Nhận thực được tầm quan trọng của tự học đối với học sinh, Luật giáo dục đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; ph
Trang 1Tên đề tài: Dạy học phát triển năng lực d năng lực ứng dụng
CNTT và truyền thông trong học và tự học cho học sinh
THCS
Giáo viên hướng dẫn: T.S Trần Văn Hưng
Họ và tên: Nguyễn Thị Mai Loan
Lớp : 16SPT
Đà Nẵng, tháng 2, năm 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất, lời tri ân sâu sắc đến thầy
cô khoa Tin học trường Đại học Sư phạm Đại học Đà Nẵng đã tận tình chỉ dạy cho tôi trong chặng đường bốn năm học tại trường Cảm ơn thầy cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong chặng đường đã qua
Đặc biệt, tôi vô cùng biết ơn thầy Trần Văn Hưng, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn Xin cảm ơn thầy luôn động viên, giúp đỡ, khuyến khích tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình thực hiện Cảm ơn thầy đã không quản ngại thời gian và công sức giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, với bạn bè trong lớp 16SPT luôn kề vái sát cánh cùng tôi trong bốn năm học cũng như trong quá trình làm luận văn
Mặc dù đã cố gắng để hoàn thành luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình của mình nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong sự đóng góp ý kiến chân thành từ quý thầy cô
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu: 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu 2
6 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu 3
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: 3
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC “ỨNG DỤNG CNTT VÀ TRUYỀN THÔNG VÀ TỰ HỌC” (Nld) 4
1.1 Đổi mới GD ở trường trung học cơ sở 4
1.1.1 Một số thay đổi cơ bản trong giáo dục trung học thế kỉ XXI: 4
1.1.2 Định hướng đổi mới chương trình giáo dục trung học 6
1.1.3 Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS: 7
1.2 Sơ lược về chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 12
1.2.1 Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 12
1.2.2 Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực: 14
1.3 Chương trình giáo dục phổ thông môn Tin học cấp THCS 17
1.3.1 Đặc điểm môn học 17
1.3.2 Quan điểm xây dựng chương trình 18
1.3.3 Mục tiêu chương trình 20
1.3.4 Yêu cầu cần đạt 21
1.4 Dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh 21
1.4.1 Khái niệm về năng lực: 21
1.4.2 Các thành phần của năng lực: 22
1.4.3 Dạy học định hướng phát triển năng lực của học sinh: 23
1.4.4 Các năng lực chuyên biệt trong dạy học Môn Tin học THCS: 26
Trang 41.4.5 Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm hình thành và phát triển
năng lực người học 26
1.5 Kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực 30
1.5.1 Mục tiêu, hình thức, thời điểm KTĐG: 30
1.5.2 Đánh giá theo kết quả đầu ra, đánh giá theo quá trình: 32
1.5.3 Một số hình thức kiểm tra đánh giá: 32
1.5.4 Đánh giá năng lực người học trong quá trình dạy học: 33
1.6 Thực trạng dạy học phát triển năng lực CNTT ở trường THCS: 36
1.7 Kết luận chương 1 38
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ KẾ HOẠCH BÀI DẠY PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CNTT(NLd) MÔN TIN HỌC THCS 40
2.1 Phân tích mục tiêu: 40
2.2 Phân tích nội dung: 46
2.3 Nguyên tắc thiết kế 49
2.4 Quy trình thiết kế 50
2.5 Thiết kế dạy học phát triển năng lực CNTT(NLd) môn tin học THCS 53
2.6 Kết luận chương 2 62
KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 64
Trang 6Bảng 1.2 Tổng hợp một số dấu hiệu của đánh giá năng lực của người học 35Bảng 1.3 Xác định tiến trình dạy học và dự kiến thời gian 53
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, trên thế giới cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ đang phát triển như vũ bão, nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật mới, nhiều nghề mới đang hình thành và phát triển rất nhanh Điều này đòi hỏi phải có sự đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo nhằm tạo ra lao động đáp ứng nhu cầu lao động xã hội trong thời kỳ phát triển Trong đó trọng tâm là đổi mới về phương pháp dạy học và chú ý đến phương pháp tự học Như Bác Hồ đã từng nói: “Dạy học lấy tự học làm cốt”
Nhận thực được tầm quan trọng của tự học đối với học sinh, Luật giáo dục đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”
“Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học, đến năm 2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng và đến năm 2020, 100% giáo viên giáo dục nghề nghiệp và phổ thông có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học Biên soạn và sử dụng giáo trình, sách giáo khoa điện tử Đến năm
2020, 90% trường tiểu học và 50% trường trung học cơ sở tổ chức dạy học 2 buổi/ngày Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi”
Như vậy với chiến lược trên việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS được diễn ra theo các hướng chủ yếu:
- Phát huy tính tích cực, tự giác chủ động học tập của học sinh
- Bổi dưỡng, nâng cao phương pháp tự học
- Rèn luyện khả năng tự học, kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn
- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Chúng ta đang sống trong thời đại của nền giáo dục tri thức Thời đại mà CNTT
đã xâm nhập sâu vào cuộc sống hằng ngày, có mặt hầu hết trong các sản phẩm và dịch
Trang 8vụ kinh tế xã hội Cho nên việc ứng dụng CNTT vào dạy học là xu hướng cũng như tất yếu của thời đại
Do đó trong quá trình làm việc với giáo án mới, học sinh không những nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện các thao tác tư duy, hình thành kĩ năng, phát triển được các
năng lực cần đạt Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Dạy học phát triển
năng lực d năng lực ứng dụng CNTT và truyền thông trong học và tự học cho học sinh THCS”
2 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu tập trung tạo ra giáo án hỗ trợ giáo viên và học sinh trong dạy và học môn tin học ở THCS cụ thể là lớp 6,7,8,9 nhằm năng cao khả năng công nghệ thông tin của học sinh, hỗ trợ các tiết học trở nên bớt nhằm chán
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Năng lực d Công nghệ thông tin và truyền thông trong học và tự học ở học sinh Trung học cơ sở
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Lớp 6,7,8,9
4 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế giáo án theo hướng phát triển năng lực cho môn Tin học Trung học
cơ sở sẽ nâng cao hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS, hỗ trợ GV trong tiết dạy
5 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận
thức cho học sinh
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thiết kế giáo án theo chương trình giáo dục
phổ thông mới hỗ trợ dạy học môn Tin học
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo, sách
bài tập để xác định nội dung và cấu trúc kiến thức mà học sinh cần nắm vững
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THCS nhằm xác định mức phù hợp,
tính khả thi, hiệu quả sư phạm của việc dạy học theo hướng tích cực hóa nhận thức của học sinh khi thay đổi giáo án và cách dạy học phát triển năng lực
- Phân tích kết quả đánh giá học sinh
Trang 9- Đưa ra nhận xét sau khi thực nghiệm sư phạm, đánh giá tính khả thi của đề tài
Phân tích ưu nhược điểm để điều chỉnh cho phù hợp nếu cần
6 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước và các thông tư, chỉ thị của Bộ
Giáo dục và Đào tạo
- Nghiên cứi tài liệu về giáo dục và phương pháp giảng dạy môn tin học và các
phương pháp tích cực hóa hoạt động học của HS
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Thiết kế giáo án theo hướng phát triển năng lực hỗ trợ dạy học môn tin học trung học cơ sở theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức cho học sinh
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC “ỨNG DỤNG CNTT VÀ TRUYỀN THÔNG VÀ TỰ HỌC” (Nld) 1.1 Đổi mới GD ở trường trung học cơ sở
1.1.1 Một số thay đổi cơ bản trong giáo dục trung học thế kỉ XXI:
Giáo dục thay đổi trong nhiều thế kỷ, từ phạm vi kiến thức tới mô hình và không gian học tập Trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0 của thế kỉ 21, nhiều quan niệm học tập truyền thống đã thay đổi so với quá khứ, mở ra một viễn cảnh giáo dục rộng
mở và linh hoạt hơn
Trong cách mạng công nghệ lần thứ nhất, mục tiêu học tập là để làm chủ những kiến thức và kỹ năng cơ bản Ví dụ: tại trường, người học học kiến thức về các môn toán, ngôn ngữ, nghệ thuật ; trong đào tạo kỹ năng có thể đào tạo về kỹ năng cơ bản như đọc sách, tranh biện
Ở thế kỉ 21, giáo dục hướng tới phát triển cá nhân một cách tổng thể Nếu trước kia chỉ có một trí thông minh duy nhất được công nhận là logic, thì xã hội hiện đại công nhận đa trí thông minh như cảm xúc, vận động, ngôn ngữ Từ đó, mục tiêu giáo dục đang hướng tới giúp mỗi người phát triển tối đa các trí thông minh tiềm ẩn của mình
- Giáo viên là người kết nối
Học sinh trong thế kỉ 21 đã đủ năng lực và phương tiện để tiếp nhận thông tin Trong bối cảnh đó, giáo viên không phải là người duy nhất có được kiến thức và thông tin giá trị Thay vào đó, họ là người giúp học trò có khả năng hiểu ý nghĩa của thông tin, phân biệt sự khác biệt giữa những gì quan trọng và không quan trọng Trên hết, đó
là khả năng kết hợp thông tin thành một bức tranh rộng lớn về thế giới
Anh Lê Hoàng Việt - mentor của Đại học trực tuyến FUNiX nhận định kiến thức ngày nay có thể tự học, tự nghiên cứu và tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau, đặc biệt là từ Internet "Phương pháp đào tạo truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm, tất
cả kiến thức được truyền đạt thông qua thầy cô giáo và thông thường, họ là người quyết định kiến thức đó có đúng hay không Ngày nay, giáo dục lấy người học làm trung tâm, người thầy dựa trên nhu cầu học hỏi của sinh viên để gợi mở và định hướng nhiều hơn là truyền đạt kiến thức", anh Việt chia sẻ
- Tự học là yêu cầu bắt buộc
Vai trò của giáo viên thay đổi, người học cũng thay đổi theo Học tập trong quá khứ thường mang tính thụ động Người học chủ yếu tham gia các chương trình giáo
Trang 11dục đã được xây dựng sẵn, có khuôn mẫu chung cho số đông và tiếp cận kiến thức một chiều Ngày nay, theo đòi hỏi của giáo dục hiện đại, người học buộc phải tăng tính chủ động, khả năng tự định hướng các kiến thức mình cần và xây dựng lộ trình học tập riêng theo đòi hỏi của từng cá nhân
Anant Agarwal - CEO của edX dự báo bằng cấp đại học trong tương lai sẽ được
cá nhân hóa dựa trên nhu cầu của từng người "Thay vì dành bốn năm theo đuổi bằng đại học giống nhau, sinh viên có thể tự tạo bằng cấp phù hợp với thế mạnh riêng", Agarwal nói
Điều này tương tự với việc bạn đang tự tay xây dựng một lâu đài Lego theo từng khối, thay vì mua một mô hình có sẵn Bạn chọn những viên gạch mình cần để xây dựng nền tảng vững chắc cho sự nghiệp Trường học trên nền tảng số góp phần làm cho việc tự học trở nên dễ dàng hơn
- Độ tuổi học tập kéo dài suốt đời
Giáo dục truyền thống trên thế giới tập trung vào nhóm K-12 - độ tuổi từ trẻ mầm non tới hết giai đoạn phổ thông Sau giai đoạn K-12, người học trưởng thành lựa chọn con đường để phát triển nghề nghiệp đã được định hướng từ sớm
Giáo dục ở thế kỉ 21 đã mở rộng độ tuổi học tập qua khái niệm "học tập suốt đời" Với sự phát triển của công nghệ và robot, nhiều chuyên gia giáo dục trên toàn cầu thừa nhận rằng chưa thể xác định các kỹ năng nghề nghiệp cho trẻ nhỏ trong giai đoạn hiện nay vì nhiều công việc trong tương lai gần thậm chí chưa xuất hiện
Vì vậy, học tập không thể chỉ giới hạn trong độ tuổi đi học Người học cần phải
có năng lực học tập suốt đời, không ngừng cập nhật kiến thức và tri thức để theo kịp các đòi hỏi công việc liên tục thay đổi trong xã hội 4.0
- Ai cũng có thể dạy
Khái niệm "thầy" cũng có nhiều thay đổi trong thời hiện đại Nếu như trước đây chỉ giáo viên mới có thể đứng lớp và giảng dạy, thì ngày nay, nhờ có sự hỗ trợ của công nghệ, bất kỳ ai cũng có thể tham gia vào chu trình giáo dục và trở thành thầy Trường đại học trực tuyến FUNiX với hơn 2.700 mentor môn - những chuyên gia đang làm việc tại nhiều công ty, tập đoàn công nghệ là một ví dụ Khi sinh viên trực tuyến đặt câu hỏi qua hệ thống, các chuyên gia trong từng lĩnh vực sẽ kết nối trực tiếp với sinh viên để hướng dẫn học tập
Hầu hết mentor đều không phải là giáo viên hay giảng viên chuyên nghiệp nhưng
họ đang tham gia vào các công việc với vai trò của nhà giáo: phát triển chương trình,
Trang 12truyền đạt kiến thức, hướng dẫn học tập, đánh giá sinh viên "Các mentor khi tham gia giảng dạy tại FUNiX, bên cạnh việc tận dụng thời gian rỗi để có thêm thu nhập, còn thỏa mãn đam mê làm thầy, chia sẻ kiến thức cho sinh viên", ông Nguyễn Thành Nam, nhà sáng lập FUNiX cho biết
- Lớp học ở mọi nơi, mọi lúc
Thay cho trường lớp mang tính vật lý với giảng đường, thư viện và thời khóa biểu cố định, các trường trực tuyến đang phát triển và trở thành làn sóng giáo dục mới Trường trực tuyến như Blearning, Coursera, Udemy, edX… Tài liệu học tập, sách tham khảo đều lưu trữ trên mạng Thông qua các thiết bị kết nối internet như smartphone, laptop người học trên toàn thế giới có thể tham gia vào các lớp học ảo bất cứ lúc nào.[9]
1.1.2 Định hướng đổi mới chương trình giáo dục trung học
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học
Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp
Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan
Trang 13Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng
Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo
Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền Ưu tiên đầu
tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo
Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.[11]
1.1.3 Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS:
Nghiên cứu của TS Thái Duy Tuyên [12] cho thấy các xu hướng của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là:
1 Phát triển năng lực nội sinh của người học:
- Phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học
- Hình thành năng lực tự học, ý chí tự cường
- Nâng cao khả năng làm việc độc lập, cá nhân hóa hoạt động học
2 Điều chỉnh quan hệ thầy trò theo hướng “dạy học lấy HS làm trung tâm”
3 Đưa công nghệ hiện đại vào trường học
Cả 3 hướng trên nêu trên luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, phối hợp nhau trong thực tiễn của hoạt động dạy học Có thể, sẽ có lúc một hướng nào đó chiếm ưu thế để giải quyết nhiệm vụ dạy học trong hoàn cảnh thích hợp
Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới – mà trước hết là chương trình tổng thể (Bộ Giáo dục và Đào tạo đăng tải lên mạng lần thứ hai - từ 16/4 đến 20/5/2017 - để tranh thủ sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà giáo và các tầng lớp
nhân dân, trong đó có phụ huynh học sinh và học sinh) được xây dựng theo định
hướng tiếp cận năng lực, phù hợp với xu thế phát triển chương trình của các nước tiên
tiến, nhằm thực hiện yêu cầu của Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội: "tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng
Trang 14về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà trí, đức, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh" Đổi mới phương pháp dạy học là một giải pháp được xem là then chốt, có tính đột phá cho việc thực hiện chương trình này
Trong bài "Đổi mới căn bản, toàn diện để hoàn thiện một nền giáo dục và đào tạo
Việt Nam nhân bản" (Tạp chí Cộng sản, số 885-7/2016), Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo (GDĐT) Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh: "Ngày nay, khi tri thức đã trở thành yếu tố hàng đầu để phát triển kinh tế tri thức thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục là đòn bẩy quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển xã hội bền vững" Nhận thức sâu sắc về điều đó, việc đổi mới tư duy giáo dục trong thời
đại tri thức nhằm đáp ứng sự thay đổi của cuộc sống là một tất yếu, bởi vì "khi hệ
thống tri thức có những thay đổi thì sớm hoặc muộn, nhanh hoặc chậm, năng lực tư duy và hoạt động của con người cũng phải thay đổi Đời sống hiện thực biến đổi luôn đặt ra những vấn đề mới, buộc con người phải suy nghĩ, tìm kiếm những lời giải đáp
và những phương tiện để giải quyết vấn đề Những tri thức mới ra đời bổ sung và bồi đắp cho hệ thống tri thức đã có, làm thay đổi cách nhìn nhận, thay đổi từng phần thế giới quan, dẫn đến thay đổi cả phương thức hoạt động của con người và cộng đồng Điều đó cũng có nghĩa rằng, những tri thức mới đã làm thay đổi tư duy của con người"
(Lương Đình Hải - Triết học trong kỷ nguyên toàn cầu - NXB Khoa học xã hội, 2009) Liên quan vấn đề này, trong các bài báo khoa học "Dạy cách học" (Báo Nhân
Dân hằng tháng, số 266-4/2016) và "Dạy cách học - một trọng tâm trong đổi mới tư
duy giáo dục hiện nay – Tạp chí Giáo dục, số 378-3/2016) Theo đó, việc đổi mới
phương pháp dạy học nhằm đáp ứng bối cảnh của thời đại, nhu cầu phát triển đất nước, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, mục tiêu giáo dục phổ thông, yêu cầu cần đạt
về phẩm chất và năng lực, phù hợp với nội dung giáo dục từng cấp, lớp được xem như một điều kiện có tính tiên quyết, nhằm quán triệt quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết
số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế: "Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học"
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm
Trang 15đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học
Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối
"truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan
hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện
kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học
Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định
Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua:
h nh t: Đổi mới phương pháp dạy học của người thầy bắt nguồn từ yêu cầu
học tập của người học: Như chúng ta đã biết, chương trình đào tạo đòi hỏi người học phải chủ động nhiều hơn trong việc học, với nguồn tài liệu đa dạng và phong phú hơn thời kỳ học phổ thông và có quá nhiều thông tin, khối lượng kiến thức liên tục tăng mỗi năm, người học không thể nào ghi nhớ được tất cả Thay vì dựa vào trí nhớ, người học cần phải tìm ra cách thức để hệ thống được những thông tin mà mình cần, tìm được thông tin mới, đây chỉ là bước khởi động Sau khi có được thông tin thì người
Trang 16học phải có kỹ năng phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin, áp dụng vào thực tiễn để giải quyết vấn đề Công việc này đòi hỏi người học phải có phương pháp học tập mới đó là
“phương pháp học tập tích cực” hay còn gọi là “học qua hành” Phương pháp này nhấn mạnh quá trình học tập và tiếp thu chứ không chú trọng đến kết quả học tập Đây cũng
là phương pháp giúp cho người học phát triển kỹ năng tự học và kỹ năng giải quyết vấn đề Để làm được điều đó, yêu cầu tất yếu mà người học mong muốn là học theo
“phương pháp học tích cực” hay còn gọi là “học qua hành” Phương pháp “học qua hành” tập trung vào việc khuyến khích và động viên người học tự giác tìm kiếm, học bằng cách đọc, tự mình tổ chức và xử lý thông tin thay vì lệ thuộc vào bài giảng của người thầy Người học phải có ý thức, thái độ “tích cực” cho việc học của họ, đọc tài liệu trước khi lên lớp và tập trung vào các hoạt động như trao đổi, tranh luận, phân tích
và ứng dụng thực tế ngay trên lớp nhằm tích lũy thêm tri thức, đó là kỹ năng cần thiết
để nâng cao năng lực giải quyết các vấn đề Sử dụng phương pháp học tập tích cực, người dạy đóng vai trò là “người hướng dẫn” giúp người hộc thu được kết luận đúng thông qua sự chỉ dẫn, khuyến khích cũng như thách thức họ đạt được mục đích học tập Trực tiếp ứng dụng những kiến thức học được trong các cơ sở đào tạo vào thực tế
sẽ giúp cho người học tiếp thu tài liệu tốt hơn và dần dần hình thành, phát triển thái độ,
ý thức học tập cả đời Phương pháp học tập tích cực có ý nghĩa quan trọng giúp sinh viên biết cách tìm, tra cứu tài liệu thông tin, tổ chức chúng, thực nghiệm và kiểm nghiệm các câu trả lời của mình thông qua ý kiến đánh giá của người thầy và của nhiều người Dần dần các kỹ năng được hình thành trong suốt quá tình học tập đem lại cho người học nhiều kinh nghiệm riêng, hình thành các kỹ năng xử lý công việc cũng như những khả năng tự tin, thích ứng trong cuộc sống hàng ngày Khi áp dụng phương pháp học tích cực vào quá trình dạy học, người thầy cần yêu cầu người học giải thích điều họ đã học dựa trên quan điểm cá nhân của họ, hỗ trợ họ thảo luận và chia sẽ ý kiến cá nhân với bạn bè, sau cùng là người học sẽ tự mình rút ra kết luận qua sự tương tác với người khác Tuy nhiên, không dễ thay đổi việc học từ “thụ động” sang việc học
“tích cực” vì phần lớn người học và cả người dạy đã quen với phương pháp học truyền thống Thói quen này đã ăn sâu vào tiềm thức và khó có thể phá bỏ ngay Thêm vào đó phần lớn người học vẫn có xu hướng chống lại việc “đọc tài liệu trước khi lên lớp”,
“tham gia thảo luận trên lớp” hay “tự đọc thêm ở nhà” một cách chủ động và tích cực Đây chính là thách thức cho người dạy và người học muốn áp dụng phương pháp dạy học tích cực
Trang 17h hai: Một số yêu cầu của việc học tập tích cực:
- Đòi hỏi người học phải tự chịu trách nhiệm về việc học của chính mình
- Đòi hỏi người học phải ý thức được tầm quan trong và lợi ích của việc học theo
nhóm Vì đây là nền tảng giúp người học hình thành kỹ năng làm việc theo nhóm khi tham gia vào môi trường làm việc chuyên nghiệp
- Tranh luận trong học tập cũng là một yêu cầu, một phương pháp của học tập
tích cực, quá trình tranh luận hình thành nên lập trường riêng của người học Tranh luận tạo ra cơ hội cho người học tham gia vào các hoạt động trên lớp và cho phép họ thu được kinh nghiệm trong việc trình bày ý kiến cá nhân, đây là kỹ năng mềm rất quan trọng mà người học cần phải tích lũy cho quá trình lập nghiệp sau này
h ba: Đổi mới phương pháp dạy học bắt nguồn từ sự thay đổi nhận thức của
người dạy: Người dạy cần phải thay đổi nhận thức của chính bản thân mình, phải có tư duy mở và phải tiếp cận các phương pháp dạy học tiên tiến Người dạy là nhân tố chủ đạo, quyết định đến chất lượng đào tạo nguồn lực có chất lượng cao Đổi mới phương pháp dạy học tích cực biến người dạy từ chỗ là người truyền đạt kiến thức một chiều theo lối truyền thống, áp đặt, còn người học là người tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, một chiều thành người hướng dẫn, định hướng, tổ chức việc học cho người học một cách chủ động, tích cực, hổ trợ họ, giải đáp các thắc mắc, các yêu cầu mà người học đặt ra khi cần thiết Chính vì vậy, người thầy phải chủ động nghiên cứu và kiên quyết đổi mới phương pháp dạy học tích cực, xem đây là điều kiện tiên quyết quan trọng quyết định đến chất lượng đào tạo nguồn lực hiện nay
Thứ tư: Một số phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển tư duy sáng tạo
cho sinh viên, đó là:
Các phương pháp trên đòi hỏi người dạy cần phải có sự vận dụng, sự kết hợp khéo léo một số kỹ thuật, kỹ năng như làm việc theo nhóm; đàm thoại; đóng vai; thuyết trình; động não … thì mới đạt hiệu quả, mục tiêu của phương pháp dạy học mới.[13]
Trang 181.2 Sơ lược về chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018
1.2.1 Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018
a) Mục tiêu chung
Chương trình môn Tin học được xây dựng với mục tiêu chính là góp phần hình thành, phát triển 5 phẩm chất chủ yếu, 3 năng lực chung, 7 năng lực đặc thù, đặc biệt
là năng lực tin học; trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức tin học phổ thông gồm:
- Học vấn số hoá phổ thông (DL) nhằm giúp học sinh có khả năng hoà nhập và
thích ứng với xã hội hiện đại, sử dụng được các thiết bị số và phần mềm cơ bản thông dụng một cách có đạo đức, văn hoá và tôn trọng pháp luật
- Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) nhằm giúp học sinh có khả năng sử
dụng và áp dụng hệ thống máy tính giải quyết vấn đề thực tế một cách hiệu quả và sáng tạo
- Khoa học máy tính (CS) nhằm giúp học sinh bước đầu hiểu biết các nguyên tắc
cơ bản và thực tiễn của tư duy máy tính; tạo cơ sở cho việc thiết kế và phát triển các hệ thống máy tính
máy tính: Hình thành nhu cầu thu thập, sử dụng thông tin, ý tưởng điều khiển máy tính thông qua việc tạo chương trình đơn giản bằng ngôn ngữ lập trình trực quan
tính để vui chơi, học tập, xem và tìm kiếm thông tin trên Internet; rèn
luyện cho học sinh một số kĩ năng cơ bản trong sử dụng máy tính; biết bảo vệ sức khoẻ khi sử dụng máy tính và Internet
- Ở cấp trung học cơ sở
Chương trình môn Tin học ở trung học cơ sở giúp học sinh tiếp tục phát triển năng lực tin học đã hình thành ở tiểu học và hoàn thiện năng lực đó ở mức cơ bản Cụ
Trang 19thể nhằm:
tin và dữ liệu phù hợp, hữu ích; biết chia một vấn đề lớn thành những nhiệm vụ nhỏ hơn; biết nhìn một vấn đề ở mức trừu tượng qua việc hiểu và sử dụng khái niệm thuật toán và lập trình trực quan; biết sử dụng mẫu trong quá trình thiết kế và tạo ra các sản phẩm số; biết đánh giá kết quả sản phẩm số và biết điều chỉnh, sửa lỗi
biết tổ chức lưu trữ, khai thác nguồn tài nguyên đa phương tiện; tạo ra và chia sẻ sản phẩm số đơn giản phục vụ học tập, cuộc sống; có ý thức và khả năng ứng dụng ICT phục vụ cá nhân và cộng đồng
cuộc sống, học và tự học, giao tiếp và hợp tác được trong cộng đồng; có hiểu biết cơ bản về pháp luật, đạo đức và văn hoá liên quan đến sử dụng tài nguyên thông tin và giao tiếp trên mạng; bước đầu nhận biết được một số ngành nghề chính thuộc lĩnh vực tin học
- Ở cấp trung học phổ thông:
Chương trình môn Tin học ở cấp trung học phổ thông giúp học sinh củng cố và nâng cao năng lực tin học đã được hình thành, phát triển ở giai đoạn giáo dục cơ bản, đồng thời cung cấp cho học sinh tri thức mang tính định hướng nghề nghiệp thuộc lĩnh vực tin học hoặc ứng dụng tin học Cụ thể nhằm:
thiết kế thuật toán, tổ chức dữ liệu và lập trình; củng cố và phát triển hơn nữa cho học sinh tư duy giải quyết vấn đề, khả năng đưa ra ý tưởng và chuyển giao nhiệm vụ cho máy tính thực hiện
dụng, kết nối các thiết bị số, dịch vụ mạng và truyền thông tin số, phần mềm
xã hội số hoá, chủ động sử dụng công nghệ số trong học và tự học; tìm kiếm và trao đổi thông tin theo cách phù hợp, tuân thủ pháp luật, có đạo đức, ứng xử văn hoá và có trách nhiệm; có hiểu biết thêm một số ngành nghề thuộc lĩnh vực tin học, chủ động và
tự tin trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai của bản thân.[8]
Trang 201.2.2 Yêu cầu cần đạt về phẩm ch t và năng lực:
1.Căn cứ xác định các yêu cầu cần đạt:
a Căn cứ pháp lí:
- Quan điểm, đường lối của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và của Bộ Giáo dục &
Đào tạo [1, 2, 3, 4]
- Mô tả biểu hiện của 5 phẩm chất chủ yếu, 3 năng lực chung và biểu hiện năng
lực tin học đã được mô tả trong CTTT [7]
b Căn cứ lí luận, khoa học
- Kế thừa chuẩn đầu ra mô tả trong chương trình tin học hiện hành [5, 6]
- Chuẩn cần đạt mô tả trong các văn bản liên quan của một số tổ chức khoa học
giáo dục uy tín của quốc tế như UNESCO, OEDC, [12, 13, 14, 15]
- Kết quả tham vấn ý kiến chuyên gia
c Căn cứ thực tiễn
- Kết quả khảo sát và phân tích mức độ đạt được về kiến thức kĩ năng của học
sinh quy định trong Chương trình môn Tin học hiện hành
- Kết quả nghiên cứu các dự báo sự phát triển năng lực tin học trong thời đại
và trách nhiệm Các chủ đề tập trung vào nội dung thuật toán và lập trình, các chủ đề
“Đạo đức, pháp luật và văn hoá trong môi trường số”, “Ứng dụng tin học” và “Hướng nghiệp với tin học” tạo ra nhiều tình huống bộc lộ được phẩm chất qua các ứng xử, đặc biệt trong môi trường số Giáo viên cần căn cứ vào các biểu hiện của những phẩm chất được mô tả trong Chương trình tổng thể để bồi dưỡng phẩm chất cho học sinh trong suốt cả quá trình giáo dục tin học
Một số yêu cầu cần đạt về lập trình góp phần trực tiếp phát triển phẩm chất chủ
yếu cho học sinh, ví dụ yêu cầu “Đọc hiểu được chương trình máy tính đơn giản”
Yêu cầu này một mặt rèn luyện kĩ năng đọc hiểu tài liệu chuyên môn nói chung, mặt khác giúp phát triển khả năng hiểu và giải thích một chương trình máy tính Tương tự với khả năng đọc và viết là nền tảng cho những bước tiến vượt bậc trong văn hóa, kĩ năng đọc hiểu chương trình máy tính tạo khả năng tiếp thu công nghệ cho học sinh
Trang 21Khả năng đọc hiểu chương trình máy tính giúp học sinh khai thác kinh nghiệm, ý tưởng tốt của người khác và việc tự học có hiệu quả hơn
3 Yêu cầu cần đạt về năng lực chung và đóng góp của môn học trong việc hình thành, phát triển các năng lực chung cho học sinh:
Nội dung và các yêu cầu cần đạt của một số chủ đề trong chương trình giúp hình thành và phát triển trực tiếp 3 thành phần năng lực tin học: (NLd) “Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong học và tự học”; (NLe) “Hợp tác trong môi trường
số “ và (NLc) “Giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông” Thông qua đó, đồng thời chương trình môn Tin học thể hiện được cụ thể sự góp phần trực tiếp và thiết thực nhằm phát triển 3 năng lực chung trong CTTT là “tự chủ và tự học”, “giao tiếp và hợp tác”, “giải quyết vấn đề và sáng tạo”
GV lưu ý chú trọng giáo dục các phẩm chất và năng lực trên cho HS chủ yếu trong môi trường số
4 Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù và đóng góp của môn học trong việc hình thành, phát triển các năng lực đặc thù cho học sinh:
Các yêu cầu cần đạt mô tả biểu hiện cụ thể năng lực tin học của học sinh sau khi học xong mỗi cấp học dựa trên mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể, bám sát năm thành phần năng lực tin học và ba mạch kiến thức hoà quyện DL, ICT và CS
Ở cấp tiểu học
Học sinh sử dụng được máy tính hỗ trợ vui chơi, giải trí và học tập, thông qua đó biết được một số lợi ích mà thiết bị kĩ thuật số có thể đem lại cho con người, trước hết
là cho cá nhân học sinh, đồng thời học sinh có được những khả năng ban đầu về tư duy
và nền nếp để thích ứng với việc sử dụng máy tính và thiết bị số thông minh
Ở cấp trung học cơ sở
Học sinh có được những kiến thức, kĩ năng cơ bản để hoà nhập, thích ứng với xã hội số hoá; tạo được sản phẩm số hóa phục vụ bản thân và cộng đồng; bước đầu có tư duy điều khiển các thiết bị tự động hoá Năng lực tin học đạt được ở cuối cấp trung học cơ sở góp phần chuẩn bị cho học sinh học tiếp giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, học trường nghề hoặc tham gia lao động
Ở cấp trung học phổ thông
Chương trình môn Tin học ở trung học phổ thông thể hiện sự phân hoá sâu về định hướng nghề nghiệp Do vậy, chương trình có các yêu cầu cần đạt chung về năng lực tin học bắt buộc đối với mọi học sinh và có các yêu cầu bổ sung riêng tương ứng
Trang 22với học sinh chọn định hướng Tin học ứng dụng hoặc Khoa học máy tính
Yêu cầu chung
- Phối hợp, sử dụng được đúng cách các hệ thống kĩ thuật số thông dụng bao gồm
phần mềm và các thiết bị như PC, thiết bị ngoại vi và thiết bị cầm tay;
- Trình bày và nêu được ví dụ minh hoạ những quy định về quyền thông tin và
bản quyền, tránh được những vi phạm khi sử dụng thông tin, tài nguyên số; hiểu khái niệm, cơ chế phá hoại và lây lan của phần mềm độc hại và cách phòng chống biết cách tự bảo vệ thông tin, dữ liệu và tài khoản cá nhân; có hiểu biết tổng quan về nhu cầu nhân lực, tính chất công việc của các ngành nghề trong lĩnh vực tin học cũng như các ngành nghề khác trong xã hội có sử dụng ICT
- Biết cách chuyển giao nhiệm vụ cho máy tính thực hiện; biết khái niệm hệ cơ
sở dữ liệu, sử dụng được máy tìm kiếm để khai thác thông tin một cách hiệu quả, an toàn và hợp pháp, tìm kiếm, lựa chọn được thông tin phù hợp và tin cậy; hiểu biết và hình dung ban đầu về trí tuệ nhân tạo và nêu được một số ứng dụng điển hình của trí tuệ nhân tạo
- Khai thác được các dịch vụ tra cứu và trao đổi thông tin, các nguồn học liệu mở
để cập nhật kiến thức, hỗ trợ học tập và tự học
- Biết cách hợp tác trong công việc;
Các thành phần năng lực tin học chỉ có tính phân biệt tương đối theo nghĩa, mỗi thành phần đều có tính bổ trợ phát triển đồng thời cho một số thành phần khác Do vậy, GV cần khai thác các dự án học tập, các bài tập trong SGK hoặc trong các học liệu khác có liên quan đến giải quyết một số vấn đề cụ thể nào đó dù ở mức đơn giản nhưng góp phần phát triển một số thành phần năng lực tin học Tránh quan niệm một hoạt động giáo dục nào đó chỉ nhằm rèn luyện, phát triển duy nhất một thành phần cụ thể của năng lực tin học
Có thể nhận thấy, năm thành phần năng lực tin học thể hiện một cách tường minh các năng lực khái quát của học sinh trong hoạt động ở lĩnh vực tin học: Năng lực chuyên môn, nghề nghiệp; Năng lực phương pháp; Năng lực xã hội và Năng lực cá thể Điều này phù hợp với 5 trụ cột giáo dục của UNESCO: Học để biết; học để làm; học để chung sống và học để khẳng định mình, học để thay đổi mình và để thay đổi thế giới
Trang 231.3 Chương trình giáo dục phổ thông môn Tin học cấp THCS
1.3.1 Đặc điểm môn học
Giáo dục tin học đóng vai trò chủ đạo trong việc chuẩn bị cho học sinh khả năng tìm kiếm, tiếp nhận, mở rộng tri thức và sáng tạo trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư và toàn cầu hoá Tin học có ảnh hưởng lớn đến cách sống, cách suy nghĩ và hành động của con người, là công cụ hiệu quả hỗ trợ biến việc học thành tự học suốt đời
Môn Tin học giúp học sinh thích ứng và hoà nhập được với xã hội hiện đại, hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tin học để học tập, làm việc và nâng cao chất lượng cuộc sống, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Nội dung môn Tin học phát triển ba mạch kiến thức hoà quyện: Học vấn số hoá phổ thông (DL), Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), Khoa học máy tính (CS)
và được phân chia theo hai giai đoạn:
- Giai đoạn giáo dục cơ bản:
Môn Tin học giúp học sinh hình thành và phát triển khả năng sử dụng công cụ kĩ thuật số, làm quen và sử dụng Internet; bước đầu hình thành và phát triển tư duy giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của máy tính và hệ thống máy tính; hiểu và tuân theo các nguyên tắc cơ bản trong trao đổi và chia sẻ thông tin
Ở cấp tiểu học, chủ yếu học sinh học sử dụng các phần mềm đơn giản hỗ trợ học tập và sử dụng thiết bị tin học tuân theo các nguyên tắc giữ gìn sức khoẻ,đồng thời bước đầu được hình thành tư duy giải quyết vấn đề có sự hỗ trợ của máy tính
Ở cấp trung học cơ sở, học sinh học cách sử dụng, khai thác các phần mềm thông dụng để làm ra sản phẩm số phục vụ học tập và đời sống; thực hành phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo với sự hỗ trợ của công cụ và các hệ thống tự động hoá của công nghệ kĩ thuật số; học cách tổ chức lưu trữ, quản lí, tra cứu và tìm kiếm dữ liệu số, đánh giá và lựa chọn thông tin
- Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp:
Môn Tin học có sự phân hoá sâu Tuỳ theo sở thích và dự định về nghề nghiệp trong tương lai, học sinh lựa chọn một trong hai định hướng: Tin học ứng dụng và Khoa học máy tính
Hai định hướng có chung một số chủ đề con và mỗi định hướng này còn có những chủ đề con riêng
Định hướng Tin học ứng dụng đáp ứng nhu cầu sử dụng máy tính như một công
Trang 24cụ của công nghệ kĩ thuật số trong cuộc sống, học tập và làm việc, đem lại sự thích ứng và khả năng phát triển dịch vụ trong xã hội số
Định hướng Khoa học máy tính đáp ứng mục đích bước đầu tìm hiểu nguyên lí hoạt động của hệ thống máy tính, phát triển tư duy máy tính, khả năng tìm tòi, khám phá các hệ thống tin học, phát triển ứng dụng trên hệ thống máy tính
Bên cạnh nội dung giáo dục cốt lõi, học sinh có thể chọn một số chuyên đề học tập tuỳ theo sở thích, nhu cầu và định hướng nghề nghiệp Những chuyên đề thuộc định hướng Tin học ứng dụng nhằm tăng cường thực hành ứng dụng, giúp học sinh thành thạo hơn trong sử dụng các phần mềm thiết yếu, làm ra sản phẩm số thiết thực cho học tập và cuộc sống Những chuyên đề thuộc định hướng Khoa học máy tính nhằm giới thiệu lập trình điều khiển robot giáo dục, kĩ thuật thiết kế thuật toán, một số cấu trúc dữ liệu và một số nguyên tắc thiết kế mạng máy tính
1.3.2 Quan điểm xây dựng chương trình
Chương trình môn Tin học cụ thể hoá các quan điểm của Chương trình tổng thể, chú trọng các yêu cầu sau đây:
1 Tính kế thừa và phát triển
a) Kế thừa chương trình môn Tin học hiện hành:
Chương trình môn Tin học kế thừa và phát triển nhữn3g ưu điểm cơ bản của chương trình hiện hành là tính hệ thống và tính khoa học, đồng thời tránh thiên về lí thuyết trong một số nội dung và sự trùng lặp giữa các cấp học, gây quá tải
b) Khai thác chương trình môn Tin học phổ thông của các nước tiên tiến:
Trong bối cảnh nhiều nước coi trọng phát triển chương trình giáo dục tin học nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Chương trình môn Tin học khai thác, chọn lọc vận dụng chương trình môn Tin học của các nước tiên tiến nhằm hội nhập, hướng tới trình độ quốc tế
2 Tính khoa học, hiện đại và sư phạm
Chương trình môn Tin học chọn lọc các nội dung cơ bản, phổ thông và hiện đại của ba mạch kiến thức DL, ICT,CS, đồng thời quan tâm đúng mức đến nội dung về đạo đức, pháp luật, văn hoá và ảnh hưởng của tin học đến xã hội, bảo đảm nguyên lí
“vừa dạy chữ vừa dạy người” và coi trọng tính nhân văn trong thời đại có sự kết nối cao của thế giới thực và thế giới số
Chương trình được thiết kế với các nguyên tắc sư phạm: bảo đảm tính vừa sức, phát triển mạch kiến thức vừa theo đường thẳng vừa đồng tâm, xây dựng hệ thống khái
Trang 25niệm cốt lõi Chương trình chọn lọc nội dung và yêu cầu phù hợp lứa tuổi, xen kẽ những nội dung lí thuyết với thực hành, trừu tượng với trực quan Các chủ đề lớn xuyên suốt các cấp học với yêu cầu cần đạt nâng cao dần Các khái niệm cốt lõi được bắt đầu hình thành ở cấp tiểu học và được phát triển hoàn chỉnh dần ở các cấp học cao hơn
3 Tính thiết thực
a) Phục vụ định hướng nghề nghiệp
Trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có nhiều ngành nghề
và việc làm mới xuất hiện đòi hỏi kiến thức, kĩ năng tin học chuyên sâu, Chương trình môn Tin học thể hiện khả năng kết nối và lan toả sâu rộng của tin học đến tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống, xác lập cho các đối tượng học sinh khác nhau một phổ rộng các ngành nghề chuyên sâu và các ngành nghề ứng dụng tin học
b)Thực hiện giáo dục STEM:
Định hướng giáo dục STEM đang được triển khai như một hướng đi quan trọng trong giáo dục và đào tạo tại nhiều nước trên thế giới Với tư cách là công nghệ nền tảng, hội tụ đủ tất cả bốn yếu tố giáo dục STEM (Khoa học (S), Công nghệ (T), Kĩ thuật (E) và Toán học (M)), môn Tin học có vai trò trung tâm kết nối các môn học khác, đẩy mạnh giáo dục STEM, phát huy sáng tạo của học sinh nhằm tạo ra sản phẩm
số có hàm lượng ICT cao Chương trình môn Tin học khai thác ưu thế về tích hợp liên môn bằng cách yêu cầu học sinh làm ra sản phẩm số của cá nhân và của nhóm học tập
để thu hẹp khoảng cách giữa giáo dục hàn lâm và thực tiễn
4 Tính mở
a Nội dung chương trình mở
Chương trình môn Tin học có các chủ đề bắt buộc, đồng thời có các chủ đề lựa chọn Các chủ đề nội dung không phụ thuộc vào thiết bị phần cứng và phần mềm cụ thể, không phân biệt phần mềm và học liệu mở hay đóng, tạo thuận lợi cho việc vận dụng phù hợp với khả năng các địa phương và các đối tượng học sinh khác nhau Do đặc thù riêng, Chương trình môn Tin học cần được cập nhật và điều chỉnh theo định kì ngắn hạn theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm bảo đảm tính hiện đại và thời sự, đáp ứng sự phát triển rất nhanh của công nghệ kĩ thuật số, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước
b Hình thức giáo dục đa dạng
Chương trình môn Tin học chọn lọc các chủ đề thiết thực và hấp dẫn, tạo điều
Trang 26kiện cho học sinh học tập và ứng dụng tin học không chỉ trong phạm vi môn Tin học
mà cả trong các môn học khác, không chỉ trong khuôn viên nhà trường mà ở cả các môi trường ngoài khuôn viên trường học (ở nhà, qua mạng máy tính, trong câu lạc bộ
bị cho học sinh hệ thống kiến thức tin học phổ thông gồm ba mạch kiến thức hoà quyện:
- Học vấn số hoá phổ thông nhằm giúp học sinh hoà nhập với xã hội hiện đại, sử
dụng được các thiết bị số và phần mềm cơ bản thông dụng một cách có đạo đức, văn hoá và tuân thủ pháp luật
- Công nghệ thông tin và truyền thông nhằm giúp học sinh sử dụng và áp dụng hệ
thống máy tính giải quyết vấn đề thực tế một cách hiệu quả và sáng tạo
- Khoa học máy tính nhằm giúp học sinh hiểu biết các nguyên tắc cơ bản và thực
tiễn của tư duy máy tính, tạo cơ sở cho việc thiết kế và phát triển các hệ thống máy tính
2 Mục tiêu ở cấp THCS:
Chương trình môn Tin học ở cấp trung học cơ sở giúp học sinh tiếp tục phát triển năng lực tin học đã hình thành ở cấp tiểu học và hoàn thiện năng lực đó ở mức cơ bản,
cụ thể là:
và thông tin phù hợp, hữu ích; biết chia một vấn đề lớn thành những nhiệm vụ nhỏ hơn; bước đầu có tư duy mô hình hoá một bài toán qua việc hiểu và sử dụng khái niệm thuật toán và lập trình trực quan; biết sử dụng mẫu trong quá trình thiết kế và tạo ra các sản phẩm số; biết đánh giá kết quả sản phẩm số cũng như biết điều chỉnh, sửa lỗi các sản phẩm đó
tổ chức lưu trữ, khai thác nguồn tài nguyên đa phương tiện; tạo ra và chia sẻ sản phẩm
số đơn giản phục vụ học tập, cuộc sống; có ý thức và khả năng ứng dụng ICT phục vụ
cá nhân và cộng đồng
Trang 27- Giúp học sinh quen thuộc với dịch vụ số và phần mềm thông dụng để phục vụ cuộc sống, học và tự học, giao tiếp và hợp tác trong cộng đồng; có hiểu biết cơ bản về pháp luật, đạo đức và văn hoá liên quan đến sử dụng tài nguyên thông tin và giao tiếp trên mạng; bước đầu nhận biết được một số ngành nghề chính thuộc lĩnh vực tin học
1.3.4 Yêu cầu cần đạt
1 Yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung
Môn Tin học góp phần thực hiện các yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định trong Chương trình tổng thể
2 Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù
Học sinh hình thành, phát triển được năng lực tin học với năm thành phần năng lực sau đây:
- NLa: Sử dụng và quản lí các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông
- NLb: Ứng xử phù hợp trong môi trường số
- NLc: Giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông
- NLd: Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong học và tự học
- NLe: Hợp tác trong môi trường số
Học sinh có được những kiến thức, kĩ năng cơ bản để hoà nhập, thích ứng với xã hội số; tạo được sản phẩm số phục vụ bản thân và cộng đồng; bước đầu có tư duy điều khiển các thiết bị số Năng lực tin học đạt được ở cuối cấp trung học cơ sở góp phần chuẩn bị cho học sinh học tiếp giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, học trường nghề hoặc tham gia lao động
1.4 Dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh
1.4.1 Khái niệm về năng lực:
Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các nhiệm vụ, công việc thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân dựa trên hiểu biết, kĩ năng, và thái độ (sự sẵn sàng hành động) (Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường, 2012)
Năng lực: là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và
quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể
Trang 281.4.2 Các thành phần của năng lực:
Chương trình môn Tin học được xây dựng với các thành phần năng lực bao gồm:
5 phẩm chất chủ yếu, 3 năng lực chung, 7 năng lực đặc thù
* 5 Thành phần năng lực tin học:
NLa: Năng lực sử dụng và quản lí các phương tiện, công cụ và các hệ thống tự
động hoá của công nghệ thông tin và truyền thông
NLb: Năng lực hiểu biết và ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hoá và
pháp luật trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức
NLc: Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của công nghệ kỹ
thuật số
NLd: Năng lực học tập, tự học với sự hỗ trợ của các hệ thống ứng dụng công
nghệ thông tin và truyền thông
NLe: Năng lực giao tiếp, hoà nhập, hợp tác phù hợp với thời đại thông tin và
Trang 29Thể hiện mối quan hệ:
DL, ICT, CS có phần hoà quyện được thể hiện bằng hình tròn ở tâm Mũi tên một chiều thể hiện phần này được tạo ra từ cả ba mạch kiến thức
– Mỗi mạch kiến thức thể hiện ở các hình vành khăn Mỗi một chủ đề trong bảy chủ đề (A, B, C, D, E, F, G) đều góp phần phát triển ba mạch kiến thức, tuy mức độ khác nhau Tên các chủ đề ghi ở mỗi một trong ba vành khăn thể hiện ảnh hưởng đối với mạch kiến thức đó ở mức độ cao hơn
– Năm thành phần (vành ngoài cùng), ba mạch kiến thức, bảy chủ đề nội dung có mối quan hệ tương hỗ trực tiếp hoặc gián tiếp (thể hiện bằng mũi tên hai chiều) và kênh truyền liên kết
1.4.3 Dạy học định hướng phát triển năng lực của học sinh:
Với cách hiểu như trên về năng lực, việc dạy học thay vì chỉ dừng ở hướng tới mục tiêu dạy học hình thành kiến thức, kĩ năng và thái độ tích cực ở HS thì còn hướng tới mục tiêu xa hơn đó là trên cơ sở kiến thức, kĩ năng được hình thành, phát triển khả năng thực hiện các hành động có ý nghĩa đối với người học Nói một cách khác việc dạy học định hướng phát triển năng lực về bản chất không thay thế mà chỉ mở rộng hoạt động dạy học hướng nội dung bằng cách tạo một môi trường, bối cảnh cụ thể để
HS được thực hiện các hoạt động vận dụng kiến thức, sử dụng kĩ năng và thể hiện thái
độ của mình Như vậy việc dạy học định hướng phát triển năng lực được thể hiện ở các trong các thành tố quá trình dạy học như sau:
- Về mục tiêu dạy học: Mục tiêu kiến thức: ngoài các yêu cầu về mức độ như
Trang 30nhận biết, tái hiện kiến thức cần có những mức độ cao hơn như vận dụng kiến thức trong các tình huống, các nhiệm vụ gắn với thực tế Với các mục tiêu về kĩ năng cần yêu cầu HS đạt được ở mức độ phát triển kĩ năng thực hiện các hoạt động đa dạng Các mục tiêu này đạt được thông qua các hoạt động trong và ngoài nhà trường
- Về phương pháp dạy học: Ngoài cách dạy học thuyết trình cung cấp kiến thức
cần tổ chức hoạt động dạy học thông qua trải nghiệm, giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn Như vậy thông thường, qua một hoạt động học tập, HS sẽ được hình thành và phát triển không phải một loại năng lực mà là được hình thành đồng thời nhiều năng lực hoặc nhiều năng lực thành tố mà ta không cần (và cũng không thể) tách biệt từng thành tố trong quá trình dạy học
- Về nội dung dạy học: Cần xây dựng các hoạt động, chủ đề, nhiệm vụ đa dạng
gắn với thực tiễn
- Về kiểm tra đánh giá: Về bản chất đánh giá năng lực cũng phải thông qua đánh
giá khả năng vận dụng kiến thức và kĩ năng thực hiện nhiệm vụ của HS trong các loại tình huống phức tạp khác nhau.Trên cơ sở này, các nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau đề ra các chuẩn năng lực trong giáo dục tuy có khác nhau về hình thức, nhưng khá tương đồng về nội hàm Trong chuẩn năng lực đều có những nhóm năng lực chung Nhóm năng lực chung này được xây dựng dựa trên yêu cầu của nền kinh tế
xã hội ở mỗi nước Trên cơ sở năng lực chung, các nhà lí luận dạy học bộ môn cụ thể hóa thành những năng lực chuyên biệt Tuy nhiên không dừng ở các năng lực chuyên biệt, các tác giả đều cụ thể hóa thành các năng lực thành phần, những năng lực thành phần này được cụ thể hóa thành các thành tố liên quan đến kiến thức, kĩ năng… để định hướng quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá của GV [10]
Bảng 1.1: So sánh một số đặc trưng cơ bản của dạy học theo tiếp cận nội dung kiến
th c (dạy học hiện hành) và dạy học định hướng phát triển năng lực:
Nội dung Dạy học theo tiếp cận
trang bị kiến thức
Dạy học định hướng phát triển năng lực
Mục tiêu dạy học Mục tiêu dạy học được
mô tả không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát,
đánh giá được
Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức
độ tiến bộ của HS
Trang 31một cách liên tục
Nội dung dạy học Việc lựa chọn nội dung
dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với các tình huống thực tiễn Nội dung được quy định chi tiết trong
chương trình
Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu
ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết
Phương pháp dạy học GV là người truyền thụ tri
thức, là trung tâm của quá trình dạy học HS tiếp thu thụ động những tri thức được quy định sẵn
GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn
đề, khả năng giao tiếp,…; – Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp
và kỹ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành
Hình thức dạy học Chủ yếu dạy học lý thuyết
trên lớp học
ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy
và học
Đánh giá kết quả học tập
của người học
Tiêu chí đánh giá được xây dựng chủ yếu dựa
Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính
Trang 32trên sự ghi nhớ và tái hiện nội dung
đã học
đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn
1.4.4 Các năng lực chuyên biệt trong dạy học Môn in học HCS:
Dựa trên đặc thù nội dung, phương pháp nhận thức và vai trò của môn học đối với thực tiễn để đưa ra hệ thống năng lực chuyên biệt môn tin học là:
1 Năng lực sử dụng, quản lý các công cụ của ICT, bao gồm cả khả năng khai thác các ứng dụng thông dụng trên Internet và các dịch vụ kỹ thuật số khác để phục vụ cho học tập và đời sống;
2 Năng lực nhận biết và ứng xử đúng với quy định pháp luật trong sử dụng ICT, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa của xã hội Việt Nam và đảm bảo an toàn thông tin cho bản thân cũng như cộng đồng;
3 Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo với sự hỗ trợ của các công cụ ICT, bao gồm các khả năng tư duy về tự động hóa và điều khiển, khả năng lập kế hoạch, quản lý, tìm kiếm, đánh giá, sử dụng linh hoạt, tối ưu các nguồn tài nguyên và khả năng thiết kế giải quyết vấn đề một cách hệ thống và có quy trình;
4 Năng lực học và tự học với sự hỗ trợ của ICT, bao gồm khả năng khai thác các ứng dụng, các dịch vụ của công nghệ kỹ thuật số của môi trường ICT để học tập có hiệu quả ở các lĩnh vực khác nhau;
5 Năng lực sử dụng các công cụ và môi trường ICT để chia sẻ thông tin, hợp tác với mọi thành viên trong nhà trường, trong cộng đồng và trong xã hội để nâng cao hiệu quả công việc, nâng cao chất lượng cuộc sống
Ở môn Tin học dành cho học sinh trung học cơ sở đăc biệt người học chủ yếu hướng đến là năng lực d:
- Năng lực d: Sử dụng được một số phần mềm; sử dụng được môi trường mạng
máy tính để tìm kiếm, thu thập, cập nhật và lưu trữ thông tin phù hợp với mục tiêu học tập, chủ động khai thác các tài nguyên hỗ trợ tự học
1.4.5 Phương pháp và hình th c tổ ch c dạy học nhằm hình thành và phát triển năng lực người học:
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các địa phương, cơ sở giáo dục tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện
Trang 33phương pháp tự học và vận dụng kiến thức, kĩ năng của học sinh theo tinh thần Công văn số 3535/BGDĐT- GDTrH ngày 27/5/2013 về áp dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" và các phương pháp dạy học tích cực khác; đổi mới đánh giá giờ dạy giáo viên, xây dựng tiêu chí đánh giá giờ dạy dựa trên Công văn số 5555/BGDĐT- GDTrH ngày 08/10/2014 của Bộ GDĐT; đẩy mạnh việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, các phương pháp thực hành, dạy học theo dự án trong các môn học; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với nội dung bài học; tập trung dạy cách học, cách nghĩ; bảo đảm cân đối giữa trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng và định hướng thái độ, hành
vi cho học sinh; chú ý việc tổ chức dạy học phân hoá phù hợp các đối tượng học sinh khác nhau; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tăng cường tổ chức dạy học thí nghiệm - thực hành của học sinh Việc đổi mới phương pháp dạy học như trên cần phải được thực hiện một cách đồng bộ với việc đổi mới hình thức tổ chức
dạy học Cụ thể là:
- Đa dạng hóa các hình thức dạy học, chú ý các hoạt động trải nghiệm sáng tạo; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong tổ chức dạy học thông qua việc sử dụng các mô hình học kết hợp giữa lớp học truyền thống với các lớp học trực tuyến nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí cũng như tăng cường sự công bằng trong việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục chất lượng cao Ngoài việc tổ chức cho học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn học sinh học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học đối với học sinh trung học; động viên
học sinh trung học tích cực tham gia Cuộc thi nghiên cứu khoa học kĩ thuật theo Công văn số 1290/BGDĐT- GDTrH ngày 29/3/2016 của Bộ GDĐT Tăng cường hình thức học tập gắn với thực tiễn thông qua Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn dành cho học sinh trung học theo Công văn số 3844/BGDĐT- GDTrH ngày 09/8/2016
- Chỉ đạo các cơ sở giáo dục trung học xây dựng và sử dụng tủ sách lớp học, phát
động tuần lễ "Hưởng ứng học tập suốt đời" và phát triển văn hóa đọc gắn với xây dựng câu lạc bộ khoa học trong các nhà trường
- Tiếp tục thực hiện tốt việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học theo Hướng
dẫn số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL ngày 16/01/2013 của liên Bộ GDĐT, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Khuyến khích tổ chức, thu hút học sinh tham gia các hoạt động góp phần phát
Trang 34triển năng lực học sinh như: Văn hóa - văn nghệ, thể dục – thể thao; thi thí nghiệm - thực hành; thi kĩ năng sử dụng tin học văn phòng; thi giải toán trên máy tính cầm tay; thi tiếng Anh trên mạng; thi giải toán trên mạng; hội thi an toàn giao thông; ngày hội công nghệ thông tin; ngày hội sử dụng ngoại ngữ và các hội thi năng khiếu, các hoạt động giao lưu;… trên cơ sở tự nguyện của nhà trường, cha mẹ học sinh và học sinh, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và nội dung học tập của học sinh trung học, phát huy
sự chủ động và sáng tạo của các địa phương, đơn vị; tăng cường tính giao lưu, hợp tác nhằm thúc đẩy học sinh hứng thú học tập, rèn luyện kĩ năng sống, bổ sung hiểu biết về các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới Không giao chỉ tiêu, không lấy thành tích của các hoạt động giao lưu nói trên làm tiêu chí để xét thi đua đối với các đơn vị có học sinh tham gia
- Tiếp tục phối hợp với các đối tác thực hiện tốt các dự án khác như: Chương trình giáo dục kĩ năng sống; Chương trình dạy học Intel; Dự án Đối thoại Châu Á - Kết nối lớp học; Trường học sáng tạo; Ứng dụng CNTT đổi mới quản lý hoạt động giáo dục ở một số trường thí điểm theo kế hoạch số 10/KH-BGDĐT ngày 07/01/2016 của
Bộ GDĐT; …
a Về kiểm tra và đánh giá
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các địa phương, cơ sở giáo dục tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Cụ thể như sau:
- Giao quyền chủ động cho các cơ sở giáo dục và giáo viên trong việc kiểm tra,
đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ; chỉ đạo và tổ chức chặt chẽ, nghiêm túc, đúng quy chế ở tất cả các khâu ra đề, coi, chấm và nhận xét, đánh giá học sinh trong việc thi và kiểm tra; đảm bảo thực chất, khách quan, trung thực, công bằng, đánh giá đúng năng lực và sự tiến bộ của học sinh
- Chú trọng đánh giá thường xuyên đối với tất cả học sinh: đánh giá qua các hoạt
động trên lớp; đánh giá qua hồ sơ học tập, vở học tập; đánh giá qua việc học sinh báo cáo kết quả thực hiện một dự án học tập, nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm; đánh giá qua bài thuyết trình (bài viết, bài trình chiếu, video clip,…) về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập Giáo viên có thể sử dụng các hình thức đánh giá nói trên thay cho các bài kiểm tra hiện hành
- Kết hợp đánh giá trong quá trình dạy học, giáo dục và đánh giá tổng kết cuối
Trang 35kỳ, cuối năm học; đánh giá của giáo viên với tự đánh giá và nhận xét, góp ý lẫn nhau của học sinh, đánh giá của cha mẹ học sinh và cộng đồng Khi chấm bài kiểm tra phải
có phần nhận xét, hướng dẫn, sửa sai, động viên sự cố gắng, tiến bộ của học sinh Đối với học sinh có kết quả bài kiểm tra định kì không phù hợp với những nhận xét trong quá trình học tập (quá trình học tập tốt nhưng kết quả kiểm tra quá kém hoặc ngược lại), giáo viên cần tìm hiểu rõ nguyên nhân, nếu thấy cần thiết và hợp lí thì có thể cho học sinh kiểm tra lại
- Thực hiện nghiêm túc việc xây dựng đề thi, kiểm tra cuối học kì, cuối năm học
theo ma trận và viết câu hỏi phục vụ ma trận đề Đề kiểm tra bao gồm các câu hỏi, bài tập (tự luận hoặc/và trắc nghiệm) theo 4 mức độ yêu cầu:
+ Nhận biết: yêu cầu học sinh phải nhắc lại hoặc mô tả đúng kiến thức, kĩ năng
đã học;
+ Thông hiểu: yêu cầu học sinh phải diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kĩ năng đã học bằng ngôn ngữ theo cách của riêng mình, có thể thêm các hoạt động phân tích, giải thích, so sánh, áp dụng trực tiếp (làm theo mẫu) kiến thức, kĩ năng đã biết để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập;
+ Vận dụng: yêu cầu học sinh phải kết nối và sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng
đã học để giải quyết thành công tình huống, vấn đề tương tự tình huống, vấn đề đã học;
+ Vận dụng cao: yêu cầu học sinh vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống, vấn đề mới, không giống với những tình huống, vấn đề đã được hướng dẫn; đưa ra những phản hồi hợp lí trước một tình huống, vấn đề mới trong học tập hoặc trong cuộc sống Căn cứ vào mức độ phát triển năng lực của học sinh ở từng học kỳ và từng khối lớp, giáo viên và nhà trường xác định tỉ lệ các câu hỏi, bài tập theo 4 mức độ yêu cầu trong các bài kiểm tra trên nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng học sinh và tăng dần tỉ lệ các câu hỏi, bài tập ở mức độ yêu cầu vận dụng, vận dụng cao
- Kết hợp một cách hợp lí giữa hình thức trắc nghiệm tự luận với trắc nghiệm
khách quan, giữa kiểm tra lí thuyết và kiểm tra thực hành trong các bài kiểm tra; tiếp tục nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức liên môn vào thực tiễn; tăng cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự quê hương, đất nước đối với các môn khoa học xã hội và nhân văn để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội; chỉ đạo việc ra câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn đúng thay vì chỉ có