Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài -Về lý luận: Củng cố và hệ thống hóa được các vấn đề cơ bản của lý thuyết xưng hô của ngôn ngữ học, góp phần làm rõ thêm các khái niệm quan yếu
Trang 1-
DƯƠNG THỊ NGỌC VY
KHẢO SÁT CÁC PHƯƠNG TIỆN DÙNG ĐỂ
XƯNG HÔ TRONG TRUYỆN MẮT BIẾC CỦA
NGUYỄN NHẬT ÁNH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Đà Nẵng, tháng 7/ 2020
Trang 2-
KHẢO SÁT CÁC PHƯƠNG TIỆN DÙNG ĐỂ
XƯNG HÔ TRONG TRUYỆN MẮT BIẾC CỦA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của công trình này là của bản thân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Văn Sáng
Việc trích dẫn lại những ý kiến nhận định, ý kiến của các công trình nghiên cứu đã được chú thích rõ ràng theo yêu cầu khoa học Tôi xin chịu trách nhiệm
về tính trung thực của công trình nghiên cứu này
Đà Nẵng, tháng 7 năm 2020
Sinh viên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Trần Văn Sáng, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đã truyền đạt những kiến thức nền tảng để tôi có thể thực hiện tốt đề tài của mình
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Đà Nẵng, tháng 7 năm 2020
Sinh viên
Dương Thị Ngọc Vy
Hoàng Văn Mạnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
5.1 Thủ pháp thống kê-phân loại 4
5.2 Thủ pháp phân tích-tổng hợp 5
5.3 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
7 Bố cục đề tài 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 6
1.1 Lý thuyết về chiếu vật và chỉ xuất 6
1.1.1 Vật quy chiếu (Referent) 6
1.1.2 Quy chiếu (Reference) 8
1.1.3 Chỉ xuất (Deixis) 9
1.1.3.1 Khái niệm 9
1.1.3.2 Ba phạm trù định vị: ngôi, không gian và thời gian 10
1.1.4 Người nói - người nghe 10
1.2 Phạm trù xưng hô 12
1.2.1 Khái niệm về xưng hô 12
1.2.2 Các phương tiện dùng để xưng hô 13
1.2.2.1 Danh từ thân tộc 13
1.2.2.2 Danh từ chỉ tên riêng 20
Trang 61.2.2.3 Đại từ nhân xưng 21
1.2.2.4 Danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ 23
1.2.2.5 Kiểu loại xưng hô khác 26
1.3 Giao tiếp và hoạt động giao tiếp 27
1.3.1 Nhân vật giao tiếp 27
1.3.1.1 Vai giao tiếp 27
1.3.1.2 Quan hệ liên cá nhân 28
1.3.2 Hoàn cảnh giao tiếp 29
1.4 Hành trình sáng tạo văn chương của Nguyễn Nhật Ánh 31
1.5 Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG TIỆN XƯNG HÔ TRONG TRUYỆNMẮT BIẾC CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH 34
2.1 Kết quả khảo sát, thống kê và phân loại 34
2.2 Hoạt động của các phương tiện dùng để xưng hô trong truyện Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh 37
2.2.1 Xưng hô bằng danh từ thân tộc 37
2.2.2 Xưng hô bằng danh từ chỉ tên riêng 40
2.2.3 Xưng hô bằng đại từ nhân xưng 44
2.2.4 Xưng hô bằng các danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ 46
2.2.5 Nhóm kiểu loại xưng hô khác 47
2.3 Tiểu kết chương 2 51
CHƯƠNG 3: TỪ NGỮ XƯNG HÔ VÀ CÁCH XƯNG HÔ TRONG TRUYỆN MẮT BIẾC CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH NHÌN TỪĐẶC ĐIỂM DỤNG HỌC – VĂN HÓA 53
3.1 Các nhân tố chi phối cách xưng hô của nhân vật trong tác phẩm 53
3.1.1 Nhân tố văn hóa truyền thống trong cách xưng hô 53
3.1.1.1 Xưng khiêm hô tôn 53
3.1.1.2 Xưng hô linh hoạt 55
3.1.2 Vai giao tiếp của các nhân vật trong cách xưng hô 57
Trang 73.1.2.1 Tuổi tác 57 3.1.2.2 Vị thế xã hội 60 3.2 Vai trò của từ ngữ xưng hô trong việc khắc họa tính cách và tâm lý nhân vật
trong truyện Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh 62
3.3 Xu hướng gia đình hóa trong xưng hô ngoài xã hội và phép lịch sự trong
truyện Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh 67
3.3.1 Xu hướng “gia đình hóa” trong xưng hô ngoài xã hội 67 3.3.2 Phép lịch sự 70
3.4 Văn hóa xưng hô theo phương ngữ Nam trong Mắt biếc của Nguyễn Nhật
Ánh 71 3.5 Tiểu kết chương 3 75 KẾT LUẬN 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thống kê các đại từ nhân xưng làm phương tiện xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ người Việt 22
Bảng 2.1: Các phương tiện xưng hô trong truyện Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh 35
Bảng 2.2 Số lượng và tỷ lệ phương tiện xưng hô bằng danh từ thân tộc trong truyện
Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh 37 Bảng 2.3: Cấu tạo của danh từ thân tộc trong truyện Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh
38
Bảng 2.4: Số lượng và tỷ lệ phương tiện xưng hô bằng tên riêng trong truyện Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh 41 Bảng 2.5: Cấu tạo danh từ chỉ tên riêng trong truyện Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh
42 Bảng 2.6: Số lượng và tỷ lệ phương tiện xưng hô bằng đại từ nhân xưng trong truyện
Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh: 44 Bảng 2.7: Cấu tạo chi tiết các đại từ nhân xưng trong truyện Mắt biếc của Nguyễn
Nhật Ánh 45 Bảng 2.8: Số lượng và tỷ lệ phương tiện xưng hô bằng từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ
trong truyện Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh 46
Bảng 2.9: Số lượng và tỷ lệ phương tiện xưng hô bằng tiểu loại xưng hô khác trong
truyện Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh 48 Bảng 2.10: Cấu tạo của các kiểu loại xưng hô khác trong truyện Mắt biếc của Nguyễn
Nhật Ánh: 49
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người Thông qua giao tiếp, cá nhân gia nhập vào các mối quan hệ xã hội và tiếp thu các kiến thức văn hoá xã hội, lịch sử đồng thời góp phần vào sự phát triển chung xã hội
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, từ xưng hô là một bộ phận hợp thành quan trọng, có ý nghĩa xác định vai giao tiếp và góp phần tạo nên hiệu quả giao tiếp Thực tế, trong giao tiếp hằng ngày, cách xưng hô cho chúng ta biết về mối quan
hệ thứ bậc, thái độ, tình cảm, trình độ học vấn của các nhân vật đối thoại với nhau Do đó, sử dụng từ xưng hô phù hợp không chỉ giúp cuộc thoại có thể tiến triển tốt mà nó còn ảnh hưởng lớn đến chiến lược và hiệu quả giao tiếp Xưng
hô đúng, hay sẽ góp phần thúc đẩy quá trình giao tiếp phát triển, ngược lại, xưng hô không hợp lý sẽ gây ra những hậu quả không mong muốn trong giao tiếp Điều đó cho thấy những đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa của lớp từ xưng
hô luôn có một vai trò quan trọng trong cuộc thoại Lớp từ xưng hô không chỉ thể hiện nhiều đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa – giao tiếp của mỗi ngôn ngữ, mà còn thể hiện phần nào chiều sâu văn hóa của dân tộc là chủ nhân của ngôn ngữ
ấy Không chỉ thế, lớp từ xưng hô trong mỗi ngôn ngữ còn phản ánh một phần quan niệm ứng xử có văn hóa của mỗi dân tộc
Nguyễn Nhật Ánh là một cây bút có đóng góp quan trọng trong nền văn học Việt Nam Hiện tại, Nguyễn Nhật Ánh đang giữ một vị trí đặc biệt trong mảng văn học dành cho thiếu nhi và độc giả tuổi mới lớn Ông được nhiều người tôn vinh là “hoàng tử bé trong thế giới tuổi thơ” Trong rất nhiều tác
phẩm của ông, Mắt biếc là một trong các truyện viết về câu chuyện tình yêu
tuổi học trò nhẹ nhàng nhưng sâu lắng và được bầu chọn là tác phẩm hay nhất của Nguyễn Nhật Ánh Tác phẩm Mắt biếc được xuất bản lần đầu vào năm
1990 được nhiều người biết đến Năm 2019 Mắt biếc quay trở lại nhờ “cú đúp”
Trang 10của bộ phim chuyển thể cùng tên, nó tạo nên làn sóng lớn thu hút mọi độc giả tranh nhau tìm đọc tác phẩm Có một điều đáng nói, người ta chỉ quan tâm đến nội dung tư tưởng trong các tác phẩm Nguyễn Nhật Ánh nhiều hơn là ngôn ngữ trong tác phẩm của ông Vì vậy, nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm Nguyễn Nguyễn Nhật Ánh là một việc làm quan trọng và cần thiết
Ngôn ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh là ngôn ngữ mộc mạc, tự nhiên, như lời ăn tiếng nói hằng ngày, không lên gân, không màu mè son phấn
và cũng không quá phô trương Nhưng chính nét mộc mặc ấy lại làm nên nét riêng ngôn ngữ trong tác phẩm của ông Trong mỗi tác phẩm, Nguyễn Nhật Ánh sử dụng rất nhiều các đại từ nhân xưng và lớp từ xưng hô, đặc biệt là cách dùng các phương tiện dùng để xưng hô mang dấu ấn văn hóa Nam Bộ và đồng thời cũng mang rất nhiều dụng ý nghệ thuật tạo nên phong cách riêng đậm chất Nguyễn Nhật Ánh
Với những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Khảo sát các
phương tiện dùng để xưng hô trong truyện Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh”
Lựa chọn nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn đi sâu vào tìm hiểu các
phương tiện dùng để xưng hô mà Nguyễn Nhật Ánh sử dụng trong truyện Mắt biếc đã mang lại điều gì cho tác phẩm và giá trị của các phương tiện dùng để
xưng hô đó ra sao mà đã làm nên tên tuổi nhà văn Nguyễn Nhật Ánh trong nền văn học hiện đại Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong các công trình, luận văn nghiên cứu về từ xưng hô trong tiếng Việt,
có rất nhiều bài viết đã nghiên cứu sâu sắc các tiêu chí và phân loại phương tiện dùng để xưng hô trong giao tiếp và ứng xử người Việt Cụ thể:
Bài viết Văn hóa xưng hô của người Việt của tác giả Nguyễn Thị Diễm
Phương, tác giả nhận định ý kiến của Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung: từ xưng hô là những từ dùng để thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá
Trang 11trình giao tiếp (được phản ánh trong nội dung ý nghĩa của thực từ hay tổ hợp thực từ tương ứng) Cũng trong bài viết, tác giả đã đưa ra các đặc điểm của từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt đặc trưng
Luận văn Đối chiếu các phương tiện dùng để xưng hô trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp và truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của tác giả Hà Ngọc Yến,
tác giả đã đưa ra các luận điểm xưng hô trong truyện ngắn bằng lời (dạng hiểu ngô) và xưng hô phi lời (dạng hàm ngôn)
Phạm Ngọc Thưởng (1994), Về đại từ nhân xưng ngôi thứ 3, Tạp chí
Nghiên cứu Giáo dục, số 10
Hoàng Thị Châu (1995) với Vài đề nghị về chuẩn hóa cách xưng hô trong
xã giao, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 3
Bùi Minh Yến (1990), Xưng hô giữa vợ và chồng trong giao tiếp người Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3
Bùi Minh Yến (1993), Xưng hô giữa anh chị và em trong gia đình người Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3
Đặc biệt chuyên luận: Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc (2013)
của Trương Thị Diễm là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống xưng
hô bằng danh từ thân tộc trong tiếng Việt
Từ những công trình, luận văn nghiên cứu trên, chúng ta có thể thấy từ xưng hô được nghiên cứu dưới gốc nhìn khác nhau trong đời sống Tuy nhiên, việc nghiên cứu các phương tiện dùng để xưng hô trong một tác phẩm cụ thể chưa được đề cập nhiều, đặc biệt là hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống các phương tiện dùng để xưng hô trong các tác
phẩm để làm rõ văn hóa xưng hô vùng miền của tác giả đó Mắt biếc của
Nguyễn Nhật Ánh chưa được tìm hiểu nhiều trong các công trình nghiên cứu chuyên sâu của các tác giả về phương diện ngôn ngữ học, đặc biệt là trong từ xưng hô Chính vì vậy, để kế thừa các thành quả những công trình của các nhà
Trang 12nghiên cứu trước đây, chúng tôi hi vọng Khóa luận này sẽ có hướng đi mới trong việc tìm hiểu các phương tiện dùng để xưng hô của người Việt nói chung
và các tác phẩm văn học nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý thuyết chủ yếu phục vụ cho việc triển khai đề tài khóa luận:
- Xác lập các tiêu chí để xác định và phân loại các phương tiện dùng để
xưng hô trong Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh
- Phân tích, miêu tả đặc điểm của các phương tiện dùng để xưng hô trong
Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh
- Phân tích vai trò, giá trị của các phương tiện dùng để xưng hô trong
truyện Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh từ góc độ ngữ dụng học và văn hóa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Các phương tiện dùng để xưng hô
trong truyện Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các phương tiện dùng để xưng hô: đại từ xưng hô, danh từ thân tộc dùng để xưng hô, tên riêng, xưng hô bằng từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp
và bằng danh ngữ
- Khảo sát trong truyện Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Thủ pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Trong phương pháp này, chúng tôi sử dụng các thủ pháp khảo sát, thống
kê, tập hợp, phân loại Cụ thể là, từ đặc điểm nhận diện thế nào là các phương tiện dùng để xưng hô, chúng tôi thu thập các đơn vị đó trong văn bản nghệ thuật
Mắt biếc, sau đó tập hợp các phương tiện dùng để xưng hô đã khảo sát được
rồi phân loại chúng theo những tiêu chí đã định sẵn
Trang 135.2 Thủ pháp phân tích - tổng hợp
Vận dụng phương pháp này, chúng tôi dùng để miêu tả đối tượng nghiên cứu và bước đầu tổng kết những kết quả đã nghiên cứu được
5.3 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học
Phương pháp này chủ yếu dùng để miêu tả ý nghĩa của các phương tiện
xưng hô được sử dụng trong Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
-Về lý luận: Củng cố và hệ thống hóa được các vấn đề cơ bản của lý thuyết xưng hô của ngôn ngữ học, góp phần làm rõ thêm các khái niệm quan yếu đối với việc nghiên cứu chiếu vật xưng hô trong tác phẩm hư cấu; xác lập được một
số cơ sở và thao tác để xác định các phương tiện xưng hô được sử dụng trong hoạt động giao tiếp; gợi mở và bước đầu vận dụng hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn hóa - văn học vào nghiên cứu phương tiện dùng để xưng hô của Việt ngữ, đặc biệt là trong các tác phẩm văn học
-Về thực tiễn: Cung cấp thêm tư liệu và kết quả phân tích mới cho việc
nghiên cứu và giảng dạy về các phương tiện dùng để xưng hô trong Mắt biếc
của Nguyễn Nhật Ánh nói riêng và trong giao tiếp tiếng Việt nói chung; cung cấp thêm cơ sở và phương tiện ngôn ngữ cho việc khám phá các giá trị và nét độc đáo trong truyện Nguyễn Nhật Ánh Từ đó, giúp ta thấy được giá trị truyền thống và văn hóa ứng xử, lối tư duy của người Nam Bộ nói riêng và người Việt nói chung qua cách xưng hô
7 Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận chung
Chương 2: Khảo sát các phương tiện xưng hô trong truyện Mắt biếc của
Nguyễn Nhật Ánh
Chương 3: Từ ngữ xưng hô và cách xưng hô trong truyện Mắt biếc của
Nguyễn Nhật Ánh nhìn từ đặc điểm dụng học – văn hóa
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Lý thuyết về chiếu vật và chỉ xuất
Dụng học (Pramatique) là một trong ba phương diện của tín hiệu, cho đến nay, những vấn đề về đối tượng, phạm vi nghiên cứu của ngữ dụng học vẫn chưa được thống nhất nên có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ngữ dụng học, mỗi nhà nghiên cứu lại có mỗi một cách hiểu khác nhau về vấn đề này Theo Morris: “Dụng học nghiên cứu mối quan hệ giữa kí hiệu và sự giải thích chúng,
sự giải thích về ý nghĩa mà kí hiệu được dùng” [12, tr.203] Như vậy, theo quan điểm này thì phương diện ngữ dụng của hoạt động ngôn ngữ là những đặc điểm
về việc dùng ngôn ngữ (những duyên cớ, động thái tâm lý của các bên giao tiếp, những kiểu diễn từ đã được xã hội hóa, những đối tượng của diễn từ ) Còn trong tạp chí Langue Francaise (số 42, tháng 5, 1979), A M Diller và F Recsanati đã định nghĩa: “Ngữ dụng nghiên cứu việc dùng ngôn ngữ trong diễn
từ và các chỉ hiệu đặc thù trong ngôn ngữ, những cái làm nên cách thức nói năng” [12, tr.204] Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau xung quanh vấn đề ngữ dụng
Ngữ dụng đang là một lĩnh vực hiện đang hấp dẫn nhiều nhà khoa học trên thế giới, đặc biệt là các nhà ngôn ngữ học Trong những năm gần đây, nhiều vấn đề của ngôn ngữ học đã được xem xét dưới góc nhìn của dụng học Trong phạm vi nghiên cứu của bài báo cáo tốt nghiệp chúng tôi cần thấy phải vận dụng một số khái niệm thuộc lĩnh vực này để có thể giải quyết những vấn đề ban đầu mà đề tài đặt ra
1.1.1 Vật quy chiếu (Referent)
Khái nệm về “vật quy chiếu” có cơ sở từ sự phân biệt rạch ròi của G.Frege (1892) về nghĩa của từ và cái sự vật mà từ ấy gọi tên Ở Việt Nam, thuật ngữ này được Cao Xuân Hạo dịch là “Sở chỉ” (vật quy chiếu): “Trong câu nói các từ ngữ mới có sở chỉ (referent), tức là dùng để trực tiếp chỉ một đối tượng cụ thể hay những tập hợp những đối tượng có giới hạn cụ thể” [19, tr.54]
Trang 15Ví dụ: Một đứa trẻ mới học nói, nó chỉ hiểu sở chỉ của từ ngữ mà nó nói Chặng hạn: “mẹ” ứng với một người cụ thể thường xuyên chăm sóc nó, cho nó
ăn hay hôn nó.Về sau, khi mở rộng tiếp xúc, nó hiểu “mẹ” còn ứng với nhiều người đàn bà khác có đặc điểm như vậy với bạn nó Như vậy, nó đã hiểu ý nghĩa của từ “mẹ”
Như vậy, “vật quy chiếu” khác với ý nghĩa của từ: nghĩa của từ là kết quả của một quá trình trừu tượng hóa từ những trường hợp sử dụng từ ngữ trong một câu nói cụ thể Vật quy chiếu là “sự vật khách quan và cụ thể của thế giới bên ngoài ngôn ngữ ứng với mỗi từ cụ thể trong câu nói Nó là mục tiêu cuối cùng của việc sử dụng của từ ngữ, vì công dụng chủ yếu của ngôn ngữ là thông báo sự tình của thế giới bên ngoài ngôn ngữ” [19, tr.55]
Một sự vật cụ thể khách quan có thể ứng với nhiều từ ngữ khác nhau trong ngôn ngữ Ta nói những từ ngữ ấy đồng vật quy chiếu Hiện tượng đồng vật quy chiếu này được thể hiện rất rõ ở những vấn đề xưng hô trong tiếng Việt, bởi mỗi người là tổng hòa của nhiều mối quan hệ xã hội, ở môi trường này thì
họ đóng vai trò này, ở môi trường khác họ đóng vai trò khác
Ví dụ: Một người là giáo viên tên Trí, được học sinh gọi là “thầy giáo”, được đứa con gọi là “bố”, được bố mẹ gọi là “con”, được anh, chị gọi là “em”, được bạn bè gọi là “Trí còi” Như vậy, những từ “thầy giáo”, “con”, “em”, “bố”,
“Trí còi” là đồng vật quy chiếu
Tuy nhiên, cần lưu ý không phải bất cừ từ nào trong câu nói cụ thể đều có vật quy chiếu Ví dụ:
- Lấy chồng đi! (a)
- Nó đánh chồng (b)
“chồng” (a) không ứng với một người nào cụ thể nên không có vật quy chiếu
“chồng” (b) là một người cụ thể, “ chồng” của “nó”, nên từ “chồng” này
có sở chỉ
Trang 16Trong ngôn ngữ, các từ ngữ sau đây luôn có vật quy chiếu:
- Các danh từ riêng: Hạnh, Hồng, Trí, Thủy…
- Các đại từ nhân xưng: tôi, mày, nó…
- Các đại từ chỉ định: này, nọ, kia
- Các danh ngữ được đánh dấu xác định bằng những đại từ chỉ định: người đàn bà ấy, người đàn ông kia, cô gái nọ…
Dĩ nhiên những từ ngữ này phải xuất hiện trong câu nói cụ thể, hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mới có thể xác định vật quy chiếu J.Lyons nói rằng: “từ ngữ dùng trong một câu nói cụ thể, tự nó không có sở chỉ Nó được người nói dùng
để chỉ sự vật Sở chỉ của từ thuộc hành động phát ngôn” [23, tr.58]
1.1.2 Quy chiếu (Reference)
Để xác định tính đúng sai của những diễn ngôn cần quy chiếu chúng với
sự vật nào đó được nói tới trong hoàn cảnh giao tiếp
Ví dụ: Con mèo tím kìa mẹ!
Mệnh đề do câu trên biểu thị sẽ sai nếu “mèo”quy chiếu với những động vật thật được gọi là “mèo” Vì thực tế không có con mèo nào màu tím cả Nhưng
sẽ đúng nếu quy chiếu với mèo đồ chơi bằng nhựa
Vậy nên, “tính đúng sai của một câu tùy thuộc vào sự quy chiếu của các từ trong câu” [10, tr.230] J.Lyons định nghĩa: “Quy chiếu là mối quan hệ giữa từ
và các sự vật, biến cố, hành động và tính chất mà chúng thay thế” [23, tr.666]
Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh ý nghĩa của toàn cảnh giao tiếp của các diễn ngôn, ông định nghĩa: “Sự chiếu vật là sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ (của tín hiệu) trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng đang được nói tới trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định Nó là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa hoàn cảnh giao tiếp (ngữ cảnh) và diễn ngôn” [10, tr.231]
Quy chiếu là vấn đề để tạo ra và hiểu những diễn ngôn Có những câu luôn luôn hiểu đúng bởi vì nó luôn luôn được quy chiếu với các sự vật, hiện tượng
Trang 17(Ví dụ: nước sôi ở 100 o C) Nhưng lại có những câu gắn liền với ngữ cảnh mới
có thể xác định được tính đúng sai
Các danh từ tên riêng thực hiện sự quy chiếu cá thể ít phụ thuộc vào ngữ cảnh nhất Đối với các từ loại khác, nếu ngữ cảnh và đồng văn cảnh chưa đủ để xác định sự vật được quy chiếu thì có thể dùng những từ khác để trợ giúp Đó
là vai trò của các định ngữ và bổ ngữ J.Lyons đã nói về điều này như sau:
“Ranh giới quy chiếu của các đơn vị từ không có đường phân rõ ràng, thậm chí còn chồng chéo lên nhau Ranh giới giữa các từ là võ đoán và không xác định” [23, tr.670]
Các đại từ nhân xưng thực hiện chức năng quy chiếu sự vật bằng cách quy chiếu chúng với nói, người nghe có mặt trong giao tiếp
Trong tiếng Việt, đại từ chỉ định: này, nọ, kia, ấy… không quy chiếu với
sự vật cụ thể nhưng khi đi kèm với các danh từ, chúng quy chiếu với một sự vật cụ thể Các đại từ nhân xưng, các đại từ chỉ định trên được gọi là các từ chỉ xuất
1.1.3 Chỉ xuất (Deixis)
1.1.3.1 Khái niệm
Theo Đỗ Hữu Châu, khái niệm chỉ xuất được hiểu: “là phương thức chiếu vật bằng ngôn ngữ dựa trên hành động chỉ trỏ Quy tắc điều khiển chỉ trỏ là: sự vật được chỉ trỏ phải ở gần (trong tầm với người chỉ và trong tầm với người nhìn lẫn người được chỉ) đối với một vị trí được lấy làm mốc” [10, tr.72]
Như vậy, “Deixis là một từ gốc Hi Lạp có nghĩa là “chỉ trỏ”, “chỉ ấn” được dùng để xử lý đặc điểm định hướng của ngôn ngữ có liên quan đến không gian
và thời gian” [23, tr.435]
Các biểu thức chỉ xuất bao gồm cả đại từ xưng hô thực hiện chức năng chiếu vật không thông qua chức năng miêu tả mà thông qua chức năng định vị của vật được nói tới
Trang 181.1.3.2 Ba phạm trù định vị: ngôi, không gian và thời gian
Đầu tiên là về phạm trù ngôi Ngôi chỉ ra vai của các nhân vật giao tiếp trong hành động ngôn ngữ cụ thể Trong tiếng Việt, có 3 ngôi Trong đó: ngôi thứ I là kết quả của sự tự quy chiếu của người nói Ngôi thứ II là kết quả của
sự tự quy chiếu do người nói tiến hành trong giao tiếp tới một hay những người đang tham gia giao tiếp Ngôi thứ III quy chiếu tới vật hay người được nói tới trong giao tiếp
Thứ hai là về phạm trù không gian Định vị không gian phải xác định điểm gốc Người nói đứng ở đâu thì đó là gốc Từ điểm gốc này, những vật, người được nói tới trong giao tiếp mới được xác định là xa - gần bằng “kia”, “này”,
“đó” hoặc những đại từ chỉ định khác
Tiếp theo là phạm trù thời gian Cũng như không gian, định vị thời gian cũng cần tới việc xác định điểm gốc Gốc là thời điểm người nói đang nói Từ
đó mà xác định là “quá khứ” hay “tương lai”
Như vậy, trong ba phạm trù định vị trên, phạm trù ngôi có liên quan chặt chẽ với vấn đề xưng hô Nhìn chung thì sự định vị trong ngôn ngữ dựa trên nguyên tắc “tự kỉ trung tâm” - tức là lấy mình làm trung tâm Người nói lấy mình làm mốc để quy chiếu đến người/ sự vật được nói tới, hay tham gia trong hoạt động giao tiếp Nhưng không phải bao giờ nguyên tắc này cũng được thực hiện một cách triệt để Trong hội thoại, đôi khi điểm gốc không phải ở người nói mà là ở một đối tượng khác Đó là trường hợp xưng gọi thay vai trong cách xưng hô của người Việt chúng ta
1.1.4 Người nói - người nghe
Nói về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thi ca, nhà nghiên cứu R.Jakobson
đã chỉ ra 6 chức năng của ngôn ngữ trong một mô hình nổi tiếng bao gồm: người phát => bối cảnh, thông điệp, tiếp xúc, mã => người nhận
Trong mô hình này ông đã chỉ ra 6 nhân tố cấu thành của mọi sự kiện ngôn ngữ, mọi hành động giao tiếp bằng ngôn ngữ Ta thấy người phát (người nói)
Trang 19và người nhận (người nghe) là nhân tố khởi đầu và kết thúc của một hành động giao tiếp Dụng học rất quan tâm đến các yếu tố trong mô hình này Armengaud khi cố gắng trả lời những câu hỏi “Nói với ai? Ai nói? Và nói cho ai? Anh nghĩ tôi là ai để có thể nói với tôi như vậy?” [dẫn theo 10, tr.221] Đã đặc biệt quan tâm tới hai nhân tố:
- “Ai nói”: người phát- người nói
- “Nói vói ai”, “nói cho ai”: người nhận- người nghe
G.Smith giải thích “Dụng học nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với người dùng” [10, tr.223]
Thuật ngữ “người dùng” không phải là một trừu tượng, cô lập Trong hoạt động giao tiếp “người dùng” trước hết là người sử dụng ngôn ngữ để truyền thông điệp - người phát và sau đó là người tiếp nhận những tín hiệu ngôn ngữ
để nắm được thông điệp - người nhận Người phát và người nhận quan hệ thường xuyên với nhau, tác động lẫn nhau Bản thân của mỗi người có vốn sống, kinh nghiệm sống, ngôn ngữ và hiểu biết riêng
Người phát (người nói lựa chọn những phương tiện ngôn ngữ để truyền thông điệp đến người nhận) Nói cái gì? Nói như thế nào? Là đều do người nói quyết định Ngôn ngữ cung cấp những phương tiện để anh ta làm việc đó: những yếu tố ngữ âm, những lớp từ vựng, những cấu trúc ngữ pháp, những yếu tố phong cách Những phương tiện ngôn ngữ chứa đựng những tầng ý nghĩa và những giá trị biểu cảm Người nói tùy vào những kinh nghiệm ngôn ngữ, kinh nghiệm sống, hiểu biết của bản thân mà lưạ chọn phương tiện thích hợp để truyền thông điệp
Người nhận (người nghe) nhận tín hiệu ngôn ngữ và vận dụng những hiểu biết của mình để giải mã, từ đó hiểu thông điệp mà người nói gửi tới Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, người nói ở ngôi nhân xưng thứ nhất còn người nghe ở ngôi nhân xưng thứ hai
Trang 201.2 Phạm trù xưng hô
1.2.1 Khái niệm về xưng hô
Để cuộc thoại có thể tiến hành, đầu tiên chủ thể giao tiếp phải tìm cách đưa mình và đối tượng vào diễn ngôn bằng cách lựa chọn những từ xưng hô thích hợp Do đó, trong một cuộc thoại đầy đủ và đảm bảo tính lịch sự thì xưng
hô có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập quan hệ liên cá nhân và xác định thái độ, tình cảm giữa các vai giao tiếp Khái niệm phạm trù “xưng hô” cũng được hiểu và lý giải theo nhiều cách khác nhau
Diệp Quang Ban cho rằng: ”Đại từ xưng hô dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp” [2,tr.111] Theo ông thì đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (người, vật) được chỉ ra một cách chung nhất ở cương vị ngôi (đại từ xưng hô dùng ở một ngôi xác định: ngôi 1, ngôi 2, ngôi 3 và đại từ xưng hô dùng ở nhiều ngôi linh hoạt)
Theo Bùi Minh Yến: ”Khái niệm xưng hô được ý thức như là một hành vi ngôn ngữ có chức năng xác lập vị thế xã hội của những người tham gia giao tiếp và tương quan tâm thế giữa họ với nhau trong quá trình giao tiếp Khi thực hiện chức năng này, hành vi ngôn ngữ xưng hô đồng thời đảm nhiệm vụ khởi
sự tương tác ngôn ngữ cho cuộc thoại, điều chỉnh cuộc thoại theo đích đã định, bảo đảm hiệu lực hành vi” [33, tr.17]
Đồng tình với quan điểm của Đỗ Hữu Châu, Phạm Ngọc Thưởng đã cắt nghĩa và xác định vai trò của từng yếu tố như sau:
-“Xưng” là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình vào trong lời nói, để người nghe biết rằng mình đang nói và mình chịu trách nhiệm về lời nói của mình Đó là hành động tự quy chiếu của người nói (ngôi 1) [31,tr.12]
-“Hô” là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào trong lời nói (ngôi 2) [31, tr.12]
Trang 21Trong hoạt động giao tiếp, các vai giao tiếp phải trực tiếp giao thiệp với nhau bằng lời, trong đó các phương tiện xưng hô sẽ được sử dụng Do đó, những nhân vật, những đối tượng không trực tiếp tham gia vào hoạt động giao tiếp trong cuộc thoại sẽ không được chú ý
Xưng hô là yếu tố đầu tiên mà các vai giao tiếp cần phải lựa chọn để xác lập vị trí của mình Dựa vào xưng hô mà quan hệ giữa các vai giao tiếp được thiết lập Do đó, sử dụng từ xưng hô không chỉ giúp cuộc thoại có thể tiến triển tốt mà nó còn ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp Việc lựa chọn xưng hô đúng, hay sẽ góp phần thúc đẩy quá trình giao tiếp Ngược lại, xưng hô không phù hợp sẽ gây ra những hậu quả không mong muốn trong giao tiếp Qua cách sử dụng từ xưng hô người ta có thể biết được tình cảm, thái độ, mối quan hệ, trình
độ học vấn của các nhân vật tham gia giao tiếp
Tóm lại, xưng hô là một hành vi ngôn ngữ mà ở đó các nhân vật giao tiếp dùng biểu thức quy chiếu để đưa mình và người đối thoại vào lời nói Hay nói cách khác, trong hoạt động giao tiếp, các vai giao tiếp phải trực tiếp giao thiệp với nhau bằng lời, trong đó các phương tiện xưng hô sẽ được sử dụng
1.2.2 Các phương tiện dùng để xưng hô
Phương tiện xưng hô là những đơn vị từ, ngữ dùng để chỉ vai người nói
và người nghe trong hành động giao tiếp, chẳng hạn các đại từ nhân xưng, các danh từ thân tộc, các danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp, có khi đó là họ tên, các phương tiện xưng hô này rất đa dạng về màu sắc biểu cảm Chúng được quy chiếu vào đối tượng giao tiếp nào là do hoàn cảnh giao tiếp quy định
1.2.2.1 Danh từ thân tộc
Đầu tiên, ta cùng đi vào tìm hiểu khái quát danh từ thân tộc là gì? “Thân tộc là danh từ chỉ những giá trị có quan hệ huyết thống hoặc có quan hệ hôn nhân với bản thân mình Từ xưng hô thân tộc là những từ dùng để xưng hô giữa những người có quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ huyết thống với nhau trong
Trang 22giao tiếp ngôn ngữ” [17, tr.139] Theo thống kê, có tới 19 từ xưng hô có nguồn
gốc danh từ thân tộc, với 13 từ thuộc quan hệ trên tôi (cụ, cố, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, thím, cô, dì, cậu, mợ), 3 từ thuộc thế hệ ngang với tôi (anh, chị, em)
và 3 từ thuộc thế hệ sau tôi (con, cháu, chắt)
Với ngôn ngữ của tiếng Việt, xưng hô thân tộc là một bộ phận hợp thành rất quan trọng Nó bao gồm lớp từ ngữ xưng hô quen thuộc nhất và cũng có mối quan hệ mật thiết nhất đối với mỗi thành viên tham gia giao tiếp và nó luôn gắn liền với cuộc sống của họ: “Lớp từ ngữ này xuất hiện từ rất lâu, gần như là song song với lịch sử ngôn ngữ và văn minh nhân loại Cùng với thời gian và
sự phân hóa, phát triển của gia đình và xã hội Lớp từ ngữ xưng hô thân tộc từ chỗ đơn giản phân tán đã hoàn thiện dần và ngày càng phong phú Đó là lớp từ ngữ không thể tách rời đời sống thường nhật của con người và trở thành một
hệ thống” [17, tr.141]
Tiếp theo, phạm vi sử dụng của danh từ thân tộc làm phương tiện xưng hô: Trước hết, danh từ thân tộc là lớp từ được dùng để xưng hô của các thành viên trong gia đình người Việt Các danh từ thân tộc được bắt nguồn bởi những mối quan hệ có tính quy phạm bởi các thế hệ trong gia đình, mỗi thế hệ, mỗi vai bậc đều được quy định bởi một từ thân tộc riêng như anh của bố thì gọi là
“bác”, em gái của bố thì gọi là “cô”…
Tuy bị chi phối nghiêm ngặt của luật tôn ti thứ bậc trong gia đình và chuẩn mực của xã hội như đạo đức, tập quán nhưng xưng hô bằng danh từ thân tộc trong gia đình không phải là một khuôn mẫu chặt cứng, bất di bất dịch mà trái lại trong đời sống giao tiếp ngôn ngữ, chúng trở nên đa dạng và phong phú, muôn hình vạn trạng, nhiều vẻ dưới tác động của hàng loạt những nhân tố ngôn ngữ và
xã hội Điều đó được thể hiện trong rất nhiều trường hợp xưng hô, chẳng hạn, khi
con cái đã trưởng thành thì bố mẹ sẽ gọi con mình là anh, chị và xưng là bố, tôi hay gọi con mình bằng tên của cháu là: bố thằng Tý, mẹ cái Lan
Trang 23Ngoài phạm vi gia đình, quan hệ xóm giềng ở nông thôn cũng như quan
hệ hàng phố ở thành thị, người ta lựa chon cách xưng hô bằng từ ngữ xưng hô thân tộc để giao tiếp với nhau, làm nổi bật tính chất “đại gia đình” trong cộng đồng, điều này là một trong những đặc điểm của văn hóa người Việt
Như vậy, lớp danh từ thân tộc là tiểu lớp từ không những để chỉ mối quan
hệ giữa các thành viên trong gia đình mà nó còn là lớp từ được dùng xưng hô ngoài xã hội Nói như Phạm Ngọc Hàm: “từ ngữ xưng hô thân tộc chỉ chung cho hệ thống ngôn ngữ văn hóa được hình thành từ các kiểu xưng hô thân tộc trong xã hội loài người” [17, tr.146]
Trong gia đình, các danh từ thân tộc chỉ có thể bắt nguồn từ ba nhân tố: huyết thống, hôn nhân và pháp luật Quan hệ thân tộc tuy ổn định và ít thay đổi nhưng lớp từ xưng hô biểu thị quan hệ đó luôn thay đổi cùng với các hệ thống
xã hội, phản ánh sinh động diễn biến của các giai đoạn lịch sử xã hội Do đó, chúng không phải là một con số xác định mà là một hệ thống mở
Văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam hình thành trên cơ sở sản xuất nông nghiệp là chính, tính chất quan hệ làng xã ngày xưa có ảnh hưởng đặc biệt sâu sắc đến đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam Do đó, khái niệm “đại gia đình” mang đậm quan niệm đạo lý truyền thống dân tộc Chính
vì vậy, trong giao tiếp xã hội, những danh từ thân tộc được sử dụng như một phương tiện xưng hô phổ biến trong tiếng Việt
Trong tiếng Việt, các danh từ thân tộc thường gặp: cố, ông, bà, bố, mẹ, chú, bác, cô, thím, dì, dượng, anh, chị, cậu, mợ, em, cháu Ngày nay, tính chất
“gia đình hóa xã hội” trong cách xưng hô rất sinh động được thể hiện trong cách giao tiếp của người Việt, những danh từ thân tộc được sử dụng một cách phổ biến và linh hoạt Tuy nhiên, không phải tất cả các danh từ thân tộc được
sử dụng trong gia đình đều được dùng để xưng hô ngoài xã hội Thực tế cho thấy, người Việt luôn coi trọng sự chân tình, luôn muốn gần gũi nên khi xưng
Trang 24hô ngoài xã hội, các danh từ thân tộc chỉ quan hệ hôn nhân: vợ, chồng, mợ… ít
được sử dụng Trong xã hội, các danh từ thân tộc được sử dụng để xưng hô trong mối quan hệ hàng xóm, láng giềng, xưng hô trong công sở, nơi làm việc hay thậm chí là xã giao giữa những cuộc gặp gỡ qua đường…Những danh từ thân tộc đã trở thành phương tiện xưng hô thông dụng trong nhiều môi trường, hoàn cảnh trong hệ thống ngôn ngữ giao tiếp của người Việt
Từ xưa, người Việt đã “tối lửa tắt đèn có nhau”, sống với nhau bằng nghĩa bằng tình “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình” Chính vì thế, xu thế
“gia đình hóa xã hội” là một đặc điểm quan trọng trong cách xưng hô, đối nhân
xử thế của người Việt chúng ta Đây cũng là điều mà nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tác giả cũng thừa nhận Các danh từ thân tộc khi được sử dụng theo lối
“gia đình hóa xã hội” thì nó đã mất đi nghĩa gốc Chúng tôi xin đưa ra bảng thống kê sau để làm rõ hơn đặc điểm này:
Ví dụ: Con đã về đây, ơi mẹ Tơm
Trang 25Hỡi người mẹ khổ đã giành cơm
Cho con, cho Đảng ngày xưa
ấy
Không sợ tù gông, chấp súng gương
Ví dụ: Dì ơi! Cho con hỏi đường Bạch Đằng nằm ở đâu?
o
Dùng để gọi người em gái của
bố mình, (đây là phương ngữ của người Trung Bộ)
Ví dụ: Ba ơi! O út nhắn ba sáng mai vô nhà bà nội có việc
Dùng để gọi người phụ nữ hay người con gái của xứ Huế
Ví dụ: O tê o tề o tề Cái mặt thì rứa, cái tề thì răng? (Hò phàm Huế)
chị
Chị người phụ nữ sinh ra trước mình, do ba hoặc mẹ sinh ra hoặc chỉ ba hoặc mẹ mình sinh
ra
Ví dụ: Chị ngã em nâng
Chỉ người phụ nữ lớn hơn tuổi mình một chút ngoài xã hội
Ví dụ: Chị lao công như sắt như đồng
Chị lao công đêm quét rác (Chị lao công – Tố Hữu)
bà
Dùng để chỉ người phụ nữ sinh
ra bố mẹ mình hoặc những người họ hàng ngang bậc với ông bà mình về vai vế
Dùng để gọi những người phụ nữ lớn tuổi
Ví dụ: Bà ơi! Bà đang làm gì thế? Bà ngẩng mặt lên mỉm
Trang 26Ví dụ: Bà ơi! Bà đi đâu? Bà ở lại với cháu, cháu sẽ mang nước cho
bà (Truyện Tích Chu)
cười và trả lời:”Bà đang mài cây sắt thành cái kim”.(Có công mài sắt có ngày nên kim)
mụ
Để gọi những người phụ nữ lớn tuổi, có vai vế ngang bằng với ông bà mình cps họ hàng hoặc chỉ người phụ nữ chị em với bà của mình (người Huế)
Ví dụ: Con chào mụ! Lâu lắm con không thấy mụ đến nhà con chơi
Chỉ những người phụ nữ lớn tuổi với thái độ không cảm tình, không thiện cảm, phản kháng
cụ
Dùng để chỉ người sinh ra ông
bà nội hay ông bà ngoại của mình Hoặc ở một số địa phương thì để gọi người đàn ông anh em với mẹ mình
Ví dụ: Thưa cụ, mự con mới về
Dùng để gọi những người đàn ông giàu có, vai vế ngày xưa Ngoài ra còn dùng để gọi những người đàn ông lớn tuổi (tùy vùng)
Ví dụ: Con lạy cụ, xin cụ thương lấy con (Chị Dậu- Ngô Tất Tố)
ông bà cố
Để chỉ những người sinh ra ông
bà nội hoặc ông bà ngoại mình
Trong mối quan hệ với chắt,
Không sử dụng ngoài xã hội
Trang 27thường được gọi tắt một cách thân mật là “cố”
Ví dụ: Lâu nay sao không đến nhà cô chơi? Vâng, dạo này con bận đi làm quá ạ
em
Em là từ dùng để chỉ người sinh sau với người được bố mẹ sinh
ra trước, hay với những người
có vai vế nhỏ hơn mình trong dòng họ
Ví dụ: Anh em như thể tay chân Rách lành đùm bọc đỡ đần có nhau
Dùng để xưng hô giữa người nhỏ tuổi và người lớn tuổi, không bà con ruột thịt
Ví dụ: Chị ơi! Chở em về một đoạn nhé
anh
Dùng để chỉ người con trai do
ba mẹ sinh ra, hoặc ba hoặc mẹ sinh ra trước mình, hay những người con trai có vai vế hơn mình trong dòng họ
Ví dụ: Làm anh thật khó Nhưng mà thật vui
Dùng để xưng hô với người con trai lớn tuổi hơn mình ngoài xã hội
Ví dụ: Nhân viên nói với vị giám đốc:
“Anh kí cho em công văn này”
Như vậy, danh từ thân tộc làm phương tiện xưng hô không chỉ đươc sử dụng trong gia đình mà còn được sử dụng một cách rộng rãi và chiếm ưu thế trong các mối quan hệ xã hội, giới nghiên cứu gọi đó là xu hướng “gia đình
Trang 28hóa” các danh từ thân tộc trong xưng hô
1.2.2.2 Danh từ chỉ tên riêng
Trong hầu hết các tài liệu về ngữ pháp tiếng Việt, tên riêng tiếng Việt được xếp vào cùng nhóm với từ loại danh từ và được gọi là danh từ riêng (danh từ chỉ tên riêng) Đến nay, quan điểm của nhiều tác giả về nhóm danh từ này vẫn chưa được thống nhất
Các nhà từ vựng học tiếng Việt thường gọi tên riêng là từ, nhưng lại không xếp chúng thuộc lớp từ nào Các nhà ngữ pháp học tiếng Việt tuy xếp tên riêng cùng loại với danh từ và gọi chúng là “danh từ riêng”, nhưng khi miêu tả đặc điểm từ loại của chúng, thì người thì người ta mới vỡ lẽ ra rằng các tên riêng
có nhiều điểm rất khác biệt so với danh từ Nói cách khác, các tên riêng không nằm gọn trong cùng một “khuôn” với các danh từ Chính vì thế, có người vẫn không khỏi băn khoăn khi xếp tên riêng cùng nhóm với danh từ Chẳng hạn, Nguyễn Tài Cẩn cũng đã từng cân nhắc khi xếp tên riêng vào cùng lớp với danh
từ Theo ông, nếu căn cứ vào chức năng ngữ nghĩa khác nhau của tên riêng và tên chung, thì các tên riêng “đáng được tách ra” thành một hệ thống, còn danh
từ chung có thể với động từ và tính từ làm thành một hệ thống khác
Danh từ chỉ tên riêng (chỉ người) trong tiếng Việt thường được sử dụng nhiều giữa những người bạn với nhau, vì thế sẽ tạo được gần gũi và thân mật hơn bình thường
Ví dụ: Ngạn cho Hà Lan mượn lâu lâu một chút nghen!
Tuy nhiên, cách sử dụng danh từ chỉ tên riêng cũng có những “luật bất thành văn” của nó Trong tiếng Việt, khi đối thoại với những người lớn tuổi hơn hoặc chức vị cao hơn thì người nói sẽ không bao giờ chỉ gọi tên riêng của người đó mà phải kèm theo các từ chỉ sự đề cao họ, thông thường là với cấu trúc: danh từ thân tộc + danh từ chỉ tên tên riêng
Trang 29Ví dụ: Chị Ngọc đi đâu thế ạ?
Hay
Cậu lên nhờ anh Sơn ký đi
Việc dùng tên riêng để xưng hô khá phổ biến trong giao tiếp của người Việt, nó phù thuộc vào nhiều yếu tố như: mối quan hệ giữa các cá nhân, hoàn cảnh giao tiếp Xưng hô bằng tên riêng giúp tạo sự thân mật và đạt hiệu quả giao tiếp cao Tuy nhiên, trong hoàn cảnh giao tiếp có tính quy thức và đối với những người có vị thế xã hội cao hơn mình hay căn cứ vào “chức vị trong gia đình mà chủ thể giao tiếp thường có sự kết hợp “danh từ thân tộc, danh từ
chỉ quan hệ xã hội + tên riêng” Ví dụ: cậu Hùng, cô Vân ; đồng chí Hoa, bạn Hằng ; bố thằng Tuấn, mẹ Vân
1.2.2.3 Đại từ nhân xưng
Khi nhắc đến phương tiện dùng để xưng hô đầu tiên ta phải nói đến đại từ nhân xưng Trong xưng hô, đại từ nhân xưng đều có mặt trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc phân chia đại từ nhân xưng thành các ngôi vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi
Mỗi nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều có những quan niệm riêng của mình về đại từ nhân xưng, chúng tôi xin điểm qua một số quan niệm về khái niệm này của các nhà ngôn ngữ học: Theo Diệp Quang Ban: “Đại từ nhân xưng là những
từ dùng để chia ra người hay vật tham gia quá trình giao tiếp”[2, tr.25]
Theo Phạm Ngọc Thưởng thì “những đại từ nào chỉ rõ vai nhân vật tham gia trực tiếp vào hành vi xưng hô mới được coi là những đại từ xưng hô thực thụ”.[31,tr.45]
Tuy các nhà ngôn ngôn ngữ học có những khái niệm khác nhau về đại từ nhân xưng những phần lớn họ đều đồng ý cách phân chia nó làm ba ngôi với hai chỉ số, có thể hình dung như bảng sau:
Trang 30Bảng 1.1: Thống kê các đại từ nhân xưng làm phương tiện xưng hô trong
giao tiếp ngôn ngữ người Việt Ngôi thứ nhất Ngôi thứ hai Ngôi thứ ba
Số ít Số nhiều Số ít Số nhiều Số ít Số nhiều
bạn cậu
các bạn mấy bạn
người đó hắn
y
nó
họ bọn họ chúng nó bọn hắn
Các đại từ nhân xưng được dùng làm phương tiện xưng hô, chúng góp phần không nhỏ vào việc thiết lập quan hệ tiếp xúc giữa những người đối thoại hoặc duy trì cuộc đối thoại cả hai bên tham gia
Các đại từ nhân xưng khi tham gia vào giao tiếp với tư cách là một từ xưng
hô thì có thể đóng vai trò là từ dùng để “xưng”
- Tôi không biết quen biết anh, anh đừng làm phiền tôi
Và cũng có thể dùng để “gọi”
- Các bạn chiều nay nhớ đi dự đại hội khoa nhé!
Các đại từ dùng để “xưng” thường là các đại từ ở ngôi thứ nhất kể cả số ít lẫn số nhiều, tùy vào hoàn cảnh cụ thể Chẳng hạn, khi người nói chỉ có một
người dùng các đại từ ngôi thứ nhất số ít: tôi, tao, tớ, mình , khi người nói là
nhiều người hoặc một đại diện cho một tổ chức hay một cộng đồng, một nhóm
người thì dùng đại từ ngôi thứ nhất số nhiều như: chúng tôi, bọn tao
Các đại từ dùng để “hô, gọi” thường là các đại từ ở ngôi thứ hai kể cả số
ít lẫn số nhiều trong các trường hợp tương tự như trong hành động “xưng” Riêng các đại từ nhân xưng ở ngôi thứ ba thì ít dùng để xưng hô trực tiếp nhưng lại được dùng để chỉ đến một đối tượng thứ ba đang được nói đến hoặc nhắc
Trang 31đến Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là phủ nhận đi chức năng xưng hô của các đại từ ngôi thứ ba, nhưng cũng có những trường hợp các đại từ ngôi thứ ba này tham gia vào hành động xưng hô để đóng vai trò là một xưng hô trực tiếp Thế nhưng, như vậy thì nó lại mang một hàm nghĩa khác để thể hiện một tình cảm thái độ nhất định Có khi người nói sử dụng các đại từ ở ngôi thứ ba như:
họ, bọn họ, người ta để tự xưng về “mình” Một khi mà đã sử dụng những đại
từ này vào xưng hô trực tiếp thì thường thể hiện một thái độ lạnh nhạt, dửng dưng như ví dụ sau đây:
- Em ơi! Anh đã nói em không nên nói như thế rồi mà!
- Kệ họ, không cần anh quan tâm Em nói thế chẳng qua vì không biết
“người ta” muốn gì nữa thôi!
“Họ” trong trường hợp này là một từ dùng để xưng, đối tượng là một người con gái đang giận dỗi, và “người ta” trở thành một đại từ mà người con gái này dùng để ám chỉ người đối thoại với mình tức là người con trai này (người yêu)
Các đại từ trong tiếng Việt vô cùng phong phú và đa dạng, ngoài vai trò
là một từ dùng để xưng hô thì nó còn có vai trò không nhỏ vào việc thể hiện
tình cảm và thái độ trong cuộc giao tiếp
1.2.2.4 Danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ
Trước tiên ta cần hiểu rằng: Từ chỉ nghề nghiệp là những từ chỉ công việc
được coi là nguồn sống mà cá nhân theo đuổi Chẳng hạn: Kĩ sư, giáo viên, bác
sĩ, y tá, công an
Từ chỉ chức vụ là những từ chỉ công việc mà người ta đảm nhận theo quy
định xã hội: Bộ trưởng, hiệu trưởng, giám đốc
Từ chỉ chức danh là những từ chỉ những danh hiệu dùng để phân biệt đẳng
cấp của các cán bộ, công chức hay một trong một tổ chức nào đó như: Giáo sư, giảng viên, viện sĩ
Trang 32Có thể nói nghề nghiệp, chức vụ, học hàm, học vị là những khái niệm không thể tách rời tổ chức xã hội Xã hội có các tổ chức sinh hoạt cộng đồng trong đó bao gồm một hệ thống với những mối quan hệ vô cùng đa dạng và phức tạp Từng thành viên trong xã hội có các quan hệ vai giao tiếp chính thức
và không chính thức, ổn định và lâm thời Do đó, trong từng hoàn cảnh cụ thể
họ có thể xưng hô bằng những danh từ thân tộc, các đại từ hay có thể bằng những từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp
Trong tiếng Việt, những từ thuộc lớp từ trên chỉ được sử dụng xưng hô ngoài xã hội và không dùng để giao tiếp những người trong gia đình Bởi khi
sử dụng những danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp thường mang sắc thái trang trọng, lịch thiệp Trong cuộc sống hằng ngày, người ta vẫn thường hay sử dụng những từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp làm phương tiện xưng hô trong trường hợp giao tiếp giữa những người không quen biết, khi xưng hô như thế chỉ có thể là lịch sự hoặc bày tỏ một thái độ trân trọng
Ví dụ: Khi gọi những người chạy xem ôm là “chú xem ôm ơi!” Hay “ông
xe ôm ơi!’ thì cũng chẳng sao, dù cho những người này còn rất trẻ, trẻ hơn cả người nói
Qua ví dụ trên, ta thấy từ chỉ nghề nghiệp không đứng một mình mà kết hợp với danh từ thân tộc Việc kết hợp này không chỉ tạo sự thân mật mà còn mang ý nghĩa miêu tả, chỉ thị đối tượng
Cách xưng hô chỉ nghề nghiệp, chức vụ biểu hiện rõ nhất trong môi trường giao tiếp mang tính chất nghi thức như hội họp, chỗ đông người, trên truyền hình (Các cuộc phỏng vấn hay giao lưu hai chiều) Ở đó, chủ thể giao tiếp (thường là người chủ trì hay là người dẫn chương trình) thường sử dụng ngay chức danh của người đối thoại làm xưng hô:
Tiếp theo là chương trình phát học bổng cho tân thủ khoa, á khoa của các ngành, xin mời tiến sĩ Nguyễn Văn A, hiệu trưởng nhà trường phát biểu ý kiến
Trang 33chỉ đạo trong buổi lễ khen thưởng năm học mới
Trước đông đảo người lắng nghe và ở một hoàn cảnh giao tiếp có nghi thức quan trọng, người nói thường muốn tăng giá trị của tình huống bằng cách dùng ngay chức danh của đương sự để đối thoại Ở cách xưng hô bằng chức danh này, nguyên tắc “xưng khiêm hô tôn” được khai thác một cách tối đa, đặc biệt là người nói muốn đề cao giá trị của người đang đối thoại với mình (thực chất là với mọi người) để qua đó tăng thêm uy tín và giá trị của cuộc trao đổi
Rõ ràng “đích” mà người nói hướng tới là đông đảo người tham dự và nhiều khi nó không lệ thuộc vào bản thân họ Vì bình thường, bản thân quan hệ giữa người nói và đối tượng đang tham gia giao tiếp có thể hoàn toàn khác nhau Chẳng hạn, trước đó người nói và đối tượng được đối thoại “gọi anh xưng em” nhưng khi vào cuộc họp, vào hội nghị thì gọi bằng chức vụ, chức danh và xưng
là “tôi”
Như vậy, thiết nghĩ cách xưng hô bằng chức danh có những hiệu quả nhất định như phép lịch sự, thái độ tôn trọng đối tượng, đặc biệt là đạt được mục đích giao tiếp
Đặc biệt, với cách xưng hô bằng những từ chỉ chức danh này, người đối thoại cần chú ý một đặc điểm là không nên một lần giới thiệu qúa nhiều chức danh vì như vậy rất dễ gây ra phản cảm nên chọn lọc những chức danh nào có giá trị với bản thân trong cuộc đối thoại Không phải tất cả các từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, học vị đều được sử dụng để xưng hô trực tiếp Có thể thấy rằng, trong quan niệm và cách xưng hô của người Việt chỉ có những nghề
nghiệp liên quan đến tri thức văn hóa, khoa học kĩ thuật như: bác sĩ, kĩ sư, thầy giáo, cô giáo mới sử dụng làm phương tiện xưng hô
Ví dụ: Bác sĩ ơi! Cứu mẹ cháu với ạ!
Trong tiếng Việt, những từ chỉ học hàm, học vị như: giáo sư, phó giáo
sư, tiến sĩ, giảng viên không phải lúc nào cũng được sử dụng để xưng hô trực
Trang 34tiếp Chỉ những từ chỉ học vị, học hàm cao như thế mới được dùng để xưng hô trực tiếp, song khi sử dụng để xưng hô trực tiếp thường kết hợp với các từ
“thưa”, “kính thưa” để thể hiện sự kính trọng và lịch sự
Đối với cách xưng hô bằng các danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp thường không dùng cho cả hành động xưng và cả hành động hô nhưng người nói
thường xưng mình bằng các đại từ nhân xưng, hay danh từ thân tộc như: con,
1.2.2.5 Kiểu loại xưng hô khác
Ngoài các nhóm chính, trong tiếng Việt còn sử dụng một số kiểu loại xưng hô khác lâm thời làm phương tiện xưng hô Tính lâm thời thể hiện ở nhóm này khá rõ nét, nếu tách các yếu tố này khỏi ngôn cảnh thì ta khó xác định được vai trò của yếu tố đó (nhất là đối với các cụm từ lâm thời làm phương tiện xưng hô)
Theo nghiên cứu của chúng tôi, để cho giao tiếp phát triển và tạo sự hứng thú đối với đối phương, ngoài bốn nhóm đóng vai trò là từ xưng hô chủ yếu thì chủ thể giao tiếp còn sử dụng rộng rãi các nhóm từ sau:
- Các danh từ chỉ nơi chốn: đây, ấy, đó, đằng ấy, đằng này
- Các danh từ chỉ quan hệ xã hội: bạn, đồng chí đồng niên
- Một số động từ, tính từ chuyển hóa như: cưng, nhỏ, bé, mập, móm, sứt,
Trang 35- Cụm từ (chủ yếu tồn tại trong cách “hô” và trong ngữ cảnh cụ thể, ít lặp
lại trong một cuộc thoại): đồ quỷ tha ma bắt, đồ điên, người yêu, con cún nhỏ
bé của anh
- Từ loại (chủ yếu danh từ và thường để gọi tên trực tiếp sự vật đó): khỉ, chó, vịt
1.3 Giao tiếp và hoạt động giao tiếp
Theo CácMác thì: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” và các quan hệ này được biểu hiện rõ nhất trong giao tiếp Chính vì vậy, giao tiếp không chỉ là một hoạt động xã hội cơ bản mà nó còn đánh dấu sự phát triển vượt bậc của loài người Nghiên cứu từ xưng hô do đó không thể đặt ngoài quá trình giao tiếp Theo Đỗ Hữu Châu, trong giao tiếp bằng ngôn ngữ đáng chú ý
là sự có mặt của các nhân tố giao tiếp sau: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn Ngữ cảnh giao tiếp là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn Nó là một tổng thể của những hợp phần như nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn (hoàn cảnh giao tiếp)
1.3.1 Nhân vật giao tiếp
“Nhân vật giao tiếp tức là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ” [10,tr.15] Nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao tiếp, nó có thể thúc đẩy hoặc tự kết thúc cuộc hội thoại Do đó, nhân vật giao tiếp chính là linh hồn của cuộc hội thoại Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên các nhân
1.3.1.1 Vai giao tiếp
Vai giao tiếp là cương vị xã hội của một cá nhân nào đó trong một hệ thống các quan hệ xã hội chồng chéo nhau, mỗi cá nhân trong mỗi hoàn cảnh giao tiếp nhất định lại đóng một vai khác nhau hợp thành một bộ vai cho mình
Trang 36trong hệ thống giao tiếp chung Chẳng hạn: Khi đi học là sinh viên, khi đi xem phim là khán giả, khi ở nhà là con đối với bố mẹ, là chị đối với các em, là cháu đối với ông bà Sự phong phú trong các vai giao tiếp từ đó cũng tạo nên sự phong phú trong cách xưng hô cho mỗi cá nhân
Để tiến hành giao tiếp các thành viên tham gia giao tiếp phải xác lập vị thế giao tiếp của mình, nghĩa là phải nhận thức được đầy đủ về đối tượng tham gia giao tiếp (về tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội, mục đích giao tiếp, vốn sống ) và về chính bản thân mình Nếu giao tiếp mới là sự gặp gỡ, tiếp xúc lần đầu thì các thành viên tham gia giao tiếp phải có bước thăm dò đối tượng thông qua cách giao tiếp, trình độ văn hóa ứng xử của mình để có thể thu nhập thông tin về đối phương
Trên cơ sở có được thông tin về đối tượng giao tiếp mà nhân vật giao tiếp lựa chọn từ xưng hô thích hợp Trong nhiều trường hợp, tùy thuộc vào ngữ cảnh
mà nhân vật giao tiếp lại giữ một vị thế giao tiếp nhất định Không phải cứ nhiều tuổi, địa vị xã hội cao, chức vụ lớn thì sẽ giữ vị thế giao tiếp cao hơn đối tượng còn lại mà chúng ta phải xác định trong ngữ cảnh đó yêu cầu gì của cuộc giao tiếp nổi bật, giá trị nào là ưu tiên để từ đó lựa chọn phương diện xưng hô phù hợp Cách xưng hô trong quan hệ gia tộc khác cách xưng hô ngoài xã hội Do
đó, nhân vật phải xác định đúng vị thế giao tiếp, xây dựng chiến lược, động cơ, mục đích giao tiếp phù hợp mới tạo hiệu quả cao trong giao tiếp
1.3.1.2 Quan hệ liên cá nhân
“Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau” [10, tr.17]
Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp này có thể diễn tiến theo 2 kiểu: Quan hệ vị thế xã hội (quyền uy) và quan hệ khoảng cách (thân cận)
Quan hệ liên cá nhân chi phối cả quá trình giao tiếp, cả nội dung và hình thức của diễn ngôn Do đó, xưng hô chịu áp lực rất mạnh từ quan hệ này Qua
Trang 37việc sử dụng từ xưng hô mà vai người nghe biết được vai nói xác định quan hệ
vị thế và quan hệ xã hội với mình như thế nào Trong tiếng Việt, lựa chọn và
sử dụng từ xưng hô được coi như là một chiến lược trong việc thiết lập quan hệ liên cá nhân trong hội thoại
Trong những cơ quan, công sở thì nghi thức giao tiếp là một điều bắt buộc mọi người phải tuân thủ theo nên quan hệ quyền uy ở đây được xác lập một cách vững vàng và ít bị thay đổi nhất Nhân viên và thủ trưởng đã có những
từ xưng hô giúp định vị thứ bậc rõ ràng, không thể có sự đổi ngôi trừ khi xuất hiện vấn đề tình cảm, mục đích riêng chi phối giao tiếp
Thực ra, trong đời sống thường ngày thì giao tiếp trong gia đình, tiêu biểu là trong cách lựa chọn từ xưng hô đã cho chúng ta thấy đây không chỉ là biểu hiện của việc tôn trọng quan hệ thân cận mà còn là biểu hiện của quan hệ quyền uy trong việc tạo ra không khí vừa tôn nghiêm, vừa thân mật trong gia đình Chẳng hạn, thay bằng cách xưng hô ông (bà) và hô cháu thì các nhân vật giao tiếp ở đây chuyển thành cách xưng hô ông (bà) và hô con, em Thay bằng cách gọi bố (mẹ) thì người con (đã có con) chọn cách xưng con thông thường lại chuyển cách hô mà đứng ở vị trí con mình gọi bố (mẹ) là ông (bà)
1.3.2 Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là một trong những yếu tố chủ đạo chi phối hoạt động giao tiếp của con người Đó là thế giới thực tại mà chúng ta đang sống với tất
cả những nhân tố xã hội, ngôn ngữ ảnh hưởng đến việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ như: hiểu biết về thế giới xã hội, văn hóa, tôn giáo, lịch sử ; phong tục tập quán; trình độ học vấn; kinh nghiệm xã hội; thói quen
sử dụng ngôn ngữ; phạm vi giao tiếp (công sở, gia đình, ngoài xã hội, trong các vùng lãnh thổ riêng ); đề tài, chủ đề hay hình thức giao tiếp
Trong hoàn cảnh giao tiếp, người ta đặc biệt chú ý đến sự tồn tại của tính quy thức và phi quy thức trong giao tiếp thông qua sự diễn đạt bằng ngôn ngữ
Trang 38của các vai giao tiếp Tính quy thức ở đây được hiểu là những yêu cầu, những quy tắc, những nghi lễ, Trong những hoàn cảnh giao tiếp hẹp (không gian, thời gian cụ thể để cuộc giao tiếp diễn ra như trong các nghi lễ ngoại giao, tôn giáo, trong công sở, nhà trường ) Đó là các nghi thức mang tính quy phạm,
có tính mẫu mực riêng mà các thành viên tham gia giao tiếp ngầm hiểu và tôn trọng thực hiện nó
Ngược lại, tính phi quy thức là những hành vi giao tiếp ngoài xã hội, nơi những hoạt động giao tiếp diễn ra mà không chịu ảnh hưởng chi phối của bất
cứ quy tắc, nghi lễ nào Các vai giao tiếp được tự do, thoải mái bộc lộ mình Tính quy thức/ phi quy thức của hoàn cảnh giao tiếp còn ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn và sử dụng từ xưng hô, nó có mối quan hệ chặt chẽ với các chức năng của từ xưng hô cũng như vị thế xã hội và quyền uy của nhân vật giao tiếp
Do đó, có thể nói trong hệ thống từ xưng hô chúng ta có thể xét đến từ xưng hô
có tính quy thức và từ xưng hô không có tính quy thức
Ở những người có vị thế ngang nhau như bạn với bạn thì việc xưng hô phi quy thức sẽ diễn ra nhiều hơn so với xưng hô có quy thức Ngược lại, xưng hô
ở vị thế không ngang bằng thì vai giao tiếp (nhất là vai thấp hơn) thường có lối xưng hô quy thức, chuẩn mực, “xưng khiêm hô tôn”
Các đại từ xưng hô thực thụ trong tiếng Việt (trừ đại từ xưng hô) phần lớn ít
có tính quy thức Các danh từ thân tộc (ông, bà, cô, chú, anh ) đang chiếm ưu thế trong các giao tiếp xã hội cùng các danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp (giáo sư, tiến
sĩ, thầy giáo…) mang tính quy thức cao trong hoạt động giao tiếp Trong khi đó danh từ chỉ tên riêng lại mang tính chất trung gian và thường phải căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà xác định tính quy thức hay không quy thức
Ví dụ trong phát ngôn sau:
- Mời em Tín lên bảng!
- Tín lấy cho chị cái giỏ hoa trên bàn nhé!
Trang 39Cũng là hai người, mối quan hệ là chị em nhưng đặt trong hai hoàn cảnh giao tiếp khác nhau thì mỗi người lại đóng một vai khác nhau do đó tính quy thức cũng được biểu hiện khác nhau:
Ở phát ngôn 1: Có hai vai giao tiếp gồm cô giáo và học sinh Trong môi trường học tập yêu cầu tính nghi thức cao do đó cách xưng hô bằng tên riêng (em) “Tín” thể hiện tính quy thức cao hơn
Ở phát ngôn 2: có hai vai giao tiếp là chị và em Xét trong tương quan thì vai giao tiếp không tương bằng nhưng ở đây hoàn cảnh giao tiếp chi phối chính việc sử dụng từ xưng hô kết hợp với nhân tố thái độ, ngữ điệu khiến việc sử dụng từ xưng hô bằng tên riêng “Tín” ít tính quy thức hơn
1.4 Hành trình sáng tạo văn chương của Nguyễn Nhật Ánh
Nguyễn Nhật Ánh vừa là tên thật cũng vừa là bút danh Ông sinh ngày 07/05/1955 tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Thuở nhỏ, ông theo học tại các trường Tiểu La, Trần Cao Vân và Phan Chu Trinh Từ năm 1973, Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành Sư phạm Ông
đã từng đi thanh niên xung phong, dạy học và làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Từ năm 1986 đến nay, ông là phóng viên và bình luận viên thể theo báo Sài Gòn Giải Phóng với bút danh là Chu Đình Ngạn Ngoài
ra, Nguyễn Nhật Ánh còn có bút danh khác như Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc Bên cạnh đó, ông còn là một nhà văn chuyên viết về mảng truyện cho thiếu nhi và tuổi mưới lớn
Có thể nói, cho đến thời điểm này, Nguyễn Nhật Ánh đã đóng góp cho nền văn học Việt Nam một khối lượng tác phẩm đồ sộ ở nhiều thể loại, trong khoảng 15 năm, ông đã có trên 40 tập truyện ngắn viết cho thiếu nhi Trong đó
có 2 bộ truyện nhiều tập: Kính vạn hoa, dài 45 tập do Nhà xuất bản Kim Đồng
in từ năm 1995 đến 2002; Chuyện xứ Lang Biang, dài 4 tập do Nhà xuất bản Kim Đồng in từ năm 2004 đến năm 2005 Đặc biệt, bộ Kính vạn hoa được
Trang 40Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao huy chương “Vì thế
hệ trẻ” và được Hội nhà văn Việt Nam trao tặng thưởng và sự thành công của
Cho tôi một vé đi tuổi thơ; được báo Người Lao động bình chọn là tác phẩm
hay nhất năm 2008; giải Vàng sách hay của xuất bản Việt Nam năm 2009; giải thưởng văn học Việt Nam 2010
Đến với các tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, người đọc luôn thấy được
sự dí dỏm, nhẹ nhàng của nhà văn như trong: Buổi chiều Window, Trại hoa vàng, Cô gái đến từ hôm qua, Phòng trọ ba người, Bồ câu không đưa thư…những nhân vật của Nguyễn Nhật Ánh đều nghịch ngợm nhưng hồn
nhiên, vô tư với tình bạn trong sáng và cả những rung cảm rất chân thật theo kiểu “tình học trò” những nhân vật ấy không hề xa lạ hay đến từ một xứ sở nào khác mà đích thực là họ bước ra từ cuộc sống của mỗi chúng ta
Bằng những thấu hiểu về những chuyển biến tâm lý của lứa tuổi mới lớn với những rung động bất thường đến khó hiểu, nhà văn viết về tình yêu của thanh thiếu niên một cách chân thực nhưng không kém hấp dẫn như trong
Thằng quỷ nhỏ, Cô gái đến từ hôm qua, Mắt biếc…Nguyễn Nhật Ánh cũng đi
sâu vào khai thác những chủ đề về chuyện trường lớp, bài vở, mối quan hệ với
thầy cô, gia đình và đặc biệt là tình bạn như trong 45 tập Kính vạn hoa, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Ngồi khóc trên cây,…
Trong các tác phẩm của mình, nhân vật chính thường xưng “tôi”, nó trở thành một lối kể chuyện quen thuộc nhưng không gây cảm giác nhàm chán cho người đọc Ngược lại, nó tạo cho người đọc những trải nghiệm thú vị “trở về tuổi thơ qua từng trang sách” bởi nhà văn viết văn không phải dành cho trẻ em
mà “viết cho những ai đã từng là trẻ em” Nhà văn bằng ngòi bút của mình đã đưa đọc giả trở về sân ga tuổi thơ của mình Điều đó cho thầy tài năng và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Nhật Ánh thật đặc sắc và phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi và kể cả những ai đã trải qua tuổi thơ ấu đều muốn xin “cho tôi một