CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRANH BIẾM HỌA TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI 1914 – 1945 Ở TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Trang 1Đề tài:
SỬ DỤNG TRANH BIẾM HỌA TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI (1914 - 1945) Ở TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN ĐÀ
NẴNG THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thương Tâm
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2Đề tài:
SỬ DỤNG TRANH BIẾM HỌA TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI (1914 - 1945) Ở TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN ĐÀ
NẴNG THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thương Tâm
Lớp: 16 SLS
Cán bộ HDKH: ThS Trương Trung Phương
Đà Nẵng, 01/2020
KHOA LỊCH SỬ - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về
đề tài của mình
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2020 Sinh viên
Nguyễn Thị Thương Tâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với mỗi sinh viên, khóa luận tốt nghiệp là sản phẩm nghiên cứu khoa học đầu đời, cũng là thành quả của 4 năm học tập và rèn luyện trên giảng đường Đại học Chính vì vậy, việc hoàn thành khóa luận đòi hỏi rất nhiều công sức, sự chuyên tâm, nhiệt huyết cũng như thời gian của người viết Một trong những yếu tố không nhỏ tạo nên “sản phẩm trí tuệ” này là sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn, giáo viên cố vấn học tập, các thầy cô đã giảng dạy cũng như sự ủng hộ của gia đình và bạn bè
Trước hết, bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo ThS Trương Trung Phương, người trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình làm đề tài Không chỉ gợi ý và hướng dẫn em trong quá trình tìm hiểu, đọc tài liệu và lựa chọn đề tài, thầy còn tận tình chỉ bảo em những kĩ năng phân tích, khai thác tài liệu để có được những lập luận phù hợp với nội dung của khóa luận Nhất là thầy còn rất nhiệt tình trong việc đốc thúc quá trình viết khóa luận, đọc và đưa ra những nhận xét, góp ý để
em có thể hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất
Bên cạnh đó, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn
là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Em chân thành cảm ơn trường THPT Nguyễn Trãi và trường THPT Thái Phiên
đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em tiến hành khảo sát, thực nghiệm tại trường
Cuối cùng, em xin được gửi đến bố mẹ, gia đình và bạn bè lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc vì những sự động viên, ủng hộ và cổ vũ tinh thần trong suốt quá trình gian nan và vất vả này
Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của một sinh viên, khó tránh khỏi sai sót, rất mong các thầy, cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp thầy, cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn đồng thời có điều kiện bổ sung, nâng cao ý thức của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Thương Tâm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu 4
4.1 Mục đích nghiên cứu 4
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục của công trình nghiên cứu 5
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRANH BIẾM HỌA TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI (1914 – 1945) Ở TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 7
1.1 Cơ sở lí luận của việc sử dụng tranh biếm họa trong DHLS ở trường THPT 7
1.1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm cơ bản được sử dụng trong đề tài 7
1.1.1.1 Khái niệm tranh ảnh nói chung 7
1.1.1.2 Khái niệm tranh biếm họa 8
1.1.1.3 Khái niệm năng lực, năng lực người học 9
1.1.2 Phân loại tranh biếm họa 11
1.1.2.1 Tranh biếm họa về nhân vật lịch sử 11
1.1.2.2 Tranh biếm họa về một sự kiện lịch sử cụ thể 12
1.1.2.3 Tranh biếm họa về một quá trình lịch sử 14
1.1.3 Ý nghĩa của việc sử dụng tranh biếm họa trong DHLS ở trường THPT theo hướng phát triển năng lực HS 15
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng tranh biếm họa trong dạy học LSTG (1914 - 1945) ở trường THPT 19
1.2.1 Thực trạng của việc DHLS ở trường THPT 19
1.2.2 Những thuận lợi và khó khăn khi khai thác và sử dụng tranh biếm họa trong dạy học LSTG (1914 - 1945) ở trường THPT 21
Trang 61.2.2.1 Thuận lợi 21
1.2.2.2 Khó khăn 22
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG TRANH BIẾM HỌA ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI (1914 - 1945) Ở TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN ĐÀ NẴNG THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 24
2.1 Khái quát nội dung của phần LSTG giai đoạn 1914 – 1945 ở trường THPT 24
2.1.1 Giai đoạn từ năm 1914 - 1918 24
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1918 - 1939 27
2.1.3 Giai đoạn từ năm 1939 - 1945 32
2.2 Hệ thống tranh biếm họa sử dụng trong dạy học LSTG (1914 - 1945) theo hướng phát triển năng lực HS 35
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRANH BIẾM HỌA TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI (1914 - 1945) Ở TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN ĐÀ NẴNG THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 38
3.1 Nguyên tắc lựa chọn, sử dụng tranh biếm họa trong dạy học LSTG toàn bài ở trường THPT theo hướng phát triển năng lực HS 38
3.1.1 Nguyên tắc lựa chọn tranh biếm họa 38
3.1.2 Nguyên tắc sử dụng tranh biếm họa 39
3.1.3 Quy trình sử dụng tranh biếm họa trong DHLS 42
3.2 Biện pháp sử dụng tranh biếm họa trong dạy học LSTG giới giai đoạn 1914 - 1945 trường THPT trên địa bàn Đà Nẵng theo hướng phát triển năng lực HS 44
3.2.1 Sử dụng tranh biếm họa trong dạy học bài cung cấp kiến thức mới 44
3.2.2 Sử dụng tranh biếm họa trong bài sơ kết 51
3.2.3 Sử dụng tranh biếm họa trong đổi mới kiểm tra, đánh giá 58
3.2.4 Sử dụng tranh biếm họa tổ chức trò chơi lịch sử 64
3.3 Thực nghiệm sư phạm 65
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 65
3.3.2 Kết quả thực nghiệm 66
3.3.3 Kết quả khảo sát 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC
Phụ lục 1 P1 Phụ lục 2 P18 Phụ lục 3 P19 Phụ lục 4 P21
Trang 7Phụ lục 5 P23 Phụ lục 6 P24 Phụ lục 7 P34 Phụ lục 8 P36 Phụ lục 9 P39
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế giới trong nửa đầu thế kỉ XXI, đang chứng kiến những tác động mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kéo theo sự thay đổi trong đời sống kinh tế - xã hội, cũng những thời cơ và thách thức cho các dân tộc trong đó có Việt Nam Bối cảnh đó, đã đặt ra cho nền giáo dục nước ta nhiệm vụ phải không ngừng đổi mới để tham gia vào quá trình hội nhập toàn cầu hóa về giáo dục, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ở trường trung học phổ thông (THPT), mỗi môn học có những đặc trưng riêng của mình đều góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục Với tư cách là một khoa học, Lịch
sử có vai trò quan trọng trong việc giáo dục toàn diện học sinh (HS) Từ những hiểu biết về quá khứ, HS hiểu rõ truyền thống dân tộc, tự hào với quá trình dựng nước và giữ nước của tổ tiên Từ đó xác định nhiệm vụ trong hiện tại và có thái độ đúng đối với
sự phát triển hợp quy luật của tương lai Đồng thời, giúp những giáo viên (GV) dạy sử thêm yêu mến, tự hào về bộ môn và nhận thức rõ nhiệm vụ của mình trong việc đẩy mạnh, nâng cao chất lượng dạy học lịch sử (DHLS) ở THPT
Dạy học là một quá trình nhận thức, một trong những con đường để giúp quá trình nhận thức đạt hiểu quả cao đó là “đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” và phương tiện hết sức quan trọng mang lại thành công cho quá trình nhận thức này chính là các “đồ dùng trực quan” Đồ dùng trực quan nói chung có vai trò rất lớn trong việc giúp HS nhớ kĩ, hiểu sâu sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan Vì vậy, cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm lịch
sử, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của HS
Hiện nay, với định hướng dạy học phát triển năng lực người học, đòi hỏi người
GV phải biết thiết kế, điều khiển hoạt động nhận thức thông qua các “đồ dùng trực quan”, tạo điều kiện cho HS tự tìm tòi, tự chiếm lĩnh, tạo ra các cơ hội để HS có thể suy nghĩ nhiều hơn, hoạt động nhiều hơn và có trách nhiệm nhiều hơn đối với việc học tập của mình Vì thế, sử dụng “đồ dùng trực quan” đã trở thành một trong những phương pháp khá quan trọng trong hoạt động dạy học, nó vừa là phương tiện giúp HS khai thác kiến thức, vừa là nguồn tri thức đa dạng, phong phú mà HS rất dễ tiếp thu
Là một phương tiện dạy học đã được sử dụng ở nhiều quốc gia phát triển như Anh, Đức, Pháp, Hoa Kì… tranh biếm họa đã mang lại các giá trị to lớn vượt ra ngoài
Trang 10những mục tiêu mà nền giáo dục đặt ra Nhưng đối với nước ta, trong quá trình dạy học việc sử dụng tranh biếm họa còn mới mẻ Với bộ môn Lịch sử, những vấn đề phức tạp của chính trị, kinh tế - xã hội thế giới và các vấn đề về đối ngoại không được phán ánh đầy đủ và sâu sắc trong hệ thống bản đồ, tranh ảnh trong sách giáo khoa (SGK) thì chúng lại được thể hiện rõ nét trong tranh biếm họa Tranh biếm họa thực sự là tấm gương đầy đủ phản chiếu các vấn đề đương đại theo các con đường tiếp cận khác nhau Với sức mạnh biểu đạt riêng biệt của mình, tranh biếm họa còn có khả năng tác động đến thái độ, hành vi của người học, giúp người học định hướng đúng giá trị sống cho mình thông qua những góc khuất về cuộc sống mà tranh biếm họa phản ảnh được
Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài “Sử dụng tranh biếm họa trong dạy học Lịch sử thế giới (1914 - 1945) ở trường THPT trên địa bàn Đà Nẵng theo hướng phát triển năng lực học sinh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trước tình hình như hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) lịch sử
là một quá trình thường xuyên và kiên trì, trong đó có nhiều mối quan hệ chặt chẽ với nhau Vì thế, nó luôn được đề cập và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, quản lý giáo dục, GV trực tiếp giảng dạy, cụ thể:
Các tác giả Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, trong
cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”, tập 1, tập 2 (NXB Đại học Sư phạm, 2012), các
tác giả đã kế thừa kết quả của những lần xuất bản trước tập trung phân tích cở sở lý luận của PPDH lịch sử; những vấn đề của phương pháp giảng dạy lịch sử về: Chức năng, nhiệm vụ, quá trình tiến hành giáo dục lịch sử ở trường phổ thông, phát triển năng lực nhận thức và thực hành cho HS học tập lịch sử; hệ thống các PPDH lịch sử ở trường phổ thông Nhưng về nội dung cũng phát triển và nâng cao khá nhiều, nhằm phục vụ mục tiêu đào tạo của Trường, của khoa Lịch sử nhất là việc đổi mới PPDH ở trường THPT Đặc biệt ở tập 2, các tác giả đã nêu lên những vấn đề như: Về biểu tượng lịch sử; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập; các hình thức tổ chức hoạt động nội ngoại khóa trong DHLS Giúp chúng ta hiểu thế nào là biểu tượng lịch sử, vai trò và việc phân loại biểu tượng, các biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng lịch sử Cho thấy
sự đầu tư nghiên cứu giáo dục nghiêm túc, kỹ lưỡng của các tác giả, cuốn sách vừa cung cấp cơ sở lý luận cho việc lựa chọn hình thức và đổi mới phương pháp tổ chức giảng dạy lịch sử ở trường THPT của luận án
Tác giả Nguyễn Thị Côi (chủ biên) trong cuốn “Kênh hình trong dạy học Lịch sử
ở trường THPT” tập 1 (NXB Đại học Sư phạm, 2012) phần Lịch sử Việt Nam đã
Trang 11nghiên cứu những vấn đề cơ bản như hệ thống kênh hình, về vai trò, chức năng, nguyên tắc của sử dụng hệ thống kênh hình trong SGK cho việc giảng dạy lịch sử trường phổ thông Cuốn sách cung cấp những cơ sở của hệ thống kênh hình, các loại tranh ảnh và đi sâu khai thác từng tranh ảnh trong hệ thống SGK, các phương pháp phù hợp để tạo biểu tượng lịch sử cho HS Đây là một trong những công trình nghiên cứu vô cùng ý nghĩa, cùng sự đầu tư cho nghiên cứu giáo dục rât chi tiết, khoa học
Các tác giả Nguyễn Anh Dũng, Trần Vĩnh Tường, “Những vấn đề chung về bộ môn phương pháp dạy học Lịch sử ở trường Cao đẳng sư phạm”, (NXB Đại học Sư
phạm, 2003) nghiên cứu về vai trò, nhiệm vụ của phân môn Lịch sử ở trường phổ thông
Với các tác giả Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Trần Viết Thụ, Nguyễn Mạnh Khởi, Đoàn Văn Hưng, Nguyễn Thị Thúy Bình, (NXB Đại học Sư
phạm, 2011), viết cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử”, đưa ra
những kĩ năng cơ bản mà người giáo cần phải có, làm gì để việc giảng dạy bộ môn Lịch sử đạt hiệu quả cao, các biện pháp sư phạm giúp GV nghiên cứu về kĩ năng nghiệp vụ thật tốt cho quá trình giảng dạy Ngoài ra, vấn đề này còn được đề cập trong một số công trình của PGS.TS Trịnh Đình Tùng, “Hệ thống các phương pháp dạy học Lịch sử ở trường THCS - Sách CĐSP”, xb lần 2 NXB Giáo dục 2001
Các tác giả Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường ở cuốn “Lý luận dạy học hiện đại
- Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học”, (NXB Đại học Sư
phạm, 2018) đã tập trung nghiên cứu về các vấn đề như: Các chủ đề cơ bản của lí luận dạy học đại cương; phát triển năng lực và mục tiêu dạy học học, nội dung dạy học, PPDH; bài tập định hướng năng lực; đánh giá và cho điểm thành tích học tập cho HS
Ở cuốn sách này cung cấp nhiều lý luận, quan điểm dạy học khác nhau của nhiều nhà nghiên cứu, các tác giả đã tập trung nghiên cứu sâu, đa dạng về lý luận giảng dạy khá mới đặc biệt về định hướng phát triển năng lực cho người học
Về việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử đã được đề cập khá rõ bài viết của tác
giả Đặng Văn Hồ, (Khoa Lịch sử - Đại học Sư phạm - Đại học Huế) với nhan đề “Tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử để giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh” đã nghiên
cứu và có những lí luận cơ bản về tạo biểu tượng nhân vật lịch sử, vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử, các nguyên tắc và một số biện pháp cụ thể
Bên cạnh đó, Phạm Văn Châu (2014), “Sử dụng tranh ảnh theo hướng phát triển năng lực của học sinh trong dạy học Lịch sử ở THPT”, Tạp chí dạy và học ngày nay, (11-
2014), tr.46-48 đã nêu được tầm quan trọng và vai trò của sử dụng tranh ảnh lịch sử
Trang 12nói chung theo định hướng phát triển các năng lực cho HS nhưng chưa nêu rõ cụ thể
về sử dụng tranh biêm họa trong DHLS
Đặc biệt ở cuốn “Sử dụng tranh biếm họa trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông” do các tác giả Nguyễn Văn Ninh (chủ biên), Dương Tấn Giàu, Lê Thị Huyền,
Tống Thị Quỳnh Hương, Trương Trung Phương, (2019), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội cùng nỗ lực sưu tầm, biên soạn thành công, cho thấy được sự đầu tư và là một công trình nghiên cứu với mục đích phục vụ giáo dục nghiêm túc, kỹ lưỡng của các tác giả Hiện nay có nhiều sách chuyên khảo về việc đồ dùng trực quan, mà các cuốn về
sử dụng kênh hình ở cả cấp THCS và THPT nội dung về cả lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới (LSTG) đã được xuất bản rộng rãi Tuy nhiên, ở cuốn sách này, nhóm tác giả
đã đi sâu vào một mảng về đồ dùng trực quan đó là tranh biếm họa, đây chính là tư liệu vô cùng hữu ích để phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy theo định hướng đổi mới trong DHLS nhất là trong đổi mới phương pháp giảng dạy Lịch sử hiện nay Qua quá trình khai thác tài liệu, tôi nhận thấy đã có nhiều công trình đề cập sâu
về cơ sở lí luận, thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong DHLS; một số công trình đã đi sâu giải quyết yêu cầu, nguyên tắc, biện pháp sử dụng tranh ảnh nói chung và tranh biếm họa nói riêng song chưa có công trình cụ thể nào đề cập đến thời gian và không gian được nêu ra ở trong đề tài Đây chính là nhiệm vụ mà đề tài sẽ tập trung giải quyết
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Việc sử dụng tranh biếm họa trong dạy học LSTG (1914 - 1945) ở trường THPT trên địa bàn Đà Nẵng theo hướng phát triển năng lực HS
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận và thực tiễn việc sử dụng tranh biếm họa trong dạy học LSTG (1914 – 1945) ở bài nội khóa
- Thực nghiệm sư phạm ở các trường THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
4 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu
Trang 13- Đề xuất các biện pháp sư phạm có tính khả thi nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học ở trường THPT
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lý luận về vấn đề sử dụng tài liệu tranh ảnh lịch sử nói chung, sử dụng tranh biếm họa nói riêng
- Tiến hành khảo sát thực trạng sử dụng tranh biếm họa ở trường THPT hiện nay
- Tìm hiểu chương trình, nội dung SGK Lịch sử lớp 11 phần LSTG (1914 - 1945), xác định những nội dung tranh biếm họa có thể sử dụng
- Để đề xuất những biện pháp sử dụng tranh biếm họa sư phạm theo hướng phát triển năng lực của HS trong việc tổ chức dạy học trên lớp cũng như ngoài giờ học
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm khẳng định tính khả thi của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Nghiên cứu các quan điểm của các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác - Lênin bàn về giáo dục, các quan điểm cơ bản về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các tài liệu về: Tài liệu giáo
dục học, PPDH và chương trình SGK cũng như các tài liệu lịch sử có liên quan
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
- Đồng thời, đề tài lần này giúp cho việc học tập, nghiên cứu PPDH của HS, sinh viên trong giai đoạn đổi mới Khơi dậy, tạo hứng thú cho các em trong giờ học Lịch sử giúp các em hình thành theo hướng phát triển năng lực cho HS
- Sưu tầm, bổ sung thêm nguồn tranh biếm họa phục vụ trong dạy học LSTG (1914 – 1945)
7 Bố cục của công trình nghiên cứu
Trang 14Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tranh biếm họa trong dạy học lịch sử thế giới (1914 - 1945) ở trường THPT trên địa bàn Đà Nẵng theo hướng phát triển năng lực học sinh
Chương 2 Hệ thống tranh biếm họa được sử dụng trong dạy học lịch sử thế giới (1914
- 1945) ở trường THPT trên địa bàn Đà Nẵng theo hướng phát triển năng lực học sinh
Chương 3 Phương pháp sử dụng tranh biếm họa trong dạy học lịch sử thế giới (1914 - 1945) ở trường THPT trên địa bàn Đà Nẵng theo hướng phát triển năng lực học sinh
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRANH
BIẾM HỌA TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI (1914 – 1945)
Trong lý luận dạy học, nguyên tắc trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản để nâng cao chất lượng, hiệu quả gây hứng thú, phát huy các năng lực cũng như tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Nhưng, do những điều kiện khác nhau, việc
sử dụng đồ dùng trực quan nói chung và sử dụng tranh biếm họa nói riêng theo hướng phát triển năng lực HS trong DHLS hiện nay ở trường phổ thông vẫn chưa được sự quan tâm đúng mức Cho nên, việc tìm hiểu cơ sở lí luận để sử dụng tranh biếm họa trong DHLS là một điều vô cùng quan trọng cho đề tài
1.1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm cơ bản được sử dụng trong đề tài
1.1.1.1 Khái niệm tranh ảnh nói chung
Trên cơ sở góc độ tiếp cận các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về tranh ảnh cụ thể:
Theo Nguyễn Như Ý: “Tranh là những tác phầm hội họa, phản ánh hiện thực, tâm trạng bằng đường nét, màu sắc” [31, tr136] “Ảnh là những hình thu, chụp được bằng máy ảnh hoặc các dụng cụ quang học khác” [31, tr.295]
Tác giả Hồ Văn Thủy cho rằng:
- “Tranh là nhuững tác phẩm hội họa, đồ họa phản ánh hiện thực bằng đường nét, màu sắc, hình mảng Tranh có thể vẽ trên giấy, vải, gỗ, tường… bằng nhiều chất liệu khác nhau như chì, than, mực, màu bột, màu nước, màu dầu, sơn mài, khắc gỗ, khắc đồng…
Trang 16- “Ảnh là tác phẩm nghệ thuật nhiếp ảnh do nghệ sĩ thực hiện bằng phương pháp máy ảnh Khi chụp ảnh, dáng vẽ bên ngoài của đối tượng đều được thu vào máy” [27,
tr 152-153]
Từ các định nghĩa trên có thể hiểu tranh ảnh là một thuật ngữ dùng để chỉ một bức vẽ, một bức hình thu chụp được nhằm phản ánh một phần nào đó của hiện thực và được sử dụng làm phương tiện dạy học Trong loại DHLS phương tiện này càng có ý nghĩa hơn quan trọng vì đối tượng học tập của bộ môn Lịch sử là các sự kiện đã diễn
ra trong quá khứ, các nhân vật lịch sử của dân tộc mà chúng ta không thể trực tiếp xem, cũng không thể tái tạo lại trong phòng thí nghiệm Tranh, ảnh lịch sử là những kênh thông tin về các mảng hoạt động khác nhau của lịch sử xã hội loài người được chuyển tải thành hình ảnh nhằm bổ sung, cụ thể hóa nôi dung, giải thích cho những sự kiện lịch sử nhân vật lịch sử đã qua
1.1.1.2 Khái niệm tranh biếm họa
Thuật ngữ “tranh biếm họa” có gốc latinh là “Carrus” còn ở tiếng Ý “caricare” nghĩa là “cường điệu” Từ những năm cuối thế kỷ XVI, thuật ngữ này xuất hiện trong
các bức tranh của họa sĩ Carracci người Ý Còn ở Đức xuất hiện muộn hơn, thuật ngữ
“karikatur” có nghĩa là “tranh biếm họa” cho tới sau này vào giữa thế kỷ XIX mới được sử dụng rộng rãi Trong từ điển tiếng Đức “tranh biếm họa” gồm 2 lớp nghĩa: Thứ nhất là “những bức tranh hài hước, phóng đại hoặc tương tự về một người, một vật hay sự kiện này thông qua sự hài hước hoặc nhấn mạnh châm biếm bằng cách chú trọng vào một số tính chất, đặc trưng để chế giễu”, lớp nghĩa thứ hai, ở cấp độ mạnh hơn nghĩa là “nhạo báng” [34]
Ở Việt Nam, tranh biếm họa được quan niệm là “tranh châm biếm, tranh đả kích, tranh vui, hí họa.” [34]
Theo Nguyễn Như Ý: Biếm nghĩa là chê, biếm họa là tranh châm biếm [32,
tr.157]
Định nghĩa theo Từ điển Lạc Việt: ““Biếm họa” trong tiếng Anh gọi là
“caricature”, có nghĩa là tranh gây cười để chế giễu những tật xấu.” [21, tr.6]
Tác giả Baran Sarigul trong công trình The Significature in Visual
Communication cho rằng: “Ý nghĩa của tranh biếm họa trong giao tiếp trực quan) quan niệm: Tranh biếm họa là một loại đồ dùng trực quan chứa đựng những thông điệp thông qua các bản vẽ phóng đại Đó là cách ngắn gọn và sắc bén nhất để phát ra một lời chỉ trích Bởi vậy, ban đầu nó được một số người sử dụng để đáp trả sự thiếu
Trang 17hiểu biết và khiếm nhã của một bộ phận xã hội Bất kể điều gì liên quan đến con người đều có thể trở thành chủ đề của tranh biếm họa.” [21, tr.6-7]
Như vậy, từ những quan niệm nêu trên ta có thể hiểu tranh biếm họa là một thuật ngữ để chỉ một loại tranh (khác với các loại tranh khác, ảnh chụp), được tác giả vẽ về một đề tài nào đó của xã hội như liên quan đến con người, quan hệ giữa con người, về một sự kiện, thói hư tật xấu… Mang hàm ý để châm biếm, chế giễu, chỉ trích, chê trách thông qua những nét vẽ cường điệu, phóng đại một hay nhiều chi tiết nổi bật nào
đó của đối tượng bị châm biếm Nên phần lớn loại tranh này thường gây cười, gây chú
ý, hứng thú cao cho người học Đồng thời, tranh biếm họa mang đầy đủ các ưu điểm của đồ dùng trực quan giống như những loại kênh hình khác Nhất là tranh biếm họa lịch sử là loại tranh phản ánh nội dung cụ thể về nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử
Nó sử phải bao hàm hai yếu tố: Mang nội dung lịch sử và hình thức thể hiện mang tính biếm họa Chính vì thế, tranh biếm họa với đặc trưng riêng của mình về các chủ đề của
xã hội là nguồn tư liệu quan trọng để phục vụ cho quá trình DHLS góp phần vào phát triển năng lực HS theo định hướng hiện nay
1.1.1.3 Khái niệm năng lực, năng lực người học
Theo Chương trình môn Lịch sử trong Chương trình GDPT 2018, đổi mới PPDH lịch sử theo hướng phát triển năng lực là vấn đề quan trọng nhất trong quá trình chuẩn
bị triển khai Chương trình GDPT mới Đồng thời, Chương trình GDPT mới hình thành
và phát triển cho HS những năng lực cốt lõi sau: Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: Năng lực tự chủ
và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất
Với Chương trình GDPT mới, giải thích khái niệm năng lực như sau: “Năng lực
là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.”
Năng lực hay khả năng, kĩ năng trong tiếng Việt có thể xem tương đương với các thuật ngữ “competence”, “ability”, “capability” … trong tiếng Anh Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau:
Trang 18“Năng lực là “là khả năng giải quyết” và mang nội dung khả năng và sự sẵn sàng để giải quyết các tình huống.” [6, tr.67]
Theo John Erpenbeck, “năng lực được tri thức làm cơ sở, được dùng như khả năng khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua ý chí” [6, tr.67]
Weinert (2001) định nghĩa: “Năng lực là những khả năng nhận thức và kĩ năng
vố có hoặc học được của cá thể nhằm giải quyết các vấn đề xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, ý chí, ý thức xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vế đề trong những tình huống thay đổi một cách thành công và có trách nhiệm.” [6, tr.67] Tác giả Nguyễn Công Khanh quan niệm: “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” (OECD, 2002).” [36]
“Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp…trong những tình huống thay đổi (Weinert, 2001).” [36]
Thông qua những quan niệm nêu trên, ta có thể hiểu năng lực nghĩa là mang dấu
ấn cá nhân, thể hiện tính chủ quan trong hành động và có thể có được nhờ sự bền bỉ, kiên trì học tập, hoạt động, rèn luyện và trải nghiệm Về bản chất, năng lực là tổ hợp của kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ và một số yếu tố tâm lý khác phù hợp với yêu cầu của hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả Khi năng lực phát triển thành tài năng thực sự thì các yếu tố này hoà quyện, đan xen vào nhau
Giáo dục định hướng năng lực nhằm mục đích: “Đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Giáo dục định hướng năng lực nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức.” [6, tr.64]
Về năng lực của người học, theo Nguyễn Công Khanh cho rằng:
“Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các
em trong cuộc sống
Trang 19Năng lực của HS là một cấu trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội.” [36]
Có thể nhận thấy điểm chung cốt lõi của các cách hiểu trên về khái niệm “năng lực” chính là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ để giải quyết một tình huống có thực trong cuộc sống
Tóm lại, chúng ta có thể nhận định năng lực của HS phổ thông chính là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của các em
PPDH theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn
1.1.2 Phân loại tranh biếm họa
Việc phân loại tranh biếm họa có nhiều quan điểm khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu dựa trên các tiêu chí khác nhau, phân chia tranh biếm họa thành các loại khác nhau, điển hình ở Đức theo quan điểm của Grünewald và Marienfeld chia tranh biếm họa theo ba tiêu chí sau:
“- Xét trên tiêu chí lĩnh vực có: Tranh biếm họa về chính trị; tranh biếm họa về kinh tế; tranh biếm họa về quân sự; tranh biếm họa về văn hóa…
- Xét theo cách trình bày có hai loại: Tranh biếm họa hình ảnh và tranh biếm họa có cả hình ảnh lẫn lời dẫn
- Xét theo mức độ thể hiện có bốn loại: Tranh biếm họa vắn tắt; tranh biếm họa
kỳ cục khó hiểu; tranh biếm họa tự nhiên và tranh biếm họa sống động.” [35]
Trên cơ sở các cách phân chia trên của nhiều nhà nghiên cứu thì ở nước ta thì các loại tranh biếm họa phổ biến nhất là: Tranh biếm họa về nhân vật lịch sử, tranh biếm họa về sự kiện lịch sử, tranh biếm họa về quá trình lịch sử…
1.1.2.1 Tranh biếm họa về nhân vật lịch sử
Điển hình nhất là tranh biếm họa về nhân vật cụ thể đó có thể là các chính trị gia, các nhân vật lịch sử, chân dung biếm của các nguyên thủ quốc gia… thường được biếm họa bằng những nét đặc trưng qua đặc điểm khuôn mặt khác biệt, hình dạng hoặc quần áo với những hành động liên quan Phần lớn tranh biếm họa tập trung vào khắc họa chân dung của những nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn đối với xã hội Một vài tranh
Trang 20biếm họa châm biếm khi khắc họa những nhân vật nổi tiếng thường sử dụng lối đả kích và đôi khi nó còn mang tính chất khiêu khích, nhạo báng Những bức tranh biếm họa về nhân vật nhằm phản ánh đối tượng biếm họa đó một cách phóng đại, hết sức hài hước hoặc bóp méo, xuyên tạc những đặc điểm quan trọng về một người hoặc một nhóm người để tạo ra những chân dung có thể dễ dàng nhận dạng bằng thị giác
“Tranh biếm họa ở châu Âu năm 1939: Hitler được ví như người khổng lồ, xung quanh là các chính khách châu Âu đã nhường bộ Hitler” [Phụ lục 1 – Hình 9] chúng
ta có thể sử dụng để dạy Bài 12 Nước Đức giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (CTTG) (1918 – 1939), (Lịch sử 11, Chương trình chuẩn) qua bức tranh hài hước này giúp HS hiểu hơn về tình hình nước Đức trong những năm 1933 – 1939 Bức tranh miêu tả người khổng lồ nằm giữa trung tâm lớn nhất đó là Adolf Hitler, xung quanh là các chính khách châu Âu Sau CTTG thứ nhất, những mâu thuẫn mới về quyền lợi, về thị trường và thuộc địa lại tiếp tục nảy sinh giữa các nước đế quốc Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 làm cho những mâu thuẫn đó thêm sâu sắc dẫn tới việc lên cầm quyền của chủ nghĩa phát xít ở Italia, Đức và Nhật Bản, với ý đồ gây chiến tranh chia lại thế giới Chế độ phát xít Đức ở Châu Âu đã lớn mạnh đến mức mà tất cả các thế lực tại Châu Âu đều kinh sợ Hitler
Thông qua bức tranh này tác giả muốn biếm họa để lí giải về nhân vật Adolf Hitler (1889 tự sát 1945) nhà hoạt động chính trị người Đức gốc Áo Quốc trưởng Đức trong thời kì nước Đức phát xít đã đưa những chính sách có sức ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ Châu Âu, cũng chính là tội phạm chiến tranh số một trong CTTG II
1.1.2.2 Tranh biếm họa về một sự kiện lịch sử cụ thể
Theo nội dung thì tranh biếm họa về một sự kiện lịch sử cụ thể chiếm tỷ lệ nhiều nhất Ở đây có thể là tranh biếm họa về kết quả của cuộc bầu cử, một sự kiện chính trị
có khi đơn giản một bài phát biểu chính trị hoặc là về một cuộc chiến tranh hay một chính sách mới được ban hành…
Tranh biếm họa về sự kiện lịch sử, thường sử dụng thủ pháp cường điệu nhằm phản biện, có quan điểm riêng và có chất trào lộng về một vụ việc, một sự kiện xã hội mang tính tinh thần hay vật chất Hiệu quả của nó phụ thuộc vào nhận thức của người xem, khi thấy tranh có thể bật cười như được giải trí vui vẻ mà bức tranh mang lại Nhưng thực chất, hàm ý phóng đại trong tranh đưa người xem phải suy nghĩ sâu hơn
về sự kiện lịch sử đang được bức tranh thể hiện Thông qua đó, người xem tranh sẽ rút
ra được bài học cho mình
Trang 21Tranh biếm họa sự kiện lịch sử độc lập khác với những tranh biếm họa nhân vật bởi một khía cạnh quan trọng: Tranh biếm họa sự kiện lịch sử đã xảy ra, từ đó tác giả mới có ý tưởng và những tác phẩm nghệ thuật từ đó mới xuất hiện Còn tranh biếm họa về nhân vật thì là những nét vẽ thêm vào đối với chân dung của những nhân vật nổi tiếng Với tranh biếm họa về sự kiện lịch sử đôi lúc có chút gì đó vui vẻ, chấm phá nhưng nó có tính phản biện, đả kích, châm chọc sâu sắc trong từng nét vẽ để làm rõ những gì tác giả muốn đề cập đến
Bức tranh biếm họa: “Đức tấn công Liên Xô” [Phụ lục 1 – Hình 13], GV có thể
sử dụng tranh khi dạy Bài 17 Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945), (Lịch sử 11, Chương trình chuẩn) thông qua tranh này tạo biểu tượng cho HS về chiến tranh lan rộng khắp thế giới (Từ tháng 6 – 1941 đến tháng 11 – 1942) Đây là một bức tranh biếm họa của Liên Xô từ năm 1943 trong câu chuyện Stalingrad Qua bức tranh ta thấy được bàn tay của Hitler thể hiện ba điều: Hiệu lệnh “Heil Hitler” nổi tiếng mà binh lính của ông thực hiện theo từng lời nói của ông Heil Hitler là kiểu chào Quốc xã hay kiểu chào Hitler, với động tác đưa cánh tay phải cùng các ngón tay duỗi thẳng hướng
về phía trước; Cho thấy mục tiêu của Hitler, nếu quan sát trên bản đồ, hướng chỉ của bàn tay Hitler sẽ về phía đông, hướng về phía Liên Xô; Ảnh hưởng mà Hitler có đối với quân đội của mình…
Chúng ta có thể thấy những hàng binh lính tiến về cái chết của họ, nơi được biểu tượng bằng những cây thánh giá đẫm máu Những người lính tự biến mình thành những ngôi mộ gợi lên cái chết Khối binh lính Đức khá dày đặc tạo ấn tượng rằng tất
cả các lực lượng của đất nước này sẵn sàng chiến đấu cho đến khi chế (điều này cũng thể hiện sự tàn khốc của chiến tranh khi kết thúc với những bia mộ)
Vị trí của những người lính (cúi đầu xuống) và tiến đến cái chết cho thấy họ ngoan ngoãn và trên hết phải tuân theo các quyết định của Fuhrer bằng mọi giá [21, tr.120 - 121]
Vậy khi đưa ra bức tranh biếm họa này hàm ý trong tranh giúp ta cảm nhận được tính khốc liệt của chiến tranh cũng như tàn nhẫn của Hitler chỉ chú trọng tới chiến thắng quân sự, còn sinh mạng của những người lính thì không quan tâm Điều đó, cũng cho thấy được sức mạnh của Hitler trong quân đội Đức, sẵn sàng phục tùng ông
mà không phản ứng điều gì Những người lính trong bức tranh này, chúng ta có thể nghĩ tới hình chữ vạn biến thành thánh giá bia mộ để thấy được sự bại trận của chủ nghĩa phát xít Hitler tấn công các nước châu Âu trước là vì: Hai khối đế quốc (khối Anh-Pháp-Mĩ và khối phát xít Đức-Italia-Nhật Bản) ở châu Âu thành lập, mâu thuẫn
Trang 22gay gắt với nhau về thị trường và thuộc địa nhưng đều coi Liên Xô là kẻ thù cần tiêu diệt Khối Anh-Pháp-Mĩ thực hiện đường lối thỏa hiệp, nhượng bộ nhằm làm cho khối phát xít chĩa mũi nhọn chiến tranh về phía Liên Xô Tuy vậy, thấy chưa đủ sức đánh ngay Liên Xô nên Hitler tấn công Liên Xô trước
Đối với tranh biếm họa về sự kiện lịch sử với mục đích châm biếm mặc dù tính phê phán của nó rất cao nhưng tương đối khó đối với nhận thức của HS Để giải thích nội dung của tranh biếm họa châm biếm họa đòi hỏi các em có một vốn hiểu biết tương đối rộng liên quan nhiều đến các nhân vật chính trị điển hình, bối cảnh diễn ra
sự kiện GV có thể tùy chọn từng loại tranh biếm họa sao cho phù hợp với mục đích của mình cũng như nội dung của bài học để có thể mang lại những hiệu quả cao nhất
1.1.2.3 Tranh biếm họa về một quá trình lịch sử
Tranh biếm họa về quá trình thì thường phức tạp hơn Đó phải là một chuỗi quá trình từ khởi đầu, phát triển đến khi kết thúc, và trong đó hình ảnh ban đầu và cuối cùng phải có sự đối lập, sự khác biệt để người học có thể đánh giá được quá trình đó Tác giả thông qua những nét vẽ tạo hình để phán ánh quá trình lịch sử nóng bỏng của thời đại Với yếu tố châm biếm, đả kích, phóng đại mà bức tranh thể hiện sẽ giúp người xem hứng thú, có thái độ và suy ngẫm những giá trị hay sự kiện trong quá trình lịch sử xảy ra trong xã hội
Về mục đích tranh được vẽ nhằm phê phán sâu sắc, tế nhị những mặt trái của các vấn đề xã hội trong quá trình lịch sử và có ảnh hưởng trên thế giới Tranh biếm họa nhằm khuyến khích người xem đồng tình với những quan điểm, cách nhìn của tác giả đối với vấn đề, quá trình lịch sử đã diễn ra đó Việc sử dụng những bức tranh biếm họa
về quá trình lịch sử góp phần cung cấp thêm những kiến thức và giúp HS phát triển các năng lực như tư duy, bình luận, đánh giá những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp diễn ra trong LSTG hay lịch sử dân tộc
“Tranh vẽ kỷ niệm 1 năm Cách mạng (1918) khắc họa việc người dân Nga đánh
đổ chế độ phong kiến chuyên chế” [Phụ lục 1 – Hình 7] Trong khi dạy Bài 9 Cách
mạng tháng Mười Nga năm 1917 và cuộc đấu tranh bảo vệ cách mạng (1917 – 1921), (Lịch sử 11, chương trình chuẩn) GV có thể sử dụng tranh này để tạo biểu tượng về cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN), do giai cấp vô sản tiến hành, thắng lợi của cuộc cách mạng đã hình thành nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới, đưa nước Nga đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Thể hiện trong khi nước Nga đang xây dựng chế độ XHCN thì các phần tử Bạch vệ với sự giúp sức của 14 nước đế quốc đã ra sức lật đổ chính quyền Xô viết Trước tình hình đó, nước Nga Xô
Trang 23viết đã áp dụng chính sách cộng sản thời chiến, xây dựng Hồng quân công nông Cuộc nội chiến Nga đã diễn ra từ đầu năm 1918 đến tháng 11 năm 1920 khi Hồng quân đã đánh tan ngoại xâm và nội phản Cuộc nội chiến kết thúc với thắng lợi thuộc về chính quyền Xô viết, nước Nga Xô viết được giữ vững Điều đó còn cho thấy được, do đường lối đấu tranh và sách lược đúng đắn của Đảng Bolshevik mà lãnh đạo là Lênin, biết lợi dụng sức mạnh quần chúng đang chịu nhiều khổ cực do chiến tranh đế quốc Qua bức tranh, chúng ta có thể hiểu hơn về quá trình giành độc lập của nước Nga, xây dựng và bao vệ được nhà nước Xô viết còn non trẻ khi đất nước đang gặp nhiều khó khắn Hơn nữa, giúp HS hiểu những người cộng sản và các phong trào giải phóng dân tộc trên thế gới, chịu ảnh hưởng của cuộc cách mạng này, Cách mạng tháng Mười Nga
là cuộc cách mạng XHCN, do giai cấp vô sản tiến hành, thắng lợi của cuộc cách mạng
đã hình thành nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới, đưa nước Nga đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội
Bút pháp trong tranh biếm họa của tác giả khá phóng khoáng Tranh đơn giản, không sa vào chi tiết… làm cho người xem dễ nhận ra chủ ý của tác giả, họ cảm thấy những bức tranh biếm họa này gần gũi với cuộc sống của chính họ, chia sẻ với nỗi thống khổ của họ, làm cho họ phải nghĩ về số phận của mình, nỗi bất công mà mình đang gánh chịu Vì vậy, giai cấp vô sản tiến hành, thắng lợi của cuộc cách mạng đã hình thành nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới
Chúng ta có thể sử dụng những bức tranh biếm họa về quá trình lịch sử này, để trang bị kiến thức và giúp HS có khả năng bình luận và đánh giá đối với những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp diễn ra trên thế giới hay ở Việt Nam
1.1.3 Ý nghĩa của việc sử dụng tranh biếm họa trong DHLS ở trường THPT theo hướng phát triển năng lực HS
Tranh biếm họa với nội dung là chú trọng hướng tới các vấn đề xã hội có tính chất thời sự, những nhân vật nổi tiếng, các sự kiện, có thể là xu hướng phát triển của
xã hội và những chủ đề, nội dung cần có ý kiến bình luận và đánh giá Một bức tranh biếm họa hay sẽ giá trị hơn nhiều các bài bình luận, các bài diễn văn dài lê thê Vì vậy,
mà tranh biếm họa đã từng được coi là “vũ khí sắc bén” không chỉ trong nhiều lĩnh
vực mà còn cả đối với bộ môn Lịch sử nói riêng Cho nên, việc sử dụng tranh biếm họa vào quá trình DHLS sẽ có vai trò, ý nghĩa rất lớn góp phần quan trọng nhằm giúp
HS phát triển một cách toàn điện toàn diện:
Trang 24Thứ nhất tranh biếm họa góp phần tạo hứng thú, kích thích động cơ học tập của
HS
Thực trạng HS THPT ít tìm hiểu các kiến thức lịch sử dân tộc và LSTG, là khó khăn lớn trong quá trình DHLS (đặc biệt là Lịch sử lớp 11) Về các kiến thức lịch sử ở lớp dưới các em không nhớ, không chú tâm học dẫn đến những thiếu hụt về hiểu biết nên khi tiếp cận với nội dung bài học các em thường tỏ ra lúng túng và không có hứng thú để tiếp thu bài học Tranh biếm họa có khả năng thúc đẩy sự quan tâm, thích thú đặc biệt của HS đối với những vấn đề chính trị - xã hội, những sự kiện và xu hướng
phát triển của xã hội, từ đó sẽ kích thích trí tò mò của người học
Đặc trưng của kiến thức lịch sử là tính quá khứ, không lặp lại, vì vậy trong DHLS đồ dùng trực quan có vai trò trò rất quan trọng, giúp HS có thể tái hiện được phần nào không khí lịch sử đã xảy ra, góp phần vào việc tạo biểu tượng lịch sử cho
HS Mà tranh biếm họa cũng giống các loại tranh khác được sử dụng trong DHLS là mang đầy đủ những ưu điểm của đồ dùng trực quan
“Tuy nhiên, khác với các loại tranh khác, hầu hết tranh biếm họa gây hứng thú cao ở người học thông qua những chi tiết phóng đại Theo lí luận giáo dục học và tâm
lí học, hứng thú có vai trò quan trọng trong việc làm cho con người trở nên vui tươi, phấn chấn hơn Hứng thú làm cho quá trình học tập trở nên hấp dẫn hơn và duy trì được quá trình nhận thức một cách bền bỉ Theo Alecxêep: “Chỉ có hứng thú với một hoạt động nào đó mới đảm bảo cho hoạt động ấy được tích cực”.” [21, tr.8-9]
Do đó, sử dụng tranh biếm họa vào trong dạy học sẽ góp phần quan trọng để hỗ trợ, tạo sự hứng thú để HS quan tâm tới những vấn đề quan hệ quốc tế bối cảnh 1914 -
1945 như thế nào Vì có rất nhiều sự kiện, vấn đề có tính chất lớn, chính trị khô khan lại được ngòi bút của các tác giả tranh biếm họa mô tả lại một các sinh động, hài hước
và có thể thu hút sự chú ý của các em Chính sự quan tâm tới những vấn đề mà tranh biếm họa thể hiện, các em sẽ đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá và rút ra cho mình những hiểu biết về sự phát triển của các hình thái kinh tế trong LSTG và hình thành một kĩ năng phân tích, xử lí thông tin tốt hơn
Thứ hai tranh biếm họa vừa giúp HS khắc sâu kiến thức lịch sử, vừa góp phần vào phát triển năng lực HS bao gồm năng lực chung và đặc biệt là năng lực chuyên biệt đối với môn Lịch sử
Đối với việc giúp HS khắc sâu kiến thức lịch sử: “Theo quy luật ưu tiên của trí nhớ, sự ghi nhớ sẽ chọn lọc với mức độ khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm thông tin
Cụ thể, sự ghi nhớ sẽ ưu tiên cho những điều cụ thể, hình ảnh trực quan (sẽ dễ ghi nhớ
Trang 25hơn ngôn ngữ trừu tượng), sự vật, hiện tượng càng sinh động, hấp dẫn, càng gây hứng thú càng dễ ghi nhớ, những điều quan trọng, bổ ích hoặc gây tranh cãi… Những đặc điểm đó sẽ góp phần giúp HS tái hiện kiến thức khi cần thiết, khắc sâu sự kiện lịch sử hơn, tạo biểu tượng lịch sử ở HS.” [21, tr.9]
Nên khi sử dụng tranh biếm họa HS được tái hiện một lần nữa những kiến thức liên quan đến hình ảnh và qua quá trình suy luận, kiến thức dễ khắc sâu hơn rất nhiều
so với việc sử dụng các kênh hình thông thường Bởi vì, tranh biếm họa mang đến sự hấp dẫn, lôi cuốn HS do chính đặc thù của tranh biếm họa là yếu tố hài hước, trào phúng hay sự thể hiện biếm họa độc đáo trong bức tranh HS từ tò mò, hiếu kỳ về những yếu tố đặc biệt trong tranh, sẽ muốn tìm hiểu nội dung ẩn giấu trong bức tranh
đó là ra sao Một số tranh biếm họa, khi mới nhìn HS có thể bật cười vì sự trào phúng của nó, nhưng sau đó, các em sẽ phân tích, tổng hợp kiến thức, liên hệ để giải thích sự
ẩn dụ trong đó Cuối cùng HS sẽ bày tỏ được quan điểm và thái độ của mình: Đồng tình hay phản đối với vấn đề được đặt ra
Đặc biệt, tranh biếm họa góp phần vào phát triển năng lực HS bao gồm năng lực chung và đặc biệt là năng lực chuyên biệt đối với môn Lịch sử:
- Việc sử dụng các tranh biếm họa thích hợp giúp thúc đẩy HS phát triển những năng lực chung Bởi vì, tranh biếm họa không chỉ thông qua việc phân tích văn bản (kênh chữ), nghe giảng mà nó sẽ góp phần tổng hợp các kỹ năng: Phân tích hình ảnh, đọc văn bản, liên hệ kênh chữ và kênh hình, từ đó các em sẽ phát triển được việc tự chủ tự học của người học Sau đó, HS tập trung quan sát, dưới sự hướng dẫn của GV
có thể kết hợp với các kĩ thuật làm nhóm, thuyết trình, hỏi – đáp sẽ phát huy được năng lực giao tiếp Bên cạnh đó, người học còn đưa phán đoán, liên hệ, suy xét và kết luận giúp phát triển được năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Ngoài ra, khi dạy học sử dụng tranh biếm họa sẽ phát triển rất tốt về năng lực chuyên biệt của môn Lịch sử như sau:
Trước tiên là năng lực tự chủ, tự học: Khi sử dụng tranh biếm họa vào giảng dạy
cũng như các loại tranh ảnh hay đồ dùng trực quan nào khác, cũng phải bắt đầu từ việc
mô tả những chi tiết được thể hiện trong bức tranh, rồi sau đó lí giải các chi tiết, nét vẽ được thể hiện Với đặc trưng của mình, tranh biếm họa sẽ có tác dụng kích thích sự chú ý của HS, làm cơ sở quan trọng để tạo động cơ học tập, muốn tìm hiểu những ý nghĩa trên bức tranh Mỗi HS sẽ có những quan điểm, suy nghĩ khác nhau về bức tranh, dưới sự hướng dẫn, gợi mở của GV khi cho các em thảo luận đưa ra ý kiến và
Trang 26GV nhận xét, củng cố, HS sẽ tự dần tạo biểu tượng, hình thành được khái niệm, quy luật hay bài học lịch sử mà bức tranh thể hiện
Mặt khác, tranh biếm họa có khả năng kích thích sự thảo luận và tranh luận trong lớp học cũng như tạo ra một không khí học tập sôi nổi, từ đó sẽ phát triển được các kĩ năng khác như làm việc nhóm, thuyết trình và giúp HS có cơ hội thể hiện năng lực giải quyết vấn đề
Về phát triển được năng lực nhận thức, tư duy lịch sử: Quá trình học tập các em
được vận dụng các kĩ năng để phân tích một bức tranh biếm họa đó được gọi là “sự giải mã” Khi giải mã bức tranh, tức là HS được lần lượt thực hiện các kỹ năng nói trên, và khi lặp lại nhiều lần, các kỹ năng của HS sẽ trở nên thành thạo Nó sẽ phát triển được khả năng tư duy lịch sử độc lập, sáng tạo của HS thông qua việc đánh giá tranh biếm họa Hơn nữa, tranh biếm họa, sau khi HS quan sát muốn hiểu được những biểu hiện trong đó nói lên điều gì, buộc HS phải đặt nó trong tổng thể kiến thức Sau khi phân tích, HS phải thiết lập các mối liên hệ, các giả thuyết giữa hình ảnh và nội dung bài học để đưa ra các nhận xét và kết luận
Ta thấy được, không có một nội dung học tập nào lại có thể khiến các em thảo luận và tranh luận sôi nổi bằng tranh biếm họa Các vấn đề mà chúng ta phải đối mặt khi sử dụng tranh biếm họa là những cách nhìn khác nhau, những quan điểm trái chiều… Tuy nhiên, chính điều đó lại thúc đẩy HS của chúng ta phải tranh luận cũng như đưa ra những những lập luận chặt chẽ để bảo vệ quan điểm của mình Chính sự tranh luận, những tiếng cười có ý nghĩa và giá trị đối với sự phát triển của người học là những nhân tố quan trọng để tạo ra một không khí học tập sôi nổi Nên nó sẽ thu hút được sự chú ý, tạo được hứng thú học tập cho các em giúp mang lại hiệu quả tốt cho bài học
Ngoài ra, tranh biếm họa phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn, bản thân tranh biếm họa ta thấy là một loại kênh hình, nó có tính trực
quan rất cao Mặt khác, tranh biếm họa lại có yếu tố cường điệu, sự hài hước, lạ lẫm thu hút HS mà tranh ảnh đơn thuần không có được Việc sử dụng tranh biếm họa HS không chỉ là quan sát tranh và liên hệ đến nội dung kiến thức mà nó còn phải lý giải, phân tích, giải thích, đánh giá những nội dung kiến thức được “cường điệu” trong tranh Bên cạnh đó, tranh biếm họa cũng không khô khan, không nặng nề như bản đồ, lược đồ
Học tập với tranh biếm họa, giúp các em làm việc với những bối cảnh khác nhau, những sự kiện chính trị - xã hội của thế giới, tiếp xúc với nhiều nhân vật và phải đưa ra
Trang 27các phán đoán, dự báo, thậm chí phải tranh luận để bảo vệ quan điểm của mình Từ việc được thực hành các kĩ năng đơn lẻ như vậy, theo thời gian các em sẽ được hình thành năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống dưới cái nhìn đa chiều hơn
Tranh biếm họa sẽ là một công cụ dạy học hữu hiệu, nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả giảng dạy trong nhà trường phổ thông hiện nay Khi sử dụng tranh biếm họa hợp lí trong DHLS có khả năng mang lại những giá trị và ý nghĩa giáo dục to lớn
Nó không chỉ cung cấp cho HS một khối lượng thông tin to lớn về các vấn đề chính trị
- xã hội đương thời, mà nó còn có thể rèn luyện khả năng tư duy logic, kĩ năng chung hay kĩ năng chuyên biệt và định hướng hành động cho người học
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng tranh biếm họa trong dạy học LSTG (1914 - 1945) ở trường THPT
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011- 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711 ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học” Những quan điểm nêu trên đã tạo tiền đề, cơ sở và môi trường pháp lí thuận lợi cho việc đổi mới đồng bộ PPDH, kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực của người học nói chung và môn Lịch sử nói riêng
1.2.1 Thực trạng của việc DHLS ở trường THPT
Môn Lịch sử là một môn học trong chương trình GDPT, cũng giống như nhiều môn học khác trong hệ thống giáo dục nước ta, việc DHLS đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách giáo dục Cho đến nay, việc thực hiện đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH lịch sử nói riêng đã được tiến hành ở bậc THPT xong còn chậm, chưa mang lại hiệu quả cao, chưa chú ý hình thành các năng lực cần thiết cho học sinh
Kết quả điều tra thực tế [Phụ lục 3], tôi thấy số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy - học cũng như sử dụng các phương pháp dạy- học phát huy năng lực học sinh nhưng chưa nhiều Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lí thuyết Việc sử dụng đa dạng các nguồn tài liệu, trong đó có tranh biếm họa hầu như chưa có hoặc chưa được quan tâm đúng mức đã có tới 79%
Trang 28HS trả lời chưa được sử dụng, chỉ còn 21 thỉnh thoảng mới sử dụng và thường xuyên
sử dụng là 0 Trong dạy học lịch sử hiện nay, chúng ta thầy được nhiều giáo viên còn gặp khó khăn, chưa tìm được cho mình những biện pháp thích hợp để hình thành
và phát triển năng lực học sinh
Đa phần thầy cô chỉ sử dụng bản đồ, tranh ảnh trong SGK với phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là thuyết trình, liệt kê kiến thức, thầy cô nói nhiều mà không kiểm soát được công việc học của người học Nếu có thì việc khai thác tranh biếm họa để giải thích sự kiên lịch sử còn chưa sâu với 64.5% HS cho rằng là không bao giờ khai thác thông tin, 28 HS chỉ thỉnh thoảng mới khai thác và 7.5 rất ít GV thường xuyên khai thác vì hầu hết thầy cô chưa chú trọng vào việc đổi mới hoạt động dạy học
mà trong đó tranh biếm họa là một đồ dùng trực quan có rất nhiều vai trò, ý nghĩa đối với bộ môn Lịch sử
Về phía học sinh, đa số các em không thích học và sợ học lịch sử Nhiều em còn
“mơ hồ” về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới Những sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, nhiều học sinh không biết và không hiểu Các em còn thiếu các kỹ năng cơ bản của bộ môn và năng lực vận dụng liên hệ kiến thức lịch sử đã học
để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra là rất yếu Chất lượng môn học lịch sử còn thấp Trong nhiều giờ học Lịch sử, xuất hiện hội chứng “nhàm chán” HS tỏ ra không quan tâm nhiều đến nội dung bài học, ít chịu trách nhiệm về việc học của bản thân mình và trở thành người học thụ động Trong suy nghĩ của nhiều HS, môn Lịch sử là môn học của trí nhớ, môn học thuộc lòng chứ không phải là môn học của tư duy Nhưng khi đưa tranh biếm họa vào quá trình DHLS, phần lớn các em cảm thấy thích thú với cách dạy học này cụ thể 90.5 HS rất hứng thú, 9.5 HS ít hứng thú Bên cạnh đó, có 83.5 HS thấy cần thiết sử dụng tranh biếm họ trong DHLS, chỉ có 12.5 HS cho rằng bình thường và 4 không cần thiết Hơn nữa, khi hỏi về việc dụng tranh biếm họa trong DHLS có tác dụng như thế nào đối với việc học tập ở trên lớp:
Có tới 33 HS cho rằng tranh biếm họa làm cho bài học hấp dẫn hơn sinh động, hấp dẫn, 14 HS cho là việc học theo tranh biếm họa sẽ giúp HS dễ khắc sâu, ghi nhớ kiến thức ngay tại lớp học và 69.5 HS đều thấy được việc học theo tranh biếm họa sẽ có
cả hai tác dụng trên
Trước thực trạng đó một yêu cầu đặt ra là phải tiến hành đổi mới toàn diện phương pháp dạy - học Lịch sử ở trường phổ thông Đổi mới PPDH lịch sử phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, lòng say mê học tập cùng với đó ý chí vươn lên
Trang 29Như vậy, việc đổi mới PPDH lịch sử chỉ thành công khi chúng ta đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa PPDH lịch sử, tổ chức DHLS theo kiểu mới trên cơ sở tăng cường
áp dụng các phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học hiện đại kết hợp với việc cải biến các PPDH truyền thống theo những định hướng mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả DHLS Qua đó, chúng ta có thể thấy được sử dụng tranh biếm họa vào quá trình DHLS cũng là một phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu đổi mới hiện nay
1.2.2 Những thuận lợi và khó khăn khi khai thác và sử dụng tranh biếm họa trong dạy học LSTG (1914 - 1945) ở trường THPT
1.2.2.1 Thuận lợi
Định hướng dạy học phát triển năng lực đòi hỏi GV phải chủ động tích cực, tăng cường tổ chức các hoạt động học tập cho HS, tạo điều kiện cho HS được tham gia nhiều hơn vào quá trình học tập Biến quá trình giáo dục trở thành quá trình tự giáo dục Những định hướng đổi mới trong chương trình và SGK cũng là cơ hội tốt để chúng ta đưa tranh biếm họa vào DHLS Đây chính là điều kiện thuận lợi để GV sử dụng đa dạng các nguồn tư liệu vào hoạt động DHLS trong đó có tranh biếm họa Hiện này, hầu hết các trường THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng đã được trang bị đầy đủ diều kiện cơ sở vật chất và hệ thống máy chiếu, kết nối loa hay phòng tin học… để đảm bảo cho GV dạy bài giảng có thể theo cách truyền thống hay bằng công nghệ thông tin và người học đều có thể tiếp xúc với việc học sử dụng công nghệ thông tin Điều này, tạo điều kiện để khai thác và đưa tranh biếm họa trong những giờ DHLS
Bên cạnh đó trên các nguồn thông tin từ Internet thì có bài báo chí hay việc bán những quyển sách về sử dụng tranh biếm họa cũng thấy phổ biến hơn Đây chính là cơ hội tốt cho GV và HS có thể tiếp cận với kho tranh biếm họa để khai thác phục vụ cho việc dạy và học
Do được tiếp cận với công nghệ thông tin sớm, HS THPT trên địa bàn Thành phố
Đà Nẵng đã đạt tới một sự phát triển nhất định về thể chất và tư duy Vì các em đã được tiếp cận với công nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông từ rất sớm nên các em đã thu nhận một khối lượng thông tin về cuộc sống xã hội lớn hơn rất nhiều và giúp tư duy của các em đã hình thành phần nào kĩ năng phản biện trước các luồng thông tin mà các em được tiếp cận Với vốn kinh nghiệm sống phong phú này đã góp phần giúp các em dần mở khóa những thông điệp mà mỗi bức tranh biếm họa mang đến một cách dễ dàng hơn và chủ động hơn
Trang 30Ngoài ra, HS THPT hiện nay tỏ ra tự tin, bản lĩnh và rất cá tính Các em cũng tỏ
ra quan tâm nhiều hơn tới các vấn đề đương đại, thích tranh luận để khẳng định các giá trị sống của bản thân Đây chính là lí do chúng ta có thể kết hợp rất tốt tranh biếm họa với các phương pháp học tập tích cực khác để phát triển tư suy phê phán của HS Cho nên, việc sử dụng tranh biếm họa nó sẽ là công cụ dạy học đắc lực cho môn Lịch sử, giúp HS được suy nghĩ, được tranh luận, thể hiện quan điểm bản thân từ đó tự xây dựng kiến thức cho mình Như vậy, việc đổi mới mục tiêu và PPDH sẽ là cánh cửa thuận lợi để chúng ta đưa tranh biếm họa vào trong dạy học
1.2.2.2 Khó khăn
Đối với GV:
- Thứ nhất là khó khăn trong việc phát hiện và giải thích tranh biếm họa Vì trong tranh biếm họa bối cảnh bức tranh thường được cường điệu hóa hoặc phóng đại hơn so với thực tế, khiến cho HS thụ động hơn rất nhiều so với các kiến thức cơ bản trong SGK
- Thứ hai là GV mất rất nhiều thời gian và việc truyền đạt cho HS hiểu được ý nghĩa thông qua việc phân tích và chỉ ra được ý nghĩa Lịch sử sâu sắc nhất được rút ra bởi một bức tranh biếm họa có chủ đề Lịch sử
- Thứ ba là trong khi số lượng các tranh biếm họa phù hợp với nội dung của bài học LSTG rất hạn chế, đòi hỏi GV phải chuẩn bị rất công phu và vất vả Do tranh biếm họa sẽ kích thích rất mạnh tới thái độ HS vì vậy việc tìm kiếm được một bức tranh biếm họa vừa phù hợp với nội dung bài học, vừa kích thích được thái độ tích cực của
HS là điều không dễ dàng
- Cuối cùng ta thấy đây là một hướng đi khá mới nên một số GV còn mơ hồ về khái niệm tranh biếm họa và nó được áp dụng trong những bài học nào và với việc áp dụng tranh biếm họa vào tiết học liệu HS có thể hiểu được những ý tưởng mà GV muốn truyền đạt các thông tin liên quan đến bài học hay không Nhất là trong điều kiện nhiều tranh biếm họa chưa được đưa vào trong nội dung chương trình SGK Những thách thức trên làm cho việc sử dụng tranh biếm họa trong dạy học với nhiều GV không hào hứng và điều này càng khó thực hiện hơn đối với khu vực
Trang 31họa vào phục vụ cho dạy học Vì trong các bức tranh biếm họa thường mang yếu tố phóng đại, đòi hỏi các em phải có vốn sống nhất định mới có thể phân tích và tìm ra thông điệp của bức tranh Với vốn kiến thức của các em có hạn và khi lần đầu tiên được tiếp cận với tranh biếm họa các em cũng có nhiều bỡ ngỡ GV sẽ phải tính toán tầm hiểu biết của HS và khả năng thấu hiểu bức tranh để sử dụng sao cho hợp lí
Chúng ta cũng sẽ thấy một khó khăn rất lớn khi đưa tranh biếm họa vào dạy học,
đó là tranh biếm họa không có trong SGK Hệ thống tranh biếm họa phục vụ cho dạy học hiên nay còn khá hạn chế, gây khó khăn cho cả GV và HS Có thể nói, đây là khó khăn lớn nhất khiến nhiều GV e ngại khi đưa tranh biếm họa vào dạy học Đặc biệt ở một số địa phương, các trường THPT vẫn chưa được trang bị đầy đủ các phương tiện thông tin phục vụ cho dạy học, đặc biệt là các trường ở miền núi và nông thôn
Như vậy, các khó khăn trên sẽ là thách thức không nhỏ để đưa tranh biếm họa vào áp dụng đại trà không chỉ riêng các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
mà trong các trường THPT nói chung trong thời điểm hiện nay
Trang 32CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG TRANH BIẾM HỌA ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI (1914 - 1945) Ở TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN ĐÀ NẴNG THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 2.1 Khái quát nội dung của phần LSTG giai đoạn 1914 – 1945 ở trường THPT
Trong chương trình môn Lịch sử lớp 11 ở trường phổ thông, LSTG cận đại (cuối thế kỉ XIX) và LSTG hiện đại (giai đoạn từ 1917 - 1945) có rất nhiều nội dung, kiến thức, sự kiện lịch sử nhưng để tài chủ yếu chú trọng vào giai đoạn mình tìm hiểu là từ năm 1914 – 1945 với nội dung cụ thể như sau:
2.1.1 Giai đoạn từ năm 1914 - 1918
LSTG giai đoạn này nổi bật thứ nhất là về quan hệ quốc tế cuối thế kỉ XIX – thế
kỉ XX và những mâu thuẫn trong quan hệ quốc tế dẫn tới CTTG thứ nhất (1914 – 1918)
Sự phát triển không đều về kinh tế và chính trị của CNTB cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã làm thay đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa các nước đế quốc Bên cạnh các đế quốc “già” (Anh, Pháp) với hệ thống thuộc địa mênh mông là các đế quốc “trẻ” (Mĩ, Đức, Nhật) đang vươn lên mạnh mẽ về kinh tế lại quá ít thuộc địa Mâu thuẫn các nước đế quốc về vấn đề thuộc địa là không tránh khỏi và ngày càng gay gắt Vì vậy, trong những năm bản lề của hai thế kỷ, nhiều cuộc chiến tranh đế quốc đầu tiên đã diễn ra để tranh giành thuộc địa như: Chiến tranh Trung - Nhật (1894 – 1895), chiến tranh Mĩ - Tây Ban Nha (1898), chiến tranh Anh – Bô-ơ (1899 đến 1902), chiến tranh Nga - Nhật (1904 – 1905)
Trong cuộc chạy đua, tranh giành thuộc địa đế quốc Đức hung hãn nhất vì Đức
có tiềm lực kinh tế và quân sự nhưng lại có quá ít thuộc địa Từ những năm 80 của thế
kỷ XIX, giới cầm quyền Đức đã vạch ra kế hoạch chiến tranh với mục đích là chiếm hết châu Âu, vươn tay ra các thuộc địa của Anh, Pháp, Nga Năm 1879, Đức ký hiệp ước liên minh với Áo – Hung Năm 1882, Đức cùng Áo - Hung và I-ta-li thành lập liên minh tay ba
Pháp, Nga kí hiệp ước liên minh vào tháng 10 - 1893, riêng Anh thực hiện
“Chính sách cô lập”, đứng ngoài các khối quân sự Sang thế kỷ XX, trước những âm mưu của Đức, Anh từ bỏ chính sách cô lập, ký Hiệp ước liên minh với Pháp (1904) và Nga (1907) Như vậy, đến đầu thế kỷ XX châu Âu đã hình thành hai khối quân sự đối đầu nhau Cả hai tập đoàn đều ôm mộng xâm lược cướp đoạt lãnh thổ và thuộc địa của nhau, đều điên cuồng chạy đua vũ trang Vào đầu thế kỷ XX, các cuộc khủng hoảng và chiến tranh bộ phận xảy ra làm mâu thuẫn giữa các nước càng trở nên gay gắt Cuộc
Trang 33chiến tranh Ban-căng đã làm cho tình hình thế giới nên phức tạp và tiến gần đến cuộc chiến tranh thế giới Trực tiếp, vào ngày 28 - 6 – 1914, Hoàng Thân thừa kế ngôi vua
Áo - Hung bị một phần tử khủng bố Serbia ám sát tại Bôx-ni-a Bọn quân phiệt Đức,
Áo – Hung đã chớp lấy cơ hội đó để gây ra cuộc chiến tranh
Về CTTG thứ nhất (1914 – 1918): Nguyên nhân dẫn tới chiến tranh đó là trong những năm cuối cùng của thế kỷ XIX, cuộc đấu tranh để giành thuộc địa làm cho mẫu thuẫn giữa các nước đế quốc tế sự căng thẳng nhất là mâu thuẫn giữa Anh, Đức Các nước châu Âu đã tập hợp thành hai khối quân sự - chính trị đối đầu nhau là Đức – Áo – Italia, Anh – Pháp - Nga và ráo riết chuẩn bị chiến tranh Ngoài mục đích xâm chiếm thuộc địa, các nước đế quốc còn nhằm mục đích củng cố chế độ tư bản, lợi dụng chiến tranh để đàn áp phong trào cách mạng của giai cấp vô sản và phong trào giải phóng dân tộc đang dâng cao đầu thế kỷ XX
CTTG thứ nhất mở đầu từ tình hình căng thẳng ở châu Âu sau vụ Ban – căng
“Ngày 28 - 6 – 1914, vợ chồng viên Đại công tước kế vị ngai vàng của đế quốc Hung là Phrăng-xoa Phéc-đi-năng thủ phủ của xứ Bỗ-nia, khi ông ta sang đây thị sát một vụ tập trận do phía Áo tổ chức Hung thủ là Prin-xip, một người gốc Serbia Áo muốn nhân dịp này đánh Serbia để dọn đường vào Ban – căng.” [5, tr.182]
Áo-Liên tiếp các ngày: 28 - 7, Áo tuyên chiến với Serbia; ngày 1 - 8, Đức tuyên chiến với Nga; ngày 3 - 8, Đức được tuyên chiến với Pháp và sau đó tràn qua lãnh thổ
Bỉ (một nước trung lập) để vào Pháp Mượn cứ Đức vi phạm nền trung lập của Bỉ, để tuyên chiến với Đức vào ngày 4 - 8 -1914
Diễn biến CTTG thứ nhất gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (1914 – 1916) và giai đoạn 2 (1916 – 1917)
Kết cục của CTTG thứ nhất (1914 – 1917): “Đã gây nên những thảm họa hết sức
to lớn đối với nhân loại: 38 nước với tổng số quân tham gia 37 triệu và 1.500 triệu dân
bị lôi cuốn vào vòng khói lửa; 10 triệu người chết, trên 20 triệu người bị thương Nhiều thành phố, làng mạc, đường sá, cầu cống, nhà máy bị phá hủy Số tiền các nước tham chiến chi phí cho chiến tranh lên tới 85 tỷ đô la Các nước châu Âu đều biến thành con nợ của Mĩ Riêng nước Mĩ được hưởng lợi trong chiến tranh nhờ vũ khí, đất nước không bị bom đạn Nước Nhật chiếm lại một số đảo của Đức, nâng cao địa vị ở vùng Đông Á và Thái Bình Dương Hậu quả gánh nặng của chiến tranh đè nặng lên quần chúng nhân dân lao động và ở các nước tham chiến và các nước thuộc địa Trong quá trình chiến tranh, một kết quả bất ngờ là thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga
và việc thành lập Nhà nước Xô viết đã đánh dấu một bước chuyển lớn trong cục diện
Trang 34chính trị thế giới Như vậy, đã kết thúc thời kỳ lịch sử thế giới cận đại và mở đầu thời
kỳ lịch sử thế giới hiện đại
Thứ hai là nằm giữa vòng vây của Chủ nghĩa tư bản (CNTB) lần đầu tiên Chủ nghĩa xã hội được xác lập ở một nước trên thế giới
Đầu thế kỉ XX, Nga vẫn là một nước quân chủ chuyên chế, đứng đầu là Nga hoàng, Nga hoàng đã đẩy nhân dân Nga vào cuộc chiến tranh đế quốc, gây nên hậu quả kinh tế xã hội nghiêm trọng Kinh tế: Lạc hậu, kiệt quệ vì chiến tranh, nạn đói xảy
ra ở nhiều nơi, công nghiệp, nông nghiệp đình đốn Về xã hội: Đời sống của nông dân, công nhân, các dân tộc trong đế quốc Nga vô cùng cực khổ, phong trào phản đối chiến tranh đòi lật đổ Nga hoàng diễn ra khắp nơi Như vậy, “nước Nga đã hội tụ đầy đủ mâu thuẫn cơ bản của thời cận đại và đạt đến mước độ gay gắt nhất: Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và vô sản, giữa nông dân và địa chủ phong kiến, giữa tư bản và phong kiến, giữa các dân tộc và triểu đình phong kiến Sa hoàng, giữa đế quốc Nga với các đế quốc khác Trong đó, mâu thuẫn bao trùm cần giải quyết trước hết là giữa toàn thể nhân dân lao động Nga với chế độ phong kiến Nước Nga trở thành khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) Tuy nhiên, tất cả những nhân tố trên chỉ có thể đưa Cách mạng xã hội đến thắng lợi khi đã có một chính đảng cách mạng là nhân tố cực kì quan trong Khi CTTG thứ nhất bùng nổ, Đảng Bôn-sê-vích do Lê-nin lãnh đạo đã vạch rõ tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh và nên khẩu hiệu biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng
Chính tính hình trên đã dẫn tới hai cuộc cách mạng xảy ra ở Nga năm 1917 Cuộc cách mạng thứ nhất là cách mạng dân chủ nổ ra vào tháng Hai theo lịch cũ của Nga, hay tháng Ba theo lịch hiện đại đã lật đổ được chế độ quân chủ chuyên chế Nga hoàng nhưng sau Cách mạng, Nga tồn tại 2 chính quyền song song: Chính phủ lâm thời (tư sản) và Xô viết đại biểu (vô sản) là đại diện cho lợi ích của các giai cấp khác nhau nên cục diện không thể kéo dài Trước tình hình đó Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích
đã xác định cách mạng Nga là chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng XHCN (lật đổ chính quyền tư sản lâm thời) Vì vậy đã dẫn tới, cuộc cách mạng thứ hai
là cách mạng vô sản nổ ra vào tháng Mười theo lịch cũ của Nga, hay tháng 11 theo lịch hiện đại: Đánh đổ chính phủ tư sản, thành lập nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới Trải qua những chặng đường khó khăn, gian khổ với biết bao tổn thất, hy sinh, Nhà nước Xô viết đã được vệ từng bước đi lên Chỉ trong thời gian ngắn, từ một nước nông nghiệp lạc hậu, Liên Xô đã vươn lên trở thành một cường quốc công nghiệp trên
Trang 35thế giới, có nền văn hóa, khoa hoc – kĩ thuật tiên tiến và vị thế quan trọng trên trường quốc tế.”
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1918 - 1939
Tiếp đến sang thời kì hiện đại (1917 - 1945), trong gần 30 năm, LSTG hiện đại nổi bật với nội dung chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất là nhân loại đã diễn ra những chuyển biến quan trọng trong sản xuất vật chất: Những tiến bộ về khoa học – kĩ thuật đã thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển với một tốc độ cao Sự tăng trưởng của kinh tế thế giới đã làm thay đổi đời sống chính trị - xã hội, văn hóa của các quốc gia, dân tộc và toàn thế giới
- Thứ hai từ sau thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga và sự kết thúc của cuộc CTTG thứ nhất mà phong trào cách mạng thế giới chuyển sang một thời kì mới
Phong trào cách mạng ở các nước tư bản, Quốc tế cộng sản
Cao trào cách mạng trong những năm 1918 – 1939 ở các nước tư bản:
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã làm cho những mâu thuẫn xã hội ở các nước tư bản hết sức gay gắt Mặt khác, thắng lợi của cách mạng XHCN tháng Mười Nga đã cổ
vũ thúc đẩy cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động đứng lên đấu tranh Trong những năm 1918 – 1939, hàng loạt cao trào đấu tranh diễn ra sôi nổi ở hầu hết các nước tư bản châu Âu, trong đó tiêu biểu ở Đức, Áo, Hung-ga-ri, Pháp và Tây Ban Nha
Ở Đức, thủy quân cách mạng ở cảng Ki-lơ nổi dậy khởi nghĩa vào ngày mùng 3/11/ 1918 và thành lập các Xô viết thủy quân, mở đầu cho cao trào cách mạng tháng
11 ở Đức Phong trào cách mạng lan trong trong toàn nước Đức, các thành phố như Lu-bếch, Hăm-bua, Muy-ních, các Xô viết đại biểu đã được thành lập…Trên cơ sở phong trào công nhân hát triển mạnh và nhu cầu tập hợp phong trào đấu tranh của công nhân, ngày 30/12/1918, Đảng Cộng sản Đức ra đời trên cơ sở Liên đoàn Xpác-ta-quýt
Ở Hung-ga-ri, phong trào cách mạng cũng phát triển cao, các Xô viết đại biểu được thành lập khắp nơi trong cả nước Đáp ứng mong muốn của nhân dân, tháng 1 năm 1918, Đảng Cộng sản Hung-ga-ri được thành lập…
Thông qua các cao trào cách mạng, nhiều đảng cộng sản đã lần lượt ra đời như: Đảng Cộng sản Mĩ (1919), Đảng Cộng sản Pháp (1920), Đảng Cộng sản Anh (1920)
Quốc tế Cộng sản thành lập:
Trang 36Thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời của nhiều đảng cộng sản ở các nước như: Đức, Áo, Hung-ga-ri, Ba Lan, Phần Lan, Ac-hen-ti-na… đã tạo tiền đề quan trọng tiến tới thành lập một tổ chức quốc tế mới nhằm tập hợp lực lượng, chỉ đạo đường lối đúng đắn thúc đẩy phong trào đấu tranh Các đảng mới thành lập vẫn còn non yếu về mặt tổ chức và lý luận cần có sự giúp đỡ từ những người mác-xít dày dặn kinh nghiệm để xây dựng, củng cố đảng, chống lại ảnh hưởng của các trào lưu cơ hội và chủ nghĩa cải lương Với sự nỗ lực tích cực của V I Lênin và một số nhà hoạt động cách mạng quốc tế, tháng 3 năm 1919, Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản (hay còn gọi là quốc tế III) được tổ chức tại Mát-xcơ-va tham gia có đại biểu của
21 nước Đại hội đã thông qua cương lĩnh của Quốc tế Cộng sản theo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin Trong thời gian tồn tại từ 1919 đến năm 1943, Quốc tế Cộng sản đã tiến hành bảy Đại hội và đã đề ra đường lối cách mạng phù hợp với từng thời kỳ phát triển của cách mạng thế giới
Phong trào Mặt trận nhân dân chống phát xít và chống chiến tranh (1929 – 1939):
Từ năm 1924 – 1929, phong trào công nhân quốc tế tạm thời lắng xuống và tới năm 1929 lại bùng lên mạnh mẽ với những khẩu hiệu đấu tranh phong phú, đa dạng chống chủ nghĩa phát xít vì dân sinh, dân chủ và hòa bình Dưới sự chỉ đạo của Quốc
tế Cộng sản và các đảng cộng sản, phong trào chống phát xít, chống chiến tranh lan rộng tới nhiều nước Những người cộng sản đã thống nhất hành động với các đảng xã hội dân chủ, các lực lượng yêu nước tập hợp đông đảo quần chúng thành lập Mặt trận nhân dân chống chủ nghĩa phát xít ở Pháp, Italia, Tiệp Khắc, Hy Lạp, Tây Ban Nha…
Về phong trào cách mạng ở các nước châu Á (1918 – 1939):
Phong trào cách mạng ở Trung Quốc:
Phong trào cách mạng giai đoạn 1918 - 1929: Nhằm chống lại sự xâu xé Trung Quốc của các nước đế quốc, ngày 4/5/1919, gần 3.000 sinh viên, HS yêu nước Bắc
Trang 37Kinh biểu tình mạnh mẽ Phản đối quyết định chuyển giao những đặc quyền của nước Đức ở tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc) cho Nhật Bản, mở đầu cho phong trào Ngũ Tứ
Để ngăn chặn để ngăn chặn làn sóng cách mạng, Chính phủ quân phiệt Bắc Kinh với vũ khí hiện đại đã đàn áp và bắt giảm hơn 1.000 sinh viên, HS yêu nước Căm phẫn trước hành động dã man đó, ngày 3/6/1919, công nhân Thượng Hải quyết định bãi công, kéo theo hàng loạt nhân dân, công nhân, sinh viên xuống đường biểu tình Phong trào lan rộng khắp nơi, trải ra 22 tỉnh và 150 thành phố
Phong trào đã giành được thắng lợi chính phủ Trung Quốc buộc phải thả những người bị băt Thắng lợi của phong trào ngũ tứ đánh dấu bước phát triển của phong trào công nhân, của cách mạng Trung Quốc từ cách mạng dân chủ cũ sang cách mạng dân chủ mới Giai cấp công nhân bắt đầu bước lên vũ đài chính trị, trở thành lực lượng chính trị độc lập đấu tranh chống đế quốc và phong kiến, tạo điều kiện cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin truyền bá sâu, rộng vào Trung Quốc
Năm 1920, các nhóm cộng sản được thành lập các nơi Trên cơ sở các nhóm này, ngày 1/7/1921, Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc khai mạc ở Thượng Hải Mao Trạch Đông, Đống Tất Vũ, Hà Thúc Hành đã tham dự đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập lấy chủ nghĩa Mác làm kim chỉ nam cho hành động với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa cộng sản là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Trung Quốc từ đây giai cấp vô sản đã chính đã có chính Đảng của mình để từng bước nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng
Phong trào cách mạng giai đoạn 1929 -1939: Sau cuộc nội chiến lần thứ nhất vì thất bại Tưởng Giới Thạch đã thiết lập chính phủ Trung Quốc đại diện cho tất cả các chính phủ đầu tư sản ở Trung Quốc chính quyền này cũng muốn dã man những người yêu nước và tam giác người cộng sản Kết thúc cuộc chiến tranh Bắc phạt quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tiến hành cuộc chiến tranh chống chính phủ Quốc dân Đảng trong những năm 1929 – 1937
Phong trào độc lập dân tộc ở Ấn Độ:
Nét đặc biệt nhất của các cuộc đấu tranh ở Ấn Độ (1918 – 1929): Trong giai đoạn này là sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là công nhân Chỉ trong 6 tháng đầu năm 1920, ở Ấn Độ đã có 200 cuộc bãi công, với 1,5 triệu công nhân tham gia (điển hình là ở Bom Bay, ở An-rít-xa) Cuối năm 1922, thực dân Anh
đã cấu kết với địa chủ phong kiến đàn áp khốc liệt và phong trào tạm thời lắng xuống
Trang 38Đầu những năm 20, ở Ấn Độ đã xuất hiện những nhóm cộng sản đầu tiên là cơ sở cho sự thành lập Đảng cộng sản Ấn Độ vào tháng 12 năm 1925, một trong những nhân
tố thúc đẩy phong trào đấu tranh giai đoạn sau đó
Phong trào độc lập dân tộc trong những năm 1929 – 1939: Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933), Chính phủ Anh ra sức bóc lột thậm tệ nhân dân thuộc địa, làm bùng lên làn sóng đấu tranh của nhân dân Ấn Độ Đảng Quốc Đại do Găng-đi đứng đầu tiếp tục khởi xướng cuộc đấu tranh trong suốt những năm
30 Phong trào vẫn kiên trì tư tưởng bất hợp tác và chống lại các chính sách độc quyền của thực dân Anh Tháng 12 năm 1931, một số chiến dịch bất hợp tác mới được phát động rầm rộ, tẩy chay hàng Anh, chống độc quyền muối… Thực dân Anh đã thực hiện chính sách hai mặt, một mặt tăng cường bắt bớ, khủng bố, đàn áp những đàn áp những người cách mạng, mặt khác thực hiện âm mưu mua chuộc chính trị, chia rẽ làm suy yếu phong trào Tuy nhiên, phong trào đấu tranh vẫn tiếp tục dâng cao và huy động được đông đảo quần chúng tham gia Phong trào liên kết mạnh mẽ trong các mặt trận thống nhất chống thực dân giành độc lập dân tộc
- Thứ ba là CNTB không còn giữ hệ thống duy nhất trên thế giới, đồng thời trải qua những bước thăng trầm đầy biến động Sau CTTG thứ nhất (1918 – 1929), các nước tư bản từng bước ổn định và đạt mức tăng trưởng về kinh tế cao, nhưng trong 10 năm sau (1929 – 1930) đã lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng chưa từng có Các nước tư bản giữa hai cuộc CTTG (1918 – 1939)
Khát quát những nét chung:
Sự phát triển của CNTB trong những năm 1929 – 1939: Trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới năm 1918 – 1939, các nước tư bản chủ nghĩa đã trải qua những giai đoạn thăng trầm khác nhau Giai đoạn 1918 – 1923, được đánh giá bằng Cuộc khủng hoảng kinh tế 1920 - 1921 và cao trào cách mạng bùng nổ ở hầu khắp các nước tư bản, đế quốc và lan sang các nước thuộc địa, nửa thuộc địa
Sau khi chiến tranh, kể cả các mặt thắng trận và bại trận đều bị suy sụp về kinh tế
và khủng hoảng xã hội Nước Pháp tuy chiến thắng nhưng bị tổn thất nặng nề với 15 triệu người chết, 10 tỉnh công nghiệp phát triển nhất bị tàn phá, tổng số thiệt hại lên tới
200 tỷ phơ-răng Nước Đức bại trận, “với Hòa ước Véc-xai” đã phải chịu thất bại nặng
nề nhất: Mất hết thuộc địa, phải cắt nhuộm cho nước ngoài 1/8 lãnh thổ của mình và phải trả những khoản bồi thường chiến tranh to lớn Tình hình Anh, Nhật và Italia… cũng chịu hoàn cảnh tương tự
Trang 39Mặt khác, sau chiến tranh kết thúc, các đế quốc thắng trận đã triệu tập hội nghị Véc-xai (từ tháng 1 năm 1919 đến tháng 1 năm 1920), rồi Hội nghị Oa-sinh-tơn (từ tháng 11 năm 1921 đến năm 1922), qua đó ký kết các hòa ước và hiệp ước bất bình đẳng
Trong những năm 1924 – 1929, bằng những biện pháp đàn áp và chia sẻ, mua chuộc về chính trị (thông qua các đảng XHCN) giai cấp tư sản đã đẩy lùi được cao trào cách mạng và ổn định lại nền thống trị CNTB Cách mạng thế giới lúc này cũng đang bước vào thời kỳ thoái trào, tuy nhiên ở một số ít nước, cách mạng vẫn tiếp tục phát triển Tuy nhiên, sự ổn định về chính trị và phát triển kinh tế của các nước tư bản chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn Năm 1929, cuộc đại khủng hoảng kinh tế nổ ra trong toàn thế giới tư bản chủ nghĩa, đẩy CNTB lâm vào một thời kỳ khó khăn đen tối chưa từng có trong lịch sử
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 và hậu quả của nó: Tháng 10 năm 1929, Cuộc khủng hoảng kinh tế quy mô toàn thế giới bùng nổ đầu tiên ở Mĩ sau đó lan rộng toàn thể giới tư bản, chấm dứt thời kỳ ổn định và tăng cường tăng trưởng kinh tế của CNTB Khủng hoảng kéo dài gây nhiều thiệt nhiều hậu quả nặng nề với kinh tế chính trị và xã hội chưa từng thấy trong lịch sử kinh tế tư bản chủ nghĩa trầm trọng nhất là năm 1932
Khủng hoảng kinh tế năm 1929 - 1933, đã dẫn đến khủng hoảng chính trị trầm trọng, mâu thuẫn của CNTB ngày càng gay gắt Mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản trong các nước tư bản trở nên sâu sắc Đời sống công nhân bị sa sút, hàng chục triệu người thất nghiệp Hàng triệu nông dân bị phá sản, lâm vào cảnh đói rét Số công nhân thất nghiệp trong thế giới tư bản lên tới 50 triệu người
Cuộc khủng hoảng kinh tế đe dọa nghiêm trọng sự tồn tại của CNTB Để cứu vãn tình thế, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, các nước tư bản lựa chọn hai con đường khác nhau Một là, các nước Đức, Italia, Nhật Bản không có hoặc ít thuộc địa, thiếu vốn, nguyên liệu và thị trường nên đã tìm lối thoát bằng hình thức thống trị mới
đó là thiết lập chế độ độc tài phát xít - nền chuyên chính khủng bố công khai của các thế lực phản động nhất, hiếu chiến nhất Hai là, các nước Mĩ, Anh, Pháp có thuộc địa, vốn, thị trường có thể thoát khỏi khủng hoảng bằng những chính sách cải cách kinh tế - xã hội, đổi mới quá trình quản lý, tổ chức sản xuất
Các nước Đức, -talia, Nhật Bản giữa hai cuộc CTTG (1918 – 1939)
Đức: Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 đã giáng đòn nặng nề vào nước Đức Năm 1930, mức sản xuất công nghiệp của Đức giảm sút 8,4% so với năm 1929
Trang 40Nhiều xí nghiệp phá sản Năm 1932, có tới 9 triệu người thất nghiệp Mâu thuẫn xã hội
và các cuộc đấu tranh của quần chúng lao động đã gây ra cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng của Đức Giai cấp tư sản không đủ sức mạnh duy trì chế độ Cộng hòa tư sản đưa đất nước vượt qua khủng hoảng Nội các của Đảng Xã hội Dân chủ sụp đổ Đầu năm 1932, trong cuộc bầu cử Tổng thống Hin-đen-bua lại thắng cử Các chính phủ mới được thiết lập sau đó điều không đủ đều không đủ sức lãnh đạo đất nước đang chịu những tác động lớn của cuộc khủng hoảng Đại tư bản ngày càng ủng hộ lực lượng phát xít Ngày 30/1/1933, Hin-đen-bua đã chỉ định Hitler lên làm Thủ tướng Sau khi nắm chính quyền, Hitler ra sức tăng cường nền chuyên chính phát xít, công khai khủng bố tất cả các đảng phái chống phát xít, các đảng phải tiến bộ, nhất là Đảng Cộng sản Đức… Chủ nghĩa phát xít dựa trên một hệ tư tưởng rất phản động, nhưng rất
mị dân Thực chất của nó là thiết lập chế độ độc tài, khủng bố công khai, là “rèn đúc con người mới” trên cơ sở chủ nghĩa dân tộc cực đoan, xây dựng nền kinh tế chỉ huy
và chuẩn bị chiến tranh đảm bảo “không gian sinh tồn”
Italia: Mặc dù lần mất thắng trận nhưng Chiến tranh thế giới thứ nhất đã làm cho nền kinh tế Italia kiệt quệ Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt Bên cạnh đó, do tác động của Cách mạng tháng Mười Nga ở Italia bùng nên các phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng nhân dân Năm 1935, phát xít Italia đem quân chiếm Ê-ti-ô-bi-a Năm 1936, cùng với Đức, Italia tiến hành can thiệp vũ trang chống lại nước Cộng Hòa Tây Ban Nha Sau đó, tháng 10 năm 1936, Italia đã ký hiệp định liên minh với Đức, tham gia “Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản” cùng phát xít Đức, Nhật Bản để chuẩn bị phát động chiến tranh thế giới Italia thực sự trở thành lò lửa chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu (sau Đức)
Nhật Bản: Chủ nghĩa phát chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản ngay từ khi mới ra đời
đã có sẵn chế độ độ chuyên chế Thiên Hoàng nên quá trình phát xít hóa thông qua việc quân phiệt hóa bộ máy nhà nước và tiến hành chiến tranh xâm lược thuộc địa Quá trình này thể hiện bằng cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai phái “sĩ quan già” và “sĩ quan trẻ” trong những năm 30 và kết thúc bằng thất bại của phái “sĩ quan trẻ” trong cuộc đảo chính ngày 26/2/1936
2.1.3 Giai đoạn từ năm 1939 - 1945
CTTG thứ hai (1939 – 1945) là cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất, tàn phá nặng nề nhất trong lịch sử nhân loại Trước thảm họa của chiến tranh, các quốc gia với chế độ chính trị khác nhau đã cùng phối hợp trong khối Đồng minh chống phát xít, nhân dân thế giới cùng nhau chiến đấu để chống lại bọn phát xít xâm lược Tiêu biểu