ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC ------ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Đề tài: “PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài: “PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN LỊCH SỬ 4”
Sinh viên thực hiện: Võ Nguyễn Thục Quyền Lớp: 16STH
Giảng viên hướng dẫn: Ths Trần Thị Kim Cúc
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài: “PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN LỊCH SỬ 4”
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4
1.1.1 Ngoài nước 4
1.1.2 Trong nước 4
1.2.2 Các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh tiểu học theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới 7
1.3.1 Khái niệm 12
1.3.2 Vai trò của năng lực giải quyết vấn đề đối với học sinh tiểu học 13
1.4.1 Về bản đồ tư duy 14
1.4.2 Một số vấn đề về kỹ thuật sơ đồ tư duy 15
1.4.3 Vai trò của sơ đồ tư duy trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh 15
1.4.3.1 Đối với cá nhân học sinh 15
1.4.3.2 Đối với giáo viên 16
1.4.3.3 Đối với quá trình giáo dục 17
1.4.3 Ý nghĩa của viêc sử dụng sơ đồ tư duy trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học phân môn Lịch sử 4 17
1.5.1 Đặc điểm nhân cách 19
1.5.1.1 Tình cảm 19
1.5.1.2 Tính cách 20
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Giả thuyết nghiên cứu 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc của đề tài 3
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Khái quát về năng lực 5
1.2.1 Năng lực 5
1.3 Năng lực giải quyết vấn đề 12
1.4 Kỹ thuật sơ đồ tư duy 14
1.5 Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học 19
Trang 41.5.2 Đặc điểm nhận thức 20
1.5.2.1 Tư duy 20
1.5.2.2 Tri giác 20
1.5.2.3 Tưởng tượng 21
1.5.2.4 Trí nhớ 22
Tiểu kết chương 1 22
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN 23
2.1.1 Mục tiêu 23
2.1.2 Đặc điểm 24
2.1.2.1 Đặc điểm chương trình 2006 24
2.1.2.2 Đặc điểm chương trình 2018 24
2.1.3 Nội dung dạy học phân môn Lịch sử ở Tiểu học 25
2.1.3.1 Quan điếm xây dựng chương trình phân môn Lịch sử và Địa lí chương trình 2006 25
2.1.3.2 Quan điểm xây dựng chương trình phân môn Lịch sử và Địa lí chương trình 2018 26
2.1.4 Nội dung phân môn Lịch sử ở Tiểu học hiện hành 27
2.1.4.1 Chương trình 2006 27
2.3.1 Mục đích khảo sát 34
2.3.2 Đối tượng khảo sát 34
2.3.3 Nội dung khảo sát 34
2.3.3.1 Học sinh 34
2.3.4 Phương pháp khảo sát 35
2.3.5 Kết quả khảo sát 35
2.3.5.1 Đối với học sinh 35
2.3.5.2 Đối với giáo viên 40
CHƯƠNG III: SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN LỊCH SỬ LỚP 4 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH 47
2.1 Một số vấn đề phân môn Lịch sử ở Tiểu học 23
2.2 So sánh phân phân môn Lịch sử chương trình 2006 và chương trình 2018 trong việc sử dụng bản đồ tư duy để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh 33 2.3 Khảo sát thực trạng dạy học Lịch sử ở Tiểu học 34
Trang 53.2.1 Hoạt động khám phá hình thành kiến thức 47
3.2.2 Hoạt động luyện tập, thực hành 48
3.3.1 Giáo án giảng dạy (Dạng bài về các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công) 49
3.3.2 Thiết kế bản đồ tư duy trên bài giảng điện tử 55
3.3.3 Bài giảng minh họa: 60
Tiểu kết chương III 66
4.3.1 Hình thức thực nghiệm 67
4.3.2 Thời gian và địa điểm 67
4.3.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 67
Tiểu kết chương 4 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
3.1 Hướng dẫn học sinh thiết kế bản đồ tư duy 47
3.2 Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Lịch sử lớp 4 47
3.3 Thiết kế kế hoạch dạy học Lịch sử lớp 4 có sử dụng bản đồ tư duy nhằm phát triển năng lực học sinh 49
4.1 Mục đích thực nghiệm 67
4.2 Nội dung thực nghiệm 67
4.3 Tổ chức thực nghiệm 67
Trang 6Bảng 2.5 Đánh giá về tầm quan trọng của NLGQVĐ trong phân môn
Bảng 2.6 Mức độ tổ chức hoạt động nhằm phát triển NLGQVĐ trong
Bảng 2.7 Những khó khăn mà giáo viên gặp phải trong dạy học phát
triển NLGQVĐ trong phân môn Lịch sử cho học sinh 42
Bảng 2 8 Biện pháp nâng cao NLGQVĐ trong phân môn Lịch sử cho
Bảng 2.9 Sự am hiểu của các thầy (cô) về bản đồ tư duy 45
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Biểu đồ 2.1 Mức độ hứng thú của học sinh với phân môn Lịch sử 36 Biểu đồ 2.2 Mức độ tích cực của học sinh trong học tập phân môn
Biểu đồ 2.3 Thái độ của học sinh đối với tình huống có vấn đề 38 Biểu đồ 2.4 Mức độ tham gia giải quyết vấn đề của học sinh trong
Biểu đồ 2.5 Đánh giá về tầm quan trọng của NLGQVĐ trong phân môn
Biểu đồ 2.6 Mức độ tổ chức hoạt động nhằm phát triển NLGQVĐ
Biểu đồ 2.7 Những khó khăn mà giáo viên gặp phải trong dạy học phát
triển NLGQVĐ trong phân môn Lịch sử cho học sinh 43
Biểu đồ 2.8 Biện pháp nâng cao NLGQVĐ trong phân môn Lịch sử
Biểu đồ 2.9 Sự am hiểu của các thầy (cô) về bản đồ tư duy 45
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo Nghị quyết số 29 – NQ/TW, giáo dục và đào tạo được xem là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Phát triển giáo dục và đào tạo góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng
Xu thế phát triển của khoa học ngày nay khiến nhu cầu về việc học các môn khoa học tự nhiên ngày càng tăng cao Với tính ứng dụng cao vào thực tế, các môn này chiếm được sự quan tâm và hứng thú rất lớn của học sinh trong quá trình học tập Đồng nghĩa với việc đó là các môn khoa học xã hội, các môn học trang bị những kiến thức nền vốn xưa nay đã không được yêu thích nay càng trở nên nhàm chán đối với học sinh, đặc biệt
là phân môn Lịch sử
Trong các bộ môn ở trường học, phân môn Lịch sử có một vị trí vô cùng quan trọng Bởi lịch sử giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành cho học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc, tình đoàn kết quốc tế Đồng thời học lịch sử còn bồi dưỡng năng lực tư duy, hành động và thái độ ứng xử đúng đắn trong cuộc sống cho các em …
Tuy nhiên, những năm gần đây, việc dạy và học Lịch sử ở nước ta có rất nhiều điểm bất cập Đối với việc dạy học, chương trình môn học Lịch sử hiện nay luôn bị đánh giá là rất khó ở các cấp học Bên cạnh đó, giáo viên chưa chú trọng vào việc thay đổi cách tổ chức cho học sinh tiếp cận tri thức, phần lớn vẫn dạy theo mô hình giáo viên là trung tâm, truyền đạt kiến thức cho học sinh Chính điều này đã tạo ra sự nhàm chán khó tiếp thu tri thức cho học sinh Về việc học, phân môn Lịch sử bị một bộ phận không nhỏ phụ huynh và học sinh thờ ơ xem nhẹ Ở trường học, đây bị xem là một môn học phụ, không được học sinh dành nhiều sự quan tâm Đặc biệt khi phân môn Lịch sử được
Trang 10đưa vào các kì thi tuyển sinh đều nhận được đông đảo sự phản đối và ái ngại từ phụ huynh và học sinh Kết quả kì thi trung học phổ thông các năm, phân môn Lịch sử đều
là môn học có điểm trung bình thấp ở mức báo động đỏ: năm 2016 là 4,49, năm 2017
là 4,6, năm 2018 là 3,79, năm 2019 là 4.3 Năm 2019 có đến hơn 70% các bài thi Lịch
sử đều dưới điểm trung bình Đây là một thực tế đáng ái ngại
Thực tế, học sinh được tiếp cận phân môn Lịch sử ngay từ lớp 4, sớm hơn nhiều
so với các môn học tự nhiên như Vật lý hay Hóa học Nếu ngay từ lớp 4, giáo viên tạo được cho học sinh hứng thú học tập đối với môn học này, xây dựng được cho các em một phương pháp học tập đúng đắn, dễ dàng tiếp thu những kiến thức, đặc biệt là những con số và sự kiện, đồng thời duy trì nó đó trở thành một thói quen học tập để khi lên các cấp học lớn học, dù có sự thay đổi về cấu trúc bài học nhưng học sinh vẫn có thể có được hứng thú và phương pháp để tiếp cận được những tri thức Lịch sử mới và biến chúng thành kiến thức của mình
Đối với triết lý giáo dục lấy học sinh là trung tâm, có một phương pháp học tập rất quen thuộc nhưng vô cùng hiệu quả để giúp học sinh dễ dàng nắm bắt bài học hơn, đó
là bản đồ tư duy sẽ giúp quá trình nắm bắt các sự kiện và con số trở nên khoa học và dễ nhớ hơn Đây là phương pháp phù hợp cho quá trình dạy học Lịch sử hiện nay Việc dễ tiếp thu và cảm thấy việc học dễ dàng, hứng thú của học sinh đối với môn học Lịch sử
sẽ được hình thành, từ đó, năng lực học tập môn học này của các em cũng sẽ được phát triển
Với sự cần thiết của môn học Lịch sử, với sự cần thiết của việc thay đổi quá trình dạy học phân môn Lịch sử hiện nay và tìm được biện pháp phù hợp để thực hiện chúng,
tôi chọn đề tài “Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua việc sử
dụng bản đồ tư duy trong dạy học phân môn Lịch sử 4” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tôi tìm hiểu cơ sở lí luân và thực trạng dạy học Lịch sử 4, thông qua đó nghiên cứu việc sử sụng bản đồ tư duy để phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học phân môn Lịch sử 4
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh qua dạy học phân môn Lịch sử 4
- Đánh giá thực trạng của việc dạy học phân môn Lịch sử 4
Trang 11- Đề xuất một số kế hoạch dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề thông qua việc sử dụng bản đồ tư suy trong dạy học phân môn Lịch sử 4
- Tổ chức thực nghiệm để đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua phân môn Lịch sử 4
4 Giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, nếu tổ chức được cho học sinh sử dụng tốt phương pháp bản đồ tư duy trong quá trình dạy học Lịch sử thì sẽ tạo được hứng thú học tập và phát triển năng lực học phân môn này cho học sinh lớp 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Quá trình dạy học phân môn Lịch sử 4 ở trường tiểu học
- Sử dụng bản đồ tư duy nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 4
- Chương trình phân môn Lịch sử 4
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Giáo viên và học sinh lớp trường TH Nguyễn Văn Trỗi trên địa bàn TP Đà Nẵng
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
+ Đọc các sách báo, tạp chí, tài liệu
+ Phân tích, tổng hợp lý thuyết liên quán đến đề tài để thu thập thông tin cần thiết
- Phương pháp điều tra, khảo sát
+ Sử dụng phiếu anket để thu thập thông tin và lấy ý kiến của giáo viên và học sinh
về việc sử dụng bản đồ tư duy nhằm phát triển năng lực trong dạy học phân môn Lịch
sử 4
- Phương pháp thực nghiệm
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài có bố cục 5 chương gồm: Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở thực tiễn
Chương 3: Phát triển năng lực cho học sinh thông qua việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học phân môn Lịch sử 4 ở trường tiểu học
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Trang 12CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Ngoài nước
Ở nước ngoài, vấn đề dạy học Lịch sử cũng được rất nhiều nước quan tâm, đặc biệt là các nước châu Á Với bề dày hàng nghìn năm Lịch sử, việc dạy học Lịch sử ở các nước này cũng gặp nhiều khó khăn như nước ta Và một trong những hướng giải quyết là sử dụng bản đồ tư duy
Chẳng hạn như vấn đề về dạy học lịch sử Hồi giáo tại Malaysia Trong đề tài nghiên cứu “Mind mapping approach in learning history” của Dhiyauddin Aziz, Marina Ismail (2018) có đề cập đến hiện nay, hầu hết thanh thiếu niên Malaysia biết rất ít về lịch sử Hồi giáo và các nền văn minh của nó Mặc dù lịch sử và các nền văn minh Hồi giáo được đề cập ngắn gọn trong giáo trình của trường học Malaysia, nhưng sự đánh giá cao đối với chủ đề này là rất ít Điều này là do cách tiếp cận truyền thống của việc học lịch
sử Hồi giáo không đủ hấp dẫn để các sinh viên thưởng thức và hiểu vấn đề này Khả năng của các công cụ đa phương tiện mạnh mẽ mới đã cho phép phát triển một ứng dụng cải tiến nhằm tạo điều kiện cho môi trường giảng dạy và học tập tốt hơn Do vấn đề này, cách tiếp cận 'Bản đồ tư duy' cùng với nền tảng lý thuyết của các nhiệm vụ dạy và học được nghiên cứu và điều chỉnh trong quá trình phát triển phần mềm Lịch sử Hồi giáo Các khóa học phát triển đã được thử nghiệm với các mẫu thử nghiệm từ 10 người trở lên về hiệu quả và trải nghiệm người dùng khi dùng bản đồ tư duy Kết quả mang lại kết quả tích cực dựa trên thiết kế độc đáo và thú vị Nghiên cứu này đã đem lại nhiều sự thay đổi cho việc dạy học Lịch sử Hồi giáo tại quốc gia Đông Nam Á này Nó cũng chứng tỏ được vấn đề rằng chỉ khi sử dụng những phương pháp thực sự thích hợp thì việc dạy học Lịch sử mới trở nên dễ dàng và có hiệu quả
1.1.2 Trong nước
Vấn đề tìm ra phương pháp dạy học mới trong dạy học lịch sử luôn là môt đề tài được quan tâm ở nước ta Có rất nhiều những công trình nghiên cứu, các bài báo, các sáng kiến kinh nghiệm đề cập đến vấn đề này
Công trình lớn nhất nghiên cứu về vấn đề phương pháp dạy học Lịch sử là bộ sách
“Phương pháp dạy học Lịch sử” (Phan Ngọc Liên) (2007) Công trình này đề cập đến
bộ phân môn Lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam hiện nay, việc hình thành tri thức lịch sử cho học sinh, việc giáo dục học sinh qua dạy học Lịch sử và hệ thống các phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay và vai trò của hoạt động ngoại khóa
Trang 13trong dạy học Lịch sử cũng như những phẩm chất, năng lực người giáo viên dạy Lịch
sử cần có Đây là bộ sách dùng cho sinh viên trường Đại học Huế khoa Sư phạm Lịch
sử Nội dung của nghiên cứu này chủ yếu đưa ra những phương pháp dạy học Lịch sử
và cách tiến hành những phương pháp truyền thống
Có nhiều nghiên cứu là các sáng kiến kinh nghiệm của các giáo viên Tiểu học đưa
ra về việc cải tiến để việc dạy học Lịch sử có hiệu quả hơn Các phương pháp được nêu lên nhiều nhất chính là:
- Tích cực sử dụng công nghệ thông tin hiện đại trong quá trình dạy học môn học Lịch sử của tác giả Đào Mạnh Tưởng với sáng kiến kinh nghiệm “Sử dụng phương pháp
và kĩ thuật dạy học hiện đại trong bài 11 lịch sử 10”
- Giáo viên nên để học sinh được bày tỏ quan điểm ý kiến nhiều hon về các vấn đề Lịch sử thay vì các truyền đạt như lâu nay vẫn thường dùng và sử dụng kênh hình hiệu quả hơn trong sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Lịch sử 4” của tác giả Phạm Thị Thúy Lan
- Tích cực cho học sinh tham quan các địa điểm, các công trình lịch sử để các em được thấy, được trải nghiệm để yêu hơn Lịch sử nước nhà của Phạm Thị Cẩm Loan trong đề tài “Áp dụng một vài kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả giảng dạy trong phân môn Lịch sử cho học sinh lớp 4, 5”
Các tài liệu này chưa đề cập đến dạy học Lịch sử bằng bản đồ tư duy, đặc biệt là ở tiểu học Tuy nhiên những đề tài này là nguồn tài liệu bổ ích để tôi thực hiện đề tài này
1.2 Khái quát về năng lực
1.2.1 Năng lực
Trang 14Hình 1.1: Khái niệm về năng lực
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì năng lực có thể được hiểu theo 2 nét nghĩa:
Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó [1, tr.114] Là một phẩm chất tâm sinh lý tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao [1, tr.114]
Như vậy, từ 2 nét nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu năng lực là một cái gì đó vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa là một khả năng được bộc lộ thông qua quá trình giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống Khía cạnh hiện thực của năng lực là cái mà nhà trường phổ thông có thể tổ chức hình thành đánh giá học sinh
Theo chương trình giáo dục trung học Quebec – Bộ Giáo dục Canada 2004 thì
“Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”
Theo chương trình giáo dục của New Zealand dịnh nghĩa năng lực là khả năng hành động hiệu quả hay là sự phản ứng hành động trong các tình huống phức tạp nào
đó
Chương trình cải cách giáo dục ở Indonesia nêu rõ năng lực là những kiến thức,
kỹ năng và các giá trị được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một người trở nên có
Trang 15năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kỹ năng và các giá trị
cơ bản
Theo Cosmovici thì: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định” Còn A.N.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”, [Giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và tâm
lý học sư phạm, Nguyễn Kế Hào, NXB Đại học Sư phạm]
Nhà tâm lý học A.Rudich đưa ra quan niệm về năng lực như sau: năng lực đó là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và
kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định Năng lực của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu Năng lực đó là năng khiếu đã được phát triển, có năng khiếu chưa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành năng lực Muốn vậy phải
có môi trường xung quanh tương ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích
Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn đo tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có
Tóm lại, năng lực là khả năng vân dụng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm với một niềm tin, ý chí để thực hiện thành công một công việc nào đó xuất hiện trong bối cảnh của cuộc sống
1.2.2 Các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh tiểu học theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã công bố mục tiêu giáo dục học sinh phổ thông để rèn luyện tốt 5 phẩm chất và 10 năng lực Chương trình các môn học và sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy khi triển khai đều hướng tới mục tiêu này Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ hình thành và phát triển cho học sinh 5 phẩm chất chủ yếu là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
Chương trình cũng hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi gồm:
- Những năng lực chung, được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển:
+ Năng lực tự chủ và tự học: Xác định được nhiệm vụ hoạc tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện Lập
Trang 16được kế hoạch học tập nghiêm túc, nề nếp; thực hiện được các cách học tập: Hình thành cách ghi nhớ của bản thân; phân tích nhiệm vụ học tập để lựa chọn được các nguồn tại liệu đọc phù hợp; các đề mục, các đoạn bài ở sách giáo khoa, sách tham khảo, Internet; lưu trữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt với đề cương chi tiết, bằng bản đồ khái niệm, biểu đồ, các từ khóa; ghi chú bài giảng của giáo viên theo các ý chính; tra cứu tài liệu ở thư viện nahf trường theo yêu cầu của nhiệm vụ học tập Nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua lời góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp các khó khăn trong học tập
+ Năng lực giao tiếp và hợp tác: Bước đầu học sinh biết đặt ra mục đích giao tiếp
và hiểu được vai trò quan trọng của việc đặt mục tiêu trước khi giao tiếp; thiết lập và ohast triển các quan hệ xã hội, điều chỉnh và hóa giải các mâu thuẫn Học sinh xác định mục đích và phương thức hợp tác; khiêm tốn, lắng nghe tích cực trong giao tiếp, nhận
ra được bối cảnh giao tiếp, đặc điểm và thái độ của đối phương Ngoài ra các em diễn đạt được ý tưởng một cách tự tin, thể hiện được biểu cảm phù hợp với đối tượng và bối cảnh giao tiếp Học sinh chủ động đề xuất mục đích hợp tác khi được giao nhiệm vụ; xác định được loại công việc nào có thể hoàn thành tốt nhất bằng hợp tá theo nhóm với các quy mô phù hợp; có ý thức trách nhiệm, vai trò của mình trong nhóm với những công việc cụ thể; phân tích nhiệm vụ của cả nhóm để nêu được các hoạt động phải thức hiện, trong đó tự đánh giá được hoạt động của mình có thể đảm nhiệm tốt nhất để tự đề xuất cho nhóm phân công Học sinh nhận biết được đặc điểm, khả năng của từng thành viên cũng như kết quả làm việc nhóm, dự kiến phân công từng thành viên trong nhóm với các công việc phù hợp Các em chủ động và gương mẫu hoàn thành phần việc được
Trang 17giao, góp ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung, chia sẻ, khiêm tốn học hỏi các thành viên trong nhóm; biết dựa vào mục đích đặt ra để tổng kết hoạt động chung của nhóm, nêu mặt được, mặt thiếu xót của cá nhân và của cả nhóm; tổ chức và thuyết phục người khác; đánh giá hoạt động hợp tác và hội nhập quốc tế
+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Học sinh phân tích được tình huống trong học tập; phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập; xác định được
và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến vấn đề, đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề Các em thực hiện được giải pháp giải quyết vấn đề và nhận ra sự phù hợp hay không phù hợp của giải pháp thực hiện; đặt được câu hỏi về một sự vật, hiện tượng; xác định và làm rõ thông tin mới, ý tưởng mới; phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan
từ nhiều nguồn khác nhau Học sinh hình thành ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã cho; đề xuất giải pháp cải tiến hay thay thế cá giải pháp không còn phù hợp; so sánh và bình luận được về các đề xuất; suy nghĩ và khái quát hóa thành tiến trình khi thực hiện một công việc nào đó, tôn trọng các quan điểm trái chiều và áp dụng điều đã biết vào các tình huống tương tự Bên cạnh đó, học sinh hứng thú, tự do suy nghĩ, chủ động nêu
ý kiến, không quá lo lắng về tính đúng sai của các ý kiến đề xuất; phát hiện yếu tố nới, tích cực trong những ý kiến khác nhau
- Những năng lực chuyên môn, được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một
số môn học và hoạt động giáo dục nhất định:
+ Năng lực thể chất: Học sinh sống thích ứng và hài hòa với môi trường, nhận biết
và có các kĩ năng vận động cơ bản trong cuộc sống; đồng thời nhận biết và hình thành các tố chất thể lực cơ bản, tham gia các hoạt động thể dục thể thao và vận động
Trang 18+ Năng lực thẩm mỹ: Nhận ra cái đẹp: Có cảm xúc và chính kiến cá nhân trước hiện tượng trong tự nhiên, đời sống xã hội và nghệ thuật Giới thiệu được, tiếp nhận có chọn lọc thông tin trao đổi về biểu hiện của cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật và trong tác phẩm của mình, của người khác Diễn tả được ý tưởng của mình theo chủ đề sáng tác, sử dụng công cụ, kỹ thuật và vật liệu sáng tác phù hợp trong sáng tác mỹ thuật
+ Năng lực tin học: Học sinh sử dụng đúng cách các thiết bị ICT để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể; nhận biết các thành phần của hệ thống ICT cơ bản, sử dụng được các phần mềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực khác nhau, tổ chức và lưu trữ dữ liệu vào các bộ nhớ khác nhau, tại thiết bị và trên nền tảng Internet
Trang 19+ Năng lực công nghệ: Học sinh xác định được thông tin cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ học tập; tìm kiếm được các thông tin với các chức năng tìm kiếm đơn giản và
tổ chức thông tin phù hợp, đánh giá sự phù hợp của thông tin, dữ liệu tìm thấy với nhiệm
vụ đã đặt ra, xác lập mối liên hệ giữa kiến thức đã biết với thông tin mới thu thập được
và dùng thông tin đó để giải quyết các nhiệm vụ học tập và các vấn đề trong cuộc sông + Năng lực khoa học: Học sinh hiểu biết về kiến thức khoa học, tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường
+ Năng lực toán học: Học sinh hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản, biết cách vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính toán, ước lượng, sử dụng các công cụ tính toán cụ thể và dụng cụ đo,… Đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tình huống có
ý nghĩa toán học
+ Năng lực ngôn ngữ: Học sinh phát âm đúng nhịp điệu và ngữ điệu, hiểu từ vựng thông dụng được thể hiện trong hai lĩnh vực là khẩu ngữ và bút ngữ, thông qua các ngữ cảnh có nghĩa; phân tích được cấu trúc và ý nghĩa giao tiếp của các loại câu trần thuật, câu hỏi, câu mệnh lệnh, câu cảm thán,…
Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình GDPT còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh
Trang 20Hình 1.2: Những phẩm chất và năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh
1.3 Năng lực giải quyết vấn đề
1.3.1 Khái niệm
NLGQVĐ là tổ hợp các năng lực thể hiện ở các kĩ năng (thao tác tư duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ học tập NL GQVĐ là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình huông vân đe khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào giải quyết tình huống vấn đề đó - thể hiện tiềm tàng là công dân tích cực và xây dựng [11, tr.45]
Giải quyết vấn đề: Hoạt động trí tuệ được coi là trình độ phức tạp và cao nhất về nhận thức, vì cần huy động tất cả các năng lực trí tuệ của cá nhân Để giải quyết vấn đề, chủ thể phải huy động trí nhớ, tri giác, lý luận, khái niệm hóa, ngôn ngữ, đông thời sử dụng cả cảm xúc, động cơ, niềm tin ở năng lực bản thân và Ikhả năng kiểm soát được tình thế (Theo Nguyễn Cảnh Toàn - 2012 (Xã hội học I tập - học tập suốt đời
Trong phạm vi đề tài này tôi đề xuất định nghĩa như sau: “NLGQVĐ là khả năng của một cá nhân “huy động”, kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, để hiểu và giải quyết vẩn đề trongtình huống nhất định một cách hiệu quả và với tinh thần tích cực”
Trang 211.3.2 Vai trò của năng lực giải quyết vấn đề đối với học sinh tiểu học
Cấu trúc NLGQVĐ dự kiến phát triển ở HS gồm 4 thành tố, mỗi thành tố bao gồm một số hành vi cá nhân khi làm việc độc lập hoặc khi làm việc nhóm trong quá trình GQVĐ [6, tr.33] Cụ thể là, về tìm hiểu, khám phá vấn đề: nhận biết vấn đề, phân tích được tình huống cụ thể, phát hiện được tình huống có vấn đề, nêu được tình huống có vấn đề, biết chia sẻ sự am hiểu về vấn đề với người khác Về thiết lập không gian vấn đề: lựa chọn, sắp xếp, tìm hiểu thông tin mới với kiến thức đã học Xác định thông tin, biết tìm hiểu các thông tin có liên quan, từ đó xác định cách thức, quy trình, chiến lược giải quyết và thống nhất cách hành động
- Lập kế hoạch và thực hiện giải pháp:
+ Đề xuất được các giả thuyết, giải pháp để giải quyết tình huống có vấn đề + Lập kế hoạch: thiết lập tiến trình thực hiện (thu thập dữ liệu, thảo luận, xin ý kiên giải quyết các mục tiêu, thời điểm giải quyết từng mục tiêu,…)
+ Thực hiện kế hoạch: thực hiện và trình bày giải pháp, điều chỉnh kế hoạch để phù hợp với thực tiễn và không gian vấn đề khi có sự thay đổi
- Đánh giá và phản ánh giải pháp: Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn
đề Suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề Điều chỉnh và vận dụng trong tình huống mới, xác nhận những kiến thức và kinh nghiệm thu được Đề xuất giải pháp cho những vấn đề tưong tự
Ý nghĩa của việc hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh tiểu học
- Đối với HS:
+ Sự hình thành và phát triển NLGQVĐ giúp HS hiểu và nắm chắc nội dung cơ bản của bài học HS có thể mở rộng và nâng cao những kiến thức xã hội của mình + Sự hình thành và phát triển NLGQVĐ giúp HS biết vận dụng những tri thức vào trong thực tiễn cuộc sống
+ Sự hình thành và phát triển NLGQVĐ giúp HS hình thành kỹ năng giao tiếp, tổ chức, khả năng tư duy, tinh thần hợp tác, hoà nhập cộng đồng
- Đối với GV:
+ Sự hình thành và phát triển NLGQVĐ giúp GV có thể đánh giá một cách chính xác khả năng tiếp thu của HS và trình độ tư duy của HS, tạo điều kiện cho việc phân loại HS một cách chính xác
Trang 22+ Sự hình thành và phát triển NLGQVĐ giúp cho GV có điều kiện trực tiếp uốn nắn những kiến thức sai lệch, không chuẩn xác, định hướng kiến thức cần thiết cho HS + Giúp GV dễ dàng biết được năng lực nhận xét, đánh giá khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn xã hội của HS Từ đây định hướng phương pháp giáo dục tư tưởng cho HS
1.4 Kỹ thuật sơ đồ tư duy
1.4.1 Về bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy là một cách rất hiệu quả cho việc ghi nhớ - trích xuất thông tin cho não của chúng ta Bản đồ tư duy là những tầng lớp ý nghĩa được chọn lọc một cách sáng tạo, sắp xếp và đánh dấu một cách logic để có thể hình thành nên bức tranh tổng thể những ý tưởng của chúng ta về nội dung, vấn đề cần xử lý
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, Toni Buzan – một nhà văn người Anh đã đề xuất ý tưởng về tạo ra sơ đồ liên hệ với sự trợ giúp của bán cầu não phải Con đường tạo
ra nó rất đơn giản, không như bình thường và cho phép biểu thị tính cách của mỗi người thông qua việc sáng tạo ra Bản đồ tu duy của riêng mình
Tất cả các bản đồ tư duy đều có vài điểm chung Chúng có một cấu trúc tổ chức tự nhiên, phát xuất từ trung tâm và sử dụng các đường, ký hiệu, từ ngữ, màu sắc và hình ảnh liên quan đến những khái niệm đơn giản, dễ tiếp nhận đối với não bộ Bản đồ tư duy chuyển đổi một danh sách dài những thông tin đơn điệu thành một sơ đồ có màu sắc sinh động, dễ nhớ và có tính tổ chức cao, phù hợp với cách tự nhiên mà não bộ chúng ta vẫn hay làm việc
Bản bản đồ tư duy có thể so sánh với bản đồ của thành phố Trung tâm của thành phố đại diện cho ý tưởng chính; các con đường chính (lớn) dẫn ra từ trung tâm đại diện cho các từ khóa chủ đạo của suy nghĩ của chúng ta về ý tưởng đó; các con đường phụ (nhỏ) hay đường nhánh đại diện cho các từ khóa thứ yếu hơn; và tương tự như thế… Những hình ảnh hoặc hình dạng đặc biệt có thể đại diện cho các điểm cần lưu ý hoặc các ý tưởng có liên quan đặc biệt đến ý tưởng chính đang đề cập
Bản đồ tư duy có thể sắp xếp các ý tưởng của chúng ta theo bất cứ yêu cầu nào Đơn giản chỉ là đưa ra bất kỳ hay tất cả các ý tưởng mà chúng ta có, rồi quan tâm đến việc sắp xếp, tổ chức nó sau
Trang 231.4.2 Một số vấn đề về kỹ thuật sơ đồ tư duy
Bản đồ tư duy là một bước tiến lớn, một công cụ tuyệt vời để giáo dục và ghi nhớ cho học sinh Để lập được Bản đồ tư duy, có rất nhiều cách, nhiều công cụ hỗ trợ cũng như tùy thuộc vào từng cá nhân Tuy nhiên có một vài yêu cầu chính mà Toni Buzan khuyên Bản đồ tư duy nào cũng nên tuân theo:
- Các từ khóa không được đặt trong các hình vuông hay tròn viền treo trên nhánh,
mà nó phải được đặt ngay trên nhánh của ý đó
- Các nhánh phải mềm mại và sống động, tránh việc tạo ra đối tượng đơn điệu
- Trên mỗi nhánh chỉ viết 1 từ khóa Các mô tả, từ khóa khác phải viết trên nhánh mới, ý tưởng mới
- Chiều dài của đường nhánh phải bằng với chiều dài của từ
- Các từ được viết in hoa, rõ ràng và mỏng, không in đậm cho dễ đọc
- Kích thước và độ cao của chữ và đường nhánh phụ thuộc vào độ quan trọng Điều này mang đến sự đa dạng, cũng như giúp tập trung vào các vấn đề chính
- Sử dụng các màu khác nhau Nếu được thì mỗi nhánh nên có một màu riêng
- Phải sử dụng hình ảnh và các ký tự, đặc biệt là ở khu vực trung tâm
- Không gian nên được lấp kín và cân đối, hạn chế việc để trống cũng như không được tắc nghẽn Nếu các nhánh mọc ra quá sát nhau, thì có thể bọc cả nhánh trong đường khép kín, không ảnh hưởng đến các nhánh khác
- Khổ giấy phải là khổ nằm ngang, khi đó sẽ thuận tiện hơn cho việc đọc bản đồ
1.4.3 Vai trò của sơ đồ tư duy trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
1.4.3.1 Đối với cá nhân học sinh
Trong cuộc sống thường nhật, chúng ta không thể ghi nhớ hết được tất cả mọi sự vật, hiện tượng hay vấn đề mà chúng ta lưu tâm Có thể đó là một trong những lý do sổ tay (sổ ghi chép) ra đời Chúng ta có thể ghi lịch trình, các sự kiện, các vấn đề thú vị mà bản thân hứng thú, cần ghi nhớ, và đặc biệt là kiến thức
Tất cả mọi người đều có nhu cầu ghi nhớ Đối với học sinh thì nhu cầu đó cao hơn rất nhiều Việc phải học, tiếp thu kiến thức mới diễn ra liên tục, liên tiếp qua mỗi ngày học, mỗi ngày các em cắp sách đến trường Vậy nên việc ghi nhớ các kiến thức đó là vô cùng quan trọng và cấp thiết
Đặc biệt đối với các em học sinh bậc Tiểu học, các em còn quá nhỏ để có thể tìm
ra cách học, cách ghi nhớ cho bản thân mình Ở lứa tuổi này, hình ảnh trực quan, sinh
Trang 24động, nhiều màu sắc sẽ giúp các em dễ ghi nhớ hơn rất nhiều Vậy nên bản đồ tư duy là cách tốt nhất để hỗ trợ các em trong việc học tập, ghi nhớ kiến thức
Tuy nhiên, khi phải xử lý những vấn đề phức tạp, nếu chỉ tưởng tượng, các em sẽ gặp khó khăn, rắc rối trong việc liên kết, hệ thống lại khối lượng thông tin khổng lồ cầ ghi nhớ hay giải quyết Từ đó các em sẽ cảm giác bị quá tải (tương tự với trường hợp các ứng dụng chiếm hết RAM máy tính) Trong khi đó, nếu sử dụng Bản đồ tư duy, các
em có thể dễ dàng liệt kê cũng như liên kết toàn bộ vấn đề bằng các nhánh chính, phụ trên bản đồ Ngoài ra, vì bản đồ tư duy không chỉ sử dụng chữ, số như những bảng danh sách nhàm chán mà còn đặc biệt chú trọng trong việc sử dụng hình ảnh, màu sắc sinh động, nên có thể kích hoạt cả 2 bán cầu não trái – phải của các em cùng hoạt động Như chúng ta đã biết, bán cầu não trái là trung tâm xử lý thông tin dưới dạng chữ, dạng số,
ký tự v.v , trong khi bán cầu não phải là chuyên gia xử lý thông tin dạng màu sắc, hình ảnh, nhịp điệu, v.v… - những thứ giúp các em phát triển trí tưởng tượng và tư duy sáng tạo Và những bậc vĩ nhân hay thiên tài đều là những người biết tận dụng tối đa tiềm năng ở cả 2 bán cầu não trái – phải
1.4.3.2 Đối với giáo viên
Giáo viên, không chỉ dạy cho các em kiến thức, chữ nghĩa mà còn biết kích thích, phát huy tiềm năng của các em Các nghiên cứu tính toán cho thấy, mọi người thông thường chỉ sử dụng 5% - 10% khả năng của não bộ Vậy nên bản thân gia đình và đặc biệt là giáo viên nên tìm cách khai phá hết khả năng của nó Và bản đồ tư duy là phương pháp rất tốt trong việc giải quyết nhiều vấn đề, vừa giúp các em dễ dàng ghi nhớ bài học, vừa kích thích sự sáng tạo, logic của từng em
Hiện tượng đọc chép trong thời gian gần đây đã gần như biến mất Thay vào đó, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các tiết học ngày càng sinh động hơn với máy chiếu, màn hình lớn và làm việc nhóm để giải quyết vấn đề Từ việc trình bày giáo trình điện tử để thuyết trình của giáo viên đến việc các em liệt kê các ý tưởng giải quyết vấn
đề, câu hỏi của giáo viên, tất cả đều là những hình thái của bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy đã xuất hiện từ lâu Trong những năm 70 của thế kỷ trước, ngoài bút màu ra thì chưa có bất cứ công cụ, chương trình nào để hỗ trợ xây dựng bản đồ tư duy Chỉ với chiếc bút và trang giấy, ta đã có thể tạo ra một bản đồ tư duy cho chính mình
Hiện nay có rất nhiều công cụ chuyên dụng để xây dựng bản đồ tư duy, cả miễn phí lẫn thu phí
Trang 25Miễn phí: Realtimeboard, Mindmeister, Draw, Violet,
Thu phí: Mindmeister (phiên bản thu phí), iMindmap,…
Ngoài ra còn có nhiều phần mềm, chương trình không chuyên dành cho Bản đồ tư duy: Power point, Google Docs hay bất kỳ chương trình vẽ nào (Paint, )
Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ online cũng nên hạn chế đối với học sinh trong giai đoạn này, tốt hết là chỉ nên giới thiệu sơ qua cho các em nắm khái quát, còn lại công cụ chính để thực hành xây dựng bản đồ tư duy nên là bút và giấy – phương pháp thủ công nhất Điều này giúp ích cho các em rất nhiều Đối với các em học sinh Tiểu học, sức sáng tạo và sự ngây thơ của các em đôi lúc sẽ khiến chúng ta ngạc nhiên Bản
đồ tư duy buộc các em phải động não, ghi chép tất cả các ý nghĩ lóe lên trong đầu liên quan đến từ khóa chính Rồi sau đó, các em phân loại, sắp xếp lớp lang theo tầm quan trọng của từng ý Cuối cùng là trang trí sao cho vừa dễ đọc, vừa dễ nhìn nhưng cũng vừa
dễ hiểu Khả năng về không gian của các em cũng sẽ được đồng thời rèn luyện trong việc bố trí sao cho cân đối giữa các ý tưởng nêu ra với khuôn khổ của bản đồ (trang vở, bảng con,.…)
1.4.3.3 Đối với quá trình giáo dục
Thông thường để ghi lại các suy nghĩ, ý tưởng của mình thì chúng ta hay sử dụng hình thức trực tiếp, sử dụng văn bản, đồ thị, bảng biểu,.… Ở một hướng khác, nó có thể cho phép ta biểu đạt ra giấy các ý kiến, suy nghĩ của mình, nhưng nó rất đơn điệu và rất khó để nhận ra sự logic của nó Để đọc được thì cần phải có sự tập trung khá lớn, đọc
và sâu chuỗi, giữ mạch ý xuyên suốt cả bài và tổng hợp lại sau cùng Vấn đề ở đây là phương thức biểu đạt này chỉ sử dụng bán cầu não trái Các văn bản, đoạn văn bản rất khó để nhớ, nhận ra đâu là ý chính, đồng thời cũng mất nhiều thời gian để tạo ra văn bản, đoạn văn bản này
1.4.3 Ý nghĩa của viêc sử dụng sơ đồ tư duy trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học phân môn Lịch sử 4
Với những đặc điểm của nội dung chương trình Lịch sử hiện hành, bản đồ tư duy
có rất nhiều lợi thế để có thể áp dụng vào để cụ thể hóa các kiến thức mà học sinh cần tìm hiểu trong mỗi bài học
Bản đồ tư duy kích thích sự sáng tạo, giúp giải phóng cách suy diễn cổ điển theo phương thức ghi chép sự kiện theo dòng, cho phép chúng ta chuyển ý nhanh chóng Khi
vẽ bản đồ, học sinh không những có thể ghi lại bằng từ ngữ mà còn có thể ghi lại bằng các kí hiệu, biểu tượng, miễn sao là các em hiểu được chúng Dữ liệu được mà hóa vừa
Trang 26có thể là chữ cái, vừa có thế là những hình ảnh kí tự nên sẽ khai thác được tối đa sự hoạt động của não bộ
Bản đồ tư duy còn có thể giúp học sinh nhìn được bài học một cách toàn thể hơn Mỗi bản đồ tư duy đều bắt đầu từ hình ảnh hay từ khóa nằm ở vị trí trung tâm và bao quanh là các nhánh rẽ thể hiện mối quan hệ với vấn đề chính Vì thế khi nhìn vào bản
đồ tư duy, học sinh có thể nhanh chóng biết đâu là trọng tâm, những ý nào sẽ giải thích cho trọng tâm đó Từ đó cho phép học sinh có cái nhìn tổng quan về bài học Ý trọng tâm ở vị trí này sẽ tạo thuận lợi trong việc liên kết với những ý phân cấp khác giúp ta dễ dàng triển khai một hệ thống hài hòa, đồng thời nó giữ vai trò định hướng để phát triển các ý sau Xuất phát từ vấn đề trung tâm đó, người xem sẽ biết được mức độ quan trọng của những nhánh rẽ xung quanh Các nhánh rẽ này lại được phân thành các nhánh nhỏ hơn nhằm thể hiện chủ đề ở mức dộ sâu hơn Cứ như thế, sự phân nhánh lại tiếp tục, các kiến thức hay hình ảnh luôn được kết nối với nhau tạo nên bức tranh tổng thể, đầy đủ và rành mạch các nội dung của bài học
Bản đồ tư duy hỗ trợ cho việc ghi nhớ Trí nhớ được tạo thành bằng cách liên kết từng mảng thông tin với nhau Bản đồ tư duy đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não
bộ chúng ta hoạt động Đó là liên kết của liên kết Vì vậy, bản đồ tư duy hỗ trợ đắc lực cho việc ghi nhớ các kiến thức, đồng thời nhớ lại những kiến thức đã học Không những vậy, những nhánh trong bản đồ tư duy là những màu sắc khác nhau nên rất trực quan Một nghiên cứu gần đây đã tiến hành khảo sát khả năng nhớ các từ vựng và đồ vật dựa trên màu sắc khác nhau mà họ nhìn thấy Và kết quả là mọi người thường ghi nhớ được
rõ ràng hơn về những thứ có màu sắc nổi bật, thậm chí là từng màu cụ thể của đồ vật Cho dù chỉ được yêu cầu ghi nhớ về đồ vật thì chúng ta vẫn sẽ nhớ rõ về màu sắc hơn nhiều Do đó, không thể phủ nhận một điều rằng màu sắc kích thích trí não và có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình ghi nhớ của con người Sử dụng bản đồ tư duy sẽ tăng khả năng ghi nhớ lên bội phần
Bản đồ tư duy giúp tiết kiệm thời gian Cách ghi chép truyền thống bằng các kí tự bằng đường thẳn khiến học sinh phải đọc từng từ và chiếm một khoảng thời gian lớn Bản đồ tư duy tối ưu hóa việc ghi chép Nhờ việc tận dụng những từ khóa và hình ảnh sáng tạo của học sinh, một khối lượng kiến thức lớn sẽ được ghi chú hết sức cô đọng trong một trang giấy Trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học, mỗi dạng bài học, giáo viên có thể xây dựng một bản đồ tư duy mẫu để học sinh lấy đó làm chuẩn cho các bài học có
Trang 27cùng dạng bài sau đó Có tổng cộng 5 dạng bài học, giáo viên có thể xây dựng thành 5 dạng bản đồ tư duy gồm:
- Dạng bài về tình hình kinh tế - chính trị, văn hóa – xã hội
Đối tượng gây cảm xúc cho học sinh thường là những sự vật, hiện tượng cụ thể, sinh động Xúc cảm, tình cảm của các em gắn liền với đặc điểm trực quan, hình ảnh cụ thể, Chính vì thế trong quá trình dạy học, giáo viên có thể kích thích hứng thú học tập, sáng tạo của học sinh thông qua sử dụng các dụng cụ trực quan, thí nghiệm với các đối tượng học tập,
Tình cảm còn mong manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc vì vậy những ấn tượng do xúc cảm của các em đem lại còn phải được củng cố, thể nghiệm trong các hoạt động mới hình thành nên tình cảm bền vững Tuy vậy, những xúc cảm mạnh, những ấn tượng sâu sắc có thể ghi lại dấu ấn trong tâm hồn các em rất sâu đậm Vì vậy, trong dạy học giáo viên cần lưu ý khắc sâu các kiến thức cho các em, đồng thời tạo điều kiện để các
em thường xuyên vận dụng các kiến thức đã được học
Chính vì vậy, nếu xây dựng được cho các em tình cảm yêu thích ngay từ ban đầu đối với phân môn Lịch sử thì có thể khiến các em có hứng thú với môn học này trong các giai đoạn sau đó Nhất là khi sử dụng bản đồ tư duy là đối tượng có nhiều màu sắc sinh động với những nội dung cụ thể rõ ràng sẽ đem lại hiệu quả đối với việc phát triển nặng lực GQVĐ trong phân môn Lịch sử 4 cho học sinh
Trang 281.5.1.2 Tính cách
Tính cách của các em còn khá bồng bột, chưa sâu sắc, có tính xung động, các em
có khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới ảnh hưởng của kích thích bên ngoài hay bên trong, do sư điêu chỉnh của ý chí đối với hành vi của các em còn yếu Giáo viên cần
là người định hướng cho các em từ suy nghĩ đến hành động Đây là khó khăn của học sinh ở độ tuổi này khi phải học những môn có tính hàn lâm như phân môn Lịch sử Tư duy lịch sử của các em còn rất yếu nếu như giáo viên không có những biện pháp để phát triển năng lực GQVĐ cho các em Do đó, cần giúp các em có sự định hướng, suy nghĩ đúng đắn và có cơ sở khoa học trước khi hành động
1.5.2 Đặc điểm nhận thức
1.5.2.1 Tư duy
Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh đã bắt đầu nhận thức các thuộc tính bên trong và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng Điều này tạo khả năng tiến hành những so sánh, khái quát hóa đầu tiên, xây dựng những suy luận sơ đẳng Trên cơ sở đó học sinh dần dần học tập được các khái niệm khoa học
Nhận thức phát triển, học sinh lớp 4 đã biết xếp bậc các khái niệm Trên cơ sờ này, các em biết phân loại và phân hạng trong nhận thức Sự phân loại là căn cứ vào dấu hiệu chung chia ra các cá thể vào các lớp vốn được coi là khái niệm Sự phân hạng là sắp xếp các cá thể dựa vào các dấu hiệu có thể biến thiên [5, tr.35] Học sinh có thể phân tích đối tượng mà không cần hành động thực tiễn đối với đối tượng đó Các em có khả năng phân biết những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ Với mức độ tư duy như vậy thích hợp để có thể gắn bản đồ tư duy vào quá trình học phân môn Lịch sử cho học sinh Sự phân nhánh các khái niệm trong bản đồ tư duy
có thể giúp học sinh rèn luyện tư duy và phát triển năng lực nhìn nhận và giải quyết vấn
đề
1.5.2.2 Tri giác
Tri giác thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn Tri giác sự vật nghĩa là phải làm cái gì đó với sự vật: cầm, nắm, sờ vào vật đó Đây là đặc điểm mà người giáo viên cần lưu ý trong các hoạt động dạy học cho học sinh
Giáo viên không chỉ cung cấp các kiến thức dưới dạng lí thuyết trừu tượng trong sách vở mà cần kết hợp với thực tiễn, cần cho học sinh thấy các đối tượng học tập trong thực tế, được thực hành, làm thí nghiệm với các đối tượng Có như vậy quá trình tri giác của học sinh mới đạt hiệu quả, các em có khả năng hiểu, ghi nhớ và vận dụng kiến thức
Trang 29tốt hơn Tính cảm xúc thể hiện trong tri giác, những vật thể trực quan rực rõ được các
em tri giác tốt hơn Học sinh dễ hứng thú với những đồ dùng, dụng cụ học tập có tính thẩm mĩ, có màu sắc hấp dẫn [5, tr.32] Vì thế giáo viên cần lưu ý đến tính thẩm mĩ của các đồ dùng dạy học, đồng thời có phương pháp sử dụng chúng sao cho hợp lí tránh phân tán sự tập trung chú ý của học sinh Đây cũng chính là những lưu ý khi giáo viên hình thành cho học sinh việc xây dựng các bản đồ tư duy rõ ràng, có tính thẫm mĩ và các màu sắc bắt mắc thu hút học sinh
1.5.2.3 Tưởng tượng
Trí trưởng tượng của các em gần với hiện thực hơn so với các năm đầu Điều này
có được là nhờ vào kinh nghiệm đã trở nên phong phú, nhờ tri thức khoa học các em đã lĩnh hội được ở nhà trường, về cấu tạo biểu tượng tưởng tượng của các em lặp lại hoặc
có thay đổi chút ít về kích thước, hình dạng so với tri giác Tương tượng tái tạo từng bước được hoàn thiện gắn liền với những hình tượng đa tri giác trước hoặc tạo ra những hình tượng phù hợp với những điều mô tả, sơ đồ, biểu tượng của sự tưởng tượng dần trở nên hiện thực hơn, phản ánh đúng đắn nội dung các môn học, nội dung các câu chuyện đã học, biểu tượng không còn đứt đoạn mà đồng nhất thành một hệ thống [5, tr.56] Như vậy, tưởng tượng của các em thoát khỏi ảnh hưởng của ấn tượng trực tiếp Mặt khác, tính hiện thực trong tưởng tượng của học sinh gắn liền với sự phát triển tư duy, ngôn ngữ
Chính nhờ sự phát triển của trí tưởng tượng mà học sinh có sự sáng tạo hơn, có nhiều phát kiến hơn trong học tập Khi gặp một tình huống có vấn đề, các em có khả năng dự đoán, tìm kiếm những giải pháp để giải quyết vấn đề dựa vào những kinh nghiệm sẵn có của bản thân và các kiến thức đã được học Mặt khác, tưởng tượng của các em đã có cơ sở khoa học, không còn chỉ dựa vào ý kiến chủ quan của bản thân mà các em biết dựa vào những căn cứ khoa học mang tính chính xác cao, vì thế những phát kiến, giải pháp mà các em đề xuất trong giai đoạn này khá hợp lí, khoa học và mang lại hiệu quả trong học tập Đặc biệt với phân môn Lịch sử là một phân môn yêu cầu học sinh phải tưởng tượng rất nhiều khi các sự kiện, các trận đánh đều đã diễn ra trong quá khứ, có những trận đánh mà không còn hình ảnh hay video để học sinh để quan sát Bản
đồ tư duy giúp tưởng tưởng tốt hơn các nội dung của một bài học Lịch sử Khi nhìn vào bản đồ tư duy với các nhánh liên quan đến diễn biến của một chiến dịch hay một cuộc kháng chiến, học sinh có thể tưởng tượng ra hình ảnh của trận đánh đó và đoán trước được những kết quả trước khi được tìm hiểu và truyền đạt
Trang 301.5.2.4 Trí nhớ
Ở giai đoạn đầu của bậc Tiểu học, ở học sinh hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - logic Học sinh chưa biết cách tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết sử dụng sơ đồ logic
và dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết xây dựng dàn bài tài liệu cần ghi nhớ Tuy nhiên, giai đoạn học sinh học lóp 4, 5 trí nhớ của các em bắt đầu có sự chuyển biến
từ ghi nhớ trực quan - hình tượng sang ghi nhớ từ ngữ - logic Học sinh biết ghi nhớ các thông tin một cách có hệ thống, biết dựa vào các điểm tựa ghi nhớ trong học tập
Tiểu kết chương 1
Ở chương I, tôi đã đă ra những vấn đề tổng quan của đề tài nghiên cứu Đó là các
lí luận cơ bản về năng lực, năng lực giải quyết vấn đề, đề cập tới đặc điểm tâm lý đặc trưng của học sinh tiểu học và những nội dung về bản đồ tư duy và vai trò của bản đồ tư duy trong phát triển năng lực GQVĐ trong phân môn Lịch sử 4 cho học sinh Đây là những cơ sở lí luận để tôi tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các nội dung cho chương II
và chương III
Trang 31CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1 Một số vấn đề phân môn Lịch sử ở Tiểu học
Thứ hai, bước đầu hình thành và rèn luyện các kĩ năng gồm quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn khác nhau; nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập cà chọn thông tin để giải đáp; trình bày lại kết quá học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ; vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống
Thứ ba, từng bước phát triển ở học sinh những thái độ và thói quen như ham học hỏi, tìm hiểu để biết về môi trường xung quanh; yêu thiên nhân, con người, quê hương, đất nước; tôn trọng, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và văn hóa gần gũi với học sinh
2.1.1.2 Theo chương trình 2018
Môn Lịch sử và Địa lí ở câp tiểu học hình thành và phát triển ở học sinh năng lực lịch sử và địa lí với các thành phần: nhận thức khoa học lịch sử và địa lí, tìm hiểu lịch
sử và địa lí; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học; đồng thời góp phần phát triển các năng lực chung: tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo
Môn Lịch sử và Địa lí ở cấp tiểu học giúp học sinh hình thành và khám phá thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh để bồi dưỡng lòng tự hòa dân tộc, tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước; ý thức bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam; tôn trọng sự khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia và dân tộc, từ đó góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
Mục tiêu của chương trình Lịch sử và Địa lí cấp tiểu học 2018 nhấn mạnh đến việc hình thành phẩm chất và năng lực, đặc biệt chỉ rõ những năng lực cần được phát triển
và hoàn thiaajn thông qua các nội dung và phương pháp giáo dục Đây là hướng tiếp cận dạy học theo định hướng năng lực; trong khi chương trình 2006 xác định mục tiêu theo hướng tiếp cận dạy học định hướng nội dung
Trang 322.1.2 Đặc điểm
2.1.2.1 Đặc điểm chương trình 2006
Cấu trúc chương trình 2006 chú trọng lựa chọn giai đoạn Các bài học được sắp xếp theo lịch đại diễn ra theo đúng trình tự thời gian của lịch sử Việt Nam Ở mỗi giai đoạn lịch sử đều đưa ra những nhân vật, sự kiện lịch sử tiêu biểu của giai đoạn đó, không mang tính vùng miền mà mang tính phổ quát
Mạch nội dung chương trình môn học được tách riêng thành hai phân môn riêng biệt và không phụ thuộc lẫn nhau Mạch chương trình này giúp học sinh hiểu biết được kiến thức Lịch sử và Địa lí một cách tách biệt Các em có được kiến thức tổng quát về từng môn học và sẽ được tiếp tục học lại và làm rõ hơn ở những cấp học tiếp theo
2.1.2.2 Đặc điểm chương trình 2018
Cấu trúc nội dung CT phân môn Lịch sử và Địa lí cấp tiểu học chú trọng lựa chọn
“điểm” Với lịch sử, kiến thức lịch sử không tuân thủ nghiêm ngặt tính lịch đại mà lựa chọn sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu của vùng miền, quốc gia, khu vực, của một số giai đoạn lịch sử Với địa lí, mỗi vùng miền, quốc gia, khu vực chỉ lựa chọn một số kiến thức địa lí tiêu biểu, đặc trưng cho từng vùng, dựa trên nét đặc trưng về tự nhiên, vai trò lịch sử của vùng đất đó
Mạch nội dung CT môn học không tách thành hai phân phân môn Lịch sử và Địa
lí mà các kiến thức lịch sử và địa lí được tích hợp trong các chủ đề về địa phương, vùng miền, đất nước và thế giới theo sự mở rộng về không gian địa lí và xã hội (bắt đầu từ địa phương, vùng miền, đến đất nước và thế giới)
Logic này bảo đảm để khi hoàn thành CT môn học ở tiểu học, HS sẽ có kiến thức bước đầu về lịch sử, địa lí của địa phương, vùng miền, đất nước, thế giới để học tiếp phân môn Lịch sử và Địa lí ở THCS CT cũng kết nối với kiến thức, kĩ năng các môn học, hoạt động giáo dục khác như: Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Đạo đức, Hoạt động trải nghiệm giúp HS vận dụng tích hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học để giải quyết các vấn đề trong học tập, đời sống phù hợp với lứa tuổi
Ở lớp 4, ngoài phần mở đầu giúp HS làm quen với các phương tiện học tập phân môn Lịch sử và Địa lí, mạch kiến thức được thiết kế theo 6 chủ đề, bắt đầu từ địa phương
em, đến các vùng miền của đất nước, bao gồm các chủ đề: Địa phương em, Trung du và miền núi Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Nam Bộ
Trang 33Phần Địa phương em ở CT lớp 4 sẽ học ở quy mô cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Các địa phương căn cứ vào yêu cầu cần đạt quy định trong CT để xây dựng nội dung dạy học cụ thể phù hợp Phần lịch sử và địa lí của các vùng miền, nhà trường
có thể linh hoạt trong việc sắp xếp thứ tự dạy học về các vùng miền phù hợp với sự phát triển không gian từ gần đến xa của HS
Lớp 5 gồm 9 chủ đề về đất nước Việt Nam, các nước láng giềng, khu vực Đông Nam Á và thế giới: Đất nước và con người Việt Nam, Những quốc gia đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam, Xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam, Các nước láng giềng, Khu vực Đông Nam Á, Tìm hiểu thế giới, Chung tay xây dựng thế giới
Trong CT phân môn Lịch sử và Địa lí, các kiến thức lịch sử, địa lí được tích hợp trong từng chủ đề về địa phương, vùng miền, đất nước và thế giới Với chủ đề địa phương, vùng miền, sẽ tìm hiểu về tự nhiên, dân cư, lịch sử văn hoá của địa phương, vùng miền đó Một số nội dung sẽ chủ yếu là địa lí, hoặc lịch sử; một số nội dung tích hợp cả lịch sử, địa lí, văn hoá…
2.1.3 Nội dung dạy học phân môn Lịch sử ở Tiểu học
2.1.3.1 Quan điếm xây dựng chương trình phân môn Lịch sử và Địa lí chương trình
2006
Một số kiến thức lịch sử và địa lí đã được lồng ghép trong một vài chủ đề của môn
Tự nhiên và Xã hội ở các lớp 1, 2, 3 Đến lớp 4 và 5, Lịch sử và Địa lí được tách thành môn riêng nhằm giúp học sinh mở rộng và nâng cao hiểu biết về môi trường xung quanh, phù hợp với trình độ nhân thức của các em Chương trình gồm hai phần: Lịch sử và Địa
lí với nội dung như sau:
Phần Lịch sử, những sự kiện, nhân vật lịch sử phản ảnh những cột mốc đánh dấu
sự phát triển của các giai đoạn lịch sử, những thành tựu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước (kinh tế, chính trị, văn hóa,…) và giữ nước của ông cha ta từ buổi đầu dựng nước đến nay
Phần Địa lí là những kiến thức ban đầu về điều kiện sống, dân cư, về một số hoạt động kinh tế, văn hóa của đất nước Việt Nam, các châu lục và một số quốc gia trên thế giới
Khi tiến hành dạy học, giáo viên cần tăng cường kết hợp những nội dung có quan
hệ mật thiết với nhau giữa hai phần nói trên (ví dụ: thay đối thứ tự trong nội dung của
Trang 34một trong hai phần và liên hệ những kiến thức gần nhau ở hai phần Bên cạnh đó, giáo viên cần chú ý liên hệ nội dung bài học với những nét đặc thù, tiêu biểu của lịch sử, địa
sử và Địa lí ở THCS; đồng thời góp phần đặt nền móng ban đầu cho giáo dục về khoa học xã hội ở các cấp học trên Môn học góp phần hình thành, phát triển ở HS những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã được xác định trong chương trình tổng thể Chương trình phân môn Lịch sử và Địa lí tiểu học gồm các mạch kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết yếu về địa lí, lịch sử của địa phương, vùng miền, đất nước Việt Nam, các nước láng giềng và một số nét cơ bản về địa lí, lịch sử thế giới Nội dung chương trình môn học này còn liên quan trực tiếp với nhiều môn học và các hoạt động giáo dục khác như: Đạo đức, Tiếng Việt, Hoạt động trải nghiệm
Chương trình phân môn Lịch sử và Địa lí tiểu học tuân thủ các quy định nêu trong chương trình tổng thể, đồng thời xuất phát từ đặc điểm môn học, nhấn mạnh một số quan điểm sau:
Thứ nhất, Chương trình phân môn Lịch sử và Địa lí tích hợp nội dung GD lịch sử,
địa lí và một số nội dung văn hoá, xã hội trong các kết nối về không gian, thời gian; tích hợp nội dung bảo vệ môi trường, GD giá trị nhân văn; gắn lí thuyết với thực hành, gắn nội dung GD với thực tiễn nhằm hình thành, phát triển ở HS năng lực đặc thù của môn học và các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung được quy định trong chương trình tổng thể Chương trình kết nối với các môn học, hoạt động GD khác như: Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Đạo đức, Hoạt động trải nghiệm giúp HS vận dụng tích hợp kiến thức,
kĩ năng của nhiều môn học, hoạt động GD để giải quyết các vấn đề trong học tập, đời sống, phù hợp với lứa tuổi
Thứ hai, Trên cơ sở kế thừa, phát huy ưu điểm của phân môn Lịch sử và Địa lí
trong chương trình GDPT hiện hành và tiếp thu kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới, chương trình phân môn Lịch sử và Địa lí chọn lọc những kiến thức cơ bản và
sơ giản về tự nhiên, dân cư, một số hoạt động kinh tế, lịch sử, văn hoá của các vùng miền, đất nước Việt Nam và thế giới; các sự kiện, nhân vật lịch sử phản ánh những dấu
Trang 35mốc lớn của quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Nội dung môn học vừa bảo đảm tính khoa học, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của HS
Thứ ba, Chương trình được thiết kế theo phạm vi mở rộng dần về không gian địa
lí và không gian xã hội, từ địa lí, lịch sử của địa phương, vùng miền, đất nước Việt Nam đến địa lí, lịch sử của các nước láng giềng, khu vực và thế giới
Thứ tư, Chương trình lựa chọn những nội dung thiết thực đối với việc hình thành,
phát triển phẩm chất, năng lực HS thông qua phương pháp tổ chức các hoạt động học tập tích cực như: Tìm hiểu các vấn đề lịch sử và địa lí, luyện tập và thực hành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện, giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống)
Thứ năm, Chương trình được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt để có thể điều
chỉnh cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của các địa phương; phù hợp với khả năng của giáo viên, với các nhóm đối tượng HS khác nhau và thực tiễn dạy học ở nhà trường, song vẫn bảo đảm trình độ chung của GDPT trên cả nước, tiếp cận dần với trình
độ khu vực và thế giới
2.1.4 Nội dung phân môn Lịch sử ở Tiểu học hiện hành
2.1.4.1 Chương trình 2006
Lớp 4
(1 tiết/tuần X 35 tuần = 35 tiết)
Một số sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu của lịch sử dân tộc qua các thời kì
- Buổi đầu dựng nước và giữ nước (Từ khoảng năm 700 TCN đến năm 179 TCN)
+ Sự ra đời của nhà nưóc Văn Lang, Âu Lạc;
+ Một số phong tục của người Việt cổ;
+ Cuộc kháng chiến của An Dương Vương
- Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập (từ năm 179 TCN đến năm 938)
+ Đời sống nhân dân ta trong thời kì bị đô hộ;
+ Một số cuộc khỏi nghĩa tiêu biểu và người lãnh đạo: Hai Bà Trưng ; Chiến tháng Bạch Đằng do Ngô Quyển lãnh đạo
- Buổi đầu độc lập (từ năm 938 đến năm 1009)
+ Ổn định đất nước, chống ngoại xâm: Tuổi trẻ của Đinh Bộ Lãnh; Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân; Lê Hoàn lên ngôi vua; Cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất
Trang 36- Nước Đại Việt thời Lý (từ năm 1009 đến năm 1226)
+ Tên nưóc, kinh đô, Lý Thái Tổ
+ Cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ hai: Phòng tuyến sông Cầu (Như Nguyệt), Lý Thường Kiệt
+ Đời sông nhân dân: chùa, trường học (Văn Miếu)
- Nước Đại Việt thời Trần (từ năm 1226 đến năm 1400)
+ Tên nước, kinh đô, vua
+ Ba lần chiến thắng quân Mông - Nguyên xâm lược
+ Công cuộc xây dựng đất nưổc ở thời Trần: việc đắp đê
- Nước Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê (Thế kỉ XV)
+ Chiến thắng Chi Lăng
+ Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông
+ Công cuộc xây dựng đất nước: Bộ luật Hồng Đức, nông nghiệp phát triển, các công trình sử học, văn học, giáo dục, thi cử (bia Tiến sĩ)
- Nước Đại Việt (thế kỉ XVI — thế kỉ XVIII)
*Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh (thế kỉ XVI - thế kỉ XVII)
+ Chiến tranh Trịnh - Nguyễn;
+ Tình hình Đàng Ngoài: Tháng Long, Phố Hiến;
+ Tình hình Đàng Trong: Hội An, khẩn hoang
*Thời Tây Sơn (cuối thế kỉ XVIII)
+ Chống ngoại xâm: trận Đống Đa;
+ Xây dựng đất nước: dùng chữ Nôm, chiếu Khuyến nông;
+ Nguyễn Huệ - Anh hùng dân tộc
- Buổi đầu thời Nguyễn (từ năm 1802 đến năm 1858)
+ Nhà Nguyễn được thành lập;
+ Kinh thành Huế
Lớp 5
(1 tiết/tuần X 35 tuần = 35 tiết)
Một số sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu của lịch sử dân tộc qua các thời kì
- Hơn tám mươi năm chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ (1858 -1945)
+ Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược: Trương Định
+ Đề nghị canh tân đất nước: Nguyễn Trường Tộ
Trang 37+ Cuộc phản công ở kinh thành Huế phong trào cần Vương: Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật
+ Sự chuyển biến trong kinh tế-xã hội Việt Nam và cuộc đấu tranh chống Pháp đầu thế kỉ XX
+ Nguyễn Ái Quốc
+ Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
+ Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1930 đến năm 1945: Xô viết Nghệ Tĩnh, Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945
- Bảo vệ chính quyền non trẻ, tường kì kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)
+Việt Nam những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám
+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
+ Những ngày đầu toàn quốc kháng chiến
+ Chiến thắng Việt Bắc thu - đông năm 1947: Chiên thắng Biên giới thu - đông
1950 Hậu phương của ta
+ Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà (1954 -1975)
+ Sự chia cắt đất nước
+ Bến Tre đồng khởi
+ Miền Bắc xây dựng: nhà máy cơ khí Hà Nội
+ Hậu phương và tiền tuyến: đường Trường Sơn
- Nội dung khái quát phân môn Lịch sử và Địa lí gòm các mạch kiến thức cốt lõi
và phân bố ở mỗi lớp như sau:
MỞ ĐẦU Làm quen với phương tiện học tập phân
Trang 38Trung du và miền núi Bắc Bộ x
Những quốc gia đầu tiên trên lãnh thổ
- Nội dung Lịch sử và Địa lí gồm các loại hình kiến thức chủ yếu:
+ Kiến thức cơ ban về tự nhiên, dân cư, kinh tế lịch sử, văn hoá của địa phương,
các vùng miền của Việt Nam
+ Kiến thức cơ bản về tự nhiên, dân cư và dân tộc của Việt Nam; tìm hiểu những quốc gia đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam; Xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam
+ Kiến thức cơ bản về tự nhiên, văn hoá của các nước láng giềng; Tìm hiểu một
số nét về tự nhiên, dân cư, chủng tộc cùa các châu lục; một số nền văn minh thế giới; chung tay xây dựng thế giới: xây dựng thế giới xanh - sạch - đẹp, hoà bình
LỚP 4:
Chương trình môn Lịch sử và Địa lí thiết kế theo hướng mở rộng về không gian địa lí và không gian xã hội Vì vậy, ngoài bài Mở đầu, bắt đầu chương trình lớp 4, học sinh sẽ tìm hiểu địa phương mình đang sinh sống (tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương); vị trí, điều kiện tự nhiên, con người, tìm hiểu lịch sử và văn hoá địa phương; Tiếp đến, học sinh sẽ tìm hiêu các vùng của đất nước, bao gồm: đồng bằng Bắc Bộ, trung du
và miền núi Bấc Bộ; duyên hải miền Trung; Tây Nguyên và Nam Bộ Học sinh có thể bất đầu học vùng có địa phương mình ở đó, sau đó sẽ học các vùng tiếp theo Mỗi vùng
sẽ lựa chọn một số nét tiêu biểu về tự nhiên, dân cư, hoạt động sản xuất, lịch sử, văn hoá của vùng để giới thiệu, nội dung cụ thể của từng vùng như sau:
Trang 39+ Trung du và miền núi Bắc Bộ: tìm hiểu về thiên nhiên, dân cư và một số hoạt động sản xuất, một số nét văn hóa; Đền Hùng và giỗ tổ Hùng Vương
+ Đồng bằng Bắc Bộ: tìm hiểu về thiên nhiên, dân cư, hoạt động sản xuất và một
số nét văn hóa; sông Hồng và nền văn minh sông Hồng, Thăng Long – Hà Nội, Văn Miếu – Quốc Tử Giám
+ Duyên hải miền Trung: tìm hiểu về thiên nhiên, dân cư, hoạt động sản xuất và một số nét văn hóa; cố đô Huế, Phố cổ Hội An
+ Tây Nguyên: tìm hiểu về thiên nhiên, dân cư, hoạt động sản xuất và một số nét văn hóa; Lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên
+ Nam Bộ: tìm hiểu về thiên nhiên, dân cư, hoạt động sản xuất và một số nét văn hóa; thành phố Hồ Chí Minh và Địa đạo Củ Chi
LỚP 5
Mở đầu chương trình lớp 5, học sinh sẽ học một số nội dung khái quát về đất nước Việt Nam, bao gồm: vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ và biểu tượng của Việt Nam; tìm hiểu đặc điểm cơ bản về thiên nhiên Việt Nam, biển đảo Việt Nam và dân cư – dân tộc Việt Nam
+ Tìm hiểu những quốc gia đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm: Văn Lang – Âu Lạc; Phù Nam và Champa
+ Xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam gồm các nội dung: Đấu tranh giành độc lập thời Bắc thuộc; Triều Lý và việc định đô ở Thăng Long, Triều Trần và kháng chiến chông Mông – Nguyên, Khởi nghĩa Lam Sơn và triều Hậu Lê, Triều Nguyễn, Cách mạng tháng Tám 1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, chiến dịch Hồ Chí Minh
1975 và Đất nước đổi mới
+ Các nước láng giềng: tìm hiều đặc điểm cơ bản về tự nhiên, dân cư và một số nét tiêu biểu về văn hóa, lịch sử của các nước Trung Quốc, Lào, Campuchia; khái quát Đông Nam Á và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
+ Tìm hiểu đặc điểm của các châu lục và đại dương trên thế giới; dân số, các chủng tộc trên thế giới; một số nền văn minh nổi tiếng thế giới
+ Chung tay xây dựng thế giới: Xây dựng thế giới xanh – sạch – đẹp, Xây dựng thế giới hòa bình
2.1.5 Sách giáo khoa
* SGK Lịch sử và Địa lí lớp 4 chương trình 2006 gồm ba phần:
Trang 40- Phần mở đầu có ba bài, cụ thể bài 1: Môn học Lịch sử và Địa lí, bài 2 và bài 3: Làm quen với bản đồ
- Phần Lịch sử có 29 bài ứng với 29 tiết (chưa kể những tiết ôn tập học kì và kiểm tra) được phân bố cụ thể như sau:
+ Buổi đầu dựng nước và giữ nước: 2 bài
+ Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập: 4 bài (kể cả 1 bài ôn tập) + Buổi đầu độc lập: 2 bài
+ Nước Đại Việt thời Lý: 3 bài
+ Nưốc Đại Việt thời Trần: 4 bài
+ Nưóc Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê: 5 bài (kể cả 1 bài ôn tập)
+ Nước Đại Việt thế kỉ XVI - XVIII: 6 bài
+ Buổi đầu thời Nguyễn: 2 bài
+ Ôn tập cuối năm: 1 bài
+ Ôn tập cuối năm: 1 bài
* Về cơ bản, nội dung dạy học Lịch sử ở Tiểu học được chia thành 5 dạng bài chính sau đây:
- Bài có nội dung về tình hình kinh tế - chính trị, văn hoa – xã hội
- Bài có nội dung về nhân vật lịch sử
- Bài có nội dung nội dung về các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công,…
- Bài có nội dung về thành tựu văn hóa – khoa học
- Bài ôn tập, tổng kết