1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển du lịch văn hoá huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình

66 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Cùng với sự phong phú về điều kiện tự nhiên, Việt Nam còn là quốc gia có bề dày lịch sử văn hóa, trong đó những di sản văn hóa có giá trị gắn liền với quá trình hình

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ

ĐỖ THỊ NGOAN

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

DU LỊCH VĂN HÓA HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH: ĐỊA LÝ HỌC (CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÝ DU LỊCH)

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ

-

ĐỖ THỊ NGOAN

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

DU LỊCH VĂN HÓA HUYỆN LỆ THỦY,

TỈNH QUẢNG BÌNH

NGÀNH: ĐỊA LÝ HỌC (CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÝ DU LỊCH)

KHÓA: 2016-2020

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: ThS Đoàn Thị Thông

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nhờ sự hướng dẫn, chỉ dạy tận tình của quý thầy cô Trường Đại học Sư phạm

Đà Nẵng, sau bốn năm học tập và nghiên cứu, tác giả đã hoàn thành chương trình đào tạo cử nhân Địa lí học chuyên ngành Địa Lý du lịch và thực hiện khóa luận tốt nghiệp Trước hết, tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến ThS Đoàn Thị Thông, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn tất khóa luận

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu nhà trường, Khoa Địa lí và quý thầy cô Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã tận tâm giảng dạy, trang bị kiến thức và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập tại trường Xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả yên tâm hoàn thành tốt việc học của mình Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến các quý cơ quan: phòng Văn hóa Huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình, Ban Quản lý các khu di tích và nhân dân địa phương đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập tài liệu, thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu và khảo sát thực tế Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện khoá luận Trân trọng

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG BÌA PHỤ i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

PHẦN NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA 4

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch văn hóa 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.1.1 Quan niệm về du lịch 4

1.1.1.2 Khái niệm văn hóa 5

1.1.1.3 Du lịch văn hóa 8

Trang 5

1.1.2 Mối quan hệ qua lại giữa du lịch và văn hóa 10

1.1.3 Ý nghĩa của sự phát triển du lịch văn hóa 12

1.1.4 Các điều kiện phát triển du lịch văn hóa 14

1.1.4.1 Điều kiện chung 14

1.1.4.2 Điều kiện riêng 17

1.1.4.3 Điều kiện sẵn sàng đón tiếp 21

1.1.4.4 Điều kiện môi trường văn hóa 23

1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch văn hóa 23

CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA Ở HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH 26

2.1 Tổng quan về huyện Lệ Thủy 26

2.1.1 Lịch sử hình thành 26

2.1.2 Khái quát về huyện Lệ Thủy 27

2.2 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở huyện Lệ Thủy 32

2.2.1 Tài nguyên du lịch văn hóa 32

2.2.2 Đánh giá chung về tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở huyện Lệ Thủy35 2.3 Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở huyện Lệ Thủy 35

2.3.1 Khái quát chung về hoạt động du lịch 35

2.3.2 Khách du lịch 37

2.3.3 Doanh thu du lịch 38

2.3.4 Cơ sở vật chất kĩ thuật của du lịch 39

2.3.5 Các loại hình và sản phẩm du lịch văn hóa chủ yếu 41

2.3.6 Nhân lực du lịch văn hóa 42

2.3.7 Tuyên truyền quảng bá du lịch văn hóa 43

Trang 6

2.3.8 Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở huyện Lệ Thủy44

2.3.8.1 Kết quả đạt được 44

2.3.8.2 Một số những tồn tại và hạn chế 45

2.3.8.3 Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế 46

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH 48

3.1 Định hướng phát triển du lịch văn hóa ở huyện Lệ Thủy 48

3.1.1 Cơ sở xây dựng định hướng 48

3.1.2 Định hướng phát triển du lịch văn hóa huyện Lệ Thủy 48

3.2 Các giải pháp phát triển du lịch văn hóa ở huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình 49

3.2.1 Giải pháp về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất –kỹ thuật phục vụ du lịch 49

3.2.2 Giải pháp về tổ chức quản lý và quy hoạch phát triển du lịch 50

3.2.3 Giải pháp về nguồn nhân lực 51

3.2.4 Giải pháp về thị trường 52

PHẦN KẾT LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 57

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

2.1 Một số chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng huyện Lệ Thủy năm

2.2 Số lượt khách đến tham quan du lịch văn hóa huyện Lệ

2.3 Tình hình tăng trưởng của doanh thu du lịch huyện Lệ

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ

2.3 Biểu đồ số lượt khách đến Lệ Thủy tham quan du

2.4 Biểu đồ tình hình tăng trưởng của doanh thu du lịch

huyện Lệ Thủy ( giai đoạn 2015- 2019) 39

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với sự phong phú về điều kiện tự nhiên, Việt Nam còn là quốc gia có bề dày lịch sử văn hóa, trong đó những di sản văn hóa có giá trị gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của đất nước Trong quá trình mở cửa, giao lưu hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, hoạt động du lịch đã mang lại nguồn thu khổng

lồ cho ngân sách nhà nước Có được những thành công này là do ngành du lịch Việt Nam đã xác định phương thức để phát triển du lịch trên cơ sở khai thác các giá trị di sản văn hóa dân tộc nhằm tạo nên sự khác biệt, độc đáo thu hút du khách trong nước

và quốc tế

Ở huyện Lệ Thủy (Tỉnh Quảng Bình) những di tích lịch sử, công trình kiến trúc, các hình thức nghệ thuật, tập quán, lễ hội, ngành nghề truyền thống… cùng với các thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội, cơ sở văn hóa nghệ thuật, bảo tàng… đây là nguồn tài nguyên nhân văn đa dạng và phong phú, đặc sắc để phát triển du lịch đặc biệt là du lịch văn hóa Là vùng đất “địa linh, nhân kiệt” với nhiều di tích lịch sử và nét văn hóa truyền thống lâu đời, quê hương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Lệ Thủy còn sở hữu làn điệu hò khoan, lễ hội bơi, đua thuyền truyền thống trên sông Kiến Giang, lễ hội chùa Hoằng Phúc… Vùng đất này hội tụ đầy đủ các tiềm năng

du lịch rất cần được đánh thức

Huyện Lệ Thủy hiện có 18 di tích lịch sử, trong đó có 10 di tích cấp quốc gia,

8 di tích cấp tỉnh Các di tích nổi tiếng có thể kể đến là nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chùa An Xá, lăng mộ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, chùa Hoằng Phúc, Miếu Thành Hoàng, trận địa pháo binh Ngư Thủy…

Thực tế cho thấy việc xác định đúng đắn những giá trị to lớn của nguồn tài nguyên này để khai thác phục vụ du lịch thì sẽ đem lại một nguồn lợi to lớn về mọi mặt kinh tế - xã hội của huyện Nó góp phần tạo thêm thu nhập, việc làm cho người dân, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã

lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển du lịch văn hoá

Trang 10

huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình”, mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc nâng

cao nhận thức về công tác phát huy những giá trị di sản văn hóa để từ đó có những giải pháp tăng cường hiệu quả khai thác nguồn tài nguyên này một cách có hiệu quả, mang lại giá trị to lớn

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Nghiên cứu tiềm năng, đánh giá thực trạng phát triển du lịch văn hóa của huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình từ đó đề xuất 1 số giải pháp phát triển du lịch văn hóa của huyện trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch văn hóa

- Nghiên cứu về tiềm năng và đánh giá thực trạng hoạt động du lịch văn hóa của huyện Lệ Thủy từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn đọng và tìm ra những nguyên nhân

- Xây dựng các đề xuất, giải pháp phù hợp với thực trạng phát triển của du lịch văn hóa huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình, đồng thời đảm bảo tính bền vững, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Du lịch văn hóa huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình

Thời gian: Đề tài thu thập số liệu từ năm 2015- 2019

Nội dung nghiên cứu: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch văn hóa huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, tôi sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, trên cơ sở đó giúp tôi đưa ra nhiều luận điểm mang tính khoa học tránh sự chủ quan của cá nhân, bao gồm:

- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: vấn đề nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển du lịch huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình là vấn đề lớn và phức tạp Vì vậy, việc thu thập tài liệu thông qua:

+ Thu thập thông tin từ báo cáo hằng năm kết quả nghiên cứu phòng ban huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình

+ Thu thập thông qua việc điều tra, khảo sát thực địa, sau đó tính toán thành các bảng biểu để dễ so sánh, nhận xét phân tích

+ Ngoài ra đề tài sử dụng báo cáo tổng kết, thông tin từ Cục thống kê tỉnh Quảng Bình

- Phương pháp tổng hợp phân tích: tác giả dùng phương pháp thông qua bảng số liệu để phân tích dãy số biến động theo thời gian, không gian, loại biểu đồ, Trên

cơ sở số liệu, tài liệu thu thập tác giả tính toán các chỉ tiêu cần thiết, so sánh rút ra kết luận đáp ứng mục đích nghiên cứu

- Phương pháp thực địa: đây là phương pháp truyền thống khoa học Địa lý, thông qua kiểm tra độ tin cậy lượng thông tin thu thập Phương pháp này đã giúp người nghiên cứu tiếp cận vấn đề một cách chủ động Để hoàn thành khóa luận tác giả đã tiến hành khảo sát thực địa hầu hết các điểm du lịch trên địa bàn huyện Lệ Thủy nội dung thực địa bao gồm: quan sát, điều tra, ghi chép, mô tả, chụp ảnh, ghi hình, gặp

gỡ trao đổi với lãnh đạo phòng, ban ngành, chuyên gia, cán bộ quản lý huyện liên quan

- Phương pháp bản đồ: Sử dụng phần mềm mapinfo để thành lập cơ sở dữ liệu địa

lý xây dựng bản đồ chuyên đề như: Bản đồ Hành Chính, bản đồ các điểm du lịch huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

DU LỊCH VĂN HÓA 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch văn hóa

1.1.1.1 Quan niệm về du lịch

Theo các nhà sử học thì từ thời cổ đại ( cách đây khoảng 5000 năm) đã có những chuyến vượt biển dài ngày ra khỏi nơi cư trú thường xuyên với những mục đích khác nhau được bắt đầu từ Ai Cập Hay như các cuộc hành hương về các đền, chùa, trong những lễ hội tôn giáo Những cuộc đi xa đó đặt ra nhu cầu về chỗ ăn,

ở và các dịch vụ khác Như vậy hoạt động du lịch đã hình thành một cách tự nhiên cho dù lúc ấy con người chưa có khai niệm về “du lịch” Dần dần với sự phát triển của giao thông, kinh tế xã hội và việc xây dựng các công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật đã làm cho hoạt động du lịch trở nên phổ biến Chính vì vậy mà có nhiều học giả, tổ chức đã nghiên cứu, tìm hiểu về du lịch và đưa ra các khi niệm khác nhau

Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) du lịch được định nghĩa như sau:

“Du lịch là hoạt động của các cá nhân có liên quan đến việc đi đến và nghỉ lại ở ngoài môi trường sinh hoạt hằng ngày trong thời gian không quá 1 năm liên tục với mục đích nghỉ ngơi, công việc và các mục đích khác không liên quan đến hoạt động kiếm tiền ở nơi họ đến”

Nhà nghiên cứu du lịch Mc Intosh và Goeldner (1990) thì định nghĩa:

“ Du lịch là tổng hòa các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa du khách, các nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón du khách” Như vậy ông cho rằng du lịch phải có

4 thành phần là: Du khách, các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cho khách, chính quyền tại điểm du lịch và dân cư địa phương

Trang 13

Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch họp tại Roma- Italia, các chuyên gia đã đưa ra các định nghĩa như sau về du lịch: “

Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn

từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ở ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” Định nghĩa này là cơ sở cho định nghĩa du khách đã được Liên minh quốc tế các tổ chức du lịch chính thức, tiền thân của tổ chức du lịch Thế giới thông qua Trong định nghĩa này các tác giả đã gộp 2 phạm trù hoạt động du khách và hoạt động kinh tế thành một hệ thống nhân- quả

Ở Việt Nam cũng có nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa về du lịch Tuy nhiên, một quan điểm được coi là chính thống ở Việt Nam đó là khái niệm được đưa ra trong Luật Du lịch được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua số: 09/2017/QH14, tại điều 3 thuật ngữ “du lịch” và “hoạt động du lịch” được hiểu như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi

cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”

Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về du lịch nhưng nhìn chung, các định nghĩa và khái niệm về du lịch đều liên quan đến các dạng chuyển cư đặc biệt, trong một khoảng thời gian và các hoạt động của con người tại điểm đến đó Có thể thấy

du lịch là sự kết hợp nhiều thành phần: khách du lịch, phương tiện vận chuyển, dân

cư địa phương, các nhà cung cấp dịch vụ và sản phẩm, Đồng thời ngành du lịch cũng là một ngành kinh tế tổng hợp, liên quan và tác động đến nhiều ngành kinh tế khác Ngày nay khi nền kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống con người này càng được nâng cao thì nhu cầu đi du lịch ngày cành phát triển Vì vậy

mà có rất nhiều loại hình phục vụ những nhu cầu đa dạng của con người

1.1.1.2 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Từ trước tới

Trang 14

nay, cả phương Đông và phương Tây đều có nhiều quan điểm khác nhau về văn hóa Văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại Nhờ

có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “Văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có những định nghĩa khác nhau

về Văn hóa

Alfred kroeber và Clyde Kluckhohn (1952) 2 nhà nhân loại học người Mỹ đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của Châu Âu), dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học, và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng rất khác nhau

Theo Tylor (1871), ông cũng đã đưa ra định nghĩa về Văn hóa như sau “ Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quan khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”

Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, Có người ví, định nghĩa này mang tính “ Bách khoa toàn thư”

vì đã kiệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người Một định nghĩa khác về văn hóa mà A.L.Kroeber và Kluckhohn (1952) đưa ra là “ Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị đực truyền đạt dựa trên những biểu trung, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo”

Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau Hồ Chí Minh (1943) khi còn trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và

Trang 15

phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là

sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “ bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người Phạm Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng

và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức

đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” Theo định nghĩa này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc

Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994 Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ- tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”; còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”

Trang 16

Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra

du lịch giáo dục, Gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, những phong tục tín ngưỡng, để tạo sức hút đối với du khách bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đặc biệt đối với loại khách có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa thì loại hình du lịch này thực sự phù hợp để thỏa mãn nhu cầu của

họ Như đã định nghĩa ở trên, có thể thấy du lịch văn hóa là khái niệm rộng lớn và bao trùm nhiều loại hình trong đó những loại hình du lịch người ta thường nói đến như du lịch lễ hội, du lịch làng nghề, du lịch tâm linh Cũng đều thuộc về loại hình

du lịch văn hóa

*Du lịch tâm linh: du lịch tâm linh là loại hình du lịch kết hợp giữa việc đi đây đi

đó, tham quan với tín ngưỡng Loại hình du lịch tâm linh thường là các cuộc du lịch

về các đình chùa, lễ hội, các công trình của phật giáo và các tôn giáo khác Ở Việt

Trang 17

Nam và cả Châu Á hiện nay thì loại hình du lịch này khá phát triển Du khách tìm đến loại hình du lịch tâm linh không chỉ thỏa mãn nhu cầu tham quan cảnh quan mà còn thỏa mãn nhu cầu tâm lý tin ngưỡng

Khi đời sống vật chất ngày càng được đi lên, xã hội càng hiện đại thì con người ta lại càng có nhu cầu nâng cao hơn nữa về đời sống tinh thần Du lịch tâm linh là một hình thái đặc thù với chương trình lành mạnh, du khách sẽ thỏa mãn các nhu cầu vãn cảnh, hành hương, tín ngưỡng, tâm linh Văn hóa tâm linh sẽ thổi hồn cho di sản Du lịch tâm linh hay bất cứ loại hình du lịch nào khác sẽ vững chắc hơn nếu dựa vào những yếu tố văn hóa Do vậy, việc kết hợp du lịch di sản và du lịch tâm linh đang là hướng đi mới, tạo ra sự khác biệt do du lịch Việt Nam

*Du lịch lễ hội: là một loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống có sức lôi cuốn đông người tham gia và trở thành nhu cầu trong đời sống tinh thần của nhân dân và

là tài nguyên du lịch hấp dẫn du khách Lễ hội là tài nguyên nhân văn quý giá, là quốc hồn, quốc túy của dân tộc Lễ hội góp phần cùng với các tài nguyên khác tạo

ra những giá trị văn hóa đa dạng, phong phú, đặc sắc của mỗi vùng, mỗi quốc gia Các lễ hội là tài nguyên văn hóa quý giá phục vụ cho mục đích phát triển du lịch bao gồm các: Lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại có quy mô lớn còn bảo tồn được giá trị văn hóa lịch sử truyền thống phong phú, đa dạng, đặc sắc

Các lễ hội truyền thống được hình thành phát triển và bảo tồn trong quá trình lịch sử phát triển lâu dài của các địa phương, các quốc gia Các lễ hội hiện đại mới được tổ chức, triển khai trong những thập kỷ gần đây để thực hiện tuyên truyền quảng bá cho các sự kiện văn hóa, thể thao, kinh tế- xã hội,

Các lễ hội thường bao gồm hai phần: phần lễ và phần hội

Phần nghi lễ với những nghi thức nghiêm túc, trọng thể mở đầu ngày hội theo

không gian và thời gian Nghi thức lễ tế nhằm bày tỏ lòng tôn kính với các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong được thiên thời, địa lợi nhân hòa và sự phồn vinh hạnh phúc Nghi lễ tạo thành nền móng vững chắc, tạo một yếu tố văn hóa thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ đối với toàn thể cộng đồng người đi hội trước khi chuyển sang phần xem hội

Trang 18

Phần hội là thường có những trò vui, những đêm thi nghề, thi hát…tượng

trưng cho sự nhớ ơn và ghi công của người xưa Tất cả những gì tiêu biểu cho một vùng đất, một làng xã được mang ra phô diễn, mang lại niềm vui cho mọi người

*Du lịch làng nghề: Du lịch làng nghề truyền thống là một loại hình du lịch văn hóa

mà qua đó du khách được thẩm nhận các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có liên quan mật thiết đến một làng nghề cổ truyền của một dân tộc nào đó Trong quá trình sản xuất và sinh sống, nhiều truyền thống văn hóa đặc sắc của làng nghề thủ công truyền thống đã được hình thành, bồi đắp, bảo tồn như: Những quy định, hương ước của làng, truyền thống văn hóa ứng xử, văn hóa nghệ thuật Khi kinh tế phát triển, đời sống người dân được nâng cao là những điều kiện để xây dựng các di tích lịch sử văn hóa, đường sá,

Khi du khách đến tham quan, nghiên cứu ở các làng nghề thủ công truyền thống, họ không chỉ tìm hiểu, thưởng thức những giá trị nghệ thuật, sản xuất nghề, mua những sản phẩm thủ công quý làm quà cho người thân của mình mà còn là dịp

để du khách có thể tìm hiểu, trải nghiệm, hưởng thụ những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của làng nghề thủ công truyền thống

Rất khó có thể đề cập đầy đủ được việc tách văn hóa để phân tích mối quan hệ giữa nó và du lịch Hầu như không có ranh giới rõ rệt giữa văn hóa và các lĩnh vực khác trong xã hội Văn hóa thể hiện ở tác phong, thái độ khi tiếp xúc của một cá thể hay cộng đồng khi tiếp xúc với môi trường xung quanh

a) Ảnh hưởng của văn hóa đến du lịch

Các đối tượng du lịch văn hóa được coi là tài nguyên du lịch hấp dẫn nếu như tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn khác bởi sự hoang sơ độc đáo và hiếm hoi của nó thì tài nguyên du lịch nhân văn thu hút khách bởi tính phong phú đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó Các đối tượng văn hóa- tài nguyên du lịch nhân văn- là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch văn hóa phong phú Mặt khác, nhận thức văn hóa còn là yếu tố thúc dẩy động cơ du lịch của du

Trang 19

khách Như vậy xét dưới góc độ thị trường thì văn hóa vừa là yếu tố cung cấp góp phần hình thành yếu tố nhu cầu của hệ thống du lịch

Các sản phẩm văn hóa như các làn điêu dân ca, hoạt động văn hóa truyền thống tiêu biểu tạo nên một động lực thúc đẩy du lịch quan trọng Trình diễn dân

ca và các loại hình văn nghệ truyền thống cũng như hiện đại cũng là một biểu hiện của văn hóa Tại một số nước, nền văn hóa âm nhạc là nguồn chủ yếu để làm hài lòng và gây sự tò mò đối với du khách Điệu nhảy dân tộc tạo nên sức cuốn hút, lôi cuốn mạnh mẽ của một nền văn hóa đối với du khách Các buổi biểu diễn khu vực, các chương trình công cộng cũng tạo nên nhiều cơ hội mới để duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc Việc quan tâm đến ngôn ngữ của một dân tộc hay một quốc gia khác là một động lực thúc đẩy du lịch Nước Pháp không chỉ thu hút khách bởi cảnh đẹp thiên nhiên, bãi biển chan hòa ánh nắng, các công trình kiến trúc đẹp mà còn bởi các tác phẩm kiệt xuất nổi tiếng Pháp Các chương trình du lịch- học tập là những kinh nghiệm đặc biệt có giá trị Tiếp thu những chỉ dẫn bằng ngoại ngữ ở nước ngoài có thể kết hợp với chương trình giảng dạy du lịch - học tập toàn diện

Tôn giáo cũng để lạ nhiều dấu ấn mạnh mẽ trong du lịch Những người theo đạo sẽ tìm được sự yên tâm khi đến một nước mà có tôn giáo của họ Họ cũng nhận được sự đồng cảm của người dân có tôn giáo Bởi vậy tôn giáo cũng có một hình thức văn hóa cuốn hút du khách

b) Ảnh hưởng của du lịch đến văn hóa

Ảnh hưởng của du lịch được xét trên hai mặt đó là mặt tích cực và tiêu cực

Do có sự đầu tư cho du lịch nên các di tích lịch sử, các lễ hội truyền thống được bảo tồn và phát huy Bên cạnh đó do sự du nhập giao lưu giữa du khách và người dân địa phương nên nhiều mối quan hệ được mở rộng, người dân được tiếp xúc với nhiều lối sống văn minh hơn

Một trong các chức năng của du lịch là giao lưu văn hóa cộng đồng Khi đi du lịch, du khách luôn muốn được thâm nhập vào các hoạt động văn hóa của địa phương Song nhiều khi sự xâm nhập với mục đích chính đáng bị lạm dụng và sự

Trang 20

thâm nhập biến thành sự thâm hại Ví dụ: Ai đến Sapa cũng muốn đi chợ tình, song chợ tình Sapa, một nét văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc đang bị du khách

tò ít văn hóa xâm hại bằng những cử chỉ thô bạo như rọi đèn vào cặp tình nhân, lật nón các thanh nữ để xem mặt, trêu ghẹo Mặt khác do thị hiếu của du khách, vì lợi ích kinh tế to lớn trước mắt nên một số hoạt động văn hóa bị trình chiếu một cách tự nhiên, mang ra làm trò cười cho du khách Như vậy giá trị văn hóa đích thực của một cộng đồng, đáng lý phải được trân trọng lại bị đem ra làm trò tiêu khiển, mua vui cho du khách Giá trị truyền thống dần bị lu mờ do sự lạm dụng về mục đích kinh tế

Do chạy theo số lượng, không ít mặt hàng truyền thống được chế tác lại để làm đồ lưu niệm cho du khách sản xuất cẩu thả đã làm méo mó giá trị chân thực của truyền thống

Một trong những xu hướng thường thấy ở các nước nghèo đón khách từ các nước giàu là người dân bản xứ, nhất là giới trẻ ngày càng chối bỏ truyền thống và thay đổi cách sống theo mốt du khách

Sự pháp triển của du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng có một ý nghĩa quan trọng về cả kinh tế xã hội đối với một vùng, một đất nước du lịch Ngành du lịch là ngành công nghiệp không khói có tác động tích cực đến nền kinh tế của đất nước và của một vùng thông qua việc tiêu dùng của khách du lịch Thông qua tiêu dùng, du lịch tác động mạnh lên lĩnh vực lưu thông, và do vậy gây ảnh hưởng lớn lên những lĩnh vực khác của quá trình tái sản xuất xã hội Kinh tế du lịch gây biến đổi lớn trong cán cân thu chi của đất nước, của vùng du lịch đối với du lịch quốc tế, việc khách mang ngoại tệ đến đổi và tiêu ở khu du lịch làm tăng tổng tiền trong cán cân thu chi của vùng và của đất nước Còn đối với du lịch nội địa, việc tiêu tiền của dân ở vùng du lịch chỉ gây biến động trong cơ cấu cán cân thu chi của nhân dân theo vùng, chứ không làm thay đổi tổng số như tác động của du lịch quốc tế Trong quá trình hoạt động, du lịch đòi hỏi số lượng lớn vật tư và hàng hóa

đa dạng Ngoài việc khách mang tiền từ nơi khác đến để tiêu ở vùng du lịch góp

Trang 21

phần làm sống động kinh tế ở vùng du lịch và ở đất nước du lịch Du lịch gớp phần huy động nguồn vốn rỗi rãi trong nhân dân vào vòng chu chuyển, vì chi phí cho hành trình du lịch là từ tiền tiết kiệm của dân

Thông qua lĩnh vực lưu thông mà du lịch có ảnh hưởng tích cực lên sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp và nông nghiệp như: (công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp gỗ, công nghiệp dệt, ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi ) Du lịch luôn đòi hỏi hàng hóa có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, mỹ thuật và hình thức Do vậy, du lịch góp phần định hướng cho sự phát triển của các ngành ấy trên các mặt: số lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm và việc chuyên môn hóa của các xí nghiệp trong sản xuất Ảnh hưởng của du lịch trên sự phát triển của các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân như: thông tin, y tế, xây dựng, thương mại, văn hóa cũng rất lớn Sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch của một vùng không chỉ thể hiện ở chỗ những nơi đó có tài nguyên du lịch, mà bên cạnh chúng phải có cả cơ sở vật chất kĩ thuật, hệ thống đường sá, nhà

ga, sân bay, bưu điện, ngân hàng, mạng lưới thương mại việc tận dụng đưa những nơi có tài nguyên du lịch vào sử dụng, kinh doanh đòi hỏi phải xây dựng ở đó hệ thống đường sá, mạng lưới thương nghiệp, bưu điện qua đó cũng kích thích sự phát triển tương ứng của các ngành có liên quan Ngoài ra, du lịch phát triển còn đánh thức một số ngành sản xuất thủ công cổ truyền

Việc phát triển du lịch sẽ tạo ra nhiều công ăn, việc làm và tạo điều kiện tăng thu nhập cho nhân dân địa phương

Ngoài các ý nghĩa to lớn về kinh tế, du lịch còn có ý nghĩa xã hội quan trọng Thông qua du lịch, con người được thay đổi môi trường, có ấn tượng và cảm xúc mới, thỏa mãn được trí tò mò, đồng thời mở mang kiến thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết, do đó góp phần hình thành phương hướng đúng đắn trong ước mơ sáng tạo, trong kế hoạch cho tương lại của con người- khách du lịch Du lịch tạo khả năng cho con người mở mang hiểu biết lẫn nhau, mở mang hiểu biết về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, đạo đức, chế độ xã hội, kinh tế Du lịch còn làm giàu và phong

Trang 22

phú thêm khả năng thẩm mỹ của con người khi họ được tham quan các kho tàng mỹ thuật của đất nước

Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống dân tộc Thông qua các chuyến đi tham quan nghỉ mát vãn cảnh người dân

có điều kiện làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử và văn hóa dân tộc, qua đó thêm yêu đất nước mình

Ngoài ra sự phát triển của du lịch còn có ý nghĩa lớn đối với việc góp phần khai thác, bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc, góp phần bảo vệ môi trường thiên nhiên xã hội

Để phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng đòi hỏi có những điều kiện sau:

1.1.4.1 Điều kiện chung

Đây là một số điều kiện bắt buộc phải có đối với các nơi muốn phát triển du lịch Những điều kiện chung quan trọng nhất đối với sự phát triển của bất kỳ thể loại du lịch nào là:

a) Điều kiện thời gian nhàn rỗi

Một trong các tiêu chí được xác định trong định nghĩa du lịch là chuyến đi thực hiện trong thời gian nhàn rỗi của con người (ngày nghỉ cuối tuần, kỳ nghỉ phép, thời gian rỗi có được trong chuyến công tác ) Không trong thời gian nhàn rỗi, chuyến đi của con người không thể gọi là du lịch Lịch sử Việt Nam nói riêng, đặc biệt thực tế ở nước ta trong hai chục năm trở lại đây chứng minh cho nhận định trên

Lịch sử ngành du lịch cho thấy những người có khả năng chi trả cho hoạt động

du lịch trước tiên là tầng lớp giàu có, tiếp theo đến giới trung lưu và cuối cùng đến tầng lớp lao động Điều này cũng xảy ra tương tự khi nói về quý thời gian nhàn rỗi Công chúng bắt đầu đi du lịch khi mà người lao động được hưởng những dịp lễ và ngày nghỉ ăn lương

Trang 23

Nói tóm lại, thời gian nhàn rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc, trong đó diễn ra các hoạt động nhằm hồi phục và phát triển thể lực, trí tuệ tinh thần của con người Độ dài bình thường của thời gian nhàn rỗi phụ thuộc vòa đặc điểm của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Nguồn quan trọng nhất làm tăng thời gian nhàn rỗi là giảm độ dài của tuần làm việc và giảm thời gian của công việc nội trợ

b) Điều kiện nền kinh tế đất nước

Khả năng phát triển du lịch của một nước phụ thuộc rất lớn vào tình trạng nền kinh tế, vào sự phát triển của lực lượng sản xuất ở nước đó Điều kiện kinh tế đất nước trước hết thể hiện ở:

- Cơ sở hạ tầng:

Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh phát triển

du lịch Mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu Du lịch gắn với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định

Nó phụ thuộc vào mạng lưới đường xá và phương tiện giao thông Việc phát triển giao thông, nhất là tăng nhanh phương tiện vận chuyển ô tô cho phép mau chóng khai thác các nguồn tài du lịch mới Chỉ thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng thì du lịch mới trở thành hiện tượng phổ biến xã hội, hoạt động khinh doanh du lịch ngày càng được nâng cao chất lượng, đa đạng, ngày càng mở rộng Thông tin liên lạc là một bộ phận quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động du lịch Nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế Mạng lưới thông tin liên lạc càng phát triển càng tạo điều kiện cho

sự phát triển du lịch

Trong cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch còn phải đề cập đến hệ thống các công trình cấp điện nước Các sản phẩm của nó phụ thuộc trực tiếp cho việc nghỉ ngơi giải trí của khách

Như vậy cơ sở hạ tầng là tiền đề là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, hoạt động du lịch trong đó có cả du lịch văn hóa

- Mức thu nhập:

Trang 24

Con người để có thể đi du lịch và tiêu dùng họ phải có phương tiện vật chất đầy đủ Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi du lịch nói chung thành nhu cầu

đi du lịch có khả năng thanh toán

Du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống của con người đạt trình độ nhất định Một trong những nhân tố then chốt là mức thu nhập thực tế, không có mức thu nhập cao khó có thể nghĩ đến việc ngơi du lịch Thu nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia đi du lịch Người ta đã xác định rằng mỗi khi thu nhập của con người tăng thì sự tiêu dùng cũng tăng theo, đồng thời có sự thay đổi về cơ cấu trong tiêu dùng du lịch Bởi vậy mức nhập là điều kiện có ý nghĩa quan trọng trong phát triển du lịch

c) Điều kiện nguồn khách

Sự phát triển của một địa phương hay một quốc gia nào tại thời điểm nào đó lại phụ thuộc rất lớn vào điều kiện nguồn khách Đây chính là nhân tố quyết định số lượng khách du lịch nhiều hay ít, tăng hay giảm Cơ cấu nguồn khách bao gồm: thành phần dân cư, độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp liên quan đến thị hiếu và khả năng thanh toán của khách

Bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh du lịch nào cũng phải xác định cho được nguồn khách của doanh nghiệp từ đâu đến? Họ cần gì nhằm tìm ra khách hàng mục tiêu Đây là mối quan tâm cơ bản nhất, vì khả năng của doanh nghiệp thì có hạn mà mỗi loại khách lại có những nhu cầu khác nhau Do đó tìm ra được những người tiêu dùng du lịch văn hóa là doanh nghiệp đã tìm ra được mục đích của mình là kinh doanh du lịch văn hóa Nhờ đó việc đánh giá, nắm bắt được nhu cầu của khách giúp nhà kinh doanh tổ chức và đáp ứng được nhu cầu của khách, thõa mãn sự mong đợi của khách hàng mục tiêu

Nhìn chung điều kiện của khách là một trong những điều kiện quan trọng của khách quyết định sự sống còn của doanh nghiệp, vì dựa vào nó mà nhà kinh doanh

có thể tìm ra khách hàng mục tiêu và thị trường mục tiêu Đây là điều mà ai cũng phải quan tâm khi kinh doanh du lịch

d) Điều kiện chính trị và an toàn xã hội

Trang 25

Điều kiện chính trị xã hội hòa bình ổn định là môi trường tốt cho sự phát triển của một đất nước nói chung và ngành du lịch nói riêng

Khi đi du lịch mục đích chủ yếu của họ là tìm đến những nơi có không khí trong lành để thanh thản tâm hồn hòa bình vào thiên nhiên Do đó nhu cầu an toàn đến với bản thân họ là điều rất quan trọng

Trong du lịch, những điều lạ lẫm có sức thu hút khách du lịch nhưng những điều chưa biết thường gây e ngại Khi nền văn hóa của khách du lịch và điểm du lịch càng khác biệt khi nói chung sức cản trở càng cao lên Người ta ngại đến những nơi không cùng ngôn ngữ, có những phong tục tập quán hoàn toàn xa lạ Đặc biệt là những khả năng có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng của họ Như vậy điều kiện chính trị và an toàn với khách là điều kiện quan trọng có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc Một nơi thiếu điều kiện an toàn thì nơi đó không đủ điều kiện phát triển du lịch vì nhu cầu du lịch

là nhu cầu hưởng thụ, đòi hỏi có sự an toàn cao Những nơi có tình hình sau thì không điều kiện phát triển du lịch

- Những nơi xảy ra hoạt động bạo lực vũ trang: hoặc không đảm bảo những vấn đề trật tự an toàn

- Những nơi thường xuyên xảy ra thiên tai, bệnh dịch đe dọa đến tính mạng của khách

1.1.4.2 Điều kiện riêng

Là hệ thống các điều kiện cần thiết đối với từng chỗ, từng vùng hoặc đất nước

để phát triển du lịch, một vùng du lịch một quốc gia du lịch

a) Tài nguyên du lịch tự nhiên

Các thành phần của tự nhiên có tác động mạnh nhất tới du lịch là địa hình, khí hậu, nguồn nước và tài nguyên động thực vật

Địa hình hiện tại của bề mặt trái đất là các sản phẩm của các quá trình địa chất lâu dài ( nội sinh- ngoại sinh), trong chừng mực nhất định Mọi hoạt động của con người trên lãnh thổ đều phụ thuộc vào địa hình Đối với hoạt động du lịch, điều

Trang 26

quan trọng nhất là đặc điểm hình thái địa hình, nghĩa là các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và dạng đặc biệt của địa hình có sức hấp dẫn khai thác khu du lịch Trong các dạng địa hình thì miền núi có ý nghĩa lớn nhất đới với du lịch, đặc biệt là các khu vực thuận lợi cho việc tổ chức thể thao mùa đông, các nhà an dưỡng, các trạm nghỉ, các cơ sở du lịch, các khu vực thuận tiện cho chuyển tiếp địa hình, các đỉnh núi cao có thể nhìn toàn cảnh và thích hợp với môn thể thao leo núi trong tài nguyên du lịch miền núi, cùng với địa hình, khí hậu và động thực vật tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có khả năng tổ chức các loại hình du lịch ngắn ngày cũng như dài ngày Ngoài các địa hình chính với các ý nghĩa phục vụ du lịch khác nhau, chúng ta cần chú ý đến các kiểu địa hình đặc biệt có giá trị rất lớn cho cho tổ chức

du lịch-kiểu địa hình Karsto (đá vôi) và kiểu địa hình bãi biển

Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên đối với hoạt động

du lịch, nó thu hút người tham gia và người tổ chức du lịch qua khí hậu sinh học Trong các chỉ tiêu khí hậu, đáng chú ý là hai chỉ tiêu chính: nhiệt độ không khí và

độ ẩm không khí Ngoài ra còn có một số yếu tố khác như gió, lượng mưa, thành phần lý hóa của không khí, áp suất của khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt

Tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm Đối với du lịch thì nguồn nước mặt có ý nghĩa rất lớn Nó bao gồm đại dương, biển, hồ, sông, hồ nước nhân tạo, Kavsto, thác nước, suối phun, Nước được dùng chủ yếu cho các nhà tắm (thiên nhiên hay có mái che) Tùy theo thành phần lý hóa của nước người ta phân nước ngọt (lục địa) và nước mặn (biển, một số bờ nội địa) Nhằm mục đích du lịch, nước được sử dụng tùy theo nhu cầu cá nhân, theo độ tuổi và theo nhu cầu quốc gia Nói chung giới hạn nhiệt độ lớp nước trên mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là 18ºC đối với trẻ em là 20ºC cùng với chỉ tiêu cơ bản trên, cần chú ý đến tần

số và tính chất sống của dòng chảy, độ sánh của nước Trong tài nguyên nước cần phải nói đến tài nguyên khoáng sản, là nước thiên nhiên (chủ yếu là dưới dất) chứa một số thành phần vật chất đặc biệt (các nhân tố hóa học, các khí, các nguyên tố

Trang 27

phóng xạ ) hoặc một số tính chất vật lý có tác dụng sinh lý đối với con người Đây

là nguồn tài nguyên có giá trị du lịch an dưỡng và chữa bệnh

Tài nguyên động- thực vật có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành

du lịch Nó phục vụ cho các mục đích du lịch khác nhau như: mục đích tham quan

du lịch, du lịch săn bắn, du lịch thể thao và nghiên cứu khoa hoc Thực vật, đặc biệt

là các khối rừng tự nhiên và cả khu rừng nhân tạo kiểu công viên ở khu vực ngoại ô thành phố, với sự phổ biến của các loài thực vật địa phương kết hợp với các loại khác đã thích nghi với khí hậu, thực hiện chức năng nhiều mặt - làm sạch không khí, cản gió, tăng độ ẩm Ngoài ra nó còn có tác dụng thu hút tiếng ồn một cách tự nhiên, tạo nên cảm giác ấm cúng Do đó chúng rất có giá trị đối với loại hình du lịch cuối tuần Đối với du khách, những loại thực vật không có ở đất nước họ thường có sức hấp dẫn mạnh Thực vật gắn liền với môi trường sống tự nhiên của đại đa số động vật cạn Khi phân tích và đánh giá lớp phổi thực vật chúng ta luôn xem xét cả thế giới động vật Bộ phận này có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với du lịch nhận thức

và nhất là du lịch săn bắn Đặc biệt nhất là những năm gần đây cũng có nhiều đoàn khách du lịch quốc tế tham quan du lịch nghiên cứu động vật như: Vọoc đầu trắng- loài động vật quý hiếm như chim và các sân chim

b) Tài nguyên du lịch văn hóa

Tài nguyên du lịch văn hóa là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra Tuy nhiên chỉ có những tài nguyên văn hóa có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiểu quả phát triển xã hội, kinh

tế, môi trường mới được gọi là tài nguyên du lịch văn hóa Vì vậy TNDL văn hóa thường là những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của mỗi địa phương, mỗi quốc gia

Các dạng TNDL văn hóa: là những sản phẩm văn hóa được con người tạo ra suốt quá trình phát triển lịch sử, ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia do những yếu tố hình thành, nuôi dưỡng rất đa dạng và phong phú nên nguồn TNDL văn hóa cũng rất đa dạng và phong phú Cho đến nay, dựa vào đặc tính vật chất có hình thể có thể nhìn hoặc sờ thấy được, hoặc không có hình thể hay sự tồn tại hình thể không liên

Trang 28

tục, các nhà nghiên cứu phân TNDL văn hóa thành 2 loại chính là TNDL văn hóa vật thể và TNDL văn hóa phi vật thể

Trong mỗi loại tài nguyên, căn cứ vào nguồn gốc hình thành, nuôi dưỡng, đặc tính của tài nguyên, cấp bậc xếp hạng của các loại tài nguyên, các nhà nghiên cứu phân ra thành nhiều dạng

- Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể gồm:

+ Các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh

+ Các cổ vật và bảo vật quốc gia

+ Các công trình đương đại

TNDL văn hóa vật thể thực chất là những di sản văn hóa, hấp dẫn du khách có thể bảo tồn, khai thác vào mục đích phát triển du lịch, mang lại hiệu quả về kinh tế-

xã hội và môi trường

Theo luật di sản văn hóa Việt Nam: “ Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử - văn hóa, khoa học bao gồm các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”

- Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể: là di tích văn hóa phi vật thể có giá trị hấp dẫn du khách, có thể bảo tồn, khai thác phục vụ mục đích phát triển du lịch, mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường

Theo luật di sản văn hóa Việt Nam “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.”

Như vậy, TNDL văn hóa phi vật thể gồm:

+ Di sản văn hóa thế giới truyền miệng và phi vật thể

+ Các lễ hội truyền thống

+ Nghề và làng nghề thủ công cổ truyền

+ Văn hóa nghệ thuật

Trang 29

+ Văn hóa ẩm thực

+ Văn hóa ứng xử, phong tục, tập quán

+ Thơ ca và văn học

+ Văn hóa các tộc người

+ Các phát minh, sáng kiến khoa học

+ Các hoạt động văn hóa thể thao, kinh tế- xã hội có tính sự kiện

1.1.4.3 Điều kiện sẵn sàng đón tiếp

a) Điều kiện tổ chức

Đó là trình độ phối hợp các dịch vụ riêng lẽ thành các sản phẩm hoàn chỉnh và tạo điều kiện dễ dàng trong việc mua sản phẩm của khách hàng Như vậy, ở đây sự lớn mạnh của các đơn vị kinh doanh lữ hành ( kể cả mô hình T.O và các đại lý du lịch), mối quan hệ giữa các đơn vị kinh doanh lữ hành với nhau và giữa các đơn vị kinh doanh lữ hành với các đơn vị cung ứng dịch vụ du lịch với nhau

Đó là trình độ tổ chức quản lý nhà nước trong ngành du lịch thể hiện ở việc xây dựng và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, tổ chức tuyên truyền quảng cáo, thanh tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch

Đó là sự hình thành và tổ chức giữa các tổ chức các điểm du lịch và các mạng lưới tổ chức du lịch được thể hiện trong quy hoạch

Nhìn chung để kinh doanh đáp ứng được những nhu cầu của khách đòi hỏi phải có một bộ máy quản lý có hiệu quả Trong đó gồm các phòng ban (giám đốc hành chính, kế toán cung ứng ) và đội ngũ lao động có chuyên môn nghiệp vụ có khả năng giao tiếp

b) Điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật

Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch Chính vì vai trò quan trọng bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kĩ thuật

Trang 30

Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành du lịch và cơ sở vật chất kĩ thuật của một số ngành kinh tế trong nước tham gia phục

vụ du lịch thương nghiệp, dịch vụ cơ sở vật chất kĩ thuật và tài nguyên du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tài nguyên du lịch ảnh hưởng tới công suất, thể loại, thứ hạng của hầu hết các thành phần cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch

Sự kết hợp hài hòa giữa các tài nguyên du lịch là cơ sở vật chất kĩ thuật giúp cho sự hoạt động có hiệu quả của cửa sổ phục vụ du lịch kéo dài thời gian sử dụng chúng trong năm Vị trí của tài nguyên du lịch là căn cứ để bố trí hợp lý của cơ sở vật chất kí thuật trên các vùng lãnh thổ của đất nước và là tiền đề căn bản để hình thành các trung tâm du lịch

Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch bao gồm (khách sạn, nhà khách, motel, camping), nhà hàng, các khu vui chơi giải trí là những điều kiện cần thiết cho sự phát triển du lịch Ngoài ra mạng lưới giao thông công cộng, hệ thống bưu điện, ngân hàng, là cơ sở tiền đề cho sự phát triển du lịch

c) Điều kiện về vốn

Vốn đang là vấn đề bức xúc và là nỗi trăn trở của nhiều nhà kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng Nhờ có vốn mà các cơ cở kinh doanh du lịch

có thể điều hành hoạt động của mình ngày càng tốt hơn

Thông thường cơ sở tạo nguồn vốn trong kinh doanh là đi vay, do ngân hàng chính sách cấp, do công ty mẹ cấp hoặc do liên kết với công ty nước ngoài, công ty trong nước hoặc góp cổ phần Bên cạnh đó, tạo được mối quan hệ với các nhà cung ứng, cung ứng vật tu hàng hóa, lương thực, thực phẩm nhờ đó tạo được tính đồng bộ và phong phú để cho nhà kinh doanh lựa chọn tối ưu và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch

Như vậy, nhà kinh doanh du lịch muốn kinh doanh muốn kinh doanh có hiệu quả thu được lợi nhuận cao thì điều trước mắt là phải tạo được cơ sở nguồn vốn và

do đâu mà tạo được mối quan hệ liên tục với các nhà cung ứng Có như vậy kinh doanh mới có hiệu quả và ngày càng thu hút khách du lịch đến nhiều hơn bởi tính

Trang 31

hấp dẫn và tính mới mẻ của sản phẩm Một nhà koinh doanh giỏi là nhà kinh doanh lanh lợi, khéo léo và xử lý đúng đắn nguồn vốn của mình đang có

1.1.4.4 Điều kiện môi trường văn hóa

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội Trong quá trình phát triển của loài người , văn hóa luôn đóng một vai trò quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Do đó, khi kinh doanh ngành dịch vụ du lịch cần phải xem xét điều kiện môi trường văn hóa có lành mạnh hay không? Nếu không thận trọng sẽ dẫn đến những tổn hại nền văn hóa, lối sống của địa phương tạo cơ hội cho sự truyền nhiễm các bệnh tật, tạo cơ hội gia tăng số tệ nạn tội ác mại dâm và cờ bạc Đồng thời làm xuống cấp môi trường thiên nhiên và tạo ô nhiễm môi trường, thương mại hóa nghệ thuật tôn giáo và văn hóa Bên cạnh đó làm suy yếu cấu trúc gia đình

Nhằm tạo sự hấp dẫn khách thập phương cần phải tạo ra môi trường văn hóa vừa tiên tiến vừa đậm đà bản sắc dân tộc, làm sống lại các giá trị văn hóa truyền thống, vừa giữ vững sự ổn định chính trị và an toàn xã hội, xây dựng đội ngũ cán

bộ, nhân viên làm dịch vụ tốt

Như vậy thông qua chương 1 – cơ sở lý luận về phát triển du lịch văn hóa, em

đã trình bày một số khái niệm và cơ sở để nghiên cứu, kinh doanh du lịch văn hóa được hiệu quả Đây cũng là cơ sở để đánh giá tiềm năng và hiệu quả từ việc khai thác loại hình du lịch này Nhờ đó khi áp dụng vào thực tế của huyện Lệ Thủy sẽ cho chúng ta một cái nhìn tổng thể nhất về tình hình phát triển của loại hình du lịch văn hóa huyện Lệ Thủy

1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch văn hóa

Việt Nam, quốc gia với nền văn hoá lịch sử lâu đời, có nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể giá trị Điều đó được thể hiện ở những con số: 85 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, 3.329 di tích quốc gia và 9.875 di tích cấp tỉnh, hàng chục nghìn di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh khác, bên cạnh đó là những lễ hội văn hoá đặc sắc, làng nghề truyền thống, tiết mục nghệ thuật dân gian… gắn bó với đời sống người dân Việt Nam từ hàng ngàn năm nay Đặc biệt,

Trang 32

Việt Nam đã có 5 di sảnvăn hoá vật thể và 1 di sản hỗn hợp văn hoá – thiên nhiên được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới, đó là Quần thể tích Cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Thành Nhà Hồ và Quần thể danh thắng Tràng An Và 11 di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận là kiệt tác của nhân loại: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Lễ hội Đền Gióng, Hát Xoan, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Đàn ca tài tử Nam Bộ, Dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh, Kéo co, Tín ngưỡng thờ Tam Phủ

Với ngành du lịch đang được chú trọng và tập trung đẩy mạnh để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam đặc biệt trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quý giá để phát triển du lịch.Tiềm năng của các di sản văn hóa đã và đang phát huy mạnh mẽ, đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc

Chính phủ Việt Nam cũng định hướng khai thác các di sản văn hoá phục vụ phát triển du lịch.Di sản văn hóa và du lịch di sản văn hóa được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp luật, chủ trương, chính sách và chiến lược phát triển kinh tế –

xã hội của Việt Nam, đặc biệt trong: Luật Du lịch; Luật Di sản văn hóa;Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đưa ra mục tiêu tổng quát: “…phát triển du lịch mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc…”, văn hóa vừa là động lực vừa là mục tiêu trong phát triển du lịch; sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc là yếu

tố cuốn hút và nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Chiến lượccũng đưa ra các mục tiêu phát triển du lịch phải hướng tới góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam; lấy du lịch là động lực, tạo nguồn lực để đẩy mạnh bảo tồn văn hóa; nguồn thu từ du lịch hướng tới đóng góp tích cực vào công tác bảo tồn, đồng thời tăng cường kiểm soát

Trang 33

những tác động từ hoạt động du lịch lên các thiết chế văn hóa Mục tiêu phát triển

du lịch văn hóa cũng được nêu ra trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong năm 2016 Trong đó nêu rõ: Đưa du lịch văn hóa trở thành một trong những ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, phát triển rõ rệt về chất và lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế

Ngày đăng: 06/05/2021, 16:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm