vai trò

và tác động tích cực cho các quốc gia, thể hiện ở những mặt sau:

Thúc đẩy sự phát triển cho ngành du lịch và nền kinh tế của mỗi quốc gia Du lịch biển, đảo luôn là loại hình có vai trò và tỷ trọng lớn cả về giá trị doanh thu, số lượng lao động, cơ sở hạ tầng- vật chất kỹ thuật… trong ngành du lịch ở các quốc gia có lợi thế về biển, đảo Du lịch biển, đảo được xem là loại hình du lịch mũi nhọn, giữ vai trò chủ đạo của các quốc gia này và là giải pháp cứu cánh để vực dậy nền kinh tế kém phát triển cho các quốc gia ven biển hiện nay

Du lịch biển, đảo là động lực thúc đẩy kinh tế biển của các địa phương phát triển mạnh mẽ Du lịch biển, đảo phát triển kích thích các hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến tại chỗ của người dân địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu cho du khách Nó không chỉ dừng lại ở sự phát triển về số lượng mà còn cả về chất lượng và hình thức để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách Phát triển du lịch biển, đảo là điều kiện

để các địa phương có thể xuất khẩu các sản phẩm kinh tế biển tại chỗ thu nhiều ngoại tệ một cách nhanh chóng với giá cao mà không cần phải vận chuyển

Phát triển du lịch biển, đảo giúp nâng cao đời sống, cải thiện thu nhập và phúc lợi cho cộng đồng cư dân ven biển Ngoài đội ngũ lao động chuyên nghiệp việc phát triển

du lịch biển, đảo còn góp phần to lớn trong việc giải quyết việc làm cho cư dân địa phương họ có thể là những người lao động theo thời vụ, những người thợ trong các làng nghề thủ công, các đối tượng hỗ trợ cho các dịch vụ du lịch…đây sẽ là điều kiện để họ phát huy những năng lực và tiềm năng của mình để tạo thêm thu nhập

Kích thích sự phát triển của cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật vùng ven biển, làm thay đổi mạnh mẽ bộ mặt kinh tế – xã hội vùng ven biển Để phát triển du lịch bắt buộc phải phát triển và hoàn thiện cơ sở hạ tầng – vật chất kỹ thuật (giao thông, điện, nước,

Trang 29

hệ thống thông tin liên lạc, cơ sở y tế, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi, mua sắm…), ngoài mục đích phục vụ du lịch còn nhằm phát triển kinh tế-xã hội và nhu cầu của chính

cư dân địa phương

Phát triển du lịch phải gắn liền với quan điểm phát triển bền vững Du lịch biển, đảo lại càng phải chú ý đến vấn đề này Việc khai thác và phát triển phải gắn liền với công tác bảo tồn và tôn tạo các loại tài nguyên du lịch một cách hiệu quả do đó phát triển

du lịch biển, đảo sẽ góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, bảo vệ môi trường Trong bối cảnh hiện nay, phát triển du lịch biển, đảo còn có tác dụng quan trọng trong việc đảm bảo an ninh quốc phòng và chủ quyền biên giới trên biển cho quốc gia Tuy nhiên, việc phát triển du lịch biển, đảo cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với môi trường và cộng đồng dân cư vùng ven biển cụ thể:

– Tình trạng khai thác quá mức và thiếu quy hoạch xuất phát từ lợi ích trước mắt Tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải từ hoạt động du lịch đã đe dọa đến sự phát triển của các hệ sinh thái cảnh quan vùng biển, đảo

– Tạo sự phân hóa giàu nghèo ngày càng cao tại các địa phương, một bộ phận người dân không theo kịp mức chi tiêu cao tại các khu du lịch nhất là những người không được hưởng lợi từ các hoạt động du lịch vì vậy đời sống người dân ngày càng trở nên khó khăn hơn

– Làm gia tăng các tệ nạn xã hội, làm phức tạp hơn tình hình an ninh chính trị tại các địa

điểm du lịch Lối sống xa hoa hướng ngoại của bộ phận giới trẻ tại các địa phương 1.1.2.6 Các tiêu chí phát triển du lịch biển

a Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch biển:

Cơ sở hạ tầng là một trong những nhân tố quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh Nó là yếu tố đảm bảo về điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh được thực hiện Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch bao gồm: phát triển hệ thống cơ sở lưu trú;

Trang 30

phát triển hệ thống nhà hàng; phát triển các trung tâm mua sắm, các khu bán hàng lưu niệm, các khu vui chơi, giải trí; phát triển các công ty kinh doanh du lịch

b Phát triển sản phẩm du lịch biển

* Phát triển số lượng sản phẩm du lịch biển bằng cách:

- Gia tăng số lượng các sản phẩm riêng rẽ bằng cách tạo ra sản phẩm mới hoặc bổ sung hoàn thiện sản phẩm hiện có

Liên kết nhiều dịch vụ thành sản phẩm trọn gói mới như: Nghỉ dưỡng - tắm biển - thể thao - mua sắm; Nghi dưỡng - tắm biển - thể thao - hội thảo Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, bao gồm phát triển cả du lịch biển, du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa và du lịch công việc tạo nên sự hấp dẫn níu chân du khách

* Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch biển:

Chất lượng sản phẩm du lịch được thể hiẹn qua những thuộc tính độc đáo, đặc thù,

sự thân thiện, bầu không khí trong lành, sự hoang sơ của thiên nhiên mang lại sự hài lòng, thích thú cho khách hàng khi hưởng thụ nó Việc nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch biển được thể hiện thông qua: nâng cao mức độ hài lòng, thỏa mãn của khách du lịch, gia tăng khả năng thu hút khách hàng

Nhóm chỉ tiêu phản ánh phát triển sản phẩm du lịch biển:

- Gia tăng số lượng các dịch vụ du lịch biển

- Gia tăng mức độ hài lòng của khách du lịch biển

c Phát triển nguồn nhân lực du lịch biển:

Phát triển nguồn nhân lực du lịch biển bao gồm cả phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực du lịch biển

Nhóm chỉ tiêu đánh giá phát triển nguồn nhân lực du lịch biển: gia tăng số lượng lao động ngành du lịch biển; trình độ nguồn nhân lực du lịch biển và chất lượng phục vụ ngày càng nâng cao

Trang 31

d Gia tăng kết quả và đóng góp của du lịch biển:

Sự phát triển của du lịch biển cuối cùng được thể hiện bằng sự gia tăng các kết quả tạo ra trong ngành du lịch và gia tăng sự đóng góp của du lịch biển vào ngành du lịch nói chung và gia tăng đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Nhóm chi tiêu đánh giá kết quả và đóng góp của du lịch biển: gia tăng lượng khách

du lịch biển và số ngày lưu trú; gia tăng mức chi tiêu của du khách; mức gia tăng doanh thu của du lịch biển; gia tăng tỷ lệ đóng góp của du lịch biển vào doanh thu ngành du lịch; gia tăng tỷ lệ đóng góp của du lịch biển vào giả trị sản xuất/GDP của địa phương; gia tăng việc làm, thu nhập cho người dân địa phương; gia tăng đóng góp vào ngân sách

1.1.2.7 Một số loại hình du lịch biển, đảo

Du lịch biển, đảo là một loại hình du lịch tổng hợp được tiến hành thông qua việc khai thác tất cả những tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, tuy nhiên những giá trị

du lịch tự nhiên vẫn là yếu tố nổi trội tạo nên sự đặc trưng và hấp dẫn cho loại hình du lịch này Dựa trên những đặc điểm khai thác của du lịch của biển, đảo người ta có thể phát triển một số loại hình du lịch sau:

Trang 32

Hình 2.1 Bản đồ phân bố đơn vị hành chính TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

( Nguồn : UBND Thành phố Tam Kỳ)

Thành phố Tam Kỳ có toa độ địa lý: kéo dài từ 15°49'B - 15°65'B và từ 108°43'Ð - 108°58'Đ

+ Phía Bắc giáp huyện Thăng Bình và Phú Ninh

+ Phía Nam giáp huyện Núi Thành

+ Phía Đông giáp biển Đông

+ Phía Tây giáp huyện Phú Ninh Với vị trí địa lý đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động phát triển du lịch của thành phố, giao lưu với huyện lân cận, dễ dàng di chuyển đến các điểm du lịch gần đó như Hồ Phú Ninh, tháp Chiên Đàn,

Tam Kỳ là nơi đặt các cơ sở hành chính của tỉnh Quảng Nam và các cơ quan chỉ huy quân sự chính của tỉnh Quảng Nam

TP Tam Kỳ có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội của Tỉnh Với tiềm năng địa thế đặc thù, gần các vùng kinh tế trọng điểm và sân

Trang 33

bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà, cảng Tam Hiệp, thành phố Tam Kỷ đã hội tu được các điều kiện thuận lợi để phát triển thành một đô thị loại 2 với vai trò là thành phố tỉnh lỵ của

tỉnh Quảng Nam và tương lai sẽ là trọng điểm phát triển của cả khu vực

b Đặc điểm tự nhiên

- Địa hình

Thành phố Tam Kỳ có dạng địa hình vùng đồng bằng duyên hải Nam Trung bộ, là vùng chuyển tiếp từ dạng đồi núi cao phía Tây, thấp dần xuống vùng đồng bằng, thềm bồi của các con sông trước khi đổ ra biển Đông Địa hình có dạng đồi thấp, và đồng bằng được hình thành do bồi tích sông, biển và quá trình rửa trôi Hướng dốc chung của địa hình từ Tây sang Đông, địa hình toàn khu vực bị chia cắt nhiều bởi các sông, suối thuộc lưu vực của sông Trường Giang

Tên gọi “Tam Kỳ" cũng được định vị theo hình sông thể núi của vùng đất này, nơi

có ba gò đất cao cùng ngã ba sông Nhìn từ ngoài biến vào sẽ thấy 3 gò đất cao nhô lên thành hình tam giác: núi An Hà, Quảng Phú và Trà Cai Khi định vị từ 3 ngọn núi, thuyền

sẽ vào cửa sông và gặp bên đò, nơi có ba ngả rẽ: sông Tam Kỳ, sông Trường Giang và sông Bàn Thạch Nằm ở đồng bằng ven biển, Tam Kỳ hình thành 2 vùng rõ rệt: vùng ven biển gồm các xã Tam Thanh, Tam Thăng, Tam Phú; vùng đồng bằng gồm các xã, phường nằm dọc đường quốc lộ 1A, đường sắt Tam Kỳ có nhiều núi thấp xen kẽ với đồng ruộng và khu dân cư như: núi đất Quảng Phú, An Hà (Tam Phú), núi Quánh (Tam Ngọc)

Vùng ven biến: gồm các xã Tam Thanh, Tam Thăng, Tam Phú, đa phần là đất cát,

sản xuất chủ yếu là hoa màu, trồng rừng chống cát bay, nuôi trồng và đánh bắt hải sản, Trong quá trình công nghiệp hoá thì vùng này có lợi thế về mặt bằng xây dựng thuận lợi, gần các sân bay, bến cảng, các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và lưới điện quốc gia Cũng như phát triển du lịch biển, du lịch sông nước, du lịch sinh thái

Vùng đồng bằng: tương đối đơn điệu về địa hình, nên nó ít gây cảm hứng du lịch ,

gồm các xã, phường nằm dọc đường quốc lộ 1A, đường sắt, nhỏ, được phù sa bồi đắp

Trang 34

hàng năm Đồng bằng Tam Kỳ gồm phần lớn là những ruộng trũng dọc theo sông Tam

Kỳ và Trường Giang, gồm đất phù sa và đất pha cát; phía tây quốc lộ 1 ruộng cao hơn xen lẫn vùng thổ canh gồm đất pha cát và đất bạc màu Bên cạnh đó lại có một số khoảnh ruộng sâu ngập úng thường xuyên không thể trồng lúa được, người ta chi có thể trồng lác và thả sen Tạo thêm nét phong phú cho cảnh sắc nơi đây Đồng thời nó cũng rất bình

dị, chân chất của nét quê

- Khí hậu

Thành phố Tam Kỳ nằm trong phân vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng âm, mưa nhiều và mưa theo mùa Nhiệt độ trung bình năm của TP Tam Kỳ: 25,9°C Trong năm

có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô Mùa mưa chủ yếu tập trung nhiều vào các tháng

9 đến tháng 12, lượng mưa chiếm 70-75% cả năm Lượng mưa tháng trong thời kỳ này đạt 400mm, tháng 10 lớn nhất 434mm Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, lượng mưa chỉ chiếm 25-30% cả năm

Vào những tháng mưa thì hoạt động du lịch ít phát triển, du lịch TP Tam Kỳ chủ yếu phát triển vào mùa hè, vì Tam Kỳ phát triển mạnh du lịch biển khi nhiệt đô cao, khi

có gió Tây khô nóng hoạt động: Gió Tây khô nóng xuất hiện vào khoảng tháng 5 đến tháng 8, mỗi tháng có từ 10-15 ngày khô nóng Thời gian này hoạt động tắm biển, thể thao trên biển rất phát triển Chính vì vậy khí hậu được đánh giá là một trong những nhân

tố giúp cho du lịch của thành phố phát triển bền vững thông qua nhiêt độ, độ ẩm thích hợp với nghỉ dưỡng, nguồn nước dồi dào Sẽ góp phần thu hút và phục vụ khách du lịch trong thời gian tham quan và nghĩ dưỡng

- Thủy văn

Trang 35

Hình 2.2 Bản đồ phân bố thủy hệ TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

( Nguồn : UBND Thành phố Tam Kỳ)

Sông ngòi có vai trò hết sức quan trọng trong việc thu hút khách du lịch của thành phố Bởi du lịch của thành phố Tam Kỳ còn có khả năng phát triển thep các dòng sông

vì các dòng sông này còn giữ nguyên vẻ hoang sơ tuyệt đẹp, ví du vùng đầm phá Tam

Kỳ lưu thông với hai sông Bàn Thạch và Trường Giang nối với khu Côn Thị Bạch Vân hình thành một vùng du lịch sinh thái sông nước, tiếp đến là vùng Sông Đẩm - Bãi Sậy Đây là một vùng đầm rộng khoảng 180 ha, có diện tích mặt nước khoảng 140ha, chung quanh lau sậy mọc phủ kín, không gian ở đây thơ mộng, có sức quyến rũ riêng

Sông Tam Kỳ: Là hợp lưu của 10 con sông suối nhỏ, bất nguồn từ các dãy núi phía Tây, chảy theo hướng Tây - Đông xuống dòng chính tại Xuân Bình - Phú Thọ, xã Tam Trà, huyện Núi Thành, rồi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam chảy ra cửa An Hòa (Núi Thành) Diện tích hưu vực khoảng 800 km² Do nằm trong vùng nhiều mưa, rừng đầu nguồn ít bị tàn phá nên dòng chảy tương đối điều hòa theo mùa

Trang 36

Sông Bàn Thạch: Là sông lớn nhất chảy qua thành phố Tam Kỳ, chảy từ phía Tây sang phía Đông của thành phố Sông Bàn Thạch hợp hưu với sông Tam Kỳ tại khu vực phía Đông Thành phố, tạo thành sông Trường Giang dài 12km trước khi đổ ra biển Ngoài hai hệ thống sông trên, Tam Kỳ còn có sông Trường Giang là sông nước mặn và nước lợ chạy sát biến nối cửa An Hòa với cửa Đại - Hội An, khi lũ lớn chỉ ảnh hưởng tràn bờ vùng sát ven sông có cao độ nền <2,5m

Sông Trường Giang không có thượng lưu và hạ lưu, chạy ngang, song song với bờ biển Quảng Nam Sông dài trên bảy chục cây số, nổi hạ lưu hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn ở phía Bắc với hạ hưu hệ thống sông Tam Kỳ - An Tân ở phía Nam Nguồn nước của Trường Giang được thu nhận từ hai hệ thống sông này Ở hai đầu Bắc và Nam, sông đều thông với biển Phía Bắc, Trường Giang gặp Thu Bồn rồi cùng ra biển qua Cửa Đại Phía Nam, Trường Giang hòa với sông Tam Kỳ, An Tân rồi đổ ra biển thông qua Cửa

Lở và cửa An Hòa

Tóm lại ta có thể thấy những con sông này vừa cung cấp nguồn nước tưới cho ruộng đồng vào mùa khô, đồng thời cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thoát nước vào mùa lũ lụt Dòng sông là nơi sinh sống của nhiều loại cá, tôm, cua nước lợ có giá trị kinh tế cao, là môi trường sinh sống của một số loài chim di trú như vịt trời, cò, vạc, le le cư dân sống trên đôi bờ con sông đã kết hợp nghề nông với đánh bắt thủy sản trên sông, trồng sen, Thông qua hoạt nông nông nghiệp của người dân xung quanh khu vực sông đầm đã góp phần phong phú thêm cảnh sắc nơi đây, làm cho khu du lịch sinh

thái sông đầm thêm màu sắc

- Sinh vật

Có thể nói Tam Kỳ có sự đa dạng sinh học lớn, tài nguyên động thực vật phong phú Chính vì vậy mà hệ sinh thái sông đầm có một nguồn đa dạng động thực vật là điều kiện cho khách du lịch, các nhà nghiên cứu về đây: Có khoảng trên 250 loài có giá trị, trong đó nhóm làm thuốc có trên 100 loài, nhóm cho gỗ 85 loài, nhóm cây làm cảnh, bóng mát 66 loài, nhóm cây cho quả và lương thực, thực phẩm 50 loài, nhóm cây cho

Trang 37

sợi và nguyên liệu thủ công (14 loài), nhóm cây cho nhựa, dầu, tinh dầu 22 loài Động vật cảnh trong khu sinh thái: Là những loại có hình dạng, màu sắc đẹp, giọng hót hay phục vụ tốt cho các hoạt động du lịch, thăm thú, tham quan

Hệ sinh thái biển : Tài nguyên thủy sinh ở vùng biển khá đa dạng về chủng loại và

số lượng Sinh vật phù du có 174 loài thực vật và 178 loài động vật Thảm có biển với 7

loài, phân bố rải rác khắp vùng nước ven bờ

b Đặc điểm kinh tế - xã hội

Đặc điểm kinh tế

Các ngành kinh tế ở Tam Kỳ hiện nay đang phát triển theo hướng tăng nhanh tỷ trọng thương mại, dịch vụ và công nghiệp giảm dần, tỷ lệ nông nghiệp giảm Những năm qua, cơ cấu kinh tế TP Tam Kỳ chuyển dịch khá nhanh và tăng mạnh theo hướng thương mại - dịch vụ và công nghiệp Tốc độ tăng trưởng hàng năm của hai ngành này luôn đạt

từ 25 - 28%

Cụm công nghiệp Trường Xuân đã được đầu tư hoàn chỉnh một phần, cảng cá Tam Phú đã được đầu tư đi vào hoạt động ổn định và ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả Các lĩnh vực may mặc, chế biến đồ gỗ, cơ khí, điện máy tiếp tục phát triển Các làng nghề và sản phẩm truyền thống như: Trà, tàu thuyền, bún, chiếu cói tiếp tục phát triển ổn định Có những thương hiệu đã được khẳng định như: Trà Mai Hạc, bún Phương Hòa, chiếu cói Thạch Tân, vv Ở Tam Kỳ đã hình thành một số sản phẩm mới như tranh tre, có sức thu hút khách hàng Bước đầu đã hình thành một số vùng chuyên canh rau sạch, hoa, cây cảnh ở một số xã vùng ven của thành phố Nghề nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy, hải sản ở các xã ven biển phát triển khá mạnh

Đặc điểm xã hội

- Dân số:

Theo niên giám thống kê của thành phố Tam Kỳ năm 2019, dân số của thành phố

là 175.240 người, bố trí tại 9 phường và 4 xã

Ngày đăng: 06/05/2021, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w