Đồng thời, chính nhờ những hoạt động của các giáo sĩ trên lĩnh vực y học đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình du nhập của y học phương Tây vào Việt Nam giai đoạn sau này, để có được nề
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2NỘI DUNG
LỜI CẢM ƠN 4
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Nguồn tư liệu và Phương pháp nghiên cứu 9
5.1 Nguồn tư liệu 9
5.2 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của đề tài 10
7 Bố cục của công trình nghiên cứu 11
Chương 1: Bối cảnh kinh tế xã hội, phát triển của y học ở phương Tây và Việt Nam thế kỷ XVI – XVII 11
Chương 2: Giáo sĩ phương Tây với các hoạt động y học ở Việt Nam thế kỷ XVI – XIX 11
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA Y HỌC Ở PHƯƠNG TÂY, VIỆT NAM THẾ KỶ XVI - XVII 12
1.1 Tình hình kinh tế - xã hội, y học ở phương Tây trong các thế kỉ XVI - XVII 12
1.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội ở phương Tây thế kỷ XVI – XVII 12
1.1.2 Khái quát sự phát triển của y học phương Tây trước thể kỷ XX 16
1.2 Tình hình kinh tế - xã hội, y học Việt Nam 21
1.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVI – XVII 21
1.3 Sự xuất hiện và hoạt động của các giáo sĩ phương Tây ở Việt Nam (thế kỉ XVI – XVII) 38
Tiểu kết chương 1 46
Trang 3CHƯƠNG 2: GIÁO SĨ PHƯƠNG TÂY VỚI NHỮNG HOẠT ĐỘNG TRONG
LĨNH VỰC Y HỌC Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XVI – XIX 47
2.1 Chăm sóc sức khỏe cho hoàng tộc 47
2.2 Phòng và khám chữa bệnh cho nhân dân 53
2.4 Truyền bá kiến thức y học phương Tây 62
2.5 Đánh giá chung 64
Tiểu kết chương 2 69
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 81
Trang 44 SVTH: Lê Vinh Quang
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này
Kính gửi lòng biết ơn đến quý thầy, cô giáo đã giảng dạy em trong suốt
4 năm Đại học Cảm ơn thầy cô Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã luôn giúp đỡ, động viên em rất nhiều trong quá trình học tập
Kính xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS Nguyễn Duy Phương đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa, Thư viện Khoa học Tổng hợp Đà Nẵng, Phòng tư liệu Khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
đã giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm và thu thập tài liệu thực hiện khóa luận
Cuối cùng, em xin cám ơn gia đình, người thân đã luôn đồng hành, động viên
em hoàn thành khóa luận này Dù đã cố gắng rất nhiều, song với khả năng hiểu biết còn hạn chế, khiếm khuyết về mặt tư liệu chắc chắn khóa luận
nghiên cứu này không tránh khỏi những thiếu sót Đó sẽ là những bài học kinh nghiệm giúp cho bản thân em hoàn thiện hơn trong công tác nghiên cứu sau này
Sinh viên thực hiện
Lê Vinh Quang
Lê Vinh Quang
Trang 5Đối với phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, trước khi người phương Tây xuất hiện, thì ở khu vực này đã định hình một truyền thống y học với phương pháp phòng chữa bệnh thiên về kiến thức tự nhiên và kinh nghiệm dân gian hơn là theo phương pháp khoa học như phương Tây, người ta gọi đó là y học phương Đông Cùng với quá trình truyền giáo, nền y học Tây phương dần dần được
du nhập vào Việt Nam Sự kết hợp tồn tại song song của hai phương pháp chữa bệnh Đông Tây đã đưa đến những cuộc tiếp biến văn hóa và sự hình thành các mô hình phát triển mới cả trên bình diện không gian và thời gian Đồng thời, chính nhờ những hoạt động của các giáo sĩ trên lĩnh vực y học đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình du nhập của y học phương Tây vào Việt Nam giai đoạn sau này, để có được nền y học hiện đại như bây giờ
Tuy nhiên, hiện nay nghiên cứu về các hoạt động của các giáo sĩ trên lĩnh vực y học ở Việt Nam trong giai đoạn này vẫn còn thiếu vắng những nghiên cứu mang tính toàn diện và hệ thống Một mặt, đây là đề tài có đối tượng nghiên cứu rộng, mặt khác, cũng cần phải thấy rằng, tư liệu để nghiên cứu về vấn đề này còn rất hạn chế và tản mát Tất cả những hoạt động của các giáo sĩ diễn ra trên đất nước Việt Nam chỉ được ghi chép tóm lược trong sử sách hoặc là qua các bút ký của các
Trang 6người nước ngoài, các sự việc, thiếu hẳn sự miêu tả cụ thể phản ánh nhận thức cùng thái độ ứng xử của người Việt Nam đối với các tri thức y học phương Tây Bên cạnh đó cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá toàn diện về vai trò của các giáo sĩ đối với quá trình du nhập của y học vào nước ta, cộng với đó là chưa có những nhận xét công tâm về những hoạt động của các giáo sĩ có những đóng góp như thế nào đối với y học – xã hội nước ta thời bấy giờ
Với mong muốn góp phần làm rõ vai trò các giáo sĩ phương Tây đối với quá trình du nhập của y học phương Tây vào Việt Nam Thái độ tiếp nhận của chính quyền phong kiến Việt Nam và sự sáng tạo linh hoạt của người bản địa trong cách dung hòa các xung đột giữa y học phương Tây và y học của thế giới Á Đông Trên
cơ sở định hướng đó, tôi quyết định chọn đề tài: “Hoạt động của các giáo sĩ
phương Tây ở Việt Nam trên lĩnh vực y học (thế kỷ XVI-XIX)” làm đề tài khóa
luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu về những hoạt động của các giáo sĩ phương Tây ở nước
ta trên lĩnh vực y học cũng được một số tác giả nước ngoài cũng rất quan tâm
nghiên cứu lich sử nền y học của nước ta Những người bạn cố đô Huế (BAVH)
xuất bản năm 1997 là tạp chí công bố những nghiên cứu của các nhà khoa học, học giả người Pháp nghiên cứu vè lọc sử văn Việt Nam Liên quan đến vấn đề y học Việt Nam, các mảng tri thức được trình bày trong BAVH một phần nào đó đã cung cấp cho chúng ta một góc nhìn lịch sử về quá trình tiếp nhận các tri thức y học phương Tây vào Việt Nam trong thời Pháp thuộc Ngoài ra, tạp chí BAVH còn cung cấp nhiều nhân vật người Âu, phần lớn là các vị tu sĩ, các vị thừa sai dòng Tên
đã đến Huế thời kì này và những người Pháp phụng sự vua Gia Long như giám mục Pigneau de Béhaine (G.M Bá Đa Lộc) hay G.M.Adran - đây là những nhân vật quan trọng đưa các tri thức y học tới Việt Nam trong giai đoạn này
Những bài nghiên cứu như: Vài nét sinh hoạt y tế ngày xưa trong triều đình
Huế” xuất bản năm 1999, “Một số tác phẩm y học dưới triều Nguyễn” được xuất
bản năm 2001 và “Các thầy thuốc Tây y dưới thời chúa Nguyễn” xuất bản năm
Trang 72002 và “của tác giả Đoàn Văn Quýnh cũng là một trong những tư liệu hết sức
quan trọng được người viết sử dụng Những bài viết này đã cung cấp một số thông tin về hoạt động của các thầy thuốc phương Tây tại triều đình nhà Nguyễn cũng như đất nước An Nam trong giai đoạn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX cũng như khái quát rất sơ lược về những tác phẩm y học của các thầy thuốc trong nước ra đời trong giai đoạn này
Tác phẩm thư của các giáo sĩ thừa sai, xuất bản năm 2013 của trung tâm nghiên cứu quốc học dịch, là một tác phẩm tổng hợp những bức thư của các giáo sĩ trao đổi qua lại, ghi chép những sự việc đã diễn ra ở nước ta, những hoạt động cụ thể của các giáo sĩ Cũng phần nào thể hiện được những việc làm của các giáo sĩ, cung cấp cho tác giả một nguồn tài liệu quí để có thể khẳng định, làm rõ những hoạt động của các giáo sĩ ở Việt Nam thế kỷ XVI – XX
Trong luận văn thạc sĩ “Quá trình du nhập khoa học - kỹ thuật phương Tây vào Việt Nam thế kỷ XVI – XX” vào năm 2015 tác giả Phạm Ngọc Trang có đề cập đến quá trình du nhập của y học phương Tây vào Việt Nam Tuy nhiên, những bài viết này chỉ dừng lại ở sự khảo tả cái nhìn của người Pháp đối với tình hình y học bản địa, sự du nhập đầu tiên của mầm mống y học Pháp, nhưng chưa đưa ra được những tác động của y học phương Tây làm thay đổi như thế nào đối với y học Việt Nam
Bài viết “Sự phổ biến y học Pháp” xuất bản năm 2014 của tác giả Bùi Thị Hà
cũng đưa ra những thông tin sự du nhập của y học Pháp tới xã hội Việt Nam trong thế kỷ XIX
Bài “Thái y viện triều Nguyễn đời Bảo Đại” của tác giả Nguyễn Thị Dương,
được đăng trên tạp chí nghiên cứu và phát triển số 2 (tr128) vào năm 2016 cũng đề cập một số mặt về y học nước ta dưới thời vua Bảo Đại Trong bài, tác giả đã liệt
kê danh sách các ngự y dưới thời vua Bảo Đại, đồng thời chứng minh vai trò to lớn của y học Tây phương trong triều đình Huế Bài viết này là tài liệu quan trọng cho tác giả tham khảo để hoàn thành bài khóa luận của mình
Trong sách Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam kỳ, được phát hành năm 2016
của tác giả Nguyễn Đình Tư có đề cập đến hoạt động y tế của nước ta thời Pháp
Trang 8thuộc là nguồn tài liệu quí giá để đánh giá được tình hình phát triển của y học nước
ta thời Pháp thuộc Bài viết phản ánh một cách thực tế, một cái nhìn tổng quan của các giáo sĩ phương Tây về nền y học nước ta những năm cuối thế kỷ XIX
Trong cuốn Xã hội Việt Nam qua bút kỷ của người nước ngoài được xuất bản năm 2017 của tác giả Lê Nguyễn cũng đề cập đến giai đoạn đầu của quá trình y học phương Tây du nhập vào nước ta Trong bài viết tác giả đã đưa ra rất nhiều các tình tiết các sự kiện liên quan đến sự xuất hiện của các y sĩ phương Tây phục vụ chăm sóc sức khỏe cho chúa Nguyễn Phúc Chu, bài viết là cơ sở khoa học quý giá để tác giả có thể trích dẫn vào khóa luận của mình Là dẫn chứng chân thực cho quá trình
du nhập y học phương Tây từ rất sớm ở nước ta
Rõ ràng là, nghiên cứu về quá trình du nhập y học phương Tây vào Việt Nam cũng dành được sự quan tâm nhất định của giới học giả trong và ngoài nước Những nghiên cứu đó đã khảo tả một cách sơ lược nhất quá trình tiếp thu các tri thức y học phương Tây vào Việt Nam Tuy nhiên, những nghiên cứu đó vẫn tản mát và còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ Nhưng những nghiên cứu đó là cơ sở để cho tác giả nhận thấy rằng, chí ít cần có một công trình tổng hợp lại toàn bộ diễn trình du nhập các tri thức y học của người phương Tây một cách có hệ thống cũng như đưa ra được những đánh giá tổng thể, toàn diện và đa chiều tác động của quá trình ấy đối với nền y học cũng như kinh tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những hoạt động của các giáo sĩ phương Tây ở Việt Nam trên lĩnh vực y học (thế kỷ XVI – XIX)
* Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu về những hoạt động của các giáo sĩ phương Tây trên lĩnh vực y học ở Việt Nam trong khoảng từ thế kỷ XVI – XIX Tác giả chỉ nghiên cứu đến khoảng thời gian năm 1884, sau khi triều đình ký hiệp
Trang 9ước Pa – tơ - nốt Vì đến khoảng thời gian này vai trò của các giáo sĩ dường như không còn, chuyển giao vao trò cho chính quyền Pháp
- Về không gian: trên lãnh thổ nước ta từ thế kỷ XVI – XIX
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Khóa luận này nghiên cứu về những hoạt động của các giáo sĩ phương Tây trên lĩnh vực y học thế kỷ XVI – XIX, nhằm làm rõ những hoạt động của các giáo sĩ trong lĩnh vực y học, cụ thể là việc chăm sóc sức khỏe cho triều đình và nhân dân, quá trình truyền bá những kiến thức y học phương Tây, tạo tiền đề cho quá trình du nhập nền y học phương Tây hiện đại sau này, qua đó, góp phần hiểu thêm về nền y học Việt Nam từ thế kỷ XVI – XIX
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu bối cảnh kinh tế xã hội và sự phát triển của y học ở phương Tây, Việt Nam thế kỉ XVI – XVII
- Tìm hiểu những hoạt động chăm sóc sức khỏe cho triều đình, nhân dân, xây dựng cơ sở khám chữa bệnh, truyền bá kiến thức y học phương Tây vào Việt Nam
từ thế kỉ XVI – XIX
5 Nguồn tư liệu và Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
- Tư liệu chính:
+ Các bộ sách (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Minh Mệnh chính
yếu…) Đây được coi là nguồn tài liệu gốc quan trọng nhất phục vụ cho khóa luận
Bộ sách này đã ghi chép nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, lời dụ của các vị vua triều Nguyễn
+ Các ghi chép, mô tả, du ký của các thương nhân, nhà du hành, nhà truyền
giáo phương Tây đến Đại Việt như công trình Những người bạn cố đô Huế (Nxb
Trang 10Thuận Hóa), Hải ngoại ký sự (Viện Đại học Huế, 1963) của nhà sư Thích Đại Sán đến Đàng Trong năm 1695; Xứ Đàng Trong năm 1621, (Nxb TPHCM) của nhà truyền giáo C Borri; Xứ đàng trong kinh tế xã hội thế kỷ XVI – XVIII của Litana,
Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 – 1793) của J.Barrow, cùng công trình Hành trình và truyền giáo (Tủ sách Đại đoàn kết Thành phố Hồ Chí Minh, 1994)
của A.Rhodes; hay Những người châu Âu ở nước An Nam (Nxb Thế giới, 2006)
của tác giả Chales Maybon…
+ Báo chí đương thời, tư liệu trực tiếp trong phạm vi giới hạn thời gian, nghiên cứu của đề tài
- Tài liệu nghiên cứu: Các sách đã xuất bản, các bài tạp chí nghiên cứu có liên quan đến vấn đề
- Nguồn tài liệu khác: Các website…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài “ Hoạt động của các giáo sĩ phương Tây ở Việt Nam trên lĩnh vực y học thế kỷ XVI – XIX”” tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp chính được sử dụng trong quá trình nghiên cứu Ngoài ra còn có phương pháp như sưu tầm, phân tích tài liệu, so sánh, đối chiếu và mô tả Trong quá trình nghiên cứu, thường xuyên
có sự kết hợp giữa các phương pháp
6 Đóng góp của đề tài
Việc lựa chọn “Hoạt động của các giáo sĩ phương Tây trên lĩnh vực y học từ
thế kỉ XVI - XIX” làm đề tài khóa luận, tôi mong muốn đóng góp một cái nhìn cụ
thể về những hoạt của các giáo sĩ phương Tây trên lĩnh vực y học trong lịch sử cũng như những vai trò của y học phương Tây trong sự nghiệp cứu chữa bệnh ở Việt Nam
Trang 11Đề tài có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo của các bạn sinh viên
Mặt khác, việc nghiên cứu lần này giúp cho việc học tập, nghiên cứu lịch sử của học sinh, sinh viên trong giai đoạn đổi mới Bên cạnh đó, giúp ta thấy rõ được tầm quan trọng của y học phương Tây trong quá trình phát triển của y học nước nhà
Đề tài cũng có một cái nhìn cụ thể, rút ra những đánh giá nhận xét khách quan
về những đóng góp của các giáo sĩ đối với quá trình phát triển của y học nước ta
7 Bố cục của công trình nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu chia làm 2 chương:
Chương 1: Bối cảnh kinh tế xã hội, phát triển của y học ở phương Tây và Việt Nam thế kỷ XVI – XVII
Chương 2: Giáo sĩ phương Tây với các hoạt động y học ở Việt Nam thế kỷ XVI – XIX
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA Y
HỌC Ở PHƯƠNG TÂY, VIỆT NAM THẾ KỶ XVI - XVII
1.1 Tình hình kinh tế - xã hội, y học ở phương Tây trong các thế kỉ XVI -
XVII
1.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội ở phương Tây thế kỷ XVI – XVII
Trước thế kỷ XV, mối quan hệ mậu dịch giữa Tây Âu và phương Đông đã có sự phát triển rất lớn Hàng hóa quý giá ở phương Đông như hương liệu (gia vị), đồ trang sức bằng đá quý, mỹ phẩm và hàng tơ lụa… ngày càng được sử dụng rộng rãi trong giới thượng lưu và quý tộc Tây Âu Ví dụ vào thế kỷ XIII, lượng hàng hóa từ phương Đông đưa đến châu Âu đã nhiều gấp mười lần so với thế kỷ thứ XII Những loại hàng hóa nói trên là do các thương nhân người Ảrập, Ba Tư và Byzantine vận chuyển đến vùng biển Tiểu Á hoặc Đông Âu, rồi do những thương nhân người Pháp và những thương nhân người Tây Ban Nha ở phía đông Bắc của nước này tiếp tục vận chuyển vào Tây Âu [21; tr 511 – 512] Những thương nhân trung gian này đã thu lãi rất lớn nhờ cách buôn bán đó
Giữa thế kỷ thứ XV trở về trước, các thương gia thường theo ba con đường chủ yếu
để vận chuyển hàng hóa từ Đông sang Tây Thứ nhất là con đường bộ xuất phát từ
vùng biển Tiểu Á, men theo Biển Hắc Hải, biển Caspian (Lý Hải) để đi Trung
Quốc và Ấn Độ Hai con đường còn lại chủ yếu là đi trên biển nhưng cũng có đoạn
đi bằng đường bộ Một trong hai con đường này xuất phát từ Syria, đến lưu vực Lưỡng Hà rồi tiếp tục xuống vịnh Ba Tư Từ đó theo con đường biển đến Ấn Độ và Trung Quốc Con đường biển thứ hai từ thành phố Alexandria (Ai Cập) ra Biển ỏ, rồi vượt Ấn Độ Dương đến Ấn Độ và Trung Quốc [21; tr 511 – 512]
Qua những thông tin mà người châu Âu thu nhận được lúc bấy giờ, họ cho rằng
phương Đông là nơi hết sức trù phú, hoa lệ Ở Trung Quốc và Ấn Độ, “khắp mặt
đất đều là vàng, còn các loại hương liệu thì ngoài đồng nội đâu đâu cũng có” [21;
tr 513] Điều đó, tạo nên sức hấp dẫn lớn đối với tầng lớp trên của xã hội Tây Âu lúc bấy giờ Họ quyết tâm ủng hộ một số người có tinh thần mạo hiểm muốn vượt
Trang 13biển đi xa, để qua đó sẽ cướp đoạt được nhiều vàng Các lãnh chúa, các kỵ sĩ, các giáo sĩ và các nhà hàng hải, ai cũng ôm “giấc mộng vàng” Engels nhận xét: “Cái
mà người Bồ Đào Nha đi tìm trên bờ biển châu Phi, ở Ấn Độ và cả biển Đông chính là vàng Vàng như một thứ thần chú thúc đẩy người Tây Ban Nha vượt qua Đại Tây Dương đến châu Mỹ; vàng là vật đầu tiên mà người da trắng muốn tìm khi bước chân lên bờ biển nơi họ vừa phát hiện được” [21; tr 514]
Cuối thế kỷ XV, chế độ phong kiến ở một số quốc gia Tây Âu bắt đầu khủng hoảng Những quý tộc phong kiến bị phá sản về mặt kinh tế cũng như bị nợ nần, phong trào nhân dân nổi dậy chống phong kiến ngày càng cao, khiến một số vương công quý tộc phong kiến ngày càng tìm cách xâm chiếm lãnh thổ mới, bành trướng
ra ngoài để qua đó thoát khỏi hoặc làm dịu bớt tình trạng khủng hoảng, nhằm đánh lạc hướng nhân dân trong nước Mục đích thám hiểm những vùng đất xa xôi của họ
là để cướp đoạt chiến lợi phẩm hoặc để thiết lập những nhượng địa nhằm tiến hành trao đổi buôn bán
Nhân tố tôn giáo trong việc “phát hiện” những vùng đất mới là mục đích lớn
trong việc tìm kiếm những nhượng địa ở phương Đông Sự thất bại của các cuộc Thập tự chinh trong những cuộc ông chinh đã khiến Tòa thánh mất dần những nơi
mà trước đây thuộc đặc quyền của Tòa thánh Hồi giáo phát triển rất nhanh, nên Giáo hội Rome cũng muốn nhanh chóng chiếm lại những vùng đất trước đó và mở rộng hơn quá trình truyền bá đạo công giáo trên toàn thế giới
Bên cạnh đó, sức sản xuất trong xã hội phát triển, tri thức địa lý được mở rộng,
kỹ thuật đóng tàu tiến bộ, họ đã đóng được nhiều tàu bè, nhiều kiểu tàu mới gọn nhẹ, nhiều cột buồm lớn, tốc độ nhanh, khoang thuyền rộng để đi biển dài ngày Kim chỉ nam do người Trung Quốc phát minh được người Ảrập truyền vào châu
Âu thế kỷ XIV nay cũng được ứng dụng rộng rãi vào kỹ thuật đi biển
Người Bồ Đào Nha không chỉ dong thuyền đi biển và lập ra hải đồ mà họ còn buôn bán và chinh phục những vùng đất mới Việc xây dựng các cứ điểm của Bồ
Trang 14ào Nha tại các vùng ven biển châu Phi và châu Á, liên quan đặc biệt đến bước đầu thời kỳ khai thông hàng hải của Tây Âu và mở rộng phạm vi ảnh hưởng đạo Kitô
Những động cơ chính của Bồ Đào Nha là “lòng nhiệt thành tôn giáo”, “buôn bán
hương liệu” và “chinh phục những vùng đất mới” Trên thực tế, người Bồ ào Nha
quan tâm đến buôn bán thu lợi nhiều hơn là chinh phục đất đai Ở thế kỷ XVI, khoảng một vạn người ở các thuộc địa hải ngoại, việc Bồ Đào Nha làm chủ những vùng đất ven biển chứ không phải toàn bộ Ấn Độ, nên “Estada da India” chỉ được hiểu là một chuỗi thương điếm thương mại của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ
Như vậy, động cơ của các cuộc thám hiểm này là tìm kiếm lợi nhuận thương mại nhiều hơn là tham vọng chính trị hoặc quân sự, lý do tôn giáo cũng được đề cao, vì thế có thể nhận xét rằng “thánh giá và hương liệu” là động cơ chính của Bồ Đào Nha trong bước đường sang phương Đông
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngay từ ban đầu là hai quốc gia đi đầu trong việc tìm kiếm những vùng đất mới ở châu Mỹ, Phi, Á và Đại Dương và cũng là quốc gia xác lập và xây dựng những đế quốc thực dân đầu tiên Theo tinh thần của hiệp định Tordesillas 1494, Bồ Đào Nha chiếm giữ ưu thế ở phương Đông và Tây Ban Nha
có ưu thế ở phương Tây Trên bước đường hình thành đế quốc thực dân của mình, vào năm 1511, Bồ Đào Nha chiếm eo biển Malacca và đảo Java án ngữ con đường buôn bán Ấn Độ - Trung Quốc Tiếp tục tiến sâu lên phía Bắc, người Bồ tới Macao (Trung Quốc) [51, tr.99] Từ đó, thông qua con đường hàng hải Malacca – Macao, các thuyền buôn Bồ Đào Nha bắt đầu tiếp xúc với các điểm buôn bán của Việt Nam
Tuy nhiên, vào năm 1581, nước cộng hòa Hà Lan ra đời Không bao lâu sau,
Hà Lan trở thành cường quốc hàng hải đứng đầu thế giới Họ tìm đường sang Đông
Ấn thu mua gia vị, hương liệu và thu được ở thị trường này những món lợi nhuận khổng lồ Từ năm 1602, với sự thành lập của công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC), chính quyền Hà Lan có đại diện chính thức ở phương Đông Cho tới đầu thế kỷ XVII, họ đã lập được các thương điếm ở Tích Lan (hay Celon tức Sri Lanca), Xiêm
La, Nhật Bản, Nam Dương và có địa vị thương mại áp đảo người Bồ Đào Nha
Trang 15Trước khi VOC ra đời, năm 1601, người Hà Lan đã tới Đàng Trong Năm 1637, họ đến Đàng Ngoài, đặt thương điếm và tiến hành buôn bán với cả hai miền trong thế
kỷ XVII [50]
Sau người Bồ Đào Nha và Hà Lan, người Anh và Pháp cùng phát triển và bành trướng ảnh hưởng thế lực của họ ở phương Đông Từ năm 1664, Công ty Đông Ấn Pháp (CIO) được thành lập và bắt đầu xây dựng nhiều căn cứ thương mại
ở Ấn Độ như Surate, Chandernagor, Pondichéry Con đường vào Việt Nam của người Pháp được mở ra bắt đầu từ những giáo sĩ truyền giáo Trong thập kỷ 70 của thế kỷ XVII, các thương nhân Pháp phối hợp chặt chẽ với các giáo sĩ để buôn bán ở Việt Nam [14 Nhìn chung, tuy là những người đến sau, song người Pháp lại tìm mọi cách cạnh tranh với người Bồ Đào Nha và sau rất nhiều nỗ lực cạnh tranh, họ
đã đạt được kết quả đáng kể
Như vậy, trong thế kỷ XVI – XVII, sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa cùng với sự ra đời và ngày càng lớn mạnh của giai cấp tư sản đã tạo nên những chuyển biến quan trọng tới tình hình kinh tế - xã hội châu Âu Nhu cầu phát triển kinh tế nội tại đã thúc đẩy các nước phương Tây tiến hành các cuộc phát kiến lớn
về mặt địa lý để tìm đến thế giới phương Đông Đây được xem như một xu thế phát triển tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội mới tư bản chủ nghĩa
Chính khát vọng tìm đến thế giới phương Đông đã tạo cơ hội và là chất xúc tác cho sự phát triển và nở rộ của các tri thức khoa học, kỹ thuật, đặc biệt trên lĩnh vực hàng hải trong thế kỷ XVI - XVII Đồng thời, sự ra đời hàng loạt các công ty Đông Ấn của các nước châu Âu kể từ thế kỷ XVII là một xu thế phản ảnh nhu cầu
mở rộng thị trường với khu vực Đông bán cầu Trong các quốc gia phương Tây nổi bật vai trò của những người Hà Lan, Anh và Pháp Họ chính là các thế lực tư bản theo đuổi công cuộc chinh phục Đông Á và Việt Nam để tìm kiếm nguyên liệu, thị trường, mở mang thuộc địa, nuôi tham vọng trong cuộc đua bành trường đế chế Trong cuộc đua đó, một cách ngẫu nhiên hay cố ý, các thành tựu trên lĩnh vực y học của họ đã được truyền bá đến các nước phương Đông và trong một chừng mực nhất định đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế - xã hội của các nước này
Trang 161.1.2 Khái quát sự phát triển của y học phương Tây trước thể kỷ
XX
Y học là một lĩnh vực khoa học ứng dụng liên quan đến nghệ thuật chữa bệnh, bao gồm nhiều phương pháp chăm sóc sức khỏe nhằm duy trì, hồi phục cơ thể từ việc phòng ngừa và chữa bệnh Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng lịch sử
y học có thể đã ra đời cùng với lịch sử phát sinh bệnh tật và lịch sử người thầy thuốc Trong hang Ba anh em (La Grotte des Trois Frères) người ta đã tìm được bức vẽ cách đây khoảng 17 ngàn năm mô tả một phù thủy đầu hưu đang chữa bệnh
Đó là những dấu tích đầu tiên chứng minh lịch sử phát triển của y học trong hàng ngàn năm qua
Y học phát triển theo năm tháng và theo vùng, nhanh hay chậm tùy theo sự phát triển của nền văn hóa, kinh tế, văn minh và đặc điểm của từng dân tộc Có nhiều
cách phân tích lịch sử y học thế giới: phân tích theo vùng, phân tích theo thời gian,
phân tích dựa theo sự tiến bộ của các phương pháp tiếp cận và nghiên cứu phát triển của ngành Y học Phương pháp cuối này đơn giản và rõ ràng hơn Theo phương pháp phân tích này, các nhà nghiên cứu phân tích lịch sử y học thế giới thành 4 giai đoạn
Giai đoạn thứ nhất Y học Tâm Linh (Spiritism Medicine) Vào đầu thời La Mã
cổ đại, người Hy Lạp cổ tin rằng bệnh tật là "sự trừng phạt của thánh thần" và chữa bệnh là một "món quà từ các vị thần".Người ta nhận ra rằng tâm trí đóng một vai trò quan trọng trong chữa bệnh, và nó cũng có thể là căn nguyên duy nhất của bệnh Vào thời kỳ xa xưa đó, nền y học La-Hy mang nhiều tính chất thần thoại Mỗi khi mắc bệnh, người La Mã đến đền thờ cầu khẩn các vị thần linh: Minerva, Diana, Hygiea
Tại vùng Lưỡng Hà và Ai Cập, vào thời kỳ cổ đại, trong khoảng thời gian 3500 – 1500 năm trước CN đã phát triển nền y học sơ khai Trong nền y học sơ khai này, siêu nhiên có mặt trong tất cả các khía cạnh bệnh tật và chữa bệnh: Bệnh tật và tai họa đều được gán cho các tác nhân siêu nhiên: thần thánh, ma quỷ… Trong thời kỳ này việc chẩn đoán, phòng ngừa, điều trị bệnh đều cần đến ma thuật, cúng kiến, cầu khẩn…Nguyên nhân của bệnh tật đều được cho là do ma quỷ, thần thánh, thần
Trang 17linh… Các phù thủy, shaman (người lên đồng), thầy pháp là những người đứng ra phù phép, cúng kiến… để “chữa bệnh’ cho mọi người trong vùng [35]
Ở phương đông vùng Ấn Độ có rất ít tài liệu ghi lại Kinh Vệ Đà có ghi lại những tài liệu được soạn ra trong khoảng 1500 – 1000 trước CN cho thấy những thầy thuốc, được xem như thần thánh, chiến dấu chống lại ma quỷ, cử hành những nghi thức thần bí chống lại bệnh tật, dịch bệnh Tại Trung Quốc, các nhà nghiên cứu không tìm thấy lài liệu nào về sự phát triển y học trong giai đoạn này Họ chỉ tìm được các dấu vết rất nhạt nhòa trong các câu chuyện được truyền tụng trong dân gian
Y thuật tâm linh (YTTL) là hiện tượng chữa bệnh dựa vào các quyền lực thần
bí Trong thời kỳ này, người ta tin rằng bệnh là do sự quở phạt của thần linh Khi
có bệnh người ta nhờ cậy vào “thầy Mo”, “thầy cúng” cầu thần linh cho khỏi bệnh Lịch sử y học trong giai đoạn này được ghi lại rất ít, mơ hồ Những tiến bộ về
y học trong thời kỳ này phát triển tại những vùng cách nhau và biệt lập Do không
có nhiều trao đổi thông tin, không có trường dạy về y học nên trong thời gian dài sự tiến bộ không nhiều và không đồng bộ
Ngày nay vẫn còn nhiều nơi trên thế giới tồn tại giai đoạn y học này, trong đó
có Việt Nam.Y học trong giai đoạn này kém hiệu quả do dựa trên cơ sở mê tín nên trong thời gian dài không có tiến bộ đáng kể Dần dần nó được thay thế bởi nền y học tến bộ hơn, hiệu quả hơn, đó là Giai đoạn Y học kinh nghiệm Sự thay thế này diễn ra trên những vùng riêng biệt và nhờ vào một số nhân vật xuất chúng, tự phát
ở mỗi nơi
Giai đoạn thứ hai, Y học Kinh Nghiệm (Empiric Medicine) Đây là giai đoạn
mà các thầy thuốc thông minh xuất chúng ở rải rác nhiều nơi trên thế giới tự mình tích lũy kinh nghiệm, đưa các kinh ghiệm ấy vào việc khám, chữa bệnh làm cho việc điều trị có hiệu quả hơn Họ quan sát, tích lũy kinh nghiệm và chữa bệnh dựa vào kinh nghiệm cá nhân hay được truyền lại Giai đoạn này phát triễn mạnh mẽ ở
vùng Trung - Ấn
Trong giai đoạn này người ta chỉ thuần túy dựa vào kinh nghiệm để chẩn đoán
và điều trị Các thầy thuốc ghi nhận: Người bệnh đau gan thì bị vàng da Khi bị
Trang 18vàng da (đau gan) thì uống thuốc A sẽ giảm Thầy thuốc không lý giải được vì sao đau gan lại vàng da, hoặc một số thầy thuốc tìm cách giải thích theo suy nghĩ của mình (không chắc là đúng hay không) Vả lại đây chỉ là kinh nghiệm cá nhân trên một số trường hợp nên dễ chủ quan và sai lệch
Y học kinh nghiệm được ghi nhận từ lâu, trong nhiều nền văn minh cổ như Ấn
Độ, Ai Cập, Hy Lạp hay Trung Hoa
Đối với y học cổ vùng Lưỡng Hà, ở thời kỳ này người ta đã biết một số bệnh do muỗi truyền Dược phẩm được dùng ở thời kỳ này là tỏi, hạt cải, mướp đắng, lưu huỳnh và cà độc dược
Đối với y học cổ Trung Quốc, châm cứu đã được hình thành và phát triển với sự
ra đời của thuyết âm dương, ngũ hành Nhiều tác phẩm y học nổi tiếng như Thần nông bản thảo và Hoàng đế nội kinh ra đời trong giai đoạn này Nội kinh là cuốn sách liệt kê các lý luận và thực hành y học Các danh y đời Hán thời đầu công nguyên cho ra đời cuốn sách Thần nông bản thảo kinh Sách tổng hợp các loại dược liệu, gồm 365 vị thuốc bổ và thuốc chữa bệnh như ma hoàng chữa bệnh hen, thuỷ ngân chữa bệnh ngoài da
Hoa Đà (145-208), là một thầy thuốc nổi tiếng cuối thời Đông Hán và đầu thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc Ông được xưng tụng như một Thần y nổi tiếng không chỉ trong Trung Quốc mà cả trong các nước đồng văn hóa như Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc, được xem là một trong những ông tổ của Đông Y Ông cùng Đổng Phụng và Trương Trọng Cảnh được xưng tụng là Kiến An tam Thần y Biển Thước, là một thầy thuốc trứ danh thời Chiến Quốc và được xem là một trong những danh y đầu tiên được ghi chép sớm nhất trong các thư tịch của lịch
sử Trung Quốc Tương truyền ông chính là người khai sinh ra phương pháp bắt mạch, là người đặt tiền đề quan trọng cho Đông y Do tiếng tăm và các điển tích thần kỳ, về sau Biển Thước cùng Hoa Đà, Trương Trọng Cảnh và Lý Thời Trân được hậu thế xưng tụng “Trung Quốc cổ đại Tứ đại danh y” Tác phẩm của ông còn
có “Biển Thước nội kinh”, “Biển Thước ngoại kinh” và “Nạn kinh”
Giai đoạn thứ ba, Y học cổ La Mã, Hy Lạp xuất hiện Claudius Galenus (129 – 200/217), hay còn gọi là Galen là một thầy thuốc và nhà triết học nổi tiếng người
Trang 19La Mã gốc Hy Lạp và có lẽ là nhà nghiên cứu y học tài ba nhất của thời La Mã Các học thuyết của ông đã chi phối và ảnh hưởng đến y họcphương tây hơn một thiên niên kỷ Giải thích của ông về y học giải phẫu được thực hiện trên khỉ (do việc giải phẫu người không được phép thực hiện vào thời đó), nhưng nó không được chú ý nhiều cho đến khi những bản in miêu tả và minh họa về giải phẫu người được Andreas Vesalius xuất bản năm 1543 Giải thích của ông về các hoạt động của tim, động mạch và tĩnh mạch kéo dài cho đến khi William Harvey đưa ra năm
1628 rằng máu tuần hoàn trong cơ thể với tim hoạt động như một máy bơm Đến thế kỷ 19 các sinh viên y học vẫn tìm hiểu về Galen để học tập một số quan điểm của ông Galen đã thực hiện một số thí nghiệm thắt dây thần kinh để lý giải cho học thuyết rằng não điều khiển mọi chuyển động của cơ liên quan đến hệ thần kinh ngoại biên và sọ Galien (131-205) có nhiều đóng góp cho nghiên cứu giải phẫu hệ
cơ, xương, khớp, thần kinh
Giai đoạn thứ tư, Y học Khoa Học (Scientific Medicine) hay Y học Thực Nghiệm (Experimental Medicine) Hyppocrate (460-377 TCN) được xem là tổ sư của ngành y mà kế thừa ngày nay là y học phương Tây hay Tây y Ông là một trong những người có công lao về y học và có thể coi là người sáng lập ra y học thực nghiệm Ông cũng được ghi nhận như người đầu tiên thành lập trường y khoa, cũng
là người soạn ra lời thề Hippocrates (về sau được Celsus bổ sung) Galen đã đặt nền tảng phát triển cho lý luận y khoa Sau khi đế chế La Mã sụp đổ và bắt đầu thời Trung Cổ, các lương y trong thế giới đạo Hồi đã kế tục và tạo nên bước đột phá lớn cho ngành y nhờ được hỗ trợ từ bản dịch sang tiếng A rập các công trình của Hippocrates và Galen Nhiều lương y tiên phong nổi tiếng là người A Rập, như ông Avicenna được gọi là "tổ sư y học hiện đại", ông Abulcasis là tổ sư ngành phẫu thuật, ông Avenzoar là tổ sư ngành phẫu thuật thực nghiệm, ông Ibn al-Nafis và ông Averroes là tổ sư ngành sinh lý học tuần hoàn (circulatory physiology), ông Rhazes sáng lập ngành nhi khoa Họ vẫn còn để lại ảnh hưởng cho y học phương Tây đến thời Trung đại Hyppocrate và các học trò đã biết bệnh lao, ung thư, thiếu máu, bướu cổ, “bệnh xanh mét của phụ nữ”, sỏi mật, ứ máu, động kinh, các chứng liệt, hysteria, rối loạn tâm thần, bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, gan, lách, thận, tiết
Trang 20niệu, sinh dục, xương, da, tai mũi họng, dị ứng do thức ăn Hyppocrate là một nhà phẫu thuật, đã mổ và chữa gẫy xương, nắn sai khớp, chữa vết thương đầu Dụng cụ phẫu thuật rất phong phú: dao mổ, que thăm dò, muổng nạo Về thuốc: dùng thuốc phiện, cà độc dược, thuốc ngủ, an thần, muối chì, muối acid, muối đồng, thuốc mỡ
để điều trị
Đến thời Phục hưng, các nhà y học bắt đẩu xem xét lại những quan điểm y học
từ thời xưa còn đang lưu truyền, đồng thời nêu lên rất nhiều phương pháp và lý luận mới có liên quan đến tính chất cơ thể của con người và cách chữa bệnh Nhà phẫu thuật Vêxaliút (1514 – 1564) người Hà Lan đã sáng lập ra khoa giải phẫu học Năm 1543, ông xuất bản cuốn Cấu tạo của cơ thể người, trong đó mô tả rất kỹ lưỡng xương, mạch, nội tạng, não….của con người Sécvê (1509 – 1553), một thầy thuốc Tây Ban Nha và Uyliam Havi (1578 – 1657) người Anh là những người phát hiện ra sự tuần hoàn của máu trong cơ thể Năm 1553, Sécvê đã xuất bản cuốn sách
Sự phục hưng của đạo Cơ Đốc, trong đó trình bày thuyết tuần hoàn về máu giữa tim và phổi của ông Năm 1628 Havi cho in cuốn Hoạt động của tim và máu động vật, trong đó ông dùng thực nghiệm để chứng minh máu động vật tuần hoàn liên tục và lực đẩy của máu là do sự co bóp của tim Năm 1651, Havi cho xuất bản một cuốn sách: Về sự hình thành của động vật, đây là cuốn sách phôi học có giá trị nhất thời đó [2,tr.370]
Bước sang thế kỉ XIX Claude Bemard (1813-1873) sáng lập y học thực nghiệm, thống nhất sinh lý học, bệnh học và điều trị học Ông đã nghiên cứu thần kinh giao cảm, chức phận tạo đường của gan, vai trò của dịch tụy trong tiêu hóa
Về quan điểm và phương pháp của mình, ông viết: "Biết và chưa biết là 2 thái cực khoa học cần thiết" Ông cũng đã nhấn mạnh mối liên quan giữa cơ thể và môi trường Louis Pasteur (1822-1895) nhà hóa học, nhà vi khuẩn học đầu tiên Năm
1879, Pasteur cô lập và nuôi cấy liên cầu khuẩn Pasteur thấy rằng bệnh dại lây nhiễm nhờ một tác nhân nhỏ không tìm thấy dưới kính hiển vi, nhờ đó mở ra thế giới phát hiện ra virus Kết quả là ông đã triển khai được kỹ thuật tiêm vaccin cho chó chống bệnh dại và điều trị cho người bị chó dại cắn Davaine (1812-1882) và Rayet (1793-1863) năm 1850 tìm ra trực khuẩn than Năm 1880 Eberth tìm ra trực
Trang 21khuẩn thương hàn Robert Koch (1843-1910) năm 1884 tìm ra trực khuẩn lao Calmette (1863-1933) và Guérin năm 1921 tìm ra vaccin BCG chủng lao Louis Pasteur (1822) phát hiện ra tụ cầu và liên cầu năm 1890 Năm 1865 Mendel (1822-1884) thí nghiệm về lai thực vật
Như vậy, lịch sử phát triển của Y học thế giới từ thời kỳ cổ đại đến thế kỉ XIX
đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển Sự phát triển của Y học chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: tập quán vùng miền, tâm - sinh lý của dân tộc, chế độ chính trị, sự biến đổi của lịch sử, kinh tế, sự phát triển của khoa học, công nghệp Trong thế kỷ XVII, cùng với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản, các tri thức khoa học, kỹ thuật cũng nở rộ và đạt được nhiều thành tựu đáng kể trên hầu hết các lĩnh vực, trong đó có y học Đây chính là tiền đề cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra ở Anh thế kỷ XVIII Các tri thức về khoa học và kỹ thuật hàng hải, quân sự…và các thành tựu khác đã mô hình chung thúc đẩy nhanh chóng sự suy tàn của chế độ phong kiến, mở ra chân trời mới cho chủ nghĩa tư bản phát triển Sau thành công của các cuộc phát kiến lớn về mặt địa lý, các tri thức khoa học, kỹ thuật châu Âu theo chân các thương nhân và các giáo sĩ phương Tây đã được lưu truyền tới khắp nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam
1.2 Tình hình kinh tế - xã hội, y học Việt Nam
1.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVI – XVII
* Chính trị - xã hội
Thế kỷ XVI – XVIII là một giai đoạn đầy biến động trong lịch sử Việt Nam Cái chết của vua Lê Thái Tông vào năm cuối cùng của thế kỷ XVI đã cho thấy sự suy tàn của một triều đại nổi tiếng, nhà Hậu Lê, hiện thân của nền quân chủ Việt Nam đạt tới tuyệt đỉnh Đồng thời, khởi đầu của một thời kỳ đấu tranh công khai giữa hai thế lực để giành ưu thế chính trị, đưa đất nước vào cục diện phân tranh phức tạp giữa hai miền Nam Bắc [39, tr.21]
Cuối thế kỷ XV – đầu thế kỷ XVI, sau một thời gian phát triển cực thịnh, triều Lê sơ (1428 – 1527) đã đi vào suy yếu, tình hình chính trị - xã hội trở nên rối loạn, nội bộ triều đình chia thành nhiều phe phái, vua quan ăn chơi sa đọa, không
Trang 22quan tâm đến triều chính: “Năm 1504, Hiến Tông vì ham nữ sắc quá nhiều chết sớm” [96,tr.338] Từ vua Lê Uy Mục trở đi (1505 – 1509), cơ nghiệp nhà Lê mỗi ngày một suy yếu dần, nhà vua thì say đắm tửu sắc, các quan hà hiếp dân sự, giặc
giã trộm cắp nổi lên khắp nơi” Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Dưới thời vua Lê Uy
Mục (1505 – 1509): “Vua đêm nào cũng cùng cung nhân uống rượu vô độ Khi say thì giết cả cung nhân” Lê Tương Dực (cp: 1510 – 1516): “Nhà vua thì xa hoa dâm dục quá độ, hình phạt nặng, thuế khóa nhiều, giết hết các thân vương, can qua xảy
ra khắp nơi, người thời bấy giờ gọi là Vua lợn” [56; tr.38-76] Những mâu thuẫn bên trong bắt đầu bộc lộ đã dẫn đến sự phân chia thành các phe phái đối lập và cùng với đó là cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt
Cuộc khủng hoảng chính trị của nhà Lê đã khiến cho mâu thuẫn trong nước trở nên trầm trọng và chiến tranh giữa các phe cánh thường xuyên diễn ra, nhân dân nổi dậy ở khắp nơi Năm 1527, Mạc Đăng Dung (1527 – 1529) bức vua Lê phải nhường ngôi, lập ra nhà Mạc Trong khoảng thời gian gần 10 năm đầu dưới triều Mạc: “trộm cướp biệt tăm, người đi buôn bán chỉ đi tay không…Mấy năm liền được mùa, nhân dân 4 trấn đều được yên ổn” [16,t r.276] Tuy nhiên, sự ổn định đó không tồn tại lâu dài Mặc cho nhà Mạc nỗ lực tổ chức lại bộ máy triều chính, nhà Mạc vẫn vấp phải sự phản ứng kịch liệt của nhiều quan lại cũ cùng nhiều bộ tướng dưới vương triều Lê Sự nổi dậy liên tục của nhiều bộ tướng nhà Lê chống lại nhà Mạc Tiêu biểu nhất là Nguyễn Kim, đã dẫn đầu trong phong trào phục hưng lại nhà
Lê, ông là người đã có công chấn hưng nhà Lê bằng cách đưa vua Lê Trang Tông lên ngôi, thành lập một triều đình mới của nhà Lê ở Thanh Hóa [,tr.343] Bối cảnh chính trị phức tạp này tạo ra một cục diện chính trị mới: sự tồn tại song song của hai vương triều: Lê – Mạc kéo theo cuộc nội chiến Nam – Bắc triều kéo dài 50 năm Cuộc nội chiến này đã tạo ra “bao cảnh đau thương, chết chóc, đầy hàng chục vạn trai tráng vào cảnh chém giết lẫn nhau, tàn phá mùa màng, gây nên hàng loạt trận đói 1557, 1559, 1570, 1571….” [46; tr.343]
Nhà Lê ở Thanh Hóa thành lập chưa bao lâu thì Nguyễn Kim mất, Trịnh Kiểm lên thay Năm 1592, dưới danh nghĩa khôi phục nhà Lê, quân Trịnh (đứng
Trang 23đầu là Trịnh Kiểm) tiến vào Thăng Long, giành thắng lợi quyết định và cơ bản kết thúc cục diện Nam – Bắc triều Thắng lợi này lại đưa đất nước rơi vào cục diện một chế độ, hai chính quyền Vua Lê chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trên thực tế, nhà Lê trị
vì nhưng không cai trị, mọi quyền cai trị đều chuyển sang tay họ Trịnh: “Từ năm
1599 trở về sau, họ Trịnh cứ thế tập làm Vương hay Chúa, gia tăng thế lực một cách không giới hạn, mở phủ riêng, nắm toàn bộ hàng quan lại, đặt lên ngai hay hạ
bệ ngay cả vua” [ 39; tr.22]
Trước những cuộc đấu tranh chính trị phức tạp trong chính quyền nhà Lê, để khỏi phải thần phục họ Trịnh và để bảo toàn sự sinh tồn của mình, từ năm 1558, Nguyễn Hoàng (1524 – 1613) buộc phải rời khỏi Đàng Ngoài vào trấn thủ Thuận Hóa, giúp chúa Trịnh ổn định biên giới phía Nam của Đại Việt Trong suốt quãng thời gian từ năm 1558 đến năm 1570, Nguyễn Hoàng đã ra sức tổ chức vùng biên giới vừa mới được bình định nhưng chưa được khai phá nhiều thành một vương quốc mà sau này hậu duệ của ông tiếp tục củng cố và mở rộng Đặc biệt, trong thời gian này, Nguyễn Hoàng và cả các triều đại về sau đều không ngừng củng cố việc cai trị, tập luyện binh sĩ, rèn vũ khí để đối phó với cuộc đụng độ không thể tránh khỏi với họ Trịnh
Việc từng bước ly khai khỏi thế lực họ Trịnh của các chúa Nguyễn đã tạo ra mâu thuẫn gay gắt không thể dung hòa được giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn và đưa đến cục diện phân tranh Đàng Trong – Đàng Ngoài Sự kình địch
đó càng ngày càng gia tăng và kéo theo cuộc xung đột tất yếu nổ ra vào năm 1627 Trong gần 50 năm tiếp theo (1627 – 1672), có 7 lần hai bên đánh nhau, có lần kéo dài từ năm này qua năm khác, gây tổn thất cho cả hai bên, được đánh giá là cuộc
xung đột “huynh đệ tương tàn” trong lịch sử trung đại Việt Nam
Trong cục diện chiến tranh ác liệt như vậy, các vua chúa phong kiến ở Đàng Trong – Đàng Ngoài đều tranh thủ sự ủng hộ của phương Tây để có phương tiện chiến tranh, kỹ thuật hiện đại Đặc biệt là chúa Nguyễn ở Đàng Trong, ngay từ thời điểm người phương Tây đặt chân đến buôn bán đã có một thái độ cởi mở trong hoạt động thương mại, vừa để phát triển đất nước, vừa để thu mua vũ khí từ nước ngoài
Trang 24Cho nên, nhờ vũ khí của Âu châu, mà trong cuộc giao tranh với quân Trịnh, quân đội nhà Nguyễn đã giành được thế áp đảo Sức công phá mạnh mẽ của hỏa lực phương Tây đã làm suy giảm ý chí, tinh thần chiến đấu của quân Trịnh “ngay từ phút đầu giao tranh, khiến tướng sĩ rối loạn hàng ngũ, cố chạy thoát thân Khi biết được điều đó, Trịnh Tráng đã nhờ đến sự trợ giúp của phương Tây, trong khi hàng chục năm trước, Bồ Đào Nha đã đến mở lò đúc súng cho Đàng Trong, giúp chúa Nguyễn”[12; tr.112]
Bên cạnh khía cạnh kinh tế, cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn kéo dài nửa thế
kỷ đồng thời để lại những hệ quả về mặt quân sự Chính quyền Đàng Trong – Đàng Ngoài trong xu thế đối đầu lẫn nhau đã lựa chọn mở cửa giao thương với ngoại quốc để có được vũ khí từ người Âu Từ những năm cuối của thập niên 20 của thế
kỷ XVII, họ Trịnh đã nỗ lực lôi kéo người Bồ Đào Nha đến Đàng Ngoài nhưng không thành công Từ năm 1637, chúa Trịnh Tráng chuyển sang thiết lập quan hệ với người Hà Lan trong một nỗ lực thu mua vũ khí và tìm kiếm viện trợ quân sự từ Công ty Đông Ấn Hà Lan để chống lại Đàng Trong
Hiện tượng lịch sử đặc biệt đó như một chất xúc tác tạo cơ hội cho các tác nhân mới từ bên ngoài du nhập vào Đại Việt Đó là sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo Phải nói rằng, đạo Thiên chúa giáo du nhập vào Việt Nam trong bối cảnh Nho giáo – bệ đỡ tư tưởng chính thống của Đại Việt thời Lê sơ – sau một thời kỳ dài phát triển huy hoàng đã đi vào giai đoạn suy yếu Cũng trong thế kỷ này, hiện tượng “tam giáo đồng nguyên” (Phật – Đạo – Nho) trở nên phổ biến Hay nói một cách khác đây là thời kỳ phát triển tương đối đồng đều của các tôn giáo sẵn có trong xã hội trước đó Đặc biệt đối với Phật giáo; vua, quan, người dân lại rất sùng đạo Phật và đây được coi là thời kỳ phục hưng của Phật giáo ở Việt Nam; cũng là lúc tín ngưỡng dân gian hòa quyện trong Đạo giáo phát triển mạnh Sự du nhập của Thiên chúa giáo, làm cho đời sống tư tưởng, tôn giáo Đại Việt trở nên đa dạng hơn Việc đạo Thiên chúa dễ dàng bắt nhịp với các dòng tư tưởng, tôn giáo có thể một phần nào đó là do các nhà truyền giáo đã thấu hiểu và dựa vào tâm lý bất mãn của các tầng lớp dân chúng với triều đình phong kiến Vào những năm đầu thế kỷ XVI
Trang 25những giáo sĩ theo các đoàn tàu buôn vào nước ta để tiến hành truyền đạo Tư tưởng của họ là mang “nước chúa” mở rộng ra toàn thế giới, họ mong muốn mở rộng hơn nữa tầm ảnh hưởng của đạo thiên chúa đối với mọi người Đó là những dấu mốc đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện của các giáo sĩ ở Việt Nam
* Kinh tế:
Trong hai thế kỷ XVI, XVII và những thập niên đầu của thế kỷ XVIII, tình hình kinh tế – xã hội thế giới nói chung, ở châu Âu và khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói riêng đã diễn ra nhiều chuyển biến quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến kinh tế – xã hội Đại Việt
Đầu tiên trên lĩnh vực nông nghiệp Nông nghiệp là yếu tố cốt lõi trong nền kinh tế Đại Việt dưới thời phong kiến Do đó, khi mới vào quản lý vùng đất mới, để
có thể khẳng định quyền lực và mở rộng phạm vi lãnh thổ, các chúa Nguyễn đã thực hiện chính sách rộng rãi trong nông nghiệp, quan tâm đến đời sống của mọi tầng lớp nông dân, trong đó chính sách khẩn hoang được coi là thành tựu quan trọng nhất mà chúa Nguyễn đã làm được Tùy thuộc vào từng khu vực, trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau mà cách thức thi hành của chính sách ấy là khác nhau Chính quyền Đàng Trong đã chủ động điều chỉnh dân cư trong khẩn hoang, chủ động tổ chức di dân để ổn định xã hội, qua đó từng bước để xây dựng, củng cố quyền lực và phạm vi lãnh thổ Vì thế chỉ sau một thời gian ngắn, diện tích đất nông nghiệp ở Đàng Trong tăng lên đáng kể, diện tích lãnh thổ cũng không ngừng
mở rộng cả phía Tây, phía Nam và vùng biển đảo
Khai hoang là vấn đề quan trọng trong nông nghiệp, nhưng quản lý và sử dụng thành quả sau khai hoang cũng được xem là yếu tố mang tính quyết định đối với sự phát triển và ổn định của dân cư Các chúa Nguyễn từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Khoát đã giải quyết rất tốt vấn đề ruộng đất, từ việc quản lý phân chia ruộng đất đến chính sách thuế khóa, đảm bảo mọi người dân đều có đất khai thác Tuy nhiên, từ nửa sau thế kỷ XVIII cùng với việc chú trọng xây dựng đô thành Phú Xuân, nạn lộng quyền và cuộc sống hưởng lạc không chăm lo sản xuất của tầng lớp quan lại đã khiến sự chênh lệch ruộng đất và mức sống của người dân ngày càng
Trang 26cao Tầng lớp quan lại thì ăn chơi hết mực, ruộng đất trưng dụng thành ruộng tư ngày càng nhiều, trong khi người dân lại không có mảnh đất cắm dùi, thuế khóa hết sức nặng nề Chỉ có vùng đồi núi xa trung tâm và vùng đất Nam Bộ là nơi chính quyền Đàng Trong chưa thể trực tiếp quản lý nên ruộng đất tư của người dân mới
có điều kiện ra đời
Sự tiến bộ mang tính vượt trội của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đó là sự thay đổi quan điểm trong phát triển kinh tế Trong nông nghiệp không chỉ là trồng trọt, chăn nuôi thuần túy các cây lương thực hay các vật nuôi nhỏ theo lối tự cung
tự cấp mà còn khuyến khích nhân dân trồng các loại cây, nuôi súc vật mang tính hàng hóa Bên cạnh đó còn khuyến khích người dân khai thác nguồn lợi lâm thổ sản
và các nguồn lợi từ biển đảo trở thành những mặt hàng mang lại giá trị cao Điều đó không chỉ giúp Đàng Trong bắt kịp với thời đại thương nghiệp đang phát triển trên thế giới và khu vực mà còn tạo nên diện mạo mới trong kinh tế và đời sống cư dân nơi đây
Để nông nghiệp phát triển thì vấn đề thủy lợi và đời sống dân cư sau khẩn hoang là rất quan trọng Trong khi chính quyền Lê Trịnh ở Đàng Ngoài không quan tâm sâu sát đến đời sống của người nông dân như việc không thấy chính quyền xây đắp hay tu sửa quy mô một công trình thuỷ lợi nào, việc tu bổ đê điều nhà nước khoán trắng cho các ty địa phương, chúa không trực tiếp đôn đốc kiểm tra, dẫn đến
đê điều bị vỡ liên tiếp, quan lại địa phương tham ô, đòi tiền lễ vật của dân và tu bổ cho qua chuyện Ở Đàng Trong các chúa Nguyễn lại chú trọng hơn đến đời sống của nhân dân trong và sau khẩn hoang Đó là việc tận dụng hệ thống thủy lợi của người Chăm, việc khơi lại và đào mới những con sông, kênh rạch nhằm tiêu úng và ngăn ngừa nước mặn xâm lấn do các Chúa trực tiếp quản lý đã chứng tỏ các chúa Nguyễn đã rất quan tâm đến sản xuất nông nghiệp
Thứ hai trên lĩnh vực thủ công nghiệp Thủ công nghiệp ở Đàng Trong hình thành và phát triển chịu ảnh hưởng nhiều bởi những tác động từ điều kiện tự nhiên, nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu của thị trường Nếu như không có sự cấm vận của Trung Quốc và Nhật Bản khiến các thuyền buôn phương Tây phải tìm đến một nơi
Trang 27làm điểm trung chuyển cho hàng hóa của các nước này thì Đại Việt cũng như các bán đảo ở Đông Nam Á khó có cơ hội phát triển rực rỡ như thế kỷ XVII-XVIII Bên cạnh đó là những nhu cầu bức thiết cho quá trình khai hoang và xây dựng cuộc sống nơi vùng đất mới đã đặt ra nhu cầu hình thành và phát triển các nghề thủ công Trước những cơ hội và nhu cầu lớn, các chúa Nguyễn đã đẩy nhanh quá trình sản xuất các mặt hàng thủ công thông qua việc tận dụng lực lượng khai hoang, phục hồi các nghề thủ công của người Chăm, cho phép cư dân các vùng đến cư trú xen kẽ để cùng sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu trong nước và bán cho nước ngoài Thông qua các chính sách khuyến khích và trọng dụng các lực lượng dân cư ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã phát huy được khả năng sáng tạo và thế mạnh của mỗi cộng đồng dân cư trong các nghề thủ công, điều đó đã tạo nên một diện mạo mới trong thủ công nghiệp Đàng Trong Đó là sự phong phú đa dạng trong hình dáng và cách thức sản xuất, sự phóng khoáng và phá cách trong từng đường nét, không còn những sản phẩm mang tính khuân mẫu như Đàng Ngoài
Thủ công nghiệp ở Đàng Trong không chỉ phát triển các nghề thủ công trong dân gian mà thủ công nghiệp trong các quan xưởng do các chúa Nguyễn trực tiếp quản lý cũng rất phát triển Hàng năm vào kỳ tuyển lính, chính quyền chúa Nguyễn
đã thực hiện việc tuyển chọn thợ vào biên chế trong các quan xưởng, song họ không phải là những người thợ chuyên nghiệp, có tay nghề cao Vì thế, một lượng lớn thợ thủ công lành nghề ở các địa phương cũng bị trưng dụng vào các quan xưởng Các quan xưởng ở Đàng Trong hầu như không có tính khép kín, và không
có những quy định khắt khe trong kiểu dáng sản phẩm, nên trong một số trường hợp đã có sự kết hợp với các xưởng sản xuất dân gian đặc biệt ở khu vực Phú Xuân
và Quảng Nam
Thủ công nghiệp Đàng Trong lần đầu tiên chịu ảnh hưởng của kỹ thuật phương Tây thông qua các thương nhân.Tuy nhiên những ảnh hưởng đó chưa lớn, thủ công nghiệp Đàng Trong chủ yếu mang tính thời vụ, sản xuất chạy theo số lượng mà ít chú ý đến chất lượng sản phẩm Các cơ sở sản xuất chưa hình thành các
mô hình theo chuỗi tập trung có tính liên kết giữa các làng nghề mà chỉ sản xuất
Trang 28theo quy mô hộ gia đình, do đó chưa đủ đáp ứng cho các đơn hàng lớn của thương nhân Các hộ tư nhân coi sản xuất hàng hóa phục vụ cho buôn bán nhỏ lẻ trong xứ hơn là sản xuất hàng hóa phục vụ cho các thuyền buôn ngoại quốc Các xưởng sản xuất do chúa Nguyễn quản lý thực chất cũng chỉ dừng ở quy mô "hộ" lớn, tức là cũng chỉ đáp ứng nhu cầu cung phủ, các đơn hàng mang tính thụ động
Trong một số trường hợp như các trường mỏ lớn, mầm mống kinh tế tư bản
đã bắt đầu nảy sinh như việc thuê nhân công và xuất hiện lực lượng lao động làm thuê, hay việc xuất hiện tầng lớp thương nhân trong các làng nghề quanh thương cảng Song những chuyển biến đó chỉ diễn ra ở quy mô nhỏ và trong thời gian ngắn, những mầm mống đó mới nhen nhóm hình thành đã nhanh chóng bị lụi tàn bởi sự khủng hoảng của chính quyền Đàng Trong vào nửa sau thế kỷ XVIII
Đối với lĩnh vực thương nghiệp, đây có lẽ là một trong những điểm sáng nhất của nền kinh tế Đại Việt thế kỉ XVI – XVII Ở châu Á – Thái Bình Dương, thế kỷ XVI, XVII, những hoạt động thương mại đường biển sôi động của người Trung Hoa (dưới triều Minh, Thanh), của người Nhật Bản (dưới thời Tokugawa) và phần nào của người Indonesia (thời Java) đã tạo nên một hệ thống mậu dịch châu Á
Ở châu Âu, sau những cuộc phát kiến địa lý thế kỷ XV, một nền thương mại quốc tế xuyên đại dương đã hình thành Bồ Đào Nha là nước tiên phong thực hiện những cuộc thám hiểm tràn sang phương Đông Tiếp theo, người Hà Lan, Anh, Pháp cũng nối gót xâm nhập vào thế giới Đông Bắc Á và Đông Nam Á (mà họ gọi chung là Đông Ấn) tìm kiếm thị trường và nguồn nguyên liệu Tất cả những yếu tố mới đó đã tạo nên một kỷ nguyên thương mại mới của thế giới
Ở châu Á – Thái Bình Dương trong thời gian này đã hình thành hai trục giao thương chính Trục tuyến Bắc – Nam nối liền Nhật Bản qua các vùng bờ biển Trung Quốc, Đài Loan xuống đến Đại Việt và các nước Đông Nam Á khác Trục tuyến Đông – Tây với trạm dừng chân là Ấn Độ Từ đây, các tàu thuyền phương Tây qua eo Malacca, tới Indonexia, Xiêm, Đại Việt, Trung Quốc, Philippin và Nhật Bản
Trang 29Hai trục giao thương Bắc – Nam và Đông – Tây đó đã tạo nên nhiều con đường trên biển, như: con đường tơ lụa, con đường gốm sứ, con đường truyền giáo…Đại Việt đã là giao điểm của các tuyến trung chuyển đó
Khi xâm nhập vào phương Đông, công cụ chủ yếu của các nước phương Tây là các Công ty Đông Ấn và hệ thống các thương điếm Bồ Đào Nha là nước đầu tiên xâm nhập vào phương Đông và cũng là những người đầu tiên đến Đại Việt, nhưng chỉ tiến hành các hoạt động buôn bán riêng lẻ, không lập công ty Hà Lan là nước
có nền kinh tế phát triển khá sớm và một nền thương mại hàng hải hùng hậu Tuy xâm nhập vào vùng biển Thái Bình Dương sau người Bồ Đào Nha, nhưng Hà Lan
đã dần vươn lên chiếm ưu thế ở vùng này vào thế kỷ XVII
So với Bồ Đào Nha, Hà Lan có nhiều thuận lợi trong việc buôn bán với Đại Việt Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) được thành lập năm 1602, có tiềm lực lớn lao và được chính phủ bảo trợ mạnh mẽ Hà Lan cũng đã đặt được những căn cứ vững chắc của mình ở Indonesia: Batavia (Jacarta sau này) và Bantam, dùng làm trụ sở đại bản doanh của công ty trước khi xâm nhập vào Đại Việt Chính sự qua lại buôn bán giữa các nước không chỉ ở khu vực mà cả các nước Châu Âu đã làm cho hàng hóa Đại Việt trở nên phong phú, kinh tế giàu lên nhanh chóng đặc biệt là nhân dân sống ở các cảng thị Họ hình thành các thương điếm tập kết hàng hóa để buôn bán rất thịnh đạt ở thế kỷ XVI – XVII, khách quan mà nói thì nền kinh tế của Đại Việt thế kỉ XVI – XVII rất phát triển đặc biệt là nền kinh tế ngoại thương, các chúa
có những chính sách khá thoải mái trong việc buôn bán trao đổi hàng hóa với các nước tư bản nên nền kinh tế có bước phát triển hơn trước
Bên cạnh những yếu tố bên ngoài tác động thì địa hình của nước ta cũng rất thuận lợi cho việc buôn bán và giao thương Nước ta nằm ở khu vực Đông Nam châu Á, với bờ biển dài, cầu nối giữa Đông Nam Á với Đông Á, nên có ưu thế lớn
về thương mại hàng hải Biên giới tiếp giáp với Trung Hoa - một thị trường thế giới rộng lớn cũng mang đến cho Đại Việt nhiều cơ hội trong thương mại Về điểm này, Samuel Baron - một người nước ngoài đã sống và làm việc ở miền Bắc Việt Nam hồi thế kỉ XVII đã viết như sau:
Trang 30“Có thể kết luận rằng, vương quốc Đàng Ngoài rất dễ giàu có, thương mại phồn thịnh, nhưng đáng tiếc tất cả đều bị coi nhẹ Quả vậy, nếu ta lưu ý rằng xứ Đàng Ngoài tiếp giáp hai tỉnh giàu có nhất Trung Quốc thì dường như không khó khăn gì
để nhập vào Vương quốc rộng lớn này vô vàn tài nguyên, và tiêu thụ ở đó Mặt khác, còn một lượng lớn sản phẩm của Ấn Độ, của châu Âu, đặc biệt là len Nếu khách nước ngoài được tự do buôn bán thì vương quốc sẽ rất có lợi” [20; tr.148]
Rõ ràng qua ghi chép của Samuel Baron ta nhận thấy nước ta rất có tiềm năng phát triển kinh tế ngoại thương, do chính quyền Lê - Trịnh chưa khai thác một cách triệt
để nhất để giao lưu buôn bán với bên ngoài nên nền ngợi thương chưa thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng đáng có
Theo ghi chép của Alexandre Rhodes thì: “Người Đàng Ngoài không đi buôn
bán ở các nước ngoài…” [1; tr.36] vì có lí do nhưng không phải vì thế mà người
Đàng Ngoài không có cơ hội phát đạt trong ngành ngoại thương Ông viết: “Nhưng
tuy không ra khỏi nước Annam gồm có (như đã nói) cả Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong, thương gia trong nước cũng buôn bán rất sầm uất vì có rất nhiều hải cảng thuận tiện Họ cũng kiếm được rất nhiều lợi nhuận, số vốn lên gấp đôi, hai hay ba lần trong một năm…” [1; tr.36] Theo như ghi chép ở Alexander Rhodes thì nền
kinh tế ngoại thương của Đại Việt tuy hạn chế buôn bán với nước ngoài nhưng rất phát triển
Đại Việt còn có nhiều sản vật được người châu Âu nhìn nhận có giá trị thương mại cao Thương nhân, nhà du hành Bồ Đào Nha, Tomé Pires đến Malacca đầu thế
kỷ XVI đã nhận thấy rằng: Đại Việt “có nhiều loại gốm, sứ, một vài thứ có chất
lượng rất cao” và “sản xuất các loại lụa láng có chất lượng cao hơn, khổ rộng hơn, tinh xảo hơn bất kỳ sản phẩm nào có ở đây cũng như ở các quốc gia” [châu Âu] [3;
tr.56]
Trong một trích đoạn của Châu Yến Loan thì xã hội Đàng Trong thời chúa
Nguyễn được mô tả như sau: “Đàng Trong có nhiều mỏ vàng, nhiều hồ tiêu mà
người Tàu tới mua, nhiều tơ lụa đến nỗi còn dùng để đan lưới và bện dây thuyền Đường cũng rất nhiều Mía cũng rất ngon và người ta thường ăn như chúng ta ăn
Trang 31táo Ở khắp thế giới chỉ có ở Đàng Trong là có thứ cây danh tiếng gọi là trầm hương Cũng chỉ cở Đàng Trong mới có thứ tổ yến ” [31; 140] qua những tư liệu
đó ta cũng thấy được rằng xã hội Đại Việt thế kỉ XVI - XVII phát triển rất rực rỡ nhất là Đàng trong, đời sống nhân dân ổn định hơn
Sự hưng thịnh của hoạt động thương mại của người Việt kéo theo sự hưng khởi của một phong trào thành thị diễn ra ở cả hai miền Đàng Ngoài và Đàng Trong (với các thành thị như: Phố Hiến, Thăng Long, Vị Hoàng, Phú Xuân, Thanh Hà, Hội An, Biên Hòa, Bến Nghé…) Đây được coi là hiện tượng lịch sử đặc biệt chưa từng xảy ra trước đó và cũng không lặp lại sau này Nếu nhìn nhận dưới góc độ tác nhân, những yếu tố mới nảy sinh như sự phát triển của hoạt động ngoại thương đã góp phần hình thành các đô thị nhưng mặt khác, đô thị hưng khởi có tác dụng kích thích nền kinh tế hàng hóa phát triển Với cái nhìn lịch sử có thể thấy, cuộc nội chiến khốc liệt giữa hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài trong thế kỷ XVII – XVIII
có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến sự phát triển của đất nước nhưng xét trên một khía cạnh khác lại vô hình chung tạo đều kiện cho nhu cầu tiếp xúc với các yếu tố mới từ các nước tư bản phương Tây Do cuộc nội chiến nên cả chính quyền phong kiến Đàng Ngoài và Đàng Trong đều quan tâm đến việc giao thiệp với các nước phương Tây mà quan trọng nhất là việc giao thiệp sẽ là điều kiện để có được những vũ khí hiện đại của phương Tây nhằm chống lại đối thủ của mình Đó cũng
là những nhân tố thúc đẩy các tri thức y học đầu tiên du nhập vào Việt Nam
Như vậy, các tri thức khoa học, kỹ thuật phương Tây được du nhập vào Việt Nam trong bối cảnh đất nước diễn ra cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn đầy căng thẳng và phức tạp Đồng thời, trong nền tảng kinh tế Việt Nam, nông nghiệp vẫn là hoạt động kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế mới bắt đầu manh nha và có sự hưng khởi nhất định của các yếu tố sản xuất hàng hóa, kinh tế đô thị, của ngoại thương Hay nói một cách khác, nền tảng để ta đón nhận các tri thức khoa học, kỹ thuật phương Tây là nền tảng của một nền tảng nông nghiệp lạc hậu, chính trị rối ren Bên cạnh đó, sự du nhập của các tri thức khoa học, kỹ thuật hiện đại được truyền bá vào Việt Nam lại diễn ra một cách không chủ định Để có được thuận lợi trong
Trang 32buôn bán và truyền bá đạo Thiên chúa khi ở xứ sở này, các thương nhân và giáo sĩ phương Tây đã đưa các thành tựu khoa học, kỹ thuật phương Tây vào Việt Nam
Sự du nhập của các yếu tố này trong bối cảnh nội tại của Việt Nam cùng với sự chấp nhận, thích nghi và tiếp biến của nó với các tri thức khoa học, kỹ thuật bản địa
đã tạo thành một chương quan trọng trong bức tranh kinh tế - xã hội Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ XVII
1.2.2 Tình hình y học Việt Nam trước khi có sự du nhập của y học phương
Tây
Trong thế kỷ XVII, mặc dù không có trình độ y học tiên tiến như châu Âu, không có trường đào tạo y khoa và dược khoa, nhưng ở Việt Nam, trình độ y học cũng có những thành tựu đáng ghi nhận Thậm chí, ngay cả khi y học châu Âu được du nhập vào, có những chứng bệnh mà khi chữa trị, nền y học bản xứ tỏ ra có
sự ưu việt hơn so với nền y học hiện đại châu Âu Cha đạo Christoforo Borri đã nói
như vậy trong khoảng các năm 1618 – 1621: “Có rất nhiều thầy thuốc và nhiều
cách chữa trị; đó là các thầy thuốc Bồ Đào Nha và thầy thuốc bản xứ; có những bệnh không hiểu được và không có thuốc chữa đối với thầy thuốc người Âu, thì vẫn
có thể chẩn đoán được và trị lành được bởi các thầy bản xứ Có lần các thầy Bồ Đào Nha đã bỏ rơi một con bệnh, cho rằng phải chết, nhưng thiết nghĩ nếu như cấp thời mời được một thầy bản xứ thì ắt thầy bản xứ đã chữa lành một cách dễ dàng”.[17; tr.286] Từ những ghi chép thực tế của các vị giáo sĩ ta cũng nhận ra một
điều, tuy những những tri thức y học của nước ta không tân tiến, hiện đại hơn các tri thức y học phương Tây nhưng tuyệt nhiên không phải không phát triển, cách thức chữa bệnh của ta cũng khác hẳn so với các điều trị của Tây phương, cách chữa trị của ta là cách khám chữa bệnh theo Á Đông, chữa bệnh bằng cách bắt mạch và bốc thuốc uống và thực tế cho thấy một số bệnh do thầy thuốc của ta chữa trị hiệu quả hơn so với cách chữa trị của các giáo sĩ phương Tây Một phần là do các thầy thuốc của ta đã quen với các chứng bệnh này và có sẵn các nguồn dược liệu để trị bệnh Phần khác là do các thầy thuốc phương Tây có thể chưa gặp được chứng bệnh đó bao giờ nên không có thuốc chữa cũng là điều dễ hiểu
Trang 33Cũng theo ghi chép của C Borri về cách chữa bệnh của các thầy thuốc của ta qua một lần ông chứng kiến diễn ra như sau “Phương pháp của họ là đi vào phòng người bệnh, họ ngồi nghĩ một lát gần giường bệnh, để cho dịu cảm xúc khi tới dây Rồi họ bắt mạch, rất chăn chú và cẩn thận Sau đó họ nói ông hay bà mắc chứng gì
và nếu là chứng nan y thì họ cũng thành thật cho biết, tôi không có thuốc chữa bệnh này, đó là dấu hiệu người bệnh không thoát khỏi Nếu họ đoán là bệnh nào và có thể chữa được bằng thử thuốc nào của họ thì họ cũng cho biết, tôi có cách chữa ông, bà và trong bao lâu tôi chữa ông, bà khỏi bệnh” [34] Đây là cách chữa bệnh khá độc đáo của người Việt Nam chúng ta, thừa nhận một cách thẳng thắng có chữa được bệnh hay không, cách chữa bệnh này đến ngày nay vẫn còn lưu truyền ở một
sống tại Đàng Trong, theo tường thuật của C Borri thì ông: “Bị rơi từ một chỗ khá
cao và ngực tôi [chỉ Borri] đập vào một góc đá, tôi bắt đầu thổ huyết và ngực tôi xây xát Chúng tôi dùng vài thứ thuốc thường dùng ở Âu châu nhưng tôi không thấy giảm chút nào Bỗng có một thầy thuốc người bản xứ đến đem theo một thứ cỏ
ngực tôi, ông ta lại nấu sôi nó lên thành một thứ đồ uống cho tôi uống, ông cũng cho tôi ăn sống nó Trong có vài ngày, cách trị này làm cho tôi lành hoàn toàn Để thử làm một kinh nghiệm mới, tôi bẻ gãy chân một con gà mái ở nhiều chỗ, và tôi
bó cao bằng thứ cỏ này vào các chỗ bị bẻ gãy, ít ngày chúng liền lại và lành”.[3;
tr.391-392] Những ghi chép của C Borri phản ánh khá rõ ràng tình hình y học của nước ta, tuy không hiện đại như phương Tây nhưng trong cách chữa bệnh, cũng như bốc thuốc luôn có sự đặc biệt, bằng chứng có nhiều bệnh người phương Tây phải bó tay thì các thầy thuốc của ta có thể chữa khỏi Những ghi chép thực tế này phần nào cũng chứng minh được sự phát triển của y học nước ta chứ không phải
Trang 34quá lạc hậu và cổ hủ Đây là một minh chứng cụ thể về trình độ y học, cũng như cách chữa bệnh của các thầy thuốc ở nước ta thời bấy giờ, không máy móc, không qua trường lớp bài bản như phương Tây nhưng những cách chữa bệnh của ta thì tuyệt nhiên có sự khác biệt, trong nhiều trường hợp còn hiệu quả hơn thuốc của người phương Tây mang đến
Một mặt khác những tư liệu của người phương Tây cho thấy rằng, người dân Việt Nam mặc dù còn nghèo nàn về kiến thức y học hiện đại nhưng cũng rất chú ý đến việc chăm sóc sức khỏe: “Chính ở làng xã An Nam, đơn vị hành chánh được tổ chức chặt chẽ và hưởng được tính độc lập lớn, mà sự cứu giúp của tập thể đối với các bệnh nhân và người khốn khổ đã nảy sinh và tập tục này còn được lưu truyền đến ngày nay Mỗi làng phải cung cấp cho người túng thiếu các giúp đỡ về lương thực và các bệnh nhân sự hỗ trợ cần thiết Làng phải bảo vệ, chăm sóc và nuôi nấng người phong hủi, người điên và kẻ ăn xin trong làng Các sự săn sóc thuốc men luôn là tầm thường, cách thức chữa bệnh khi thì giao cho các thầy phù thủy với nhiệm vụ trừ đuổi tà ma, khi thì cho các y sĩ chỉ có trong tay vài vị thuốc bắc Từ tập tục đó nảy sinh một vài nơi ẩn náu cho người tàn tật và đau ốm, có mặt ở nhiều
đô thị An Nam trước khi chúng ta đến xứ này” Theo những lời ghi chép này thì ta cũng thấy được, trước khi người phương Tây vào nước ta thì các loại hình nhà chăm sóc cho người tàn tật, người bệnh cũng đã xuất hiện, có thể qui mô chưa được lớn và chưa phổ biến rộng rãi nhưng qua những ghi chép này thì ta cũng biết được
mô hình chăm sóc người bệnh, tàn tật không nơi nương tựu đã xuất hiện ở ta trước khi kiến thức y học ở phương Tây truyền đến Đây có thể coi là mô hình nhà trạm
xá, dưỡng đường mà ngày nay ta hay gọi, như vậy để thấy rằng nền y học của ta nó không kém phát triển như cách mà ta vẫn hay nghĩ khi nhắc đến bối cảnh y học nước ta thời phong kiến Chính nhờ những ghi chép của C Borri và các giáo sĩ khác thì ta mới hình dung được bối cảnh y học nước ta thời bấy giờ là như thế nào
và nó phát triển ra làm sao để có những nhận xét, đánh giá chính xác nhất mà không bị thiên lệch về một bên nào Tuyệt nhiên ta cũng không nên phủ nhận vai
Trang 35trò, đóng góp của các giáo sĩ trong việc đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của y học phương Tây ở Việt Nam
Trong tập Médecine et pharmacie chez les Chinois et chez les Annamites [Y
Khoa và Dược Khoa ở Trung Hoa và An Nam] được ấn hành năm 1902 của Jules Regnault – một bác sĩ Pháp tại thuộc địa đã cho chúng ta biết thêm về y học ở Việt Nam lúc bấy giờ: “Trước khi có sự đến nơi của người Pháp thì có ba hình thức y học truyền thống đã được thực hành tại Việt Nam Các truyền thống này thường pha trộn vào nhau Y học Miền Bắc [Thuốc Bắc], rút ra từ các kinh điển y khoa Trung Hoa, có uy tín nhất Nó được đặt trên tính trung tâm của các lực âm và dương, cơ thể và vũ trụ được nhìn là vận hành theo cùng cách thức giống nhau Y học Miền Nam [Thuốc Nam] là một y học được dựa trên cây thuốc không có một truyền thống trí thức cao, một sự trị liệu của phương sách sơ khởi, được gọi là “y khoa của người nghèo” Sau cùng, một nhánh thứ ba của y học Việt Nam đối phó với các quỷ thần và toàn bộ câu hỏi của việc gỡ bỏ hay thỏa mãn chúng (thuật phù thủy)” Qua đoạn ghi chép này ta cũng có thể hình dung phần nào về những cách thức chữa bệnh của nước ta trước khi có nền y học phương Tây du nhập vào Nhưng có lẽ Jules Regnault có đôi chút nhầm lẫn là y học Miền Nam, theo định nghĩa của Hoàng Bảo Châu “Y học Cổ truyền Việt Nam còn gọi là thuốc Nam hay thuốc ta là một ngành y học thuộc Đông y với nguồn gốc xuất phát
từ Việt Nam thay vì từ Trung Hoa” Đây là y học truyền thống của Việt Nam chúng
ta nó tồn tại, phát triển trên khắp cả nước chứ không phải chỉ có ở miền Nam, nên không thể gọi là y học miền Nam
Thêm một dẫn chứng cụ thể ở nước ta cũng có các vị thầy thuốc nổi tiếng được xem là bậc tổ của nghề y Việt Nam là Hải Thượng Lãn Ông (còn lưu truyền
bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh là sách căn bản của Đông y Việt Nam) và Tuệ Tĩnh (tác giả của câu nói nổi tiếng "Nam dược trị Nam nhân" - thuốc Nam dùng chữa bệnh cho người Nam) Họ vẫn chữa trị bằng thuốc Nam và tất nhiên y thuật của các bậc danh y này không thể nào nhận xét là “y khoa không có truyền thống cao”, thực chất ta phải nhìn nhận rõ một điều, ảnh hưởng của y học Trung Quốc
Trang 36đến nước ta là rất lớn nên những kiến thức về y học cổ truyền của nước ta võ vẽ lu
mờ hơn so với Trung Quốc Và do các phương thuốc của chúng ta rất ít được ghi chép một cách bài bản nên không phát triển trở thành hệ thống như Trung Quốc Nếu như các danh y của chúng ta đều ghi chép các phương thuốc và cách chữa trị như các thầy thuốc Trung Quốc thì có lẽ nhận định này đã khác Qua đó cũng chứng minh thực tế một điều nền y học cổ truyền của nước ta rất phát triển, trong
đó phát triển đan xen một cách hài hòa với những kiến thức y học từ Trung Quốc
Và một điểm chung đáng chú ý là cách dùng thuốc của ta và Trung Quốc nó khá giống nhau, đều dùng từ các loại dược liệu có sẵn trong tự nhiên như cây cỏ nên vẫn hay có sự nhầm lẫn là y học của ta là của Trung Quốc nhưng thực chất thì nó phát triển độc lập với nhau
Trong ghi chép của Jules Regnault có nói về phương thức chữa bệnh thứ 3 là dựa vào các biện pháp tâm linh, đây là một phương pháp chữa bệnh không mới của người Việt Nam chúng ta, nó xuất phát từ rất xa xưa, chúng ta vẫn tin vào đấng siêu nhiên, khi các thầy lang bó tay, không thể chữa trị thì họ liền nghĩ ngay đến cách cầu xin thần linh, ông bà tổ tiên bằng cách mời thầy pháp ( theo cách gọi của Jules Regnault là thầy phù thủy) để chữa trị, đây là biện pháp cuối cùng mà người dân có thể nghĩ ra để chữa bệnh, nếu phương pháp này cũng không thể chữa khỏi thì không còn phương pháp nào để chữa trị Trong xã hội hiện đại của chúng ta ngày nay những phương pháp chữa trị như thế này vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở những vùng nông thôn và đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số, họ rất tin tưởng vào những liều thuốc của “thầy mo” hay thầy phù thủy để chữa bệnh, thì ta cũng thấy được rằng cách chữa bệnh bằng tâm linh là cách chữa trị đã ăn sâu vào trong tiềm thức của người dân bên cạnh đông y và thuốc Nam Qua đó cũng chứng minh một điều rằng không phải nơi nào và vùng nào nền y học cũng tiến bộ, từ sâu trong tiềm thức của người dân vẫn còn một số tập tục chữa bệnh lạc hậu, họ cho rằng bệnh tật là do ma quỷ gây ra Nhận xét như vậy để ta không đánh đồng y học nước ta vào giai đoạn này phát triển trên khắp mọi vùng miền mà nó vẫn có sự phát triển không đều giữa
Trang 37thành thị và vùng quê, kiến thức và số lượng thầy thuốc, chất lượng chữa bệnh ở mỗi vùng cũng khá khác nhau có thể nói y học phát triển không đều giữa các vùng Bác sĩ Jules Regnault cũng có cách nhìn nhận giống với C Borri khi cho rằng y học của Việt Nam có những điểm tiến bộ nhất định Bởi khi đến nơi đây, ông bị sững sờ “bởi hàng loạt rộng lớn và sự phức tạp của dược liệu [ông] nhìn thấy dân chúng bản xứ sử dụng”.Trong quá trình đi hái thuốc với dân chúng địa phương, Jules Regnault cũng thu lượm được rất nhiều kiến thức về y học: “những người đã nói với chúng tôi khi đi ngang qua các lãnh vực chữa bệnh của các loại thảo mộc khác nhau Đặc biệt với việc biểu lộ sự uyên bác của chúng tôi nhờ ở kiến thức sơ đẳng này mà chúng tôi đã có khả năng thu lượm được các chi tiết mới về y khoa và dược khoa bản xứ, trong các sự đối thoại mà chúng tôi đã cố gắng đến mức tối đa có thể được để tránh có vẻ như là một cuộc điều tra”[47] Những ghi chép của vị bác sĩ này hoàn toàn đúng với thực tiễn ở Việt Nam Qua bao đời nay vẫn vậy, mỗi người dân Việt Nam đều trang bị cho mình những kiến thức về các loại thuốc nam cơ bản, để có thể tự cứu lấy bản thân khi cần thiết Như vậy, mỗi người
là một cẩm nang sống về những bài thuốc dân gian, cho dù không nhiều nhưng cũng có một ít kiến thức để phòng thân Đây là một điều mà không phải dân tộc nào cũng có Dù không phát triển mạnh mẽ như y học Trung Quốc, hiện đại như y học phương Tây nhưng y học dân gian nó vẫn len lõi từ sâu trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam
“Bạc hà, Kinh giới, Tía tô Hương nhu, Gừng, sả, Cúc hoa, Địa liền
Dù cho cảm sốt liên miên Uống vào bệnh khỏi không phiền lụy ai”
Như vậy, trước khi có sự du nhập y học phương Tây thì y học Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của y học Trung Quốc và cũng đạt được những thành tựu đáng kể Theo như chứng kiến của người phương Tây đến Việt Nam trong giai đoạn này thì
có rất nhiều chứng bệnh được các thầy thuốc người Việt chữa trị thành công khiến
Trang 38người Âu phải tỏ ra kinh ngạc và thán phục và trên nhiều phương diện cũng rất đáng để họ học hỏi Điều này được thể hiện rất rõ trong các tập bút ký và du hành của C Borri vào năm 1621 Tuy vậy, khách quan mà nói thì y học của người Việt vẫn chưa tiệm cận đến trình độ hiện đại phương Tây, việc chữa trị và chẩn đoán bệnh thiên nhiều về yếu tố dân gian với những bài thuốc địa phương rất hữu hiệu Trong việc chữa trị, y học dân gian Việt Nam thường thể hiện hài hòa mối quan hệ
âm dương, trong đó chú trọng đến yếu tố căn nguyên dẫn đến bệnh tật Thậm chí,
có một bộ phận y học dân gian trong đó mang nhiều yếu tố tâm linh tôn giáo Nó thể hiện trình độ nhận thức của người Việt trong việc chữa bệnh và phòng bệnh vẫn còn khá hạn chế Vì vậy, sự du nhập của kiến thức y học phương Tây vào Việt Nam
sẽ tạo một sự thay đổi không hề nhỏ trong cách chữa trị bệnh cũng như phát triển nền y học nước nhà
Quá trình du nhập các tri thức y học châu Âu từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế
kỷ XVII diễn ra trong bối cảnh xã hội Đại Việt vẫn trong nền tảng của một nền y học truyền thống Chúng ta đã có những tri thức khoa học, kỹ thuật nhất định Nhưng khi các tri thức khoa học, kỹ thuật châu Âu được truyền bá vào Việt Nam thông qua con đường thương mại và truyền giáo dưới vai trò của các thương nhân
và các giáo sĩ châu Âu đã để lại ảnh hưởng sâu sắc và có tác động không nhỏ tới quá trình phát triển y học của người Việt, làm cho y học Việt Nam lúc bấy giờ tồn tại song song ba yếu tố chính đó là yếu tố Việt Nam, Trung Hoa và châu Âu ở trên lãnh thổ Việt Nam Ba yếu tố này không những không mâu thuẫn lẫn nhau mà còn dung hòa tạo thành một thể thống nhất, nó làm tăng thêm tính đa dạng của nền y học Việt Nam
1.3 Sự xuất hiện và hoạt động của các giáo sĩ phương Tây ở Việt Nam (thế
kỉ XVI – XVII)
Các cuộc phát kiến địa lý thế kỉ XV - XVI cùng những các thành tựu khoa học
kỹ thuật hàng hải đã tạo điều kiện cho các nước tư bản phương tây “khám phá”các vùng đất mới bằng con đường thương mại biển Trong đó, xứ sở Châu Á giàu có đầy tiềm năng luôn hấp dẫn những nhà tư bản, trở thành mục tiêu số một trong việc
Trang 39tìm kiếm thị trường thuộc địa của chúng Song song với hoạt động thương mại, giáo hội Thiên chúa giáo cũng tiến hành sứ mệnh truyền giáo
Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha là hai đế quốc phát triển thế lực ở phương Đông sớm nhất Năm 1536, giáo hoàng Alexander VI đã lấy kinh tuyến đi qua điểm cách một trăm dặm về phía tây quần đảo Axerơ thuộc Tây Ban Nha trên Đại Tây Dương làm ranh giới truyền đạo của hai đế quốc Tất cả đất đai mới tìm thấy ở phía Đông Kinh tuyến sẽ giao vua Bồ Đào Nha phụ trách (Tây Ban Nha phụ trách ở bán cầu tây) Ở Viễn Đông thì Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc đều thuộc khu vực ảnh hưởng của người Bồ
Sự kiện đánh dấu người giáo sĩ đầu tiên xuất hiện ở nước ta là vào năm 1533 có giáo sĩ tên là I – nê – khu đi đường biển lén vào giảng đạo ở Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam chân và ở làng Chài Lũ huyện Giao Thủy (nay là Nam Định, Thái Bình) [8]
Một số hoạt động khác được nhắc đến trong thế kỷ XVI như ở Đàng Trong vào năm 1535 giáo Sĩ Antonie de Paria vào cửa Hàn ở Đà Nẵng đi truyền đạo Đến năm
1550 linh mục Caspas de Santarus theo các thương nhân từ Bồ Đào Nha sang Malacca vào cảng Cần Cáo Hà Tiên tiến hành giảng đạo Bước sang năm 1586 hai linh mục George de Lamotto (người Pháp), Lvuisete Fous – cos ( người Bồ) đến truyền giáo ở Quảng Nam Năm 1596 Diego Aduarde từ Manila theo tàu toàn quyền Philippines đến Quảng Nam nhưng không đạt được nguyện vọng truyền đạo
Ở Đàng Ngoài vào năm 1581 giáo sĩ Giovani Batitos de Tesro được sự cho phép của vua Mạc Mậu Hợp theo thuyền buôn từ Ma Cao đến giảng đạo ở Đàng ngoài Đến năm 1583 một giáo đoàn do linh mục Diego de Oropeson dẫn đầu một chiếc thuyền ghé vào cửa biển thuộc vùng Quảng Yên, Quảng Ninh Sau một thời gian truyền đạo không thu được kết quả, đoàn trở về Ma Cao
Thực tế mà nói thì các hoạt động như chữa bệnh hay truyền bá kiến thức y học thực chất cũng là hoạt động bổ trợ cho hoạt động truyền giáo, nhằm lôi kéo lực lượng người dân được chữa bệnh vào đạo, nhưng đó là những tiền đề cơ bản cho
Trang 40quá trình du nhập của những kiến thức y học phương Tây đầu tiên vào nước ta Vào giai đoạn đầu du nhập vào nước ta, một trong những lý do khiến cho đạo công giáo có thể phát triển thuận lợi là cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn, vì những giáo
sĩ phương Tây đến đây không chỉ mang theo các cuốn kinh sách, hay những giáo lý thiên chúa mà còn mang cả những mối làm ăn buôn bán vũ khí hiện đại của phương Tây, để phục vụ cho cuộc chiến, nên các chúa Nguyễn ở Đàng trong và cả chúa Trịnh ở Đàng ngoài đều không có thái độ quá cứng rắn, đối với các hoạt động của các giáo sĩ này Nhưng khi kết thúc chiến tranh thì thái độ của các chúa lập tức thay đổi, vì nhu cầu súng ống cũng không cần nhiều như lúc chiến tranh, vai trò của các giáo sĩ dần giảm xuống, thái độ của các chúa là thường xuyên cấm đoán các hoạt động truyền đạo của họ Điều thứ hai, Công giáo quá khác biệt so với văn hóa của chúng ta nên bộ phận lớn người dân khó chấp nhận, nó quá mới để có thể ngay lập tức thay đổi nhận thức đã ăn sâu vào trong tiềm thức của người dân hàng nghìn năm nay
Công giáo được du nhập vào Việt Nam từ năm 1533 Đây không chỉ là vấn đề thuần tuý của tôn giáo, tín ngưỡng, văn hoá mà là vấn đề chính trị – xã hội rất nhạy cảm qua các thời kỳ lịch sử có chế độ chính trị khác nhau Tính độc tôn và tính kiêu hãnh của Thiên Chúa giáo cùng những nghi thức mang tính tương khắc với văn hoá truyền thống và sự lạm dụng chính trị của các thế lực bên ngoài đối với Thiên Chúa giáo là nguyên nhân dẫn đến các chính sách đối với Thiên Chúa giáo của nhà cầm quyền Việt Nam, trong đó có triều Nguyễn
Vào giai đoạn thế kỉ XVI - XVII thái độ của các chúa Nguyễn và chúa Trịnh không rõ ràng, lúc cấm đoán lúc nới lỏng, đó là phụ thuộc vào giai đoạn nào có cuộc chiến mà có trọng dụng hay cấm đoán Nói như vậy để thấy rằng thái độ của các chúa Nguyễn và Trịnh đối với các giáo sĩ cũng như việc truyền giáo thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử Chẳng hạn vào lúc
có chiến tranh giữa hai phe Trịnh – Nguyễn, thái độ của các chúa có vẽ ân cần hơn Nói như vậy không có nghĩa là thái độ của các chúa phụ thuộc hoàn toàn vào vấn
đề chiến tranh, mà nó còn phụ thuộc vào thái độ của các đời chúa khác nhau thì thái