Quy trình giáo dục của việc vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non .... Mục tiêu nghiên cứu Trên c
Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập của trẻ 3-4 tuổi và tìm ra các biện pháp vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori giúp trẻ
3-4 tuổi có kỹ năng tự lập tốt hơn Từ đó giúp trẻ tự tin ứng biến linh hoạt với các vấn đề của cuộc sống.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non 20-10, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Khách thể nghiên cứu
Hoạt động phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non.
Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến việc vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non
4.2 Khảo sát thực trạng việc vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non
4.3 Đề xuất biện pháp vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non
Giả thuyết khoa học
Kĩ năng tự lập của trẻ 3-4 tuổi thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau Nếu giáo viên biết vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori vào tổ chức các hoạt động thì hiệu quả hình thành và phát triển kĩ năng tự lập ở trẻ mang tính thiết thực và đạt hiệu quả cao.
Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
7.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết
Phân tích, tổng hợp lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu, thu thập thông tin cần thiết
7.1.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
Trên cơ sở phân loại, hệ thống hóa lý thuyết cần thiết để làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề cần nghiên cứu.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Quan sát trẻ: Tiến hành quan sát trẻ thông qua các hoạt động thường ngày để thu thập thông tin cần thiết phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài
Quan sát giáo viên: thông qua dự giờ nhằm thu thập thông tin cần thiết nhằm phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài
Trò chuyện với giáo viên để thu thập thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài
Sử dụng phiếu hỏi lấy ý kiến của giáo viên, để thu thập thông tin phục vụ cho quá trình nghiên cứu luận văn
7.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu hồ sơ của trẻ, sổ sách, giáo án của giáo viên để thu thập thông tin phục vụ cho quá trình nghiên cứu luận văn
Thực nghiệm biện pháp vận dụng góc thực hành theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non.
Các phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả khảo sát, thực nghiệm sư phạm trong luận văn.
Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục thì cấu trúc của đề tài gồm có
Chương 1: Cơ sở lí luận về việc vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non
Chương 2: Thực trạng của việc vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non 20-10 tại thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Biện pháp vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non Chương 4: Thực nghiệm
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC VẬN DỤNG GÓC THỰC HÀNH CUỘC SỐNG THEO PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI NHẰM PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ LẬP CHO TRẺ 3-4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Một số nhà nghiên cứu coi khả năng tự lập là một những nét đặc trưng của nhân cách, đại điện là T.I Ganhenlin, A.A Sinirnop và E.U Dmitriev… họ cho rằng: “Khả năng tự lập phải hình thành trên cơ sở người học đã có một số vốn kiến thức, hiểu biết một số kỹ năng nhất định và biết vận dụng chúng vào những tình huống khác nhau trong thực tế, đó phải là những tình huống mới mẻ mà trẻ đối mặt trong cuộc sống Khả năng tự lập của trẻ được bộc lộ rõ qua các hành vi và ta sẽ có thể dễ dàng quan sát thấy được trong khi trẻ đang thực hiện các mối quan hệ giữa người - người hay giữa con người với thế giới xung quanh”
S.L.Rubinstein đi nghiên cứu khả năng tự lập của trẻ Trong nghiên cứu ông thấy khả năng tự lập của trẻ luôn đi kèm với các nhiệm vụ mà trẻ được giao cho và đi kèm với khả năng tư duy của trẻ Ông cho rằng: “Cần phải tạo ra cho trẻ những tình huống mới với độ phức tạp khác nhau để dựa vào đó trẻ có điều kiện được vận dụng, được thực hành các kiến thức, kỹ năng, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và các thói quen tự lập- một thói quen vô cùng tốt và cần thiết cho trẻ và người lớn”
K.D.Usiniski cũng nghiên cứu khả năng tự lập của trẻ gắn với lao động, nhưng ông đi sâu cụ thể vào lao động tự phục vụ trong đới sống sinh họat hằng ngày của trẻ Ông cho rằng: “Tự lập trước hết là phải làm sao cho trẻ có niềm say mê với lao động, phải khơi gợi cho trẻ ý thức tích cực về lao động và con người lao động, phải thúc đẩy trẻ tham gia vào lao động từ những việc đơn giản tới các việc phức tạp hơn trong khả năng có thể của chúng Mức độ phát triển khả năng tự lập của trẻ phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ của trẻ với lao động” Nhechaeva một nhà nghiên cứu trong “Giáo dục trẻ mẫu giáo trong lao động” đã khẳng định qua quá trình nghiên cứu lâu dài của mình: “Lao động tự phục vụ đối với trẻ nhỏ như ăn mặc, vệ sinh cá nhân, giúp người lớn làm những công việc vừa sức… là biện pháp tốt nhất để hình thành khả năng tự lập cho trẻ Khi trẻ biết lao động tự phục vụ thì ít hay nhiều trẻ cũng giảm dần sự phụ thuôc vào người lớn Việc hình thành kỹ năng kỹ xảo và thói quen tự phục vụ là vô cùng ý nghĩa đối với sự phát triển khả năng tự lập của trẻ nhỏ”
Nhưng đối với Vengher một nhà nghiên cứu khă năng tự lập trên cơ sở tác động của nhà giáo dục, lại cho rằng: “ Khả năng tự lập không phải tự nhiên mà có Nó chỉ được tạo nên trong những điều kiện cần thiết cho việc hình thành khả năng tự lập dưới sự hướng dẫn của mọi người Tự lập là sự suy nghĩ, sự tổ chức hành động và hoạt động không dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài Khả năng tự lập là một phẩm chất quan trọng của nhân cách Sự thành công của việc nghiên cứu khả năng tự lập được hình thành sẽ xác định phần lớn xu hướng phát triển của nhân cách một người Người lớn cũng góp phần thúc đẩy trẻ hoạt động một cách tự lập, trong hoạt động này trẻ phải học tập suy luận, tập nhận xét một cachs nghiêm túc theo ý riêng của bản thân và có lập trường riêng của chính mình ” Còn đối với E.L.Petrova, bà lại khẳng định rằng: “Khả năng tự lập của trẻ phát triển chính trong hoạt động vui chơi Chơi chính là một hoạt động thực tiễn mang khả năng tự lập của trẻ Khi trẻ tham gia chơi, chính lúc đó trẻ được đứng ở vị trí chủ thể của hành động chơi, trẻ có thể tự mình quyết định làm lấy những gì mà mình thích chứ không phải là những gì người khác ép buộc Vì vậy, trong khi chơi xuất hiện ở trẻ tích cực tự nguyện.Và nhà giáo dục có thể dựa vào hoạt động vui chơi mà có kế hoạch giáo dục khả năng tự lập của trẻ theo định hướng mục tiêu có chủ đích ”
Như vậy, mọi tác động đến khả năng tự lập của trẻ mẫu giáo phải ở một mức độ phù hợp trong một phạm vi cho phép Bên cạnh đó, người lớn cũng cần chú ý đến việc tác động của mình đến trẻ, khi người lớn thúc đẩy trẻ hoạt động một cách tự lập thì người lớn cũng phải hướng dẫn trẻ học cách suy luận, tập nhận xét một cách nghiêm túc theo ý riêng của bản thân trẻ và có lập trường riêng của chính mình
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về tính tự lập của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau
Tác giả Nguyễn Thanh Huyền với luận án tiến sĩ: “Các biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt tại trường mầm non” Tác giả cho rằng chế độ sinh hoạt ở trường mầm non là sự luân phiên các hoạt động của trẻ trong một ngày với những yêu cầu cụ thể là điều kiện cơ bản giúp trẻ hình thành tính tự lập
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hồng Thuận: “Một số biện pháp tác động của gia đình nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi” và luận văn thạc sĩ “Một số biện pháp tác động của gia đình nhằm phát triển tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi” của Đỗ Thị Hồng Hạnh, đã chứng minh được vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi, cách sử dụng có hiệu quả các biện pháp giáo dục sẽ góp phần hình thành và phát triển tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ Tác giả Nguyễn Hồng Thuận đã cho rằng “ Tính tự lập có nhiều nét tương đồng với tính tự lực Tuy nhiên, tính tự lực có biểu hiện xu hướng về khía cạnh hành vi và hoạt động hơn”.[24]
Theo tiến sĩ Bích Hồng: “ tính tự lập của con người được rèn từ lúc sơ sinh, tùy vào từng lứa tuổi mà có cách rèn khác nhau Người lớn cần cho trẻ biết rằng con người không có tính tự lập sẽ sống lệ thuộc người khác, dễ sa ngã”
Theo chuyên gia tâm lý Võ Thị Minh Huệ, bà cho rằng: “bố mẹ cần biết các giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ để dạy con tự lập theo lộ trình từ nhỏ đến lớn” Bà cũng nhấn mạnh vấn đề: “thay vì lo sợ con mình không làm được hoặc làm chậm chạp thì cha mẹ hãy xây dựng tính tự lập để trẻ có thể tự lo cho mình và tự bảo vệ Tùy theo từng lứa tuổi mà cha mẹ những phương pháp dạy con tự lập phù hợp với khả năng của trẻ, và nên có những hướng dẫn, gợi mở về những việc cụ thể cho con trẻ” Trong buổi hội thảo “Xây dựng tính tự lập cho con” với các nhân viên của một tập đoàn tại TP HCM, bà cũng đã nhận xét: “không người cha người mẹ nào có thể đảm bảo rằng mình sẽ đi theo con suốt cuộc đời, vậy tại sao lại không xây dựng tính tự lập cho con, để con có thể tự lo cho mình và tự bảo vệ cho mình? ” [19]
Theo tiến sĩ tâm lý Nguyễ Kim Quý, Hội tâm lý Giáo dục Việt Nam, bà cho rằng: “dạy con tự lập bắt đầu từ lúc trẻ còn nhỏ và điều quan trọng là người lớn phải vượt qua chính mình Nếu rèn cho trẻ vào nếp, sau này trẻ sẽ có ý thức tự lập, tự chịu trách nhiệm từ đó sẽ dễ thành đạt hơn trong cuộc sống”
Như vậy, tại Việt Nam việc nghiên cứu tính tự lập của trẻ em lứa tuổi mầm non đã được quan tâm nhiều Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên của các tác giả mới đi sâu vào nghiên cứu các biện pháp giáo dục tính tự lập của trẻ ở các lứa tuổi khác nhau, ở gia đình và trong một số các hoạt động ở trường mầm non, chưa nghiên cứu sâu về vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp motessori để phát triển tính tự lập cho trẻ 3 – 4 tuổi thông qua họat động khác nhau của trẻ ở trường mầm non.
Các khái niệm chính
Thực hành cuộc sống là những hoạt động thường thức hàng ngày và chúng liên quan đến mọi mặt trong cuộc sống Đứa trẻ quan sát những hoạt động này trong môi trường và thu nhận kiến thức nhờ trải nghiệm thực tế về cách thực hiện được các kỹ năng sống theo một tiến trình/ cách làm có mục đích Các hoạt động này đều phù hợp với văn hóa và được thiết kế đặc thù theo tiến trình sống và địa điểm sống của trẻ
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: Thực hành là làm để áp dụng lí thuyết và thực tế
Cuộc sống là tổng thể nói chung những hoạt động trong đời sống của một con người hay một xã hội
Như vậy thực hành cuộc sống là những hoạt động mô phỏng sinh hoạt đời thường trong cuộc sống hàng ngày Là những bài tập để trẻ có thể học cách làm các hoạt động sống một cách có mục đích
Tóm lại, thực hành cuộc sống là việc tổ chức các bài tập thực hành được xây dựng mô phỏng những hoạt động thực tế trong cuộc sống như quét nhà, rửa bát, chăm sóc cây cối, trẻ học cách làm một cách có mục đích
1.2.2 Hoạt động thực hành cuộc sống
Theo tác giả Heidi Philipart với bài đăng trên AMI US:
Các hoạt động thực hành cuộc sống là những hoạt động thường thức hàng ngày và chúng liên quan đến mọi mặt trong cuộc sống Đứa trẻ quan sát những hoạt động này trong môi trường và thu nhận kiến thức nhờ trải nghiệm thực tế về cách thực hiện được các kỹ năng sống theo một tiến trình/ cách làm có mục đích Các hoạt động này đều phù hợp với văn hóa và được thiết kế đặc thù theo tiến trình sống và địa điểm sống của trẻ Các hoạt động thực hành cuộc sống hỗ trợ trẻ có được cảm nhận về sự tồn tại và sự thân thuộc với môi trường sống, hình thành nhờ các hoạt động phối hợp hàng ngày với chúng ta Nhờ thực hành cuộc sống, trẻ học được về văn hóa, lối sống và những hoạt động của con người Thông thường các hoạt động thực hành cuộc sống được chia làm bốn nhóm: Chăm sóc bản thân, chăm sóc môi trường, bài học lịch sự và nhã nhặn, và di chuyển đồ vật Có một hoạt động nữa bao hàm ý nghĩa của cả bốn nhóm trên và cũng là một hoạt động rất quan trọng trong Thực hành cuộc sống là Chuẩn bị thức ăn Thực hành cuộc sống là một phần không thể thiếu trong bất kỳ môi trường Montessori nào.[24]
Theo tài liệu Montesssori, các bài tập thực hành cuộc sống được xây dựng mô phỏng những hoạt động thực tế trong cuộc sống như quét nhà, rửa bát, chăm sóc cây cối, Mặc dù vậy, những bài tập này vẫn được thiết kế lại sao cho phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ nhưng vẫn cố gắng giữ được sự chân thực, gần gũi nhất với thực tế
Montessori là một phương pháp giáo dục khoa học, hiện đại và hoàn thiện trên thế giới hiện nay do tiến sỹ người Ý Maria Montessori (1870 – 1952) sáng lập từ đầu thế kỷ XX Có thể nói, giáo dục trẻ bằng Montessori đã mở ra một
“chân trời mới”, tạo ra bước đột phá trong lĩnh vực giáo dục mầm non
Phương pháp giáo dục Montessori là một phương pháp giáo dục trẻ em duy nhất trên thế giới học tập thông qua các giáo cụ trực quan, với trẻ là trung tâm và giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn Được sáng lập bởi Tiến sĩ người Ý Maria Montessori – một chuyên gia trong các lĩnh vực triết học, nhân văn học và giáo dục học, Montessori là một phương pháp giáo dục trẻ bằng việc học tập thông qua các giáo cụ trực quan Montessori tập trung thúc đẩy tiềm năng của trẻ bằng một môi trường giáo dục thân thiện, cởi mở với các giáo viên được đào tạo bài bản về chuyên môn cùng với các giáo cụ học tập chuyên biệt… Hiện nay khắp nơi trên thế giới đã áp dụng rộng rãi phương pháp Montessori vào chương trình giảng dạy tại các trường học của Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan, Canada, Úc, Nhật Bản, Trung Quốc, New Zealand…
Phương pháp này đặc biệt xây dựng nền tảng cơ bản cho một đứa trẻ từ 0 đến 6 tuổi Đây là giai đoạn trẻ có sự phát triển về mặt não bộ, khả năng tiếp thu và học hỏi kiến thức mạnh nhất, nhanh nhất so với các giai đoạn về sau của con người Nếu giai đoạn này bị bỏ lỡ sẽ không có cơ hội lần hai để kích hoạt tối đa tiềm năng não bộ mà trẻ có Đồng thời, những ưu điểm trong trẻ cũng không thể phát huy trong những giai đoạn về sau Đặc điểm nổi trội ở phương pháp Montessori chính là tôn trọng cá tính riêng biệt, tính tự lập, tự do mang tính kỷ luật của mỗi trẻ Ngoài ra, phương pháp này rất tôn trọng sự phát triển tâm sinh lý tự nhiên của trẻ, cũng như trang bị đầy đủ cho trẻ các kiến thức thực tiễn Do đó, giáo dục trẻ bằng Montessori sẽ xây dựng nền tảng cơ bản cho mỗi đứa trẻ ngay từ những năm đầu đời, đặc biệt là giai đoạn từ 2 đến 6 tuổi Qua đó, trẻ được phát triển đồng đều về mặt não bộ, khả năng thu nhận kiến thức cũng như hình thành những kỹ năng xã hội từ rất sớm, có kỹ năng học tập độc lập, giao tiếp hiệu quả, tinh thần hợp tác và đoàn kết cao
5 lĩnh vực của phương pháp Montessori
Trẻ được học các bài học liên quan đến tự phục vụ bản thân (mặc/cởi áo khoác, buộc dây giày, chuẩn bị đồ ăn…) và chăm sóc môi trường xung quanh (lau bụi
Các bài tập dành cho trẻ đảm bảo trẻ vận dụng cả 5 giác quan để phát triển toàn diện
Trẻ được khuyến khích thể hiện, bày tỏ bản thân mình bằng lời, trẻ được hướng dẫn cách nhận biết mặt chữ và tô chữ…
Trẻ được làm quen với các biểu tượng số học thông qua nhận biết về lượng mang tính cụ thể, từ đó nhận biết các con số, các phép tính về số học (cộng, trừ, nhân, chia) đơn giản,…
5 Văn hóa (Lịch sử, Địa lý, Khoa học, Nghệ thuật)
Trẻ được học về các đất nước, động vật, thời gian, lịch sử, âm nhạc…
Nguyên tắc của phương pháp Montessori
1 Tôn trọng, không áp đặt trẻ
Phương pháp Montessori là gì? Đó là phương pháp giáo dục có nguyên tắc quan trọng về “Tôn trọng quyền tự do của trẻ khi chọn cách học” Ở các lớp học Montessori, trẻ được tự do lựa chọn hoạt động yêu thích theo nhịp độ phát triển của từng trẻ, ưu tiên sự phát triển tính tập trung và cá nhân
Việc thầy cô và ba mẹ áp đặt suy nghĩ của mình lên trẻ, bắt trẻ phải theo ý mình hoàn toàn đi ngược với nguyên tắc Montessori sẽ khiến cho trẻ mất đi khả năng tư duy vốn có.Vì vậy, hãy để trẻ tự do khám phá trong nhà và ngoài trời theo cách của riêng mình, miễn sao trẻ được bảo đảm an toàn Hãy để các con tiếp thu những cái mới một cách tự nhiên theo hướng trẻ muốn Từ đó, trẻ sẽ học được cách tự lập và kích thích trí tuệ của trẻ phát triển
2 Học tập luôn đi kèm với thực hành
Cách tốt nhất giúp trẻ vận dụng tốt được những điều học được là để trẻ tham gia vào các hoạt động thực tiễn Trẻ có xu hướng bắt chước những hoạt động mà bản thân quan sát được Do đó, mục đích của giáo dục Montessori là chỉ ra cách thực hiện các nhiệm vụ, để trẻ phát triển theo cách tự thực hiện chúng
Trong các hoạt động thực hành cuộc sống, trẻ sẽ được trải nghiệm những kỹ năng thực tế như rót nước, tự mặc và cởi quần áo, để giày đúng nơi quy định, ăn uống lành mạnh hay chăm sóc môi trường bằng cách giữ lớp học sạch đẹp, tưới cây, quét bụi,… Ngoài ra, trẻ cũng được hướng dẫn một số thói quen tốt trong cuộc sống như chờ đợi đến lượt mình, chờ hoạt động mình muốn làm hay đưa ra những lời nhận xét có tính chất xây dựng tích cực và biết lắng nghe người khác Những kỹ năng này sẽ giúp các con trở nên tự tin, chủ động và sẵn sàng cho cuộc sống tương lai
3 Môi trường thân thiện, không tồn tại phần thưởng hay trừng phạt
Với quan niệm giáo dục truyền thống, trao thưởng để khuyến khích con đạt tới thành tích nào đó và trừng phạt khi con phạm lỗi bằng việc đánh đòn, la mắng, so sánh với các bạn khác là hai hình thức được áp dụng rất nhiều
Lý luận về góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori
1.3.1 Góc thực hành cuộc sống theo phương pháp Montessori
Thực hành cuộc sống là lĩnh vực đầu tiên và rất quan trọng trong phương pháp Montessori, vì mục đích đơn giản là giúp trẻ có thể tự làm những công việc đơn giản hàng ngày để tự chăm sóc bản thân, hoặc thậm chí là giúp đỡ bố mẹ những công việc nhỏ Đơn giản là những việc như rót nước, gấp quần áo, cài cúc áo, dùng đũa gắp… Một hệ thống các bài học cho lĩnh vực này được nghiên cứu và phát triển dựa theo sự phát triển của trẻ ở từng giai đoạn, từng độ tuổi, theo kỹ năng ở trẻ Hệ thống giáo cụ là bao gồm những vật dụng hàng ngày mà trẻ tiếp xúc như cốc thủy tinh, cốc sứ, bát, thìa, đũa, bàn chải, khăn, … Khi trẻ có thể tự làm được những việc trong cuộc sống thường nhật để tự chăm sóc bản thân, một trong những điều quan trọng trẻ đạt được là tính tự lập Đây là điều mà các bậc cha mẹ đều mong muốn hướng đến cho con cái mình Trong một gia đình, một lớp học, trẻ tự làm được nhiều việc để chăm sóc bản thân, chăm sóc môi trường xung quanh (phân loại rác, hốt rác, tưới cây, lau sàn, lau bàn ghế, rửa cốc…) sẽ giúp trẻ phát triển tốt nhân cách của một đứa trẻ, của một nhân tố để phát triển xã hội trong tương lai Tất cả những điều đó đều nằm trong mục đích phát triển toàn diện của phương pháp Montessori
Những bài học đầu tiên của trẻ trong lĩnh vực Thực hành cuộc sống là việc chuyển hạt từ bát này sang bát khác theo các cách thức từ đơn giản đến phức tạp: chuyển hạt bằng tay, chuyển hạt bằng thìa, chuyển hạt bằng kẹp, chuyển hạt bằng đũa … Ở mỗi phần chuyển hạt thì có 3 bài học theo 3 mức độ khó dần: hạt lớn, hạt bình thường rồi đến hạt nhỏ Những bài học thế này mục đích để rèn luyện cơ tay vận động của trẻ, tính cẩn thận, tính tập trung trong công việc, song song là mục đích xã hội khi trẻ biết tự làm những việc như thế ở nhà để tự chăm sóc bản thân, qua đó rèn tính tự tập cho trẻ
Những bài học về rót hạt từ cốc miệng nhỏ này sang cốc miệng nhỏ khác đòi hỏi tính tập trung cao, tính cẩn thận khi trẻ hoạt động
Những bài học về đóng mở cúc áo, đóng mở khóa kéo, tạo ruy băng, thắt
Bài học về phân loại rác, thu gom rác không những giúp trẻ quan tâm và biết làm sạch, gọn gàng môi trường mình đang sống, đang học tập, mà còn giúp trẻ phát huy tính cộng đồng
Những bài học về Thực hành cuộc sống liên quan đến nước trong Montessori khá đa dạng và khá gần gũi với trẻ trong cuộc sống thường ngày Những bài học đơn giản nhất là rót nước từ cốc sang cốc (theo 3 mức độ khó dần: rót từ cốc trong (cốc thủy tinh) sang cốc trong, cốc trong sang cốc đục (cốc sứ), cốc đục sang cốc đục) Tuy đơn giản nhưng để không rơi đổ nước đòi hỏi trẻ phải tập trung và cẩn thận khi hoạt động
Tiếp đến là những bài học chuyển nước bằng mút, chuyển nước bằng phễu, bằng ống bóp, vừa đơn giản nhưng cũng rất thú vị
Bài học rửa tay luôn có tính áp dụng cao trong cuộc sống Các bài học về lau bàn, lau ghế giúp trẻ tự chăm sóc bàn ghế học tập của mình ở nhà cũng như ở lớp Bài học lau lá cây giúp trẻ yêu thiên nhiên và gần gũi với thiên nhiên hơn Trẻ được học làm bánh, học vắt cam rất thú vị và đầy hào hứng Việc cắt trứng bằng dụng cụ cắt thành từng lát ăn kèm với bánh quy rất ngon Trẻ học cách đánh bóng đôi giày da của mình bằng cách rất đơn giản
Một hệ thống các bài học Thực hành cuộc sống được tổ chức Montessori Quốc tế xây dựng theo mô hình tiên tiến song song với kết hợp văn hóa Việt Nam phù hợp với từng lứa tuổi, từng giai đoạn giúp trẻ rèn luyện tư duy, thể chất, phát triển tính tự lập với cuộc sống và tình xã hội cao
Thông thường các hoạt động thực hành cuộc sống được chia làm bốn nhóm: Chăm sóc bản thân, chăm sóc môi trường, bài học lịch sự và nhã nhặn, và di chuyển đồ vật Có một hoạt động nữa bao hàm ý nghĩa của cả bốn nhóm trên và cũng là một hoạt động rất quan trọng trong Thực hành cuộc sống là Chuẩn bị thức ăn
Các lĩnh vực trong thực hành cuộc sống bao gồm
1 Kiểm soát thao tác động tác
4 Phép lịch sự nhã nhặn
Dựa vào những nhóm bài tập này, thầy cô sẽ thiết lập hệ thống bài giảng và các hoạt động phù hợp với lớp học Montessori Các bài tập sẽ được đan xen nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ
Sơ lược các hoạt động Thực hành cuộc sống có thể dạy con trong sinh hoạt hằng ngày
+ Con tự đánh răng, rửa mặt, chải tóc, lấy và cất các vật dụng liên quan + Tự đi vệ sinh, tự múc thìa và tập gắp bằng đuã
+ Cởi/mặc áo quần, giày dép, giớ, dây nịt, cài đầu …
+ Tự treo quần áo, mũ nón, móc áo quần vào móc phơi đồ…
+ Kéo khóa áo/quần, cài khuy áo, thắt dây giày…
+ Tự cắt đồ ăn, tự làm một số món ăn
+ Tưới cây, phụ mẹ trồng cây, chăm sóc vườn/cây
+ Lau bàn, quét phòng, lau chỗ dơ trên sàn nhà
+ Rửa dụng cụ nhà bếp
- Các kỹ năng thao tác động tác
+ Cầm nắm đồ vật, chuyển đồ vật bằng tay
+ Chuyển đồ vật bằng dụng cụ: gắp, muỗng, miếng bọt biển, phễu…
+ Mở/tắt TV, đầu máy
- Lễ nghi, phép tắc xã giao
+ Biết trả lời điện thoại, gọi điện thoại
+ Biết cảm ơn, xin lỗi
+ Biết mời người khác ăn/uống…
1.3.2 Mục tiêu của góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori cho trẻ
Các bài tập thực hành cuộc sống sở hữu những ý nghĩa và vai trò khá thiết thực đối với trẻ nhỏ Những bài tập thực hành này được áp dụng với mục đích trực tiếp là để giúp trẻ tăng cường và phát triển sự độc lập trong việc; thực hiện các hoạt động vận động căn bản, chăm sóc môi trường của mình, chăm sóc bản thân mình, các mối quan hệ xã hội (ứng xử tế nhị và lịch thiệp) thông qua các bài tập và tình huống thực tế
Ví dụ: trẻ khi đến với lớp học Montessori sẽ phải tự làm rất nhiều thứ như tự lấy bát ăn cơm, rửa bát, dọn dẹp đồ chơi sau ki dùng xong,… những hoạt động này sẽ hình thành nếp sống ý thức, gọn gàng và tự lập ở trẻ Hay trẻ sẽ được học cách chăm sóc cây cối xung quanh lớp học, từ đó trẻ biết cách quan tâm, yêu thương những người xung quanh mình
Ngoài ra, các bài tập thực hành cuộc sống thực tiễn còn giúp trẻ củng cố và phát triển “sự phối hợp của các vận động” của cơ thể và do đó đặt nền tảng cho sự nhất thể hóa nhân cách
Từ những ý nghĩa trên, các bài tập thực hành cuộc sống thực tiễn được coi là phương tiện cho sự phát triển toàn diện Không chỉ tạo điều kiện cho trẻ được phát triể một cách tốt nhất, các bài tập thực hành này còn tạo nên một xã hội công bằng cho trẻ, sẽ không còn có chỗ cho sự phân biệt xã hội và giới tính Chúng giúp trẻ đặt nền tảng cho một sự phát triển rộng hơn và sâu hơn Chính vì vậy, các bài tập thực hành cuộc sống thực tiễn (EPL) là cần thiết để áp dụng cho trẻ thực hành
1.3.3 Đặc trưng của góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori cho trẻ
- Dựa trên thực tế: Các hoạt động này phải dựa trên thực tế Chúng ta rửa bát đĩa với nước và xà phòng thật, chúng ta đánh bóng giày bằng xi thật và cắt hoa quả với dao thật Sự an toàn nằm ở cái thực tế
- Không giới hạn: Có một sai lầm lớn khi nghĩ rằng các hoạt đông thực hành cuộc sống được giới hạn trong những bài học bạn được học ở khóa đào tạo Các bài học này không có một giới hạn nào hết mà phụ thuộc vào văn hóa và nhu cầu trong môi trường sống và có sự khác nhau từ môi trường này đến môi trường khác, hay từ nước này sang nước khác Bạn có thể sáng tạo ra bài học của riêng mình bằng việc bám sát với các định hướng của lý thuyết của thực hành cuộc sống
- Mỗi hoạt động chỉ có một: Dù không có giới hạn nào về số lượng hoạt động thực hành cuộc sống trong môi trường, nhưng mỗi hoạt động chỉ có một bộ duy nhất Việc này giúp trẻ học được rằng trẻ cần đợi tới lượt và cuộc sống không luôn thỏa mãn mình ngay lập tức Kết quả là giáo cụ sẽ được trân trọng hơn Bạn luôn có thể để dành các hoạt động trong kho và thi thoảng thay đổi nếu có đồ gì bị vỡ, hỏng, nhưng luôn luôn chỉ có 1 bộ trên giá
Lý luận về việc phát triển tính tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non 26 1 Đặc điểm phát triển thể chất, tâm lý liên quan đến tính tự lập của trẻ 3-4 tuổi
1.4.1 Đặc điểm phát triển thể chất, tâm lý liên quan đến tính tự lập của trẻ 3-
Sự hình thành cái tôi của trẻ 3-4 tuổi là tuổi đứa trẻ bắt đầu nhận thức về bản thân mình, biết mình là con gái hay con trai, biết phân biệt mình với thế giới xung quanh Lúc này, trẻ đã có khả năng tự ý thức về bản thân và từ đó nảy sinh ý muốn và hành động phân biệt mình với người khác, trẻ bắt đầu thích nghe đánh giá và nhận xét về mình, trẻ thích được khen Cái “tôi” của trẻ rõ ràng nhất khi trẻ muốn tự làm mọi việc, muốn có quyền đối với mọi vật xung quanh, muốn trở thành người lớn ngay tức khắc, không muốn can thiệp vào hoạt động của mình Mong muốn được làm người lớn, được độc lập là động lực thúc đẩy sự phát triển cái “tôi” của trẻ
Trẻ biết quan tâm nhiều hơn đến thế giới xung quanh: nếu quan sát trẻ bạn sẽ thấy trẻ có ý thức và nhạy cảm hơn với thế giới trẻ đang sống, trẻ sẵn sàng đáp lại tương tác của mọi người, biết chờ đợi nếu chưa đến lượt mình và chia sẻ đồ chơi với người khác Ý thức về thời gian của trẻ trở nên rõ ràng hơn Trẻ thể hiện sự quan tâm của mình thông qua việc luôn tò mò muốn tìm hiểu khám phá tính chất của sự vật, dần dần biến cái đồ chơi đó thành môn luyện tập các kỹ năng đơn giản, đồng thời bắt đầu biết dùng các vật thể đó làm các trò chơi theo trí tưởng tượng của trẻ Bé chú ý hơn đến vật dụng gia đình cùng các vật dụng xung quanh, chăm chú hơn với những vật phát sinh ngoài cửa sổ, cử chỉ hành động của người lớn cũng rơi vào tầm ngắm của trẻ Nếu trẻ trở nên thích nghịch nước, trẻ có thể nghịch nước với nhiều hình thức khác nhau hoặc thích chơi bóng như ném hoặc đá bóng, sau đó lại nhặt lên thì có nghĩa là trẻ đang khám phá thế giới xung quanh theo cách riêng của mình…
Trẻ đã biết cách thể hiện cảm xúc của mình: trẻ cảm thấy tự tin hơn rất nhiều, không còn rụt rè, nhút nhát với mọi người nữa, tỏ ra cởi mở hơn ngay cả khi đối với người lạ Tuy nhiên điều này còn tuỳ thuộc vào cá tính của từng trẻ, trong những tình huống quen thuộc, trẻ cảm thấy hoàn toàn thoải mái, mặc dù đôi lúc trẻ hơi e dè, thậm chí còn chạy vù đến ôm chầm lấy cha mẹ để có cảm giác thoải mái hơn Lúc này, trẻ đã có sự tự ý thức về cảm xúc rất rõ rệt, trẻ đã biết xấu hổ khi bị ai đó lên án Thậm chí, bản thân trẻ có thể nhận xét về mình (thông qua nhận xét của người lớn hoặc liên hệ với các nhân vật trong truyện) Trẻ tự ý thức hành động của mình theo thời gian: quá khứ, hiện tai, tương lai, trẻ đã biết bày tỏ tình cảm của mình với những người thân yêu Giai đoạn này, có thể xuất hiện những “khủng hoảng tuổi lên ba” ở trẻ
Trong cuốn sách “Về nhân cách trẻ 3 tuổi”, V.Keler đã từng nhấn mạnh đợt khủng hoảng vĩ đại của một đứa trẻ với những biểu hiện có thể có như: “ Bé trở nên tiêu cực hơn trong quan hệ xã hội với những người xung quanh nên đôi lúc bé không chịu phục tùng một số yêu cầu của người lớn Bé cũng có thể ngoan cố hơn, có những phản ứng đối với những quyết định của chính mình, thể hiện ở chỗ trẻ kiên quyết nghiêng về phía sự thoả mãn đòi hỏi của bản thân, sự quyết định của mình Bạn cũng cảm thấy con mình trở nên ngang ngạnh và không hơn trong hành vi, bé muốn tự mình làm điều gì đó không cần sự giúp đỡ của bố mẹ nữa, và hướng đến sự độc lập về mặt vận động của bé Đôi lúc bạn bị sốc thực sự khi nghe con bạn mắng người lớn là “đồ ngốc”, hoặc bé trở nên nổi loạn trong những tình huống cụ thể”
- Thông qua cuộc sống sinh hoạt hằng ngày: Trẻ 3 – 4 tuổi đã dần nhận thức được mọi thứ xung quanh, do đó tự lập đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của trẻ Khi ở nhà trẻ biết sử dụng thìa muỗng thành thạo trong bữa ăn và làm một số việc vặt trong nhà như lau dọn đồ chơi, tìm quần áo bẩn của mình bỏ vào chậu, tìm hai chiếc tất cùng màu, gấp quần áo, tự mặc quần áo, tự đánh răng, chải đầu, rửa tay khi tay bẩn, tự mặc áo khoác, đeo khẩu trang, đội mũ khi ra ngoài đường cùng người thân của mình….Một số trẻ biết đi vệ sinh đúng nơi, xả nước sau khi đi vệ sinh, cho quần áo bẩn vào máy giặt, bỏ rác đúng nơi quy định Bên cạnh đó, việc giúp đỡ người khác là một việc tốt và nên được thực hiện thường xuyên, vì vậy trẻ có thể giúp người lớn làm những công việc nhẹ như bật quạt, bật tivi (vị trí thấp), lấy chén ăn cơm, 6 xách phụ đồ đạc, tưới cây…Mặc dù, đó chỉ là những việc vặt, nhưng sẽ giúp trẻ hình thành các thói quen và suy nghĩ tích cực ngay từ khi còn nhỏ
- Thông qua hoạt động vui chơi: Hoạt động vui chơi, trong đó trò chơi đóng vai theo chủ đề tác động rất nhiều đến trẻ Từ đó trẻ thể hiện được tính độc lập và tập khẳng định “cái tôi” thông qua “xã hội trẻ em” trong hoạt động vui chơi Hoạt động vui chơi đối với trẻ là hoạt động để rèn luyện các chức năng tâm lý, sinh lý Chơi là để phát triển các mặt thể chất và tinh thần Chơi là để học làm người, là để phát triển nhân cách một cách toàn diện Với những ý nghĩa to lớn đó, có thể khẳng định rằng: chơi cũng là cách để trẻ rèn luyện và phát huy khả năng tự lập
Hơn bất cứ hoạt động nào, trong trò chơi, trẻ được thể hiện khả năng tự lập của mình Trẻ luôn luôn mong muốn mình được tự giải quyết lấy mọi tình huống, chúng có xu hướng tự hoạt động mà không cần sự giúp đỡ của ai Trẻ có thể tự tiến hành trò chơi và chơi một cách vui vẻ, hăng say, thích thú Trong các hoạt động khác cũng như trong những hoạt động có tạo ra sản phẩm, trẻ có thể tự đáp ứng tốt yêu cầu của người lớn Bên cạnh đó, có những trẻ lại ỷ lại vào người khác và chậm trong quá trình hoạt động, khả năng tự hoàn thành công việc của bản thân kém, không có sự cố gắng để vươn tới đạt được một mục đích nhất định trong vui chơi cũng như trong công việc Với những trẻ này, nhà giáo dục cần chú ý để có biện pháp tác động giáo dục phù hợp nhằm phát huy khả năng tự lập của trẻ trong hoạt động vui chơi cũng như các hoạt động khác Đây là một giai đoạn quan trọng trong bước tiến, trên con đường hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ
- Thông qua hoạt động học tập: Học tập thể hiện qua nhiều mảng khác nhau, ở lứa tuổi 3 – 4 tuổi trẻ có xu thế thích bắt chước người lớn về mọi mặt từ thói quen đến cách nói Khi cô giáo giao cho một nhiệm vụ bất kì với sự hướng dẫn cụ thể, trẻ sẽ thích thú thực hiện cho dù kết quả có ra sao Trẻ đáp ứng yêu cầu một cách tốt nhất mà trẻ có thể làm Nếu gặp khó khăn, trẻ sẽ nhờ đến sự giúp đỡ của người lớn Tuy nhiên trẻ thích tự mình làm, trẻ có thể ngồi im lặng tập trung vào việc được giao trong một thời gian khá lâu để hoàn thành, hay có thể tỏ ra khó chịu khi khônglàm được hoặc vui mừng khi đã hoàn thành Điều này thúc đẩy được sự vươn lên trong học tập của trẻ ngay từ nhỏ Qua đó trẻ sẽ hình thành được nhiều khả năng như khả năng nghe, khả năng nói, khả năng viết, khả năng nhận biết, Tính tự lập cũng dần dần được hình thành theo Điều đó thể hiện qua việc thực hiện những bài tập và ôn lại bài khi về nhà Đấy tuy chỉ là các biểu hiện nhỏ tuy nhiên nó sẽ trở thành những tiền đề, từ đó hình thành thói quen về tính tự lập cho trẻ
- Hoạt động lao động ( tự phục vụ): Lao động tự phục vụ là hình thức lao động đi vào toàn bộ cuộc sống hàng ngày của trẻ ở trường mẫu giáo Hình thức lao động này nhằm giữ gìn sự sạch sẽ và ngăn nắp trong lớp học và ngoài sân trường, giúp đỡ người lớn tổ chức quá trình sinh hoạt hàng ngày - lao động tự phục vụ nhằm phục vụ cho bản thân trẻ, và đồng thời phục vụ cho tập thể, do đấy có khả năng to lớn để giáo dục khả năng tự lập cho trẻ Ở mẫu giáo nhỏ, nội dung lao động tự phục vụ phong phú, mang tính chất giữ gìn sạch sẽ lớp học, ngoài sân, sửa chữa đồ chơi, dán lại sách vở, giúp bạn hay em nhỏ hơn mình, yếu hơn mình Trẻ mẫu giáo nhỏ chưa biết cách tổ chức các công việc nên luôn tỏ ra cố gắng, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ, đạt kết quả tốt, được đánh giá cao Điều này khẳng định khả năng tự lập của trẻ được hình thành thuận lợi thông qua quá trình trẻ tham gia lao động tự phục vụ tại trường mầm non Trẻ ở lứa tuổi mầm non rất thích tự làm những công việc vừa sức của mình để phục vụ cho bản thân Các con rất hào hứng khi được giúp cô giáo những việc đơn giản như: chuẩn bị bàn, ghế cho giờ học, giờ ăn hay tự mình sắp xếp đồ dùng ngay ngắn để vào cặp Trong giờ ăn, các bé được tập cách bê bát ăn cơm một cách cẩn thận về chỗ ngồi của mình và sau khi ăn xong các bé biết tự mang bát đến khu vực quy định
Chính những việc làm của người lớn thường ngày sẽ được trẻ chú ý quan sát và ghi nhớ để thực hiện lại Vì vậy, ngoài việc nâng cao tính tự giác, tự lập, trẻ còn tạo dựng được tinh thần tập thể, biết quan tâm giúp đỡ những người xung quanh Đó có thể là những hành động nhỏ trẻ có thể hỗ trợ bạn bè trong giờ học hay giờ chơi Đối với trẻ mới vào lớp chưa quen các kĩ năng tự phục vụ bản thân thì những trẻ đã được học trước sẽ trở thành người hướng dẫn cho bạn mới Những lúc như vậy các cô giáo luôn chú ý khen ngợi, động viên, khuyến khích trẻ và trẻ luôn vui thích và cố gắng phát huy những kĩ năng tốt này Các cô luôn tạo điều kiện để trẻ học những kĩ năng sống vì những trải nghiệm sẽ giúp trẻ thích ứng nhanh với môi trường xung quanh, phát triển tính nhanh nhẹn, khả năng tư duy, ý thức tự giác và tinh thần tập thể
Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tự lập của trẻ 3 – 4 tuổi
Yếu tố gia đình: đây là yếu tố đầu tiên cũng như tiền đề, vì gia đình là môi trường trẻ tiếp xúc đầu tiên và thân thuộc nhất Ở môi trường này trẻ sẽ tiếp thu và bắt chước theo các hành động, lời nói việc làm của các thành viên khác trong gia đình
Yếu tố nhà trường: là môi trường trẻ tiếp xúc khi trẻ đi học, ở đây trẻ được tiếp xúc với nhiều người, đó là bạn bè, cô giáo Trẻ thoải mái thể hiện mình và giao lưu với các bạn, cô giáo, học hỏi được nhiều đức tính và thói quen tốt
Yếu tố xã hội: đây là yếu tố khách quan, vì xã hội lành mạnh, tốt đẹp sẽ tạo nên nhận thức tốt đẹp ở mỗi con người, đối với trẻ cũng vậy
1.4.2 Đặc điểm tính tự lập của trẻ 3-4 tuổi
Trong mỗi con người, tính tự lập được hình thành rất sớm ngay từ mới sinh ra, tuy nhiên tùy theo từng độ tuổi mà tính tự lập thể khác nhau Ngay từ khi còn nhỏ, đặt biệt là trong thời đại hiện này, đứa trẻ dường như đã có nhiều cơ hội để suy nghĩ, cảm nhận, lựa chọn và hành động theo cách của trẻ Từ khái niệm tính tự lập chúng tôi đi đến xác định khái niệm tính tự lập của trẻ mẫu giáo
Tính tự lập của trẻ mẫu giáo là một phẩm chất nhân cách cá nhân, được đặc trưng bởi khả năng trẻ tự định hướng hoạt động, tự đặt ra kế hoạch và mục đích của chính bản thân trẻ Trẻ tự lựa chọn phương tiện, cách thức hành động, tự đánh giá bản thân….bằng chính sức lực, năng lực của trẻ để thực hiện đến cùng nhiệm vụ của mình mà không cần phải trông đợi, dựa dẫm vào người khác Đối với lứa tuổi mẫu giáo bé tính tự lập đã xuất hiện và thể hiện rõ, trẻ bắt đầu có ý thức về bản thân (còn gọi là ý thức bản ngã hay cái “tôi” của một người) Độ tuổi mẫu giáo bé là điểm khởi đầu của sự hình thành ý thức bản ngã, nên ý thức đó còn mang đặc điểm duy kỷ (lấy mình làm trung tâm), đây cũng được xem là giai đoạn khủng hoảng của tuổi lên 3 bởi vì ở độ tuổi này nguyện vọng độc lập của trẻ rất cao Khi trẻ tách được mình ra khỏi người khác và có ý thức về khả năng của chình mình thì đồng thời cũng xuất hiện thái độ mới với người lớn, trẻ bắt đầu so sánh mình với người lớn, muốn giống như người lớn và làm những việc như người lớn, muốn được độc lập và tự chủ Mặc dù trẻ thường nói khi lớn sẽ thế này nhưng thực tế cho thấy, trẻ muốn trở thành người lớn nay tức khắc Điều này biểu lộ ở nguyện vong được độc lập Khi tính độc lập xuất hiện thì ở trẻ nhu cầu mong muốn hành động độc lập là rất lớn, trẻ muốn tự khẳng định mình Nhiều phẩm chất ý chí xuất hiện bôc lộ qua hành vi ứng xử với người lớn và hành động với đồ vật như tính mục đích và tính độc lập Tuy nhiên ở lứa tuổi mẫu giáo bé tính mục đích và động cơ hành vi ý chí thường trùng nhau Ở lứa tuổi này tính tự lập của trẻ bắt đầu được hình thành trẻ bắt đầu tự chủ được một số hành vi cơ bản tuy nhiên tuy nhiên nó chưa biểu hiện chưa rõ ràng
1.4.3 Mục tiêu và nội dung giáo dục tính tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non
Lý luận về việc vận dụng dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp
1.5.1 Mục tiêu của việc vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non
Vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori giúp trẻ tăng cường và phát triển sự độc lập trong việc; thực hiện các hoạt động vận động căn bản, chăm sóc môi trường của mình, chăm sóc bản thân mình, các mối quan hệ xã hội (ứng xử tế nhị và lịch thiệp) thông qua các bài tập và tình huống thực tế
Các hoạt động thực hành cuộc sống trong Montessori được thiết kế có mục đích nhằm giúp trẻ hiểu môi trường của trẻ và cách môi trường vận hành Những hoạt động này hấp dẫn đối với trẻ nhỏ vì chúng giống với các hoạt động thường ngày mà trẻ thấy người lớn làm
Trẻ khi đến với lớp học sẽ phải tự làm rất nhiều thứ như tự lấy bát ăn cơm, rửa bát, dọn dẹp đồ chơi sau ki dùng xong,… những hoạt động này sẽ hình thành nếp sống ý thức, gọn gàng và tự lập ở trẻ Hay trẻ sẽ được học cách chăm sóc cây cối xung quanh lớp học, từ đó trẻ biết cách quan tâm, yêu thương những người xung quanh mình
Giúp trẻ củng cố và phát triển “sự phối hợp của các vận động” của cơ thể và do đó đặt nền tảng cho sự nhất thể hóa nhân cách
Không chỉ tạo điều kiện cho trẻ được phát triể một cách tốt nhất, các bài tập thực hành này còn tạo nên một xã hội công bằng cho trẻ, sẽ không còn có chỗ cho sự phân biệt xã hội và giới tính Chúng giúp trẻ đặt nền tảng cho một sự phát triển rộng hơn và sâu hơn
Bồi dưỡng cho trẻ trẻ tính tự lập, hoạt động này không quá thách thức đối với trẻ nên trẻ sẽ tích cực tham gia thực hành cho đến khi thành thục như một trải nghiệm thú vị về thành công, từ đó xây dựng lòng tự tin là yếu tố quan trọng hình thành nên nhân cách trẻ sau này
1.5.2 Quy trình giáo dục của việc vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non
Trẻ được trải nghiệm những kĩ năng thực tế để tự chăm sóc bản thân và tự phục vụ bản thân ( như rót đồ uống, rèn thói quen ăn uống lành mạnh, tự mặc và cởi quần áo, thay giày dép…) ; thực hành các hoạt động quan tâm chăm sóc môi trường ( giữ lớp sạch sẽ, lau bụi, tưới cây, xếp đồ dùng…) Trẻ cũng học các kĩ năng xã hội như thói quen chờ đến lượt mình, chia sẻ và nhận xét tích cực… Trẻ học cách tự chăm sóc mình và môi trường của chúng thông qua các công việc “ thực tế ” bằng giáo cụ mầm non chuyên dụng Trước tiên, trẻ được học cách đổ nước một cách hoàn chỉnh và học cách lau sạch nếu có giọt nước nào rớt ra hay tràn ra Ngay khi trẻ thành công trong hoạt động này, chúng sẽ được chuyển đến các hoạt động khác phức tạp hơn như : Rửa tay, lau đĩa, đánh giày, lau gương,…Với mỗi bài tập, trẻ sẽ tăng cường được khả năng phối kết hợp giữa các bàn tay, cánh tay và các ngón tay Khi chúng học các bài học lau và đánh bóng, chúng phải học cách chú ý đến những sự không hoàn thiện nhỏ nhất trong công việc của chúng đang làm Điều này làm tăng sự tập trung của trẻ và thúc đẩy những thói quen làm việc một cách vượt trội đến độ sau đó chúng có thể dùng những kỹ năng này trong các công việc học đường
1.5.3 Các yêu cầu khi vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non
• Mỗi đứa trẻ, sự phát triển của trẻ phản ánh người nuôi dưỡng, dạy dỗ chúng Trở thành một giáo viên Montessori phải luôn chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng, một khi đã trưng bày giáo cụ lên kệ, cô đảm bảo đã hiểu giáo cụ đó, mục tiêu và cách thực hiện hoạt động, kỹ thuật làm mẫu và đảm bảo cô đã thử cho thuần thục thao tác làm mẫu Khi thực hiện làm mẫu luôn giữ phong thái thong thả, tự tin, cẩn thận và thể hiện sự trân trọng giáo cụ đó
Tạo một môi trường phù hợp cho trẻ là chìa khóa để tiếp cận phương pháp giáo dục montessori một cách hiệu quả, sắp xếp đảm bảo tính trật tự và hấp dẫn đối với trẻ trang bị những vật dụng, giáo cụ tốt nhất có thể Bởi vì, sau cùng thì chính những vật dụng, giáo cụ đó sẽ hình thành nên đứa trẻ
Nên đưa ra biểu thời gian cho công việc làm thường xuyên mỗi ngày để trẻ thích nghi và hình thành thói quen
Trước khi giới thiệu một hoạt động nào với trẻ cần quan sát trẻ để hiểu năng lực, kỹ năng hiện tại trẻ có được Không phải tất cả các trẻ đều có khả năng thực hiện các hoạt động theo chương trình học này, kể cả trẻ 3 tuổi
4 Áp dụng bài học theo trình tự
Trình tự bài học là kim chỉ nam hướng dẫn các cấp độ dễ – khó để hướng dẫn từng bước Cô có thể bỏ qua trình tự và giới thiệu với trẻ hoạt động khác chỉ khi hoạt động đó không bao gồm kỹ năng căn bản mà trẻ chưa đạt được
Ví dụ chưa thể dạy trẻ bưng khay nước xuống chơi rót nước nếu chưa dạy trẻ cách bừng khay ( từ khay không đến khay có vật dụng )
Chìa khóa là phải quan sát trẻ và chuẩn bị các hoạt động phù hợp với trẻ Luôn đặt đích đến của bài học khi triển khai là phải đảm bảo trẻ đạt được thành công Điều này không có nghĩa là bắt trẻ cứ lặp đi lặp lại cho đến khi thành công, mà phải đảm bảo trẻ đã sẵn sàng, về thể chất lẫn tinh thần
* Trình tự bài học giai đoạn 3 – 4 tuổi ( hoặc từ 2, 5 tuổi nếu trẻ đã sẵn sàng )
3 Sử dụng kẹp( quần áo )
4 Chuyền nước bằng miếng bọt biển
6 Chuyển bằng ống nhỏ giọt
11 Ốc vít và bu - lông
4 Lấy nước và mang vật dụng chứa nước
17 Lập dự án trồng cây
Phép lịch sự nhã nhặn
Tính tự lập là một phẩm chất vô cùng quan trọng của nhân cách của con người, nhờ vào tính tự lập mà con người có khả năng tự hoạt động, tự cố gắng tham gia và hoàn thành công việc trên cở sở năng lực của bản thân mà không dựa dẫm vào người khác Tự lập là đức tính rất cần thiết trong cuộc sống của con người nó góp phần rất lớn vào sự thành công của đứa trẻ trong tương lai Trẻ em mầm non là tương lai của đất nước, là chủ nhân của tương lai xã hội trong thế kỉ mới – thế kỉ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thế kỉ của một nền văn hóa thông tin với khoa học công nghệ - thế kỉ đòi hỏi những con người phải độc lập và tự chủ trong mọi hoạt động, vì vậy giáo dục tính tự lập cho trẻ là nhiệm vụ rất cần thiết Một đứa trẻ tự lập sẽ tích cực, chủ động trong mọi hoạt động
Nó chỉ được tạo nên trong những điều kiện cần thiết đó là sự xuất hiện của tự ý thức và nhu cầu tự khẳng định mình, sự hình thành kĩ năng và thói quen, sự xuất hiện tính chủ định trong hành vi
Mục đích khảo sát
Xác định được thực trạng việc vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kĩ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non 20-10, thành phố Đà Nẵng để làm rõ cơ sở thực trạng cho việc đề xuất biện pháp giáo dục trẻ.
Vài nét về đối tượng khảo sát
2.2.1 Địa bàn trường mầm non
Chúng tôi tiến hành khảo sát trên hai trường mần non tại địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Đó là trường MN 20- 10 và trường MN Tuổi Thơ Trường Mầm non 20 – 10:
Trường Mầm non 20/10 Quận Hải Châu- TP Đà Nẵng là trường trọng điểm chất lượng cấp thành phố, trường thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 18 tháng tuổi đến 6 tuổi theo chương trình GDMN do bộ GD&ĐT ban hành và liên tục đạt thành tích cao trong thi đua nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ Địa điểm trụ sợ chính: tại số 5 đường Pasteur, phường Hải Châu 1, Quận Hải Châu, TP Đà Nẵng Trường được thành lập ngày 20/10/1975 là dịp kỉ niệm ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
2.2.2 Tình hình cơ sở vật chất của trường
Trường MN 20/ 10 nằm ở trung tâm thành phố, vị trí khang trang sạch đẹp là địa chỉ tin cậy của các bậc cha mẹ học sinh
Qua các lần tham mưu và thực hiện thành công 2 lần mở rộng diện tích đất, đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường Trường được công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ I vào năm 2007 và 2012
Tổng diện tích sử dụng của nhà trường là 5366m2 quy mô gồm: 15 phòng học, 1 phòng công nghệ thông tin, 1 phòng âm nhạc, 1 phòng y tế, 4 phòng hiệu bộ
Bếp ăn một chiều với diện tích 150 m2 đầy đủ các dụng cụ chế biến vệ sinh bằng Inox là bếp mẫu của thành phố Đà Nẵng phục vụ nuôi dưỡng trẻ phù hợp với độ tuổi
Trường trang bị đồ dùng bán trú (mùng, tủ cặp dép, khăn, gối, yếm v v ), trang bị bàn học sinh, bảng, tủ sách, tủ đồ dùng cá nhân cho trẻ
2.2.3 Đội ngũ giáo viên – nhân viên
- Trường có Giáo viên 43 người 90% đạt trình độ sư phạm Đại học và 10% là trình độ cao đẳng
- 100% giáo viên đảm bảo những yêu cần về năng lực cần thiết, thực hiện chương trình có chất lượng Bên cạnh đó, các giáo viên giỏi các cấp tăng cao hằng năm đạt từ gần 70% GV giỏi các cấp Một cán bộ quản lý được nhà nước phong tặng danh hiệu nhà giáo ưu tú, 42 giáo viên được nhận kỷ niệm chương “
Vì sự nghiệp giáo dục” một chiến sĩ thi đua cấp thành phố và 15 cán bộ giáo viên đạt chiến sĩ thi đua cấp cơ sở CBGV đạt nhiều thành tích được khen thưởng: Bằng khen của Tổng lao động Việt Nam, của UBND thành phố, đạt giải
- Đội ngũ cán bộ nhân viên có năng lực chuyên môn cao, luôn tâm huyết, yêu nghề mén trẻ, nhiệt tình chăm sóc nuôi dạy các cháu, tạo uy tín rộng lớn trong nhân dân và phụ huynh học sinh
Thực hiện hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu phát triển số lượng trẻ, tuyên truyền vận động và phối hợp với các lực lượng xã hội huy động trẻ ra lớp đạt và vượt chỉ tiêu phòng GD- ĐT giao, tổng số học sinh 545 trẻ, gồm 15 nhóm lớp
+ Nhà trẻ : 90 trẻ, 3 nhóm trẻ, 18-36 tháng
2.2.5 Chương trình đang thực hiện
Qua tìm hiểu, em thấy trường đã và đang áp dụng chương trình GDMN đổi mới vào công tác giảng dạy của mình Chương trình được xây dựng và áp dụng dựa trên những luận cứ khoa học theo lí thuyết hoạt động: Lấy hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo và là con đường cơ bản để hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ Nội dung chương trình được xây dựng theo từng độ tuổi hướng đến mục tiêu GD trẻ toàn diện và thực hiện theo hướng tích hợp chủ đề vào trong công tác giảng dạy và chăm sóc trẻ Chương trình mặc dù đã có những thành công nhất định, góp phần chăm sóc, GD trẻ lứa tuổi mầm non hướng tới sự phát triển toàn diện.
Nội dung khảo sát
- Nhận thức của giáo viên mầm non về việc vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kĩ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi
- Khảo sát thực trạng hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ 3-4 tuổi
- Khảo sát thực trạng hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ 3-4 tuổi theo phương pháp montessori.
Phương pháp tiến hành
2.4.1 Phương pháp điều tra(Anket)
Chúng tôi sử dụng bằng câu hỏi dành cho giáo viên đang phụ trách trẻ 3-4 tuổi của trường Mầm non 20-10, thành phố Đà Nẵng
Bằng câu hỏi ở phần phụ lục:
- Nhận thức của giáo viên về việc vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kĩ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non.(4 câu)
- Đánh giá của của giáo viên về mức độ biểu hiện kĩ năng tự lập của trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non.(4 câu)
- Thực trạng việc vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kĩ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non.(4 câu)
Trò chuyện với giáo viên trẻ về mức độ biểu hiện kĩ năng tự lập của trẻ 3-4 tuổi ở lớp mình Đàm thoại với trẻ trước khi cho trẻ hoạt động học, khi trẻ chơi trò chơi, chơi tự do, chơi hoạt động góc để thấy được biểu hiện về kĩ năng tự lập của trẻ
Chúng tôi tiến hành dự giờ giáo viên tổ chức hoạt động học và hoạt động góc cho trẻ 3-4 tuổi trong đó có lồng ghép các bài thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori
Trong quá trình dự giờ chúng tôi quan sát biểu hiện kĩ năng tự lập của trẻ 3-
2.4.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động dạy và học
2.4.5 Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê tính tỉ lệ phần trăm
Sử dụng các công thức thống kê toán học để xử lý số liệu
2.4.6 Xây dựng các tiêu chí và thang đánh giá
Tiêu chí 1: Biểu hiện của trẻ về tính tự nguyện đến với các hoạt động, các trò chơi
Tiêu chí 2: Biểu hiện về tính chủ động thực hiện các hoạt động, trò chơi theo kế hoạch
Tiêu chí 3: Biểu hiện của trẻ về khả năng đánh giá, tự đánh giá và điều chỉnh quá trình hoạt động của bản thân Để tìm hiểu mức độ biểu hiện tính tự lập của trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non, chúng tôi dựa vào các tiêu chí sau:
Stt Tiêu chí Mức độ Nội dung
1 Biểu hiện của trẻ về tính tự nguyện đến với các hoạt động, các trò chơi
Cao - Tự nguyện tham gia các hoạt động, trò chơi
- Trẻ tỏ ra hứng thú, thích thú Trung bình - Trẻ tự nguyện tham gia các hoạt động nhưng chưa biết thỏa thuận
- Trẻ chưa có hứng thú trong suốt quá trình hoạt động
Thấp - Tỏ ra thái độ thờ ơ, không thích
- Khi tham gia một cách gượng ép
2 Biểu hiện về tính chủ động thực hiện các hoạt động, trò chơi theo kế hoạch
Cao - Chủ động trong các hoạt động học, vui chơi
- Có kỹ năng thực hiện các thao tác động tác, không dựa dẫm vào người lớn Biết tự giải quyết tình huống và có sự hợp tác, giúp đỡ bạn khi tham gia hoạt động
- Trẻ giúp cô dọn dẹp, cất giáo cụ gọn gàng ngăn nắp
Trung bình - Trẻ chưa biết giải quyết tình huống, trẻ luôn cần đến sự gợi ý của người khác
- Trẻ cần đến sự nhắc nhở từ người khác thì trẻ mới cất giáo cụ
Thấp - Không thể tự mình lên kế hoạch, giải quyết tình huống
- Mọi việc đều do cô giáo hoặc bạn khác làm thay
3 Biểu hiện của trẻ về khả năng đánh giá, tự đánh giá và điều chỉnh quá trình hoạt động của bản thân
Cao - Biết nói lên cảm xúc của mình
- Biết nhận xét mình và bạn sau khi hoạt động
Trung bình - Trẻ biết nhận xét, đánh giá nhưng còn rụt rè khi nói lên cảm xúc của mình
Thấp - Không có biểu hiện về khả năng đánh giá, tự đánh giá mình Ở mỗi tiêu chí, chúng tôi phân chia thành 3 mức độ với các mức điểm tương ứng:
Sau khi tổng hợp các mức điểm tôi xây dựng thang điểm đánh giá sau:
3 mức độ: Tốt : từ 7-9 điểm
Kết quả khảo sát
2.5.1 Thực trạng nhận thức về việc vận dụng góc thực hành cuộc sống theo phương pháp montessori nhằm phát triển kỹ năng tự lập cho trẻ 3-4 tuổi ở trường Mầm non
Thực trạng hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ 3 - 4 tuổi được tôi khảo sát thông qua các câu hỏi ( phụ lục ) bằng phiếu điều tra kết quả thu được như
Bảng 2.5.1.1: Tầm quan trọng về việc tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ 3 -4 tuổi ở trường mầm non
Stt Cô đánh giá như thế nào về việc tổ chức cho trẻ
3-4 tuổi thực hành cuộc sống để trẻ 3-4 tuổi phát triển kỹ năng tự lập hiện nay?
Nhận xét : Qua kết quả điều tra cho thấy đa số giáo viên đều nhận thấy vai trò rất cần thiết của việc tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường mầm non: 92,9 % GV Không có ý kiến nào cho rằng việc tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non là không cần thiết
* Quan niệm của giáo viên về việc tổ chức HĐTHCS cho trẻ ở trường mầm non
- Phần lớn lựa chọn khái niệm 3 ( 82,1 % GV ): “ Thực hành cuộc sống là việc tổ chức các bài tập thực hành được xây dựng mô phỏng những hoạt động thực tế trong cuộc sống như quét nhà, rửa bát, chăm sóc cây cối,… trẻ học cách làm một cách có mục đích ” Qua kết quả cho thấy GV cũng đã có những hiểu biết nhất định về khái niệm thực hành cuộc sống
- Cũng có một số giáo viên lựa chọn khái niệm 1 và 2 Điều đó cho thấy họ cũng có cái nhìn khái quát về vấn đề này
* Đánh giá mức độ hứng thú của trẻ với các hoạt động thực hành cuộc sống
Biểu đồ 2.5.1.1 Đánh giá mức độ hứng thú với các hoạt động thực hành cuộc sống của trẻ
Từ kết quả đánh giá chỉ thấy đa số các giáo viên đều đưa ra ý kiến trẻ rất hứng thú với các hoạt động thực hành cuộc sống (53 %) Một số giáo viên đưa ra ý kiến trẻ hứng thú với các hoạt động thực hành cuộc sống (36 %) và một số ít giáo viên cho rằng việc tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống thì trẻ không hứng thú
Qua quan sát ở các tiết học hoạt động góc (góc thực hành cuộc sống) trẻ 3- 4 tuổi còn chưa hào hứng tham gia vào hoạt động này lắm Điều đó cho thấy GV nên tạo nhiều cơ hội cũng như thay đổi cách dạy tạo hứng thú trong hoạt động dạy của mình để trẻ hứng thú vào các hoạt động thực hành cuộc sống
Biểu đồ 2.5.1.1: Đánh giá mức độ hứng thú với các hoạt động thực hành cuộc sống của trẻ.
Rất hứng thúHứng thúKhông hứng thú
Bảng 2.5.1.2: Mức độ sử dụng các phương pháp tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ 3 - 6 tuổi ở trường mầm non
Tên phương pháp Mức độ sử dụng
Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi
Sử dụng phim ảnh, mô hình phim ảnh
Chỉ dẫn, nêu yêu cầu, nhiệm vụ
Sử dụng truyện, thơ, ca dao…
Kết quả điều tra cho thấy các phương pháp đều được GV sử dụng phối kết hợp trong quá trình tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non Trong đó, các phương pháp quan sát, đàm thoại, thực hành trải nghiệm thường xuyên được sử dụng với số phiếu lựa chọn đều là 100 % Cũng rất dễ hiểu, vì các phương pháp trên đều là những phương pháp mang lại hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy, dễ tổ chức và phổ biến với nhiều hình thức Thực hành trải nghiệm là phương pháp GV thường xuyên sử dụng vì phương pháp này rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và nhận thức của trẻ Cũng như vậy phương pháp thí nghiệm, thực nghiệm lại được GV ít sử dụng hơn ( 17,8 %) do chi phí tốn kém hoặc cơ sở vật chất ở trường không có Các phương pháp còn lại do không phổ biến và phải sử dụng tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng hoạt động thực hành Do đó GV chỉ phối hợp sử dụng khi cần thiết
Từ kết quả điều tra trên, người nghiên cứu nhận thấy GV đã hiểu được vai trò của việc tổ chức hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ và việc tổ chức các hoạt động thực hành cuộc sống thông qua hoạt động ăn uống sinh hoạt hàng ngày Tuy nhiên từ việc quan sát, dự các giờ ăn uống, giờ đón trẻ, và phỏng vấn một số GV người nghiên cứu thấy rằng GV tổ chức các hoạt động thực hành còn hời hợt mang tính hình thức trẻ chưa được chủ động làm mọi thực hành còn hời hợt mang tính hình thức trẻ chưa được chủ động làm mọi việc vẫn cần các cô phục vụ Hầu hết, GV chỉ hiểu cáchoạt động thực hành cuộc sống có nghĩa là trẻ tự cất đồ dùng cá nhân, tự kê bàn ăn, tự giặt khăn, còn các hoạt động khác như gấp quần áo, cài cúc áo, rót nước… rất hạn chế trẻ ít được thực hành
* Nhận thức của GV về những điều kiện và những khó khăn của việc tổ chức các hoạt động thực hành cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non
Bảng 5.1.1.3 : Về những điều kiện cần thiết giúp trẻ 3-4 tuổi được tham gia thực hành các bài tập thực hành cuộc sống
1 GV có kiến thức, kĩ năng trong việc tổ chức các bài tập thực hành cuộc sống cho trẻ; hứng thú, tích cực, sáng tạo các bài tập cho trẻ thực hành
2 Trẻ phát triển bình thường về mọi mặt, có nhu cầu cao trong hoạt động tự phục vụ bản thân 17 60.7
3 Cơ sở vật chất đảm bảo để trẻ được tham gia thực hành 18 64.3
4 Gia đình phối hợp chặt chẽ với nhà trường MN nhằm thực hiện nhất quán quan điểm giáo dục 21 75 Nhận xét :
Về điều kiện cần thiết giúp trẻ 3-4 tuổi được tham gia thực hành các bài tập
Khi được hỏi về các điều kiện để trẻ được tham gia các hoạt động thực hành cuộc sống thì GV đều lựa chọn 4 điều kiện với tỉ lệ cao trên 60 % Trong đó:
- Điều kiện giáo viên đánh giá cao nhất là “ GV có kiến thức, kĩ năng trong việc tổ chức các bài tập thực hành cuộc sống cho trẻ; hứng thú, tích cực, sáng tạo các bài tập cho trẻ thực hành” tiếp đến “ Gia đình phối hợp chặt chẽ với nhà trường MN nhằm thực hiện nhất quán quan điểm giáo dục ”
- Bên cạnh đó, điều kiện cơ sở vật chất và khả năng của trẻ cũng được giáo viên coi trọng
Thực trạng cho ta thấy, GV đã nhận thức được rất rõ các điều kiện cần thiết để trẻ được tham gia các hoạt động thực hành cuộc sống Tuy nhiên GV mong muốn phụ huynh thống nhất quan điểm giáo dục với mình để việc trẻ được thực hành ở nhà đạt hiệu quả tốt và GV cũng phải thật tâm huyết đủ kiến thức, kĩ năng trong việc tổ chức các bài tập thực hành cho trẻ
Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy: một số nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trong việc tổ chức các hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ 3-4 tuổi có thể tìm thấy trong những khó khăn mà GV gặp phải sau đây:
- Khó khăn thứ nhất thuộc yếu tố khách quan : có 75% ý kiến cho rằng họ khó có thể tổ chức các hoạt động thực hành cuộc sống cho trẻ khi mà hoạt động học và hoạt động ngoại khoá dày đặc nên GV không có nhiều cơ hội cho trẻ luyện tập, kiểm tra trẻ thường xuyên giúp cho khả năng thực hành luyện tập của trẻ cũng bị hạn chế
- Khó khăn thứ hai là do điều kiện phòng lớp, sân trường có những góc khuất nên luôn phải tập trung trẻ để giám sát chứ không để trẻ phân tán nhiều, bên cạnh đó cũng đảm bảo an toàn cho trẻ nên giáo viên không dám cho trẻ tự do hoạt động một mình ( 60,7 % )